Bảy Sự Thù Diệu đã chỉnh
Kinh Nikāya Giảng Giải
BẢY SỰ THÙ DIỆU
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Thù Diệu Sự” PAGEREF _Toc69842565 \h 1
II.Thù diệu sự thứ nhất PAGEREF _Toc69842566 \h 4
III.Thù diệu sự thứ hai PAGEREF _Toc69842567 \h 6
IV.Thù diệu sự thứ ba PAGEREF _Toc69842568 \h 9
V.Thù diệu sự thứ tư PAGEREF _Toc69842569 \h 12
VI.Thù diệu sự thứ năm PAGEREF _Toc69842570 \h 14
VII.Thù diệu sự thứ sáu PAGEREF _Toc69842571 \h 15
VIII.Thù diệu thứ bảy PAGEREF _Toc69842572 \h 15
IX.Lời kết PAGEREF _Toc69842573 \h 16
Bài kinh “Thù Diệu Sự”
Hôm nay Minh Thành đã lên xe xuống núi nhưng có một cuộc điện thoại của một vị sư đang học tiến sĩ ở Myanmar rằng trưa nay sư đến thăm Linh Quy, sư rất giỏi về tiếng Anh và tiếng Pāli. Vị sư này khi chúng ta đi qua bên đó sư đã lo lắng cho đoàn mình rất nhiều trong suốt mười ngày, đây là thời gian rất là quý hiếm sư mới ghé thăm cho nên Minh Thành quyết định quay trở lại. Khi quay lại thì không để cho thời gian uổng phí, chúng ta phải tinh tấn, tinh cần tu học trong ba tháng an cư, quý trọng từng phút giây, dù cho có mệt nhưng pháp hỷ, pháp lạc sẽ làm cho tan những mệt nhọc nhỏ nhoi của thân xác. Cho nên, chúng ta sẽ học bài kinh rất là đặc biệt. Bài kinh có tên là “Thù Diệu Sự”, Tăng Chi Bộ Kinh tập 3. “Thù” là thù thắng, “Diệu” là vi diệu, “Sự” là sự việc. Những sự việc vi diệu thù thắng là những sự việc đặc biệt nhiệm màu mà Đức Thế Tôn truyền trao cho chúng ta. Qua bài kinh này chúng ta sẽ xét nét được hai điều.
Thứ nhất, Đức Phật không căn cứ vào thời gian ở trong chùa, không căn cứ vào tuổi hạ để mà đánh giá sự tu học. Tức là, không phải mình ở lâu trong chùa là mình thành công, Phật không tính thời gian.
Thứ hai, là mình sẽ thấy được những yếu tố, những sự việc đặc biệt và thù thắng của một người tu. Nếu mà mình không có những yếu tố này thì ở trong chùa cũng bình thường thôi, không có lợi ích lớn, không có quả báo lớn, không có thù thắng lớn, không có vi diệu lớn và không đưa đến sự thể nhập thượng nhân pháp.
Khi Đức thế Tôn ở tại Sàvatthì trong vườn của ông Cấp Cô Độc, tôn giả Xá Lợi Phất (Sàriputta) buổi sáng đắp y, cầm bát để đi khất thực. Ngài Xá Lợi Phất mới nghĩ còn quá sớm để khất thực, cho nên ngài nghĩ rằng đến chỗ của những du sĩ ngoại đạo để thăm. Khi Ngài đến đó thì các người này chào hỏi rồi và bắt đầu nói lên câu chuyện. Những tu sĩ ngoại đạo nói:
"Này chư Hiền, ai sống mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán". Rồi Tôn giả Sàriputta không tùy hủy, không chỉ trích lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không tùy hỷ, không chỉ trích, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi với ý nghĩ: "Ta sẽ rõ biết ý nghĩa này từ Thế Tôn".
Tức là những du sĩ ngoại đạo nói ai sống mười hai năm, hành trì phạm hạnh thanh tịnh, giới hạnh trong sạch thì người đó rất là đáng được khen ngợi, tán thán, tán dương. Ngài Xá Lợi Phất không hài lòng không tuỳ hỷ và không vui theo ý kiến đó. Mà ngài Xá Lợi Phất cũng không chỉ trích và không theo ý kiến đó.
Chúng ta cũng xét lại, không biết lúc đó ngài Xá Lợi Phất có chứng Thánh quả A-la-hán chưa, vì ngài chỉ cần hai tuần sau khi xuất gia là thành tựu Tứ Thánh quả. Nhưng ở đây cho chúng ta một bài học hết sức là sâu sắc, một bậc trí huệ đỉnh cao, thuộc hàng Thánh nhân nhưng không tự ý cho rằng mình hiểu, mình biết, mà phải về trình bày về Đức Thế Tôn để hiểu được ý chỉ thực sự của nó như thế nào. Điều này là điều hết sức sâu sắc trong sự học đạo. Tại vì mình thường hiểu được một chút, hiểu một vài điểm nhỏ là cho rằng mình biết rồi, thành ra cái biết đó nó đi theo tình thức, ý kiến cá nhân và biết theo sai lầm, tà kiến. Khi ngài Xá Lợi Phất ở ngoài đời đã là nhà thông thái, đỉnh cao của đời đó, nổi tiếng khắp cả một vùng. Huống hồ chi sau khi đã xuất gia, dự vào những bậc Hiền Thánh nhưng một sự kiện gì xảy ra thì ngài suy nghĩ ngài sẽ được rõ biết từ Đức Thế Tôn.
Điều này chúng ta sẽ thấy rất nhiều trong kinh Nikāya, tất cả các chuyện gì thì các vị Tỳ-kheo đều về đảnh lễ nói với Phật: “Thế Tôn là lãnh đạo, là căn bản của Pháp, Pháp là từ nơi Thế Tôn, thỉnh Thế Tôn chỉ dạy rồi các con sẽ thọ trì”. Cho nên điều này hết sức là quan trọng, từ đó mới có ra Hiền Thánh Tăng. Giờ mình học một chút ít rồi là mình tự suy diễn, cho nên mất hết Thánh đạo, Thánh quả. Điều đó chứng tỏ lòng tôn kính đối với Đức Phật, đối với Chánh Pháp không đủ, cho nên không phải là Dự Lưu. Một người đầy đủ tri kiến không thể không tôn kính bậc Đạo sư, không thể không tôn kính Pháp, không thể không tôn kính Tăng, không thể không tôn kính Thiền định. Cho nên những người không đầy sự tôn kính với Phật, với Pháp, với Tăng, với Thiền định thì người đó không đủ tri kiến, người đầy đủ tri kiến không bao giờ thiếu sự tôn kính đó. Người đầy đủ tri kiến là bậc Dự Lưu, Tu-đà-hoàn. Thành ra, những điều này thật sự là sâu sắc vô cùng, chúng ta cần phải chiêm nghiệm.
Cũng như trong bài kinh, khi nghe một ý kiến như vậy thôi, ngài Xá Lợi Phất nghĩ rằng ngài sẽ rõ biết ý này từ Đức Thế Tôn. Ngài Xá Lợi Phất là bậc trí tuệ đệ nhất mà cũng không dám vượt qua Đạo sư, không dám vượt qua Như Lai. Thành ra, sự học bây giờ của chúng ta thực sự hết sức nguy hiểm, mình suy diễn một hồi là ra mạt pháp. Tượng pháp là mường tượng, xong mới đến mạt pháp.
Trở lại bài kinh, sau khi nghe ngoại đạo nói như vậy, ngài Xá Lợi Phất trở về đảnh lễ Đức Thế Tôn và bạch hết câu chuyện như vậy. Rồi Xá Lợi Phất hỏi Phật:
- Bạch Thế Tôn, trong Pháp và Luật này, có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán, hoàn toàn do đếm số năm chăng?
- Này Sàriputta, trong Pháp, và Luật này, không có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán, hoàn toàn do đếm số năm. Bảy sự thù diệu này, này Sàriputta, sau khi với thắng trí, Ta tự chứng ngộ, chứng đạt, an trú, và tuyên thuyết. Thế nào là bảy?
- Ở đây, này Sàriputta,
Tỷ-kheo tha thiết hành trì học pháp và trong tương lai khát vọng hành trì học pháp;
Tha thiết quán pháp và trong tương lai khát vọng quán pháp;
Tha thiết nhiếp phục lòng dục và trong tương khát vọng nhiếp phục lòng dục;
Tha thiết Thiền tịnh, trong tương lai khát vọng Thiền tịnh;
Tha thiết tinh cần tinh tấn và trong tương lai khát vọng tinh cần tinh tấn;
Tha thiết niệm tuệ và trong tương lai khát vọng niệm tuệ;
Tha thiết thể nhập tri kiến và trong tương lai khát vọng thể nhập tri kiến.
Này Sàriputta, bảy thù diệu sự này được Ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, an trú và tuyên thuyết. (Tăng Chi Bộ Kinh tập 3, IV. Phẩm Chư Thiên, IV. Phẩm Chư Thiên, bài kinh Thù Diệu Sự 1).
Thù diệu sự thứ nhất
“Tỷ-kheo tha thiết hành trì học pháp và trong tương lai khát vọng hành trì học pháp”. Đây là thù diệu sự thứ nhất của người tu, ai có được cái tâm này thì người đó có được sự thù thắng vi diệu.
Hành trì học pháp nói chính xác là những oai nghi tế hạnh. Học phần giới hạnh ở bên ngoài đó, tức là người đó luôn luôn để ý đến giới hạnh, oai nghi, cử chỉ của một người tu. Luôn luôn nhìn lại cách đi của mình, nhìn lại cách đứng của mình, cách nhìn của mình có đúng học pháp người xuất gia không. Phải học hai mươi bốn oai nghi của Sa di; mười giới, tám giới, năm giới của người cư sĩ, chúng ta phải luôn luôn để ý, thực tập, đó là những học pháp. Chúng ta không được rơi rớt không cho nó dừng lại, không được đứng lại một chỗ mà phải làm cho sự tu học được bước lên, tiến lên cao.
Phải tha thiết hành trì học pháp, tâm lúc nào cũng cháy bỏng, nồng nhiệt, thao thức, khắc khoải, luôn luôn thực tập hành trì những pháp mà mình đã học. Đó là thù diệu sự và bên trong người đó có sự thù thắng vi diệu của một người tu. Người đó là người đáng được tán thán trong hàng đệ tử của Đức Thế Tôn. Tha thiết, một lòng nóng bỏng, bừng cháy, rực cháy trong sự tu học Chánh Pháp. “Lò hồng hực hực nào vun tuyết”, tức là để tuyết vào lửa là tan hết. Cũng vậy, trong lòng mình là một sự nóng bỏng, nhiệt tâm, nhiệt tình đối với sự hành trì học pháp, đó là thù diệu sự của Như Lai, được Như Lai chứng ngộ, chứng trí và tuyên thuyết.
Chúng ta hãy tự kiểm tra lại xem mình có cái này không, nếu có thì có được bao nhiêu. Một người có tâm tha thiết để học pháp thì bất cứ chỗ nào, khi nào họ cũng thực hành pháp đã học, chứ không phải tụng Tứ Niệm Xứ xong là hết.
Trong Tứ Niệm Xứ nói Tỳ-kheo khi đi rõ biết mình đang đi, khi đứng rõ biết mình đang đứng. Co, duỗi, cúi, ngước, đắp y, ôm bát, nói chuyện, im lặng cũng rõ biết, không có lúc nào mà không rõ biết. Ba mươi hai thể trược như thế nào phải rõ biết. Tứ đại hiện tại bên trong: đất, nước, gió, lửa đang vận hành như thế nào phải rõ biết. Thân như thế nào, sử dụng những tư thế oai nghi như thế nào phải rõ biết. Cảm giác như thế nào phải rõ biết. Nội tâm như thế nào, có tham, có sân hay có si hay không cần phải rõ biết và xử lí. Các pháp vận hành như thế nào cũng phải rõ biết.
Luôn luôn an trú trong cảm giác toàn thân, nhận diện năm uẩn, tha thiết hành trì học pháp. Tha thiết chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Tha thiết tẩy rửa những cấu nhiễm, cấu uế. Những cái che mờ trong tâm, tha thiết đánh đuổi, trừ diệt, đoạn tận và chấm dứt chúng. Những cái gì đã học phải tha thiết hành trì.
Cũng như hôm qua, chúng ta học Hỷ Vô Lượng Tâm, chiều ngồi thiền mình ứng dụng, thọ dụng, như vậy là chúng ta có sử dụng chứ không phải học xong là thôi. Cho nên, phải kết hợp sáng lý thuyết và chiều thực hành, chứ không phải buổi sáng học xong, đến chiều vào ngồi thiền một tiếng mấy im phăng phắc, tới khi trình pháp mới thấy quằn quại, đau đớn, chiến đấu khốc liệt, thậm chí tưởng đâu là chết luôn rồi. Mới ngồi có một tiếng mười lăm phút tưởng đâu là chết. Học hành là văn võ song toàn chứ không phải chỉ có cái miệng, phải lý thuyết và thực hành song song, như vậy mới gọi là “lưỡng toàn kỳ mỹ”. Có sắc thì phải có hương, chứ không phải giống như hoa giả, nhìn thì đẹp nhưng không có mùi gì hết, đó gọi là “hữu sắc vô hương”.
Chúng ta cần phải tha thiết, nhiệt tình, luôn luôn lúc nào cũng bằng tất cả tấm lòng vì pháp, hành trì pháp và trong tương lai cũng phải khát vọng hành trì học pháp. Tức là ngay trong hiện tại đã tha thiết hành trì rồi, mà Đức Phật còn thêm nữa, trong tương lai cũng phải khát vọng hành trì học pháp chứ không phải chỉ nói hiện tại. Tu ba năm, năm năm không còn muốn tu nữa, không còn muốn ngồi thiền nữa, không còn muốn nghe pháp nữa, vì vậy tương lai không còn tha thiết tu học nữa. Cho nên, trí huệ của bậc Thánh mới thêm vào là trong tương cũng lai phải khát khao, khát vọng hành trì học pháp.
Thù diệu sự thứ hai
Sự thù diệu thứ hai là “tha thiết quán pháp và trong tương lai khát vọng quán pháp”. Đầu tiên là hành trì học pháp, tiếp theo là quán pháp.
Tha thiết trong sự quán pháp nói gọn trong Tứ Niệm Xứ là quán pháp ở trên pháp. Quán xem các pháp trong nội tâm mình như thế nào? Tứ đại như thế nào? Cảm giác vận hành như thế nào? Các tưởng vận hành như thế nào? Những suy nghĩ bên trong – hành uẩn vận hành như thế nào? Thức uẩn vận hành như thế nào? Có đam mê trong vị ngọt không, có thấy được sự nguy hiểm và tác hại của nó không? Có đang bước trên đạo lộ để xuất ly ra khỏi nó không? Mình phải thấy, phải biết những điều đó, như vậy gọi là quán pháp, phải tha thiết trong sự quán pháp.
Trong giờ ngồi thiền, có những lúc mình không bắt kịp thọ, tưởng, hành, thức vì nó cực kỳ siêu nhanh và siêu vi, vi tế. Nếu thật sự một người không có nhiệt tâm, không có tha thiết, không có sự thiền định thì không thể nào thấy được những cảm giác, những nghĩ tưởng trong nội tâm của mình.,Đối với người buông lung phóng dật, biếng, không có sự nỗ lực cố gắng là không thể nào thấy được, không thể nào tuệ tri được những điều đó. Những suy nghĩ của mình thật sự cực kỳ nhanh, nhiều khi mình đi theo không kịp, để nó vượt mặt, mình cứ chạy sau đuôi nó, rồi mình không biết đã nghĩ cái gì. Mà đó là ngay trong lúc mình ngồi thiền đó, là lúc mình toàn tâm toàn ý nhất nhưng chỉ lơ là một chút là mất hết, chứ đừng nói chi mắt, tai, mũi, lưỡi của mình cứ hướng ra ngoài thì khi nào mình mới thấy được nội tâm.
Nếu không thấy được nội tâm thì làm sao mình thấy được trong đó có thứ gì. Những cấu nhiễm, rác bẩn, lậu hoặc, những tham ái, sân hận, bản ngã, vô minh, chấp thủ đầy rẫy ở trong đó nếu mình không nhìn thì làm sao mình phát hiện thấy chúng. Có khi nhìn mà mình cũng không thấy, cho nên phải là người được hướng dẫn thành tựu trí năm uẩn thì mới thấy được, còn không là nhìn lung tung hết, chỉ thấy một đống xà bần, một đống tơ vò, rối một chùm như vậy thì biết đầu mối ở chỗ nào, cho nên chúng sanh không đi ra khỏi được. “Này các Tỳ-kheo, ta cùng các ông đã dài lâu ở trong ở trong đêm trường của vô minh và tham ái, do hôm nay giác ngộ được Tứ Thánh Đế cho nên mới chấp dứt”. Vì vậy, phải giác ngộ được trí năm uẩn, thành tựu được Thánh trí thì mới nhìn thấy được tự thân, tự tâm của mình.Thành ra thật sự là hết sức khó khăn đối với người vô văn phàm phu, ngay cả người xuất gia cũng không có cơ hội để vượt thoát được đối với một sự biến diệt kinh khủng như vậy.
Trong một bài kinh đã học, hôm đó ngài A-nan đi từ ngoài chợ trở về, A-nan bạch với Thế Tôn là hôm nay ở ngoài kinh thành có một người bắn cung hết sức giỏi. Ông này bắn cung là xuyên qua lỗ khoá của cửa. Ngài A-nan khen người này hay quá. Đức Phật mới hỏi ngài A-nan, nếu như có đồng thời có bốn người bắn tên lên bốn hướng, một người bắn cung nhảy lên chụp được cả bốn mũi tên thì như vậy có nhanh không? Ngài A Nan nói nếu chụp được một mũi tên thôi là nhanh lắm rồi, nếu mà chụp được bốn mũi tên thì phải rất là nhanh. Đức Phật nói người chụp được bốn mũi tên cùng một lúc chưa nhanh chưa bằng sự vận hành của mặt trời, mặt trăng. Sự vận hành của mặt trời, mặt trăng nhanh như vậy cũng chưa nhanh bằng thần thông của chư Thiên. Đức Thế Tôn mới khởi nghĩ thôi là Phạm Thiên Sahampati đã quỳ trước mặt Phật, qua đó chúng ta thấy độ nhanh của thần thông chư Thiên đến mức độ nào, vậy mà nó còn chưa nhanh bằng sự biến diệt của thọ, tưởng, hành, thức.
Thọ, tưởng, hành, thức nhanh siêu khủng, siêu nhanh, siêu vi, siêu tốc, trong tất cả những cái siêu của thế gian không có cái nào siêu bằng cái siêu này. Cho nên, một nội tâm không có yên định, bén nhạy, sắc bén để quan sát thì làm sao mà mình thấy được thọ, tưởng, hành. Vì vậy, giờ thiền của mình là giờ quán tâm ở trên tâm, nhìn thấy được sự vận hành và sanh diệt của ngũ uẩn, thấy được thọ tập khởi và thọ đoạn diệt, thấy cảm giác sanh khởi, chấm dứt và an trú như thế nào; thấy được các hình bóng trong nội tâm sanh khởi lên rồi an trú, chấm dứt ra làm sao; thấy được suy nghĩ của mình sanh khởi, diễn biến và chấm dứt như thế nào; thấy được cái thức sanh khởi lên rồi chấm dứt như thế nào. Điều này thực sự hết sức khó, nếu không được hướng dẫn trí năm uẩn này, không phải người điêu luyện, thuần thục, lão luyện thì làm sao mà thấy nổi, vì vậy mà chết hết ở trong tư tưởng đó. Cho nên phải tha thiết quán pháp để thấy được sự vận hành ở bên trong.
Trong phần quán pháp, đầu tiên là quán Năm Triền Cái, kế đến là quán Sáu Nội Ngoại Xứ, rồi kế đó là Bảy Giác Chi, Năm Thủ Uẩn và Bốn Thánh Đế. Thấy được pháp rồi mới thật sự biết được ân đức vĩ đại của Đức Thế Tôn. Đức Phật đã đưa ra hết tất cả các pháp, đưa ra đạo lộ xuất ly để đánh phá hết tất cả những ngõ ngách, sào huyệt hiểm hóc của vô minh, tham ái và chấp thủ mà một chúng sanh không thể nào mình thấy được.
Chúng ta chỉ nói mỗi “Sáu Nội Ngoại Xứ” thôi là đã thấy khủng khiếp rồi. Mình phải quán con mắt này là vô thường, con mắt này là cục thịt, là máu, gân, đồng tử. Còn phong đại bên trong con mắt này mới chớp được, phong đại không còn là nó cứng đơ, không có chớp nữa. Khi mình chớp mắt là có gió bên trong, có nội phong đại thì mới cử động, mới chớp được. Cũng vậy, có gió thì mình nói mới phát ra âm thanh được, còn nội phong đại mà không có thì làm sao nói. Cho nên quán sáu nội xứ là quán sáu chỗ bên trong, sáu ngoại xứ là sáu chỗ ở bên ngoài.
Sáu chỗ bên trong là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Sáu chỗ bên ngoài là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
Như vậy, mỗi một chỗ có một cặp đôi. Mắt thì với sắc, con mắt nó đã vô thường là một cục thịt, các sắc là đối tượng của con mắt cũng vô thường, biến hoại. Nhãn thức bên trong – sự rõ biết các sắc cũng là vô thường, là pháp duyên sanh. Do có con mắt và các sắc nên khởi lên sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ, giao thoa lại với nhau gọi là nhãn xúc, sự tiếp xúc của con mắt. Từ sự tiếp xúc của con mắt sanh khởi lêncảm giác từ nơi con mắt. Tất cả đều là vô thường thì cảm giác đó làm sao mà thường được, làm sao mà thật được. Nhưng do chúng ta không tha thiết quán pháp thì sao thấy được duyên sanh pháp, làm sao thấy sự vận hành của các pháp. Vì không thấy được nên mình mê, mê dưới con mắt, mê dưới các sắc, mê với nhãn thức, mê với sự tiếp xúc của con mắt, mình mê cái cảm thọ khi tiếp xúc và mình ưa thích cảm thọ đó, rồi mình bị cảm thọ đó trói buộc.
Giờ mình quán pháp để mình thấy rõ từng cái, rồi phân tích từng cái để mình gỡ ra từng mắt xích. Cũng như cái bàn mây này, mới chạm nhẹ thôi là nó rung rinh, bây giờ mình thấy nó đẹp nhưng khi mở ra từng cây thì nó không còn là cái bàn nữa. Quán pháp cũng như vậy, mình mở từng cái ra để thấy từng bộ của nó. Cũng như cái áo đang mặc, mình thấy màu này, màu kia đẹp, vải này tốt, vải này xấu, nhưng khi xé nó ra, lấy từng sợi chỉ ra thì lúc đó chiếc áo này không còn nữa. Tất cả đều là sự kết hợp, là sự lắp ráp nhưng khi lắp ráp vào rồi là mình mê hình ảnh của sự lắp ráp đó và không biết chất liệu trong sự lắp ráp đó là gì.
Cho nên, chúng ta quán tứ đại là quán những yếu tố để cấu thành các sắc, khi nhìn thấy được yếu tố đó thì mình không còn mê nó nhiều. Nếu như mình mổ cơ thể này ra thì chỉ nhìn thấy phèo, phổi, ruột, bao tử, lá lách, phân, nước tiểu, mủ, máu, lúc đó mình thấy ghê sợ, nhưng khi lắp ráp lại, lấy tấm da phủ lên, may vá lại, nó lành thì cắt chỉ là không còn thấy bên trong nữa. Khi đó chỉ thấy rằng người đó đẹp, cao một thước tám, trắng trẻo, dễ thương, bụng sáu múi hay là chân dài, eo thon, óc mượt mà. Như vậy là thọ sanh khởi, mình chết bởi vẻ bề ngoài mà mình không thấy được yếu tố cấu thành, cấu tạo làm nên nó là cái gì.
Cho nên, chúng ta cần phải quán pháp để thấy được chỗ sâu xa đó. Phải quán một chuỗi dài: mắt đối với sắc, tai đối với tiếng, mũi đối với mùi, lỗ tai đối với tiếng… Phải quán pháp và quán một cách tha thiết, hai chữ “tha thiết” này quan trọng lắm, thù diệu sự là ở chỗ tha thiết, còn không tha thiết là không tu tập được.
Thù diệu sự thứ ba
Sự thù diệu thứ ba là “tha thiết nhiếp phục lòng dục và trong tương lai khát vọng nhiếp phục lòng dục”. Người đó phải tha thiết nhiếp phục lòng dục, sự tham muốn, tham dục, tham ái. Dục có nghĩa rất rộng: dục ăn, dục ở, dục nghỉ, dục nói, dục tham, dục muốn, dục đi chơi, dục hưởng thụ...
Cũng như Minh Thành, khi về đến núi thì vào thất đóng cửa, nằm võng nghỉ ngơi không sướng hơn đi bộ xuống, đi bộ lên để mồ hôi ướt hết áo hay sao? Mình cũng muốn như vậy nhưng mình biết đó là dục. Khi mình thấy được cái dục là phải nhiếp phục, phải lên giảng pháp, còn sống là còn làm. Đó là ví dụ nhỏ thôi nhưng mình phải nhiếp phục, chứ đâu phải thô kệch như phàm phu mới nhiếp phục, những cái nhỏ nhỏ như vậy phải thấy và nhiếp phục.
Cho nên, chúng ta phải học được cách diệt dục, phải thấy được nó, phải thấy được trong cảm giác của mình, nó muốn khoẻ, muốn thoải mái, muốn chơi, nó không có muốn cực khổ, không muốn bị ép vào khuôn khổ. Cái dục nó không muốn, cái ái nó không muốn, cái ham hưởng thụ nó không muốn mà nó muốn cho khoẻ. Giờ kêu ngồi học nó nói “thôi mệt, giờ này tự nhiên kêu học”, chúng ta đừng nói là không có, hãy nhìn sâu lại đi. Khi nghe học là khó chịu liền, mình phải nghe được tiếng nói của nó, khi có tiếng nói của ái thì mình phải Như Lý Tác Ý để đánh ra liền: “Mình vô đây cầu học, cầu pháp mà giờ học pháp mình lại khó chịu là sao?”. Chúng ta suy nghĩ như vậy và đánh đuổi liền thì đó là thù diệu sự, là kỳ tích, là sự xác lập kỷ lục của tâm linh, là kỳ tích của tu hành, là sự tha thiết nhiệt tình trong học pháp. Chúng ta có thể hạ gục được hết các tên giặc muốn xâm chiếm chúng ta ở trên bước đường Thánh trí giác ngộ của mình. Chúng ta đập đổ đo ván tụi nó hết, hạ gục hết. Tên nào thỏ thẻ, thủ thỉ, thở than với mình là mình cho nó “nhất đao lưỡng đoạn”, tức là một dao hai khúc, lúc đó mình mới trở thành dũng sĩ trong Phật Giáo. Phải vận dụng hai chữ thiết ta này để nhiếp phục lòng dục.
Ví dụ, bữa nào mình nghe pháp lố giờ, tới giờ ăn rồi, bên trong muốn đi ăn cơm thì đó là dục, mình phải nhiếp phục. Mình nói với nó là phải ngồi đây thêm hai tiếng nữa cũng được, vì mình ăn bốn chục năm rồi nhưng cũng đâu có thoả mãn đâu, ngủ 35 năm rồi mà cũng đâu có thoả mãn. Được như vậy là thù diệu sự, là sự xác lập kỷ lục.Phải có thái độ tu tập như vậy thì mình mới chinh phục, mới chiến thắng còn nếu không là mình chết liền, mình gục ngã ngay thôi. Không phải nó đo ván mà mình đo ván từ tối tới chiều đến khuya.
Khi ngồi thiền mà nó lờ đờ mình không có chống đối, mình cứ để cho nó xâm chiếm luôn. Khi một cơn hôn trầm tới mình biết nhưng mình chiều theo luôn, mình để cho nó xâm nhập luôn, cho nên mới có hiện tượng ngồi gục lên, gục xuống, đó tức là con người yếu hèn, hạ liệt ở trong Pháp của Như Lai và con người đó mãi mãi không thành dũng sĩ chiến sĩ được, không thể thành bậc chiến thắng được. Đức Thế Tôn được gọi là bậc chiến thắng, các vị A-la-hán được gọi là sát tặc.
Còn mình ngồi thiền, dù biết hôn trầm xuất hiện nhưng mình để cho nó xâm chiếm. Trạo cử, sự dao động của thân xuất hiện mình biết mà cũng để cho nó xâm chiếm. Rồi trong những cái tưởng, cái hành, suy nghĩ sanh khởi dục tham dù biết nhưng mình cũng đi theo nó luôn. Đó là những cái vi tế, sâu sắc mà người tu phải nhận ra. Phải tha thiết ở trong sự nhiếp phục lòng dục, trong sự quán pháp.
Mình đang ngồi thiền với đại chúng mà nó kêu đi ngủ, rồi mình cũng nghe lời, vào phòng nằm, leo lên giường ngủ, như vậy xem có ngu không, có tệ không! Như vậy là mình trở thành đệ tử của dục, nó kêu là mình nghe liền. Mình không phát hiện ra kẻ thù, không biết nó là kẻ thù mà mình nhận nó làm bạn, rồi nghe lời nó và làm nô lệ cho dục. Mà ai nhắc nhở là mình sân si lên chồng lên một tội nữa là không thành tựu trí huệ. Cho nên cái quán pháp này sâu sắc tuyệt diệu lắm, mình thấy được rồi nhiếp phục là đã lắm, sướng lắm, hạnh phúc lắm!
Phải thấy được những cái dục, ái, tham sanh khởi trong nội tâm. Phải thấy được sân hận, bản ngã, những cái xảo nguỵ trong đó, nó ghê gớm lắm mà mình không biết. Nó giết mình một cách ngọt lịm, như ngọt như đường cát mà mát như đường phèn vậy, ngọt mật chết ruồi. Mình chết trong sự cam tâm tình nguyện, không biết gì hết, đó là vô minh không thấy được các pháp. Cho nên muốn thành tựu Chánh tri kiến của bậc Tu-đà-hoàn không phải đơn giản mà mình nghĩ đơn sơ đâu. Bậc hướng dự lưu thôi là không dễ, cho nên không phải mình học được một chút mà mình nghĩ Thánh quả là đơn giản đâu. Thành tựu Chánh tri kiến là khủng khiếp lắm.
Chúng ta phải có một sự nỗ lực, tinh tấn cùng cực, thiết tha nhiếp phục lòng dục và trong tương lai khát vọng nhiếp phục lòng dục. Phải nhìn ra hết tất cả những mánh khoé, thủ đoạn, kỹ xảo, mình thấy rồi tin vào đó là mình chết liền. Nếu là ảnh đã photoshop, người chuyên về photoshop nhìn vào biết ngay là tấm này có chỉnh sửa, cũng vậy trong nội tâm có những tiếng nói êm ả, ngọt ngào, dễ chịu và những lời biện minh hết sức chính đáng nếu mình không nhìn sâu xuống nhiều lớp nữa là mình chết ngay. Đó chính là ác ma, nó hạ gục mình liền, nó kêu là mình chạy theo liền. Phải nhìn sâu xa xuống nhiều lớp coi cái gì trong nội tâm mình, trong đó là một sự khủng khiếp mà vô văn phàm phu không bao giờ tưởng tượng được. Nếu không có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện trên thế gian này, không có một người học tu đúng theo con đường Nikãya Đức Phật dạy thì tất cả đều là một sự dối lừa kinh khiếp, cả vũ trụ này bị phủ trong bóng đêm và như thế nó dẫn mình đi.
Thù diệu sự thứ tư
Sự thù diệu thứ tư là “tha thiết Thiền tịnh, trong tương lai khát vọng Thiền tịnh”. Chỗ này chính bản thân Minh Thành sám hối rất mạnh, rất nhiều. Hồi xưa cách đây vài năm học được một chút, biết được một chút là khỏi ngồi thiền, tưởng mình ngon rồi, còn tự hào nữa. Giờ mình mới thấy như vậy quả là vô minh, si mê. Đọc trong Kinh Nikãya lúc nào buổi chiều Đức Thế Tôn cũng thiền tịnh đứng dậy, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mà mỗi ngày đều ngồi thiền, chứ đừng nói chi là mình. Cứ nghĩ tu được rồi, khỏi ngồi thiền gì nữa, tối ngày chỉ độ người ta thôi, đó là nghĩ theo kiểu dục, kiểu tham, kiểu ái của mình. Còn Đức Phật tuỳ theo nhân duyên, người nào đáng được độ, có thể độ và người nào đi tới muốn tìm học thì Ngài mới nói pháp. Thậm chí trong một chúng hội mà có một người mù, gọi là thiếu căn là Đức Phật không có nói pháp, tại vì nói pháp người đó cũng không hiểu. Ví dụ nói mắt duyên với sắc, sanh khởi nhãn thức thì họ không hiểu được vì họ không thấy.
Những dự định, dự toán, kế hoạch này nọ kia đều là dục. Bây giờ người ta đến xin cúng dường để xây dựng những công trình, khi đó mình cần phải suy xét thật kỹ, chứ không phải mình còn có ý định đi tìm, đi xin, đi kiếm, chỗ này phải thật sâu sắc. Cho nên cần phải thiền tịnh, tha thiết thiền tịnh.
Những giây phút về ngồi bên huynh đệ Minh Thành thấy hạnh phúc lắm, tuyệt vời lắm, bình an lắm, kỳ diệu không diễn tả nên lời. Khí hậu thì mát mẻ, gió thổi cành trúc xạc xào, phong linh vang vọng, chim thì hót, mây thì bay. Thầy trò huynh đệ cùng tu Chánh Pháp, dù có vài người thôi nhưng hỷ lạc bất khả tư nghì, hy hữu, vị tằng hữu, chưa từng có trong thế giới hiện tại, hiện đại này. Chúng ta phải tha thiết trong sự thiền tịnh, phải quý trọng giờ phút thiêng liêng, quý báu nhất của cuộc đời tu mình, đó là giờ ngồi nghe pháp và ngồi thiền. Giờ đó không quý thì mình quý giờ nào, giờ đó không tu thì mình tu cái giờ nào, giờ đó không học thì mình học giờ nào, mình đi xuất gia để làm gì?
Tuyệt vời! Đây là thù diệu sự, việc thù thắng hy hữu, vị tằng hữu pháp, hiếm có, chưa từng có ở trong thế giới hiện đại này. Thật là bất khả tư nghì để cho chúng ta có mặt trong giây phút này. Cho nên phải ta thiết ở trong thiền tịnh, lúc rảnh là cứ bắt chân lên ngồi, hoặc trong thiền đường, hoặc dưới gốc cây, hoặc ở dưới mỏm đá cứ việc ngồi. Đó là thù diệu sự! Tất cả mọi người đều chạy ở ngoài, lo ở ngoài, kiếm ở ngoài mà mình ngồi quay lại nhìn tự thân, cho nên đó là thù diệu, thù thắng, vi diệu. Hơn nữa, chúng ta còn tha thiết trong điều đó chứ không phải là mình ngồi làm dáng, làm tướng, ngồi để chụp hình nó khác. Ví dụ, thấy có người đông đông là ngồi thiền, thấy người ta lại gần là lên ngồi, như vậy là khác, là giả trang thiền tướng. Cho nên, phải thật sự tha thiết trong sự thiền tập, sự an tịnh.
Buổi sáng Minh Thành ngồi ở hành lang trong thất, bên ngoài bọc kiếng, ngồi như vậy thì thấy một cái bóng ở ngay trước mặt, một cái bóng ở bên tay phải, một cái bóng ở tay trái, chúng pha trộn với trúc xanh, như vậy thấy tới bốn ông nhưng không biết ông nào là mình, tất cả mọi cái đều là cái bóng, rồi trong tâm mình có thêm một cái bóng nữa. Cho nên, tổng cộng có năm cái bóng ảo ảnh của thân kiến, của sự trống rỗng về sự lừa gạt này, sự dối lừa trong mấy mươi năm qua, sự điên đảo, sự dục, tham, ái, sự khốn khổ, khốn cùng với năm cái bóng này. Rồi cứ mãi khổ đau tìm kiếm, mệt mỏi, nhọc nhằn đến suy hao, cạn kiệt, suy lão. Giờ phút này, chúng ta ngồi lại, không chạy, không tìm kiếm những ảo ảnh nữa, vì thế chúng ta hết sức bình an, đại bình an.
Ta ngồi đây, ta ly tham đối với tất cả sắc chất của cuộc đời này. Ta ngồi đây, ta ly tham đối với tất cả cảm giác, cảm thọ trong thân thể này. Ta ngồi đây, ta ly tham đối với tất cả những hình bóng bên trong nội tâm này. Ta ngồi đây, ta ly tham, ta lìa tham ta không còn ham thích với tất cả những suy nghĩ, những lời nói lầm thầm ở bên trong này nữa. Ta ngồi yên lặng ở đây, ta ly tham, ta không còn tham muốn để chạy theo những tri thức, những kiến thức, những sự rõ biết bên trong sáu thức này. Đây là dáng ngồi bất động tối thượng.
Ta ngồi đây, ta quán chiếu thực tính của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ta ngồi đây, ta tuệ tri năm đống vô thường này. Ta ngồi đây, ta thấu triệt bản chất của tứ đại, ngũ uẩn này. Ta ngồi đây, ta nhìn kỹ, nhìn rõ, nhìn xuyên để từ bỏ, để nhàm chán, để chấm dứt dòng tái tục của đảo điên.
Ta ngồi đây, ta ngồi đây, ta ngồi đây bất động. Ta tha thiết trong thiền tịnh. Hãy tha thiết trong sự tĩnh lặng, hãy bớt dao động, bớt loạn động rồi ta sẽ thấy được cánh cửa bất tử sẽ mở ra ở trước mắt ta.
“Này các Tỳ-kheo hãy dán tâm vào tỉnh mặc, các ông sẽ thấy được sự tập khởi và sự đoạn diệt của năm thủ uẩn”. Dán tâm vào tỉnh mặc cũng có nghĩa là dán tâm vào thiền tịnh. Chúng ta chỉ bàn về pháp, còn ngoài ra yên lặng. Khi nói là bàn về Thánh Pháp, khi im lặng là thiền tịnh, đừng để bị dao động bởi những thói quen, tập khí và những cử chỉ phàm phu nhiều. Phải thực tập cho mình dần dần để tăng thượng đức hạnh thanh cao đó.
Thù diệu sự thứ năm
Thù diệu sự thứ năm là “tha thiết tinh cần, tinh tấn và trong tương lai khát vọng tinh cần, tinh tấn”. Tinh tấn chưa đủ, tinh cần chưa đủ mà còn phải tha thiết. Tha thiết bằng một cái tâm nhiệt huyết, bằng tất cả tấm lòng của mình trong sự tinh tấn tu học, hành trì. Tinh tấn trong Tứ Chánh Cần: thiện pháp chưa sanh làm cho sanh khởi; thiện pháp đã sanh làm cho lớn mạnh phát triển lớn mạnh; ác pháp đã sanh phải trừ diệt; ác pháp chưa sanh đừng cho nó sanh khởi. Tinh tấn trong sự phòng hộ các căn, tinh tấn trong sự tu tập các thiện pháp, giữ gìn các thiện pháp không cho nó rơi mất, sót mất. Tinh tấn đoạn trừ tham, sân, si. Khi mình nhìn thấy biết nó trong năm uẩn.
Đức Phật có dạy, này các Tỳ-kheo trong khi các ông đi, đứng, ngồi, nằm mà những suy tầm về dục, những suy tầm về sân hận, những suy tầm về hại sanh khởi lên thì các ông phải nhanh chóng tẩy sạch, trừ diệt, làm cho nó không còn hiện hữu, người như vậy là người tinh tấn, ưu việt trong giáo pháp của Như Lai. Giống như một người đội cái khăn trên đầu mà cái khăn bị cháy thì phải gấp rút, mau chóng, nhanh lẹ quăng cái khăn đó xuống, dập tắt nhanh chóng ngọn lửa đó, như vậy mới là người tinh cần, tinh tấn, tha thiết trong sự học hỏi, hành trì, tu tập. Nếu một người thấy tham, sân, si, bản ngã trong nội tâm mà cứ việc để như vậy, này các Tỳ-kheo, đó là hạ liệt, thấp hèn, hèn nhát, thấp hèn, hèn hạ ở trong giáo pháp của Như Lai.
Thù diệu sự thứ sáu
Thù diệu sự thứ sáu là“tha thiết niệm tuệ và trong tương lai khát vọng niệm tuệ”. Tuệ là tuệ tri, là tuệ quán, là tuệ giác, là trí huệ. Chánh niệm, tuệ quán trú tâm trong Tứ Niệm Xứ. Luôn luôn nhớ nhìn lại cảm giác, nhìn lại nội tâm, nhìn lại các pháp vận hành. Hơn nữa, đâu phải nhìn lại là đủ, nhớ đến là đủ mà phải dùng Thánh tuệ, Thánh trí để trừ khử, thanh lọc, tẩy rửa, diệt tận những cấu nhiễm. Phải tha thiết ở trong chánh niệm và ở trong trí huệ. Thật là tha thiết, tha thiết vô cùng, quý báu vô cùng, quý trọng vô cùng sự chánh niệm và tuệ giác này.
Thù diệu thứ bảy
Cuối cùng, sự thù diệu thứ bảy là “tha thiết thể nhập tri kiến và trong tương lai khát vọng thể nhập tri kiến”. Một tấm lòng khắc khoải, một nội tâm nhiệt thành, nóng bỏng, cháy rực còn hơn lúc mới yêu. Đối với pháp là yêu thích quý mến còn hơn người yêu, mỗi ngày không nghe là chịu không nổi, mỗi ngày không học là chịu không nổi, thiếu vắng là chịu không được, pháp còn hơn người yêu. Không thể rời một phút giây nào hết đối với cái thể nhập tri kiến của bậc Thánh. Thể nhập tri kiến ở đây nói đầy đủ là thể nhập Thánh tri kiến, thể nhập Thánh trí năm uẩn vô ngã, thể nhập Thánh tuệ tứ đại trống rỗng, vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. Tha thiết bằng cả một tấm lòng nhiệt huyết, tương tư, lúc nào cũng nhớ, cũng nghĩ, lúc nào cũng muốn tiếp xúc, muốn được gặp, muốn được xúc chạm với Thánh pháp. Khao khát cháy bỏng, dù cho có gục ngã xuống chết liền tại chỗ cũng được, miễn sao là thể nhập Thánh tri kiến.
Đó chính là sự khát vọng trong tu học, khao khát sự thể nhập với Thánh tri kiến, ngược lại là sự khát ái, khao khát với ái dục, ngũ dục. Chúng ta phải đem tâm chảy bỏng để tu học mới được, bằng không sự khát ái thì mãnh liệt, mạnh mẽ, còn sự tu học thì trơ trơ, có cũng được không có cũng không sao, tu cũng được không tu cũng không sao, học cũng được không học cũng không sao. Không có tha thiết, không có khát vọng thì làm sao thể nhập được Thánh tri kiến. Hiện tại đây, cái thấy của chúng ta là phàm tri kiến, thấy biết của phàm phu, của ái, của vô minh, của chấp ngã, của khen mình chê người, của ta đây, của tự đắc, của bản ngã.
Mọi người phải tha thiết để thể nhập tri kiến của bậc Thánh, không còn một cái gì nữa ngoài mục đích này, từ đây cho đến ngày mình nhắm mắt còn cái gì nữa đâu mà thương với sầu. Có cái gì để cho mình thương, có cái gì để cho mình sầu thực sự ngoài Thánh pháp này, Thánh trí này, Thánh quả này, Thánh đạo này. Hãy tha thiết cháy bỏng, cứ việc bỏ ăn bỏ ngủ, không sao hết. Bớt ăn, bớt ngủ, ngày đêm học hỏi, nghe pháp, nghiền ngẫm, quán chiếu, tu tập.
Lời kết
Như vậy, chúng ta cần phải học pháp, quán pháp, niệm tuệ, nhiếp phục lòng dục, tinh cần, tinh tấn, thiền tịnh, thể nhập chánh tri kiến là chúng ta sẽ thành tựu được bảy thù diệu sự. Sự xác lập kỷ lục tâm linh, kỳ quan của người xuất gia, kỳ quan của Phật Giáo thế giới là bảy thù diệu sự này chứ không phải xây dựng ở ngoài, đó là chuyện của người khác, để người cư sĩ lo. Còn bảy thù diệu sự này là xác lập kỷ lục của hiền thánh, xác lập kỷ lục của tâm linh, xác lập kỷ lục xuất thế gian. Sung sướng lên, phấn khởi lên, hân hoan lên, nóng bỏng lên, mạnh mẽ lên! Thế Tôn đi đến đâu là khuyến khích làm cho phấn khởi, làm cho hân hoan, ngày đêm thực hành thiện pháp.
Thành tựu bảy thù diệu sự này, này Sàriputta, Tỷ-kheo, nếu trong mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!".
Nếu trong hai mười bốn năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!".
Nếu trong ba mươi sáu năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!".
Nếu trong bốn mươi tám năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!". (Tăng Chi Bộ Kinh tập 3, IV. Phẩm Chư Thiên, IV. Phẩm Chư Thiên, bài kinh Thù Diệu Sự 1).
Như vậy, mười hai năm, hai mươi bốn năm, ba mươi sáu năm hay bốn mươi tám năm đều được khen ngợi hết, nhưng phải có đầy đủ bảy sự thù diệu sự nói trên. Chúng ta phải kiểm tra lại, xem mình đã đầy đủ bày thù diệu sự này hay không?
./.
BẢY SỰ THÙ DIỆU
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Thù Diệu Sự” PAGEREF _Toc69842565 \h 1
II.Thù diệu sự thứ nhất PAGEREF _Toc69842566 \h 4
III.Thù diệu sự thứ hai PAGEREF _Toc69842567 \h 6
IV.Thù diệu sự thứ ba PAGEREF _Toc69842568 \h 9
V.Thù diệu sự thứ tư PAGEREF _Toc69842569 \h 12
VI.Thù diệu sự thứ năm PAGEREF _Toc69842570 \h 14
VII.Thù diệu sự thứ sáu PAGEREF _Toc69842571 \h 15
VIII.Thù diệu thứ bảy PAGEREF _Toc69842572 \h 15
IX.Lời kết PAGEREF _Toc69842573 \h 16
Bài kinh “Thù Diệu Sự”
Hôm nay Minh Thành đã lên xe xuống núi nhưng có một cuộc điện thoại của một vị sư đang học tiến sĩ ở Myanmar rằng trưa nay sư đến thăm Linh Quy, sư rất giỏi về tiếng Anh và tiếng Pāli. Vị sư này khi chúng ta đi qua bên đó sư đã lo lắng cho đoàn mình rất nhiều trong suốt mười ngày, đây là thời gian rất là quý hiếm sư mới ghé thăm cho nên Minh Thành quyết định quay trở lại. Khi quay lại thì không để cho thời gian uổng phí, chúng ta phải tinh tấn, tinh cần tu học trong ba tháng an cư, quý trọng từng phút giây, dù cho có mệt nhưng pháp hỷ, pháp lạc sẽ làm cho tan những mệt nhọc nhỏ nhoi của thân xác. Cho nên, chúng ta sẽ học bài kinh rất là đặc biệt. Bài kinh có tên là “Thù Diệu Sự”, Tăng Chi Bộ Kinh tập 3. “Thù” là thù thắng, “Diệu” là vi diệu, “Sự” là sự việc. Những sự việc vi diệu thù thắng là những sự việc đặc biệt nhiệm màu mà Đức Thế Tôn truyền trao cho chúng ta. Qua bài kinh này chúng ta sẽ xét nét được hai điều.
Thứ nhất, Đức Phật không căn cứ vào thời gian ở trong chùa, không căn cứ vào tuổi hạ để mà đánh giá sự tu học. Tức là, không phải mình ở lâu trong chùa là mình thành công, Phật không tính thời gian.
Thứ hai, là mình sẽ thấy được những yếu tố, những sự việc đặc biệt và thù thắng của một người tu. Nếu mà mình không có những yếu tố này thì ở trong chùa cũng bình thường thôi, không có lợi ích lớn, không có quả báo lớn, không có thù thắng lớn, không có vi diệu lớn và không đưa đến sự thể nhập thượng nhân pháp.
Khi Đức thế Tôn ở tại Sàvatthì trong vườn của ông Cấp Cô Độc, tôn giả Xá Lợi Phất (Sàriputta) buổi sáng đắp y, cầm bát để đi khất thực. Ngài Xá Lợi Phất mới nghĩ còn quá sớm để khất thực, cho nên ngài nghĩ rằng đến chỗ của những du sĩ ngoại đạo để thăm. Khi Ngài đến đó thì các người này chào hỏi rồi và bắt đầu nói lên câu chuyện. Những tu sĩ ngoại đạo nói:
"Này chư Hiền, ai sống mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán". Rồi Tôn giả Sàriputta không tùy hủy, không chỉ trích lời nói của các du sĩ ngoại đạo ấy; không tùy hỷ, không chỉ trích, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi với ý nghĩ: "Ta sẽ rõ biết ý nghĩa này từ Thế Tôn".
Tức là những du sĩ ngoại đạo nói ai sống mười hai năm, hành trì phạm hạnh thanh tịnh, giới hạnh trong sạch thì người đó rất là đáng được khen ngợi, tán thán, tán dương. Ngài Xá Lợi Phất không hài lòng không tuỳ hỷ và không vui theo ý kiến đó. Mà ngài Xá Lợi Phất cũng không chỉ trích và không theo ý kiến đó.
Chúng ta cũng xét lại, không biết lúc đó ngài Xá Lợi Phất có chứng Thánh quả A-la-hán chưa, vì ngài chỉ cần hai tuần sau khi xuất gia là thành tựu Tứ Thánh quả. Nhưng ở đây cho chúng ta một bài học hết sức là sâu sắc, một bậc trí huệ đỉnh cao, thuộc hàng Thánh nhân nhưng không tự ý cho rằng mình hiểu, mình biết, mà phải về trình bày về Đức Thế Tôn để hiểu được ý chỉ thực sự của nó như thế nào. Điều này là điều hết sức sâu sắc trong sự học đạo. Tại vì mình thường hiểu được một chút, hiểu một vài điểm nhỏ là cho rằng mình biết rồi, thành ra cái biết đó nó đi theo tình thức, ý kiến cá nhân và biết theo sai lầm, tà kiến. Khi ngài Xá Lợi Phất ở ngoài đời đã là nhà thông thái, đỉnh cao của đời đó, nổi tiếng khắp cả một vùng. Huống hồ chi sau khi đã xuất gia, dự vào những bậc Hiền Thánh nhưng một sự kiện gì xảy ra thì ngài suy nghĩ ngài sẽ được rõ biết từ Đức Thế Tôn.
Điều này chúng ta sẽ thấy rất nhiều trong kinh Nikāya, tất cả các chuyện gì thì các vị Tỳ-kheo đều về đảnh lễ nói với Phật: “Thế Tôn là lãnh đạo, là căn bản của Pháp, Pháp là từ nơi Thế Tôn, thỉnh Thế Tôn chỉ dạy rồi các con sẽ thọ trì”. Cho nên điều này hết sức là quan trọng, từ đó mới có ra Hiền Thánh Tăng. Giờ mình học một chút ít rồi là mình tự suy diễn, cho nên mất hết Thánh đạo, Thánh quả. Điều đó chứng tỏ lòng tôn kính đối với Đức Phật, đối với Chánh Pháp không đủ, cho nên không phải là Dự Lưu. Một người đầy đủ tri kiến không thể không tôn kính bậc Đạo sư, không thể không tôn kính Pháp, không thể không tôn kính Tăng, không thể không tôn kính Thiền định. Cho nên những người không đầy sự tôn kính với Phật, với Pháp, với Tăng, với Thiền định thì người đó không đủ tri kiến, người đầy đủ tri kiến không bao giờ thiếu sự tôn kính đó. Người đầy đủ tri kiến là bậc Dự Lưu, Tu-đà-hoàn. Thành ra, những điều này thật sự là sâu sắc vô cùng, chúng ta cần phải chiêm nghiệm.
Cũng như trong bài kinh, khi nghe một ý kiến như vậy thôi, ngài Xá Lợi Phất nghĩ rằng ngài sẽ rõ biết ý này từ Đức Thế Tôn. Ngài Xá Lợi Phất là bậc trí tuệ đệ nhất mà cũng không dám vượt qua Đạo sư, không dám vượt qua Như Lai. Thành ra, sự học bây giờ của chúng ta thực sự hết sức nguy hiểm, mình suy diễn một hồi là ra mạt pháp. Tượng pháp là mường tượng, xong mới đến mạt pháp.
Trở lại bài kinh, sau khi nghe ngoại đạo nói như vậy, ngài Xá Lợi Phất trở về đảnh lễ Đức Thế Tôn và bạch hết câu chuyện như vậy. Rồi Xá Lợi Phất hỏi Phật:
- Bạch Thế Tôn, trong Pháp và Luật này, có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán, hoàn toàn do đếm số năm chăng?
- Này Sàriputta, trong Pháp, và Luật này, không có thể nêu rõ một Tỷ-kheo đáng được tán thán, hoàn toàn do đếm số năm. Bảy sự thù diệu này, này Sàriputta, sau khi với thắng trí, Ta tự chứng ngộ, chứng đạt, an trú, và tuyên thuyết. Thế nào là bảy?
- Ở đây, này Sàriputta,
Tỷ-kheo tha thiết hành trì học pháp và trong tương lai khát vọng hành trì học pháp;
Tha thiết quán pháp và trong tương lai khát vọng quán pháp;
Tha thiết nhiếp phục lòng dục và trong tương khát vọng nhiếp phục lòng dục;
Tha thiết Thiền tịnh, trong tương lai khát vọng Thiền tịnh;
Tha thiết tinh cần tinh tấn và trong tương lai khát vọng tinh cần tinh tấn;
Tha thiết niệm tuệ và trong tương lai khát vọng niệm tuệ;
Tha thiết thể nhập tri kiến và trong tương lai khát vọng thể nhập tri kiến.
Này Sàriputta, bảy thù diệu sự này được Ta tự mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt, an trú và tuyên thuyết. (Tăng Chi Bộ Kinh tập 3, IV. Phẩm Chư Thiên, IV. Phẩm Chư Thiên, bài kinh Thù Diệu Sự 1).
Thù diệu sự thứ nhất
“Tỷ-kheo tha thiết hành trì học pháp và trong tương lai khát vọng hành trì học pháp”. Đây là thù diệu sự thứ nhất của người tu, ai có được cái tâm này thì người đó có được sự thù thắng vi diệu.
Hành trì học pháp nói chính xác là những oai nghi tế hạnh. Học phần giới hạnh ở bên ngoài đó, tức là người đó luôn luôn để ý đến giới hạnh, oai nghi, cử chỉ của một người tu. Luôn luôn nhìn lại cách đi của mình, nhìn lại cách đứng của mình, cách nhìn của mình có đúng học pháp người xuất gia không. Phải học hai mươi bốn oai nghi của Sa di; mười giới, tám giới, năm giới của người cư sĩ, chúng ta phải luôn luôn để ý, thực tập, đó là những học pháp. Chúng ta không được rơi rớt không cho nó dừng lại, không được đứng lại một chỗ mà phải làm cho sự tu học được bước lên, tiến lên cao.
Phải tha thiết hành trì học pháp, tâm lúc nào cũng cháy bỏng, nồng nhiệt, thao thức, khắc khoải, luôn luôn thực tập hành trì những pháp mà mình đã học. Đó là thù diệu sự và bên trong người đó có sự thù thắng vi diệu của một người tu. Người đó là người đáng được tán thán trong hàng đệ tử của Đức Thế Tôn. Tha thiết, một lòng nóng bỏng, bừng cháy, rực cháy trong sự tu học Chánh Pháp. “Lò hồng hực hực nào vun tuyết”, tức là để tuyết vào lửa là tan hết. Cũng vậy, trong lòng mình là một sự nóng bỏng, nhiệt tâm, nhiệt tình đối với sự hành trì học pháp, đó là thù diệu sự của Như Lai, được Như Lai chứng ngộ, chứng trí và tuyên thuyết.
Chúng ta hãy tự kiểm tra lại xem mình có cái này không, nếu có thì có được bao nhiêu. Một người có tâm tha thiết để học pháp thì bất cứ chỗ nào, khi nào họ cũng thực hành pháp đã học, chứ không phải tụng Tứ Niệm Xứ xong là hết.
Trong Tứ Niệm Xứ nói Tỳ-kheo khi đi rõ biết mình đang đi, khi đứng rõ biết mình đang đứng. Co, duỗi, cúi, ngước, đắp y, ôm bát, nói chuyện, im lặng cũng rõ biết, không có lúc nào mà không rõ biết. Ba mươi hai thể trược như thế nào phải rõ biết. Tứ đại hiện tại bên trong: đất, nước, gió, lửa đang vận hành như thế nào phải rõ biết. Thân như thế nào, sử dụng những tư thế oai nghi như thế nào phải rõ biết. Cảm giác như thế nào phải rõ biết. Nội tâm như thế nào, có tham, có sân hay có si hay không cần phải rõ biết và xử lí. Các pháp vận hành như thế nào cũng phải rõ biết.
Luôn luôn an trú trong cảm giác toàn thân, nhận diện năm uẩn, tha thiết hành trì học pháp. Tha thiết chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Tha thiết tẩy rửa những cấu nhiễm, cấu uế. Những cái che mờ trong tâm, tha thiết đánh đuổi, trừ diệt, đoạn tận và chấm dứt chúng. Những cái gì đã học phải tha thiết hành trì.
Cũng như hôm qua, chúng ta học Hỷ Vô Lượng Tâm, chiều ngồi thiền mình ứng dụng, thọ dụng, như vậy là chúng ta có sử dụng chứ không phải học xong là thôi. Cho nên, phải kết hợp sáng lý thuyết và chiều thực hành, chứ không phải buổi sáng học xong, đến chiều vào ngồi thiền một tiếng mấy im phăng phắc, tới khi trình pháp mới thấy quằn quại, đau đớn, chiến đấu khốc liệt, thậm chí tưởng đâu là chết luôn rồi. Mới ngồi có một tiếng mười lăm phút tưởng đâu là chết. Học hành là văn võ song toàn chứ không phải chỉ có cái miệng, phải lý thuyết và thực hành song song, như vậy mới gọi là “lưỡng toàn kỳ mỹ”. Có sắc thì phải có hương, chứ không phải giống như hoa giả, nhìn thì đẹp nhưng không có mùi gì hết, đó gọi là “hữu sắc vô hương”.
Chúng ta cần phải tha thiết, nhiệt tình, luôn luôn lúc nào cũng bằng tất cả tấm lòng vì pháp, hành trì pháp và trong tương lai cũng phải khát vọng hành trì học pháp. Tức là ngay trong hiện tại đã tha thiết hành trì rồi, mà Đức Phật còn thêm nữa, trong tương lai cũng phải khát vọng hành trì học pháp chứ không phải chỉ nói hiện tại. Tu ba năm, năm năm không còn muốn tu nữa, không còn muốn ngồi thiền nữa, không còn muốn nghe pháp nữa, vì vậy tương lai không còn tha thiết tu học nữa. Cho nên, trí huệ của bậc Thánh mới thêm vào là trong tương cũng lai phải khát khao, khát vọng hành trì học pháp.
Thù diệu sự thứ hai
Sự thù diệu thứ hai là “tha thiết quán pháp và trong tương lai khát vọng quán pháp”. Đầu tiên là hành trì học pháp, tiếp theo là quán pháp.
Tha thiết trong sự quán pháp nói gọn trong Tứ Niệm Xứ là quán pháp ở trên pháp. Quán xem các pháp trong nội tâm mình như thế nào? Tứ đại như thế nào? Cảm giác vận hành như thế nào? Các tưởng vận hành như thế nào? Những suy nghĩ bên trong – hành uẩn vận hành như thế nào? Thức uẩn vận hành như thế nào? Có đam mê trong vị ngọt không, có thấy được sự nguy hiểm và tác hại của nó không? Có đang bước trên đạo lộ để xuất ly ra khỏi nó không? Mình phải thấy, phải biết những điều đó, như vậy gọi là quán pháp, phải tha thiết trong sự quán pháp.
Trong giờ ngồi thiền, có những lúc mình không bắt kịp thọ, tưởng, hành, thức vì nó cực kỳ siêu nhanh và siêu vi, vi tế. Nếu thật sự một người không có nhiệt tâm, không có tha thiết, không có sự thiền định thì không thể nào thấy được những cảm giác, những nghĩ tưởng trong nội tâm của mình.,Đối với người buông lung phóng dật, biếng, không có sự nỗ lực cố gắng là không thể nào thấy được, không thể nào tuệ tri được những điều đó. Những suy nghĩ của mình thật sự cực kỳ nhanh, nhiều khi mình đi theo không kịp, để nó vượt mặt, mình cứ chạy sau đuôi nó, rồi mình không biết đã nghĩ cái gì. Mà đó là ngay trong lúc mình ngồi thiền đó, là lúc mình toàn tâm toàn ý nhất nhưng chỉ lơ là một chút là mất hết, chứ đừng nói chi mắt, tai, mũi, lưỡi của mình cứ hướng ra ngoài thì khi nào mình mới thấy được nội tâm.
Nếu không thấy được nội tâm thì làm sao mình thấy được trong đó có thứ gì. Những cấu nhiễm, rác bẩn, lậu hoặc, những tham ái, sân hận, bản ngã, vô minh, chấp thủ đầy rẫy ở trong đó nếu mình không nhìn thì làm sao mình phát hiện thấy chúng. Có khi nhìn mà mình cũng không thấy, cho nên phải là người được hướng dẫn thành tựu trí năm uẩn thì mới thấy được, còn không là nhìn lung tung hết, chỉ thấy một đống xà bần, một đống tơ vò, rối một chùm như vậy thì biết đầu mối ở chỗ nào, cho nên chúng sanh không đi ra khỏi được. “Này các Tỳ-kheo, ta cùng các ông đã dài lâu ở trong ở trong đêm trường của vô minh và tham ái, do hôm nay giác ngộ được Tứ Thánh Đế cho nên mới chấp dứt”. Vì vậy, phải giác ngộ được trí năm uẩn, thành tựu được Thánh trí thì mới nhìn thấy được tự thân, tự tâm của mình.Thành ra thật sự là hết sức khó khăn đối với người vô văn phàm phu, ngay cả người xuất gia cũng không có cơ hội để vượt thoát được đối với một sự biến diệt kinh khủng như vậy.
Trong một bài kinh đã học, hôm đó ngài A-nan đi từ ngoài chợ trở về, A-nan bạch với Thế Tôn là hôm nay ở ngoài kinh thành có một người bắn cung hết sức giỏi. Ông này bắn cung là xuyên qua lỗ khoá của cửa. Ngài A-nan khen người này hay quá. Đức Phật mới hỏi ngài A-nan, nếu như có đồng thời có bốn người bắn tên lên bốn hướng, một người bắn cung nhảy lên chụp được cả bốn mũi tên thì như vậy có nhanh không? Ngài A Nan nói nếu chụp được một mũi tên thôi là nhanh lắm rồi, nếu mà chụp được bốn mũi tên thì phải rất là nhanh. Đức Phật nói người chụp được bốn mũi tên cùng một lúc chưa nhanh chưa bằng sự vận hành của mặt trời, mặt trăng. Sự vận hành của mặt trời, mặt trăng nhanh như vậy cũng chưa nhanh bằng thần thông của chư Thiên. Đức Thế Tôn mới khởi nghĩ thôi là Phạm Thiên Sahampati đã quỳ trước mặt Phật, qua đó chúng ta thấy độ nhanh của thần thông chư Thiên đến mức độ nào, vậy mà nó còn chưa nhanh bằng sự biến diệt của thọ, tưởng, hành, thức.
Thọ, tưởng, hành, thức nhanh siêu khủng, siêu nhanh, siêu vi, siêu tốc, trong tất cả những cái siêu của thế gian không có cái nào siêu bằng cái siêu này. Cho nên, một nội tâm không có yên định, bén nhạy, sắc bén để quan sát thì làm sao mà mình thấy được thọ, tưởng, hành. Vì vậy, giờ thiền của mình là giờ quán tâm ở trên tâm, nhìn thấy được sự vận hành và sanh diệt của ngũ uẩn, thấy được thọ tập khởi và thọ đoạn diệt, thấy cảm giác sanh khởi, chấm dứt và an trú như thế nào; thấy được các hình bóng trong nội tâm sanh khởi lên rồi an trú, chấm dứt ra làm sao; thấy được suy nghĩ của mình sanh khởi, diễn biến và chấm dứt như thế nào; thấy được cái thức sanh khởi lên rồi chấm dứt như thế nào. Điều này thực sự hết sức khó, nếu không được hướng dẫn trí năm uẩn này, không phải người điêu luyện, thuần thục, lão luyện thì làm sao mà thấy nổi, vì vậy mà chết hết ở trong tư tưởng đó. Cho nên phải tha thiết quán pháp để thấy được sự vận hành ở bên trong.
Trong phần quán pháp, đầu tiên là quán Năm Triền Cái, kế đến là quán Sáu Nội Ngoại Xứ, rồi kế đó là Bảy Giác Chi, Năm Thủ Uẩn và Bốn Thánh Đế. Thấy được pháp rồi mới thật sự biết được ân đức vĩ đại của Đức Thế Tôn. Đức Phật đã đưa ra hết tất cả các pháp, đưa ra đạo lộ xuất ly để đánh phá hết tất cả những ngõ ngách, sào huyệt hiểm hóc của vô minh, tham ái và chấp thủ mà một chúng sanh không thể nào mình thấy được.
Chúng ta chỉ nói mỗi “Sáu Nội Ngoại Xứ” thôi là đã thấy khủng khiếp rồi. Mình phải quán con mắt này là vô thường, con mắt này là cục thịt, là máu, gân, đồng tử. Còn phong đại bên trong con mắt này mới chớp được, phong đại không còn là nó cứng đơ, không có chớp nữa. Khi mình chớp mắt là có gió bên trong, có nội phong đại thì mới cử động, mới chớp được. Cũng vậy, có gió thì mình nói mới phát ra âm thanh được, còn nội phong đại mà không có thì làm sao nói. Cho nên quán sáu nội xứ là quán sáu chỗ bên trong, sáu ngoại xứ là sáu chỗ ở bên ngoài.
Sáu chỗ bên trong là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Sáu chỗ bên ngoài là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.
Như vậy, mỗi một chỗ có một cặp đôi. Mắt thì với sắc, con mắt nó đã vô thường là một cục thịt, các sắc là đối tượng của con mắt cũng vô thường, biến hoại. Nhãn thức bên trong – sự rõ biết các sắc cũng là vô thường, là pháp duyên sanh. Do có con mắt và các sắc nên khởi lên sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ, giao thoa lại với nhau gọi là nhãn xúc, sự tiếp xúc của con mắt. Từ sự tiếp xúc của con mắt sanh khởi lêncảm giác từ nơi con mắt. Tất cả đều là vô thường thì cảm giác đó làm sao mà thường được, làm sao mà thật được. Nhưng do chúng ta không tha thiết quán pháp thì sao thấy được duyên sanh pháp, làm sao thấy sự vận hành của các pháp. Vì không thấy được nên mình mê, mê dưới con mắt, mê dưới các sắc, mê với nhãn thức, mê với sự tiếp xúc của con mắt, mình mê cái cảm thọ khi tiếp xúc và mình ưa thích cảm thọ đó, rồi mình bị cảm thọ đó trói buộc.
Giờ mình quán pháp để mình thấy rõ từng cái, rồi phân tích từng cái để mình gỡ ra từng mắt xích. Cũng như cái bàn mây này, mới chạm nhẹ thôi là nó rung rinh, bây giờ mình thấy nó đẹp nhưng khi mở ra từng cây thì nó không còn là cái bàn nữa. Quán pháp cũng như vậy, mình mở từng cái ra để thấy từng bộ của nó. Cũng như cái áo đang mặc, mình thấy màu này, màu kia đẹp, vải này tốt, vải này xấu, nhưng khi xé nó ra, lấy từng sợi chỉ ra thì lúc đó chiếc áo này không còn nữa. Tất cả đều là sự kết hợp, là sự lắp ráp nhưng khi lắp ráp vào rồi là mình mê hình ảnh của sự lắp ráp đó và không biết chất liệu trong sự lắp ráp đó là gì.
Cho nên, chúng ta quán tứ đại là quán những yếu tố để cấu thành các sắc, khi nhìn thấy được yếu tố đó thì mình không còn mê nó nhiều. Nếu như mình mổ cơ thể này ra thì chỉ nhìn thấy phèo, phổi, ruột, bao tử, lá lách, phân, nước tiểu, mủ, máu, lúc đó mình thấy ghê sợ, nhưng khi lắp ráp lại, lấy tấm da phủ lên, may vá lại, nó lành thì cắt chỉ là không còn thấy bên trong nữa. Khi đó chỉ thấy rằng người đó đẹp, cao một thước tám, trắng trẻo, dễ thương, bụng sáu múi hay là chân dài, eo thon, óc mượt mà. Như vậy là thọ sanh khởi, mình chết bởi vẻ bề ngoài mà mình không thấy được yếu tố cấu thành, cấu tạo làm nên nó là cái gì.
Cho nên, chúng ta cần phải quán pháp để thấy được chỗ sâu xa đó. Phải quán một chuỗi dài: mắt đối với sắc, tai đối với tiếng, mũi đối với mùi, lỗ tai đối với tiếng… Phải quán pháp và quán một cách tha thiết, hai chữ “tha thiết” này quan trọng lắm, thù diệu sự là ở chỗ tha thiết, còn không tha thiết là không tu tập được.
Thù diệu sự thứ ba
Sự thù diệu thứ ba là “tha thiết nhiếp phục lòng dục và trong tương lai khát vọng nhiếp phục lòng dục”. Người đó phải tha thiết nhiếp phục lòng dục, sự tham muốn, tham dục, tham ái. Dục có nghĩa rất rộng: dục ăn, dục ở, dục nghỉ, dục nói, dục tham, dục muốn, dục đi chơi, dục hưởng thụ...
Cũng như Minh Thành, khi về đến núi thì vào thất đóng cửa, nằm võng nghỉ ngơi không sướng hơn đi bộ xuống, đi bộ lên để mồ hôi ướt hết áo hay sao? Mình cũng muốn như vậy nhưng mình biết đó là dục. Khi mình thấy được cái dục là phải nhiếp phục, phải lên giảng pháp, còn sống là còn làm. Đó là ví dụ nhỏ thôi nhưng mình phải nhiếp phục, chứ đâu phải thô kệch như phàm phu mới nhiếp phục, những cái nhỏ nhỏ như vậy phải thấy và nhiếp phục.
Cho nên, chúng ta phải học được cách diệt dục, phải thấy được nó, phải thấy được trong cảm giác của mình, nó muốn khoẻ, muốn thoải mái, muốn chơi, nó không có muốn cực khổ, không muốn bị ép vào khuôn khổ. Cái dục nó không muốn, cái ái nó không muốn, cái ham hưởng thụ nó không muốn mà nó muốn cho khoẻ. Giờ kêu ngồi học nó nói “thôi mệt, giờ này tự nhiên kêu học”, chúng ta đừng nói là không có, hãy nhìn sâu lại đi. Khi nghe học là khó chịu liền, mình phải nghe được tiếng nói của nó, khi có tiếng nói của ái thì mình phải Như Lý Tác Ý để đánh ra liền: “Mình vô đây cầu học, cầu pháp mà giờ học pháp mình lại khó chịu là sao?”. Chúng ta suy nghĩ như vậy và đánh đuổi liền thì đó là thù diệu sự, là kỳ tích, là sự xác lập kỷ lục của tâm linh, là kỳ tích của tu hành, là sự tha thiết nhiệt tình trong học pháp. Chúng ta có thể hạ gục được hết các tên giặc muốn xâm chiếm chúng ta ở trên bước đường Thánh trí giác ngộ của mình. Chúng ta đập đổ đo ván tụi nó hết, hạ gục hết. Tên nào thỏ thẻ, thủ thỉ, thở than với mình là mình cho nó “nhất đao lưỡng đoạn”, tức là một dao hai khúc, lúc đó mình mới trở thành dũng sĩ trong Phật Giáo. Phải vận dụng hai chữ thiết ta này để nhiếp phục lòng dục.
Ví dụ, bữa nào mình nghe pháp lố giờ, tới giờ ăn rồi, bên trong muốn đi ăn cơm thì đó là dục, mình phải nhiếp phục. Mình nói với nó là phải ngồi đây thêm hai tiếng nữa cũng được, vì mình ăn bốn chục năm rồi nhưng cũng đâu có thoả mãn đâu, ngủ 35 năm rồi mà cũng đâu có thoả mãn. Được như vậy là thù diệu sự, là sự xác lập kỷ lục.Phải có thái độ tu tập như vậy thì mình mới chinh phục, mới chiến thắng còn nếu không là mình chết liền, mình gục ngã ngay thôi. Không phải nó đo ván mà mình đo ván từ tối tới chiều đến khuya.
Khi ngồi thiền mà nó lờ đờ mình không có chống đối, mình cứ để cho nó xâm chiếm luôn. Khi một cơn hôn trầm tới mình biết nhưng mình chiều theo luôn, mình để cho nó xâm nhập luôn, cho nên mới có hiện tượng ngồi gục lên, gục xuống, đó tức là con người yếu hèn, hạ liệt ở trong Pháp của Như Lai và con người đó mãi mãi không thành dũng sĩ chiến sĩ được, không thể thành bậc chiến thắng được. Đức Thế Tôn được gọi là bậc chiến thắng, các vị A-la-hán được gọi là sát tặc.
Còn mình ngồi thiền, dù biết hôn trầm xuất hiện nhưng mình để cho nó xâm chiếm. Trạo cử, sự dao động của thân xuất hiện mình biết mà cũng để cho nó xâm chiếm. Rồi trong những cái tưởng, cái hành, suy nghĩ sanh khởi dục tham dù biết nhưng mình cũng đi theo nó luôn. Đó là những cái vi tế, sâu sắc mà người tu phải nhận ra. Phải tha thiết ở trong sự nhiếp phục lòng dục, trong sự quán pháp.
Mình đang ngồi thiền với đại chúng mà nó kêu đi ngủ, rồi mình cũng nghe lời, vào phòng nằm, leo lên giường ngủ, như vậy xem có ngu không, có tệ không! Như vậy là mình trở thành đệ tử của dục, nó kêu là mình nghe liền. Mình không phát hiện ra kẻ thù, không biết nó là kẻ thù mà mình nhận nó làm bạn, rồi nghe lời nó và làm nô lệ cho dục. Mà ai nhắc nhở là mình sân si lên chồng lên một tội nữa là không thành tựu trí huệ. Cho nên cái quán pháp này sâu sắc tuyệt diệu lắm, mình thấy được rồi nhiếp phục là đã lắm, sướng lắm, hạnh phúc lắm!
Phải thấy được những cái dục, ái, tham sanh khởi trong nội tâm. Phải thấy được sân hận, bản ngã, những cái xảo nguỵ trong đó, nó ghê gớm lắm mà mình không biết. Nó giết mình một cách ngọt lịm, như ngọt như đường cát mà mát như đường phèn vậy, ngọt mật chết ruồi. Mình chết trong sự cam tâm tình nguyện, không biết gì hết, đó là vô minh không thấy được các pháp. Cho nên muốn thành tựu Chánh tri kiến của bậc Tu-đà-hoàn không phải đơn giản mà mình nghĩ đơn sơ đâu. Bậc hướng dự lưu thôi là không dễ, cho nên không phải mình học được một chút mà mình nghĩ Thánh quả là đơn giản đâu. Thành tựu Chánh tri kiến là khủng khiếp lắm.
Chúng ta phải có một sự nỗ lực, tinh tấn cùng cực, thiết tha nhiếp phục lòng dục và trong tương lai khát vọng nhiếp phục lòng dục. Phải nhìn ra hết tất cả những mánh khoé, thủ đoạn, kỹ xảo, mình thấy rồi tin vào đó là mình chết liền. Nếu là ảnh đã photoshop, người chuyên về photoshop nhìn vào biết ngay là tấm này có chỉnh sửa, cũng vậy trong nội tâm có những tiếng nói êm ả, ngọt ngào, dễ chịu và những lời biện minh hết sức chính đáng nếu mình không nhìn sâu xuống nhiều lớp nữa là mình chết ngay. Đó chính là ác ma, nó hạ gục mình liền, nó kêu là mình chạy theo liền. Phải nhìn sâu xa xuống nhiều lớp coi cái gì trong nội tâm mình, trong đó là một sự khủng khiếp mà vô văn phàm phu không bao giờ tưởng tượng được. Nếu không có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác xuất hiện trên thế gian này, không có một người học tu đúng theo con đường Nikãya Đức Phật dạy thì tất cả đều là một sự dối lừa kinh khiếp, cả vũ trụ này bị phủ trong bóng đêm và như thế nó dẫn mình đi.
Thù diệu sự thứ tư
Sự thù diệu thứ tư là “tha thiết Thiền tịnh, trong tương lai khát vọng Thiền tịnh”. Chỗ này chính bản thân Minh Thành sám hối rất mạnh, rất nhiều. Hồi xưa cách đây vài năm học được một chút, biết được một chút là khỏi ngồi thiền, tưởng mình ngon rồi, còn tự hào nữa. Giờ mình mới thấy như vậy quả là vô minh, si mê. Đọc trong Kinh Nikãya lúc nào buổi chiều Đức Thế Tôn cũng thiền tịnh đứng dậy, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác mà mỗi ngày đều ngồi thiền, chứ đừng nói chi là mình. Cứ nghĩ tu được rồi, khỏi ngồi thiền gì nữa, tối ngày chỉ độ người ta thôi, đó là nghĩ theo kiểu dục, kiểu tham, kiểu ái của mình. Còn Đức Phật tuỳ theo nhân duyên, người nào đáng được độ, có thể độ và người nào đi tới muốn tìm học thì Ngài mới nói pháp. Thậm chí trong một chúng hội mà có một người mù, gọi là thiếu căn là Đức Phật không có nói pháp, tại vì nói pháp người đó cũng không hiểu. Ví dụ nói mắt duyên với sắc, sanh khởi nhãn thức thì họ không hiểu được vì họ không thấy.
Những dự định, dự toán, kế hoạch này nọ kia đều là dục. Bây giờ người ta đến xin cúng dường để xây dựng những công trình, khi đó mình cần phải suy xét thật kỹ, chứ không phải mình còn có ý định đi tìm, đi xin, đi kiếm, chỗ này phải thật sâu sắc. Cho nên cần phải thiền tịnh, tha thiết thiền tịnh.
Những giây phút về ngồi bên huynh đệ Minh Thành thấy hạnh phúc lắm, tuyệt vời lắm, bình an lắm, kỳ diệu không diễn tả nên lời. Khí hậu thì mát mẻ, gió thổi cành trúc xạc xào, phong linh vang vọng, chim thì hót, mây thì bay. Thầy trò huynh đệ cùng tu Chánh Pháp, dù có vài người thôi nhưng hỷ lạc bất khả tư nghì, hy hữu, vị tằng hữu, chưa từng có trong thế giới hiện tại, hiện đại này. Chúng ta phải tha thiết trong sự thiền tịnh, phải quý trọng giờ phút thiêng liêng, quý báu nhất của cuộc đời tu mình, đó là giờ ngồi nghe pháp và ngồi thiền. Giờ đó không quý thì mình quý giờ nào, giờ đó không tu thì mình tu cái giờ nào, giờ đó không học thì mình học giờ nào, mình đi xuất gia để làm gì?
Tuyệt vời! Đây là thù diệu sự, việc thù thắng hy hữu, vị tằng hữu pháp, hiếm có, chưa từng có ở trong thế giới hiện đại này. Thật là bất khả tư nghì để cho chúng ta có mặt trong giây phút này. Cho nên phải ta thiết ở trong thiền tịnh, lúc rảnh là cứ bắt chân lên ngồi, hoặc trong thiền đường, hoặc dưới gốc cây, hoặc ở dưới mỏm đá cứ việc ngồi. Đó là thù diệu sự! Tất cả mọi người đều chạy ở ngoài, lo ở ngoài, kiếm ở ngoài mà mình ngồi quay lại nhìn tự thân, cho nên đó là thù diệu, thù thắng, vi diệu. Hơn nữa, chúng ta còn tha thiết trong điều đó chứ không phải là mình ngồi làm dáng, làm tướng, ngồi để chụp hình nó khác. Ví dụ, thấy có người đông đông là ngồi thiền, thấy người ta lại gần là lên ngồi, như vậy là khác, là giả trang thiền tướng. Cho nên, phải thật sự tha thiết trong sự thiền tập, sự an tịnh.
Buổi sáng Minh Thành ngồi ở hành lang trong thất, bên ngoài bọc kiếng, ngồi như vậy thì thấy một cái bóng ở ngay trước mặt, một cái bóng ở bên tay phải, một cái bóng ở tay trái, chúng pha trộn với trúc xanh, như vậy thấy tới bốn ông nhưng không biết ông nào là mình, tất cả mọi cái đều là cái bóng, rồi trong tâm mình có thêm một cái bóng nữa. Cho nên, tổng cộng có năm cái bóng ảo ảnh của thân kiến, của sự trống rỗng về sự lừa gạt này, sự dối lừa trong mấy mươi năm qua, sự điên đảo, sự dục, tham, ái, sự khốn khổ, khốn cùng với năm cái bóng này. Rồi cứ mãi khổ đau tìm kiếm, mệt mỏi, nhọc nhằn đến suy hao, cạn kiệt, suy lão. Giờ phút này, chúng ta ngồi lại, không chạy, không tìm kiếm những ảo ảnh nữa, vì thế chúng ta hết sức bình an, đại bình an.
Ta ngồi đây, ta ly tham đối với tất cả sắc chất của cuộc đời này. Ta ngồi đây, ta ly tham đối với tất cả cảm giác, cảm thọ trong thân thể này. Ta ngồi đây, ta ly tham đối với tất cả những hình bóng bên trong nội tâm này. Ta ngồi đây, ta ly tham, ta lìa tham ta không còn ham thích với tất cả những suy nghĩ, những lời nói lầm thầm ở bên trong này nữa. Ta ngồi yên lặng ở đây, ta ly tham, ta không còn tham muốn để chạy theo những tri thức, những kiến thức, những sự rõ biết bên trong sáu thức này. Đây là dáng ngồi bất động tối thượng.
Ta ngồi đây, ta quán chiếu thực tính của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Ta ngồi đây, ta tuệ tri năm đống vô thường này. Ta ngồi đây, ta thấu triệt bản chất của tứ đại, ngũ uẩn này. Ta ngồi đây, ta nhìn kỹ, nhìn rõ, nhìn xuyên để từ bỏ, để nhàm chán, để chấm dứt dòng tái tục của đảo điên.
Ta ngồi đây, ta ngồi đây, ta ngồi đây bất động. Ta tha thiết trong thiền tịnh. Hãy tha thiết trong sự tĩnh lặng, hãy bớt dao động, bớt loạn động rồi ta sẽ thấy được cánh cửa bất tử sẽ mở ra ở trước mắt ta.
“Này các Tỳ-kheo hãy dán tâm vào tỉnh mặc, các ông sẽ thấy được sự tập khởi và sự đoạn diệt của năm thủ uẩn”. Dán tâm vào tỉnh mặc cũng có nghĩa là dán tâm vào thiền tịnh. Chúng ta chỉ bàn về pháp, còn ngoài ra yên lặng. Khi nói là bàn về Thánh Pháp, khi im lặng là thiền tịnh, đừng để bị dao động bởi những thói quen, tập khí và những cử chỉ phàm phu nhiều. Phải thực tập cho mình dần dần để tăng thượng đức hạnh thanh cao đó.
Thù diệu sự thứ năm
Thù diệu sự thứ năm là “tha thiết tinh cần, tinh tấn và trong tương lai khát vọng tinh cần, tinh tấn”. Tinh tấn chưa đủ, tinh cần chưa đủ mà còn phải tha thiết. Tha thiết bằng một cái tâm nhiệt huyết, bằng tất cả tấm lòng của mình trong sự tinh tấn tu học, hành trì. Tinh tấn trong Tứ Chánh Cần: thiện pháp chưa sanh làm cho sanh khởi; thiện pháp đã sanh làm cho lớn mạnh phát triển lớn mạnh; ác pháp đã sanh phải trừ diệt; ác pháp chưa sanh đừng cho nó sanh khởi. Tinh tấn trong sự phòng hộ các căn, tinh tấn trong sự tu tập các thiện pháp, giữ gìn các thiện pháp không cho nó rơi mất, sót mất. Tinh tấn đoạn trừ tham, sân, si. Khi mình nhìn thấy biết nó trong năm uẩn.
Đức Phật có dạy, này các Tỳ-kheo trong khi các ông đi, đứng, ngồi, nằm mà những suy tầm về dục, những suy tầm về sân hận, những suy tầm về hại sanh khởi lên thì các ông phải nhanh chóng tẩy sạch, trừ diệt, làm cho nó không còn hiện hữu, người như vậy là người tinh tấn, ưu việt trong giáo pháp của Như Lai. Giống như một người đội cái khăn trên đầu mà cái khăn bị cháy thì phải gấp rút, mau chóng, nhanh lẹ quăng cái khăn đó xuống, dập tắt nhanh chóng ngọn lửa đó, như vậy mới là người tinh cần, tinh tấn, tha thiết trong sự học hỏi, hành trì, tu tập. Nếu một người thấy tham, sân, si, bản ngã trong nội tâm mà cứ việc để như vậy, này các Tỳ-kheo, đó là hạ liệt, thấp hèn, hèn nhát, thấp hèn, hèn hạ ở trong giáo pháp của Như Lai.
Thù diệu sự thứ sáu
Thù diệu sự thứ sáu là“tha thiết niệm tuệ và trong tương lai khát vọng niệm tuệ”. Tuệ là tuệ tri, là tuệ quán, là tuệ giác, là trí huệ. Chánh niệm, tuệ quán trú tâm trong Tứ Niệm Xứ. Luôn luôn nhớ nhìn lại cảm giác, nhìn lại nội tâm, nhìn lại các pháp vận hành. Hơn nữa, đâu phải nhìn lại là đủ, nhớ đến là đủ mà phải dùng Thánh tuệ, Thánh trí để trừ khử, thanh lọc, tẩy rửa, diệt tận những cấu nhiễm. Phải tha thiết ở trong chánh niệm và ở trong trí huệ. Thật là tha thiết, tha thiết vô cùng, quý báu vô cùng, quý trọng vô cùng sự chánh niệm và tuệ giác này.
Thù diệu thứ bảy
Cuối cùng, sự thù diệu thứ bảy là “tha thiết thể nhập tri kiến và trong tương lai khát vọng thể nhập tri kiến”. Một tấm lòng khắc khoải, một nội tâm nhiệt thành, nóng bỏng, cháy rực còn hơn lúc mới yêu. Đối với pháp là yêu thích quý mến còn hơn người yêu, mỗi ngày không nghe là chịu không nổi, mỗi ngày không học là chịu không nổi, thiếu vắng là chịu không được, pháp còn hơn người yêu. Không thể rời một phút giây nào hết đối với cái thể nhập tri kiến của bậc Thánh. Thể nhập tri kiến ở đây nói đầy đủ là thể nhập Thánh tri kiến, thể nhập Thánh trí năm uẩn vô ngã, thể nhập Thánh tuệ tứ đại trống rỗng, vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. Tha thiết bằng cả một tấm lòng nhiệt huyết, tương tư, lúc nào cũng nhớ, cũng nghĩ, lúc nào cũng muốn tiếp xúc, muốn được gặp, muốn được xúc chạm với Thánh pháp. Khao khát cháy bỏng, dù cho có gục ngã xuống chết liền tại chỗ cũng được, miễn sao là thể nhập Thánh tri kiến.
Đó chính là sự khát vọng trong tu học, khao khát sự thể nhập với Thánh tri kiến, ngược lại là sự khát ái, khao khát với ái dục, ngũ dục. Chúng ta phải đem tâm chảy bỏng để tu học mới được, bằng không sự khát ái thì mãnh liệt, mạnh mẽ, còn sự tu học thì trơ trơ, có cũng được không có cũng không sao, tu cũng được không tu cũng không sao, học cũng được không học cũng không sao. Không có tha thiết, không có khát vọng thì làm sao thể nhập được Thánh tri kiến. Hiện tại đây, cái thấy của chúng ta là phàm tri kiến, thấy biết của phàm phu, của ái, của vô minh, của chấp ngã, của khen mình chê người, của ta đây, của tự đắc, của bản ngã.
Mọi người phải tha thiết để thể nhập tri kiến của bậc Thánh, không còn một cái gì nữa ngoài mục đích này, từ đây cho đến ngày mình nhắm mắt còn cái gì nữa đâu mà thương với sầu. Có cái gì để cho mình thương, có cái gì để cho mình sầu thực sự ngoài Thánh pháp này, Thánh trí này, Thánh quả này, Thánh đạo này. Hãy tha thiết cháy bỏng, cứ việc bỏ ăn bỏ ngủ, không sao hết. Bớt ăn, bớt ngủ, ngày đêm học hỏi, nghe pháp, nghiền ngẫm, quán chiếu, tu tập.
Lời kết
Như vậy, chúng ta cần phải học pháp, quán pháp, niệm tuệ, nhiếp phục lòng dục, tinh cần, tinh tấn, thiền tịnh, thể nhập chánh tri kiến là chúng ta sẽ thành tựu được bảy thù diệu sự. Sự xác lập kỷ lục tâm linh, kỳ quan của người xuất gia, kỳ quan của Phật Giáo thế giới là bảy thù diệu sự này chứ không phải xây dựng ở ngoài, đó là chuyện của người khác, để người cư sĩ lo. Còn bảy thù diệu sự này là xác lập kỷ lục của hiền thánh, xác lập kỷ lục của tâm linh, xác lập kỷ lục xuất thế gian. Sung sướng lên, phấn khởi lên, hân hoan lên, nóng bỏng lên, mạnh mẽ lên! Thế Tôn đi đến đâu là khuyến khích làm cho phấn khởi, làm cho hân hoan, ngày đêm thực hành thiện pháp.
Thành tựu bảy thù diệu sự này, này Sàriputta, Tỷ-kheo, nếu trong mười hai năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!".
Nếu trong hai mười bốn năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!".
Nếu trong ba mươi sáu năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!".
Nếu trong bốn mươi tám năm hành trì Phạm hạnh viên mãn thanh tịnh, thật là vừa đủ để nói: "Vị Tỷ-kheo đáng được tán thán!". (Tăng Chi Bộ Kinh tập 3, IV. Phẩm Chư Thiên, IV. Phẩm Chư Thiên, bài kinh Thù Diệu Sự 1).
Như vậy, mười hai năm, hai mươi bốn năm, ba mươi sáu năm hay bốn mươi tám năm đều được khen ngợi hết, nhưng phải có đầy đủ bảy sự thù diệu sự nói trên. Chúng ta phải kiểm tra lại, xem mình đã đầy đủ bày thù diệu sự này hay không?
./.