Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

CÙNG NHẮC NHỞ XUẤT GIA - ĐỨC HẠNH CỦA NGƯỜI XUẤT GIA

2026-03-03 00:53:44
CÙNG NHẮC NHỞ XUẤT GIA 3 - ĐỨC HẠNH CỦA NGƯỜI XUẤT GIA

ĐĐ.Thích Minh Thành

Xin tất cả đại chúng hãy đọc theo hai câu thơ sau, đây là 2 câu pháp hành:

Người tu trông thật là hiền

Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên.

Chú ý đọc câu “Người tu tâm thật là hiền” là nhìn vào cảm thọ của mình, đọc cho cảm giác tâm mình chứ không phải đọc cho ở ngoài người ta nghe. Câu số 2 “Trong ngoài thanh tịnh nụ cười bình yên” nhìn trong cảm thọ của mình, trong cảm giác của lòng mình và nói thầm ở trong tâm, nói với cảm thọ của mình “Hiền nha! Ngoan nha! Dễ thương nha! Tha thứ nha!”

Kính thưa đại chúng, vừa rồi đó là chúng ta đang thực tập tâm hiền. Nhiều khi nghe chữ “hiền” thấy bình thường quá, thấy bình dân quá, thấy bình dị quá, nhưng mình không hiểu rằng chữ “hiền” này nó rất là sâu sắc. Đức Phật còn được gọi là bậc Hiền Trí và các vị được vào hàng Thánh ta gọi là bậc Hiền Thánh Tăng. Mà người hiền mình chưa làm được thì sao mà nói mình làm được người trí, rồi làm sao được Thánh nhân. Cho nên tâm hiền này là 1 phương pháp để mình thực tập. Trên đây là những điều căn bản về thực tập, ngoài 3 pháp đó ra, sau đó hãy nhìn vô ngay cảm thọ của mình. Cảm thọ thường là nó ở chỗ lồng ngực, đấy là nơi trung tâm. Nhìn vào cảm thọ của mình nếu nhìn kỹ, người thường có sân nhiều thì mình sẽ thấy nó tích tụ một chỗ ở trong lồng ngực của mình. Chỗ đó làm cho mình hơi khó thở, hơi thở của mình không được nhẹ, nó rất thô và có khi nó sẽ bị ứ đọng, ứ trệ. Chỗ đó là sân khí cho nên phải nhìn thẳng vô cảm thọ của mình, ngay chỗ mà khó chịu, ngay chỗ mà nó tức, tức, ngay nơi mà nó không thông thì mình hãy nhìn vô đọc câu này lên “Người tu tâm thật là hiền – Trong ngoài thanh tịnh nụ cười bình yên”. Đọc không phải để cho ai nghe, cũng chẳng phải để học nói cho hay mà đọc để cho cảm thọ của mình nó nghe. Đó là mình đang huấn luyện và dạy dỗ cảm giác của mình.

Cái này rất là sâu sắc, khi ngồi 1 mình rồi mình sẽ thấy rằng hữu lậu làm cho thân tâm của mình dao động, nó không chịu yên. Khi thực tập thiền mình sẽ thấy nó không muốn ngồi, nó muốn làm thứ này, thứ kia, nó muốn đứng dậy, nó muốn nói, nó muốn suy nghĩ thì đó là hữu lậu thô, nó luôn luôn dao động. Người mà hữu lậu nó nhẹ rồi, người ta ngồi tự nhiên thân tâm nó yên tịnh. Người mà hữu lậu nặng, thì nó quậy lắm vô thất không có được, vô thất là bị bể thất, bung thất hoặc là vỡ thất, không có ở được. Tại vì hữu lậu nó quậy, tại vì mình ở ngoài thì mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý mình tiếp xúc thường xuyên nên mình không thấy cảm giác này. Nhưng khi mình trở vô đối diện với chính mình thì lúc đó mới thấy rõ, biểu hiện ra, bày ra, biểu lộ hết ra. Lúc đấy mình không đối diện trực tiếp được, có những người ngay cả trong thiền viện cũng bị bể thất, cả những người chức sự lớn chứ không phải là thường dân nam bộ. Đó là do hữu lậu hoạt động, ngoài ra còn có dục lậu bắt đầu tấn công và bao nhiêu dục tưởng, dục thọ, dục hành. Tức là những cảm giác về dục, những hành ảnh, suy nghĩ về dục bắt đầu hiện khởi lên. Nếu mình không có bất tịnh quán, không có biện pháp nhiếp phục quán chiếu nó, không quán chiếu 9 giai đoạn 1 tử thi hoặc quán 32 thể trược thì lúc đó sẽ bị bung thất, không nhập thất được. Hữu lậu, dục lậu cộng với vô minh lậu, 3 lậu này hợp tác quậy mình tan vỡ hết. Đời tu của mình nếu vô thất không được, sống một mình không được, độc cư thiền định không được, thì cuộc đời tu của mình coi như xong. Mình chỉ là 1 người gieo duyên làm phước thiện bên ngoài thôi. Đối với vô thượng Thánh giới, vô thượng Thánh định, vô thượng Thánh tuệ uẩn thì mình không có phần, mình sẽ tiếp nối dài dài trong sanh tử. Cho nên điều quan trọng là con người phải nhiếp phục được dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu.

Mỗi ngày mình sống đều đều, bình bình mình thấy đâu có chuyện gì để làm mà không biết rằng mình còn rất nhiều chuyện để làm, việc cần làm, nên làm, đáng làm, phải làm mình chưa làm xong. Cho nên nhiều khi mấy thầy xót xa ở trong lòng rằng người tu bây giờ đại đa số không được đào tạo và giáo dục đúng mức, đây là điều nhức nhói chung của các bậc tôn đức. Sau này, quý huynh đệ ra trường rồi mới biết được giá trị của những buổi học của ngày hôm nay. Quý huynh đệ nghĩ Minh Thành khó, nhưng bây giờ tìm cái khó này rất hiếm, tìm cái kĩ không có, rất khó kiếm, tìm cái thâm sâu của sự tu tập hành trì càng khó kiếm. Chúng ta ở đây phải có duyên rất sâu mới gặp nhau vậy nên khi gặp nhau mình có sự trân trọng, trân quý giữ gìn duyên đó. Bây giờ nhìn người tu Minh Thành xót xa lắm. Minh Thành thật sự suốt ngày ở trong phòng, dường như tu giống như ở tù ít tiếp xúc với ai trừ khi nào những người thật sự đến hội pháp thì Minh Thành chia sẻ. Thứ nhất, thấy mình phiền não, tập khí, tham, sân, si nhìn lên thấy mình sợ hãi. Thứ 2, thấy mình không có thời gian, tại vì bất cứ lúc nào cái chết cũng có thể đến với mình. Trong chuyến đi qua học viện chia sẻ, trên chuyến đi và về đều thấy tai nạn giao thông, thật sự mình thấy không có nhiều thời gian thì làm sao để có thời gian nói chuyện ngồi lê đôi mách, trà dư tửu hậu. Mà Đức Thế Tôn nói nếu như bất thình lình mình ra đi mà bất thiện pháp, ác pháp còn tồn chỉ trong nội tâm mình, thì đó là cái chết bất tường, cái chết không tốt lành của người xuất gia. Ngày nào nhìn vô tâm mình còn thấy bất thiện pháp, còn thấy ác pháp, tham, sân, si, bản ngã còn chưa giải quyết hết thì ngày đó mình còn trong trạng thái rất hiểm nguy, rất bất an. Chắc chắn trong vòng luân hồi này mình sẽ tiếp tục chưa ngừng nghỉ.

Cho nên những vị xuất gia trẻ bây giờ không chịu nỗ lực tu học là điều đáng tiếc. Người xuất gia mình sống 1 đời sống thanh cao, đơn giản, phải là đời sống viễn ly. Trong tạng kinh Nikāya, Đức Phật nói người xuất gia phải sống, phải tu tập liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến từ bỏ, liên hệ đến chấm dứt đó là mục đích của người xuất gia. Làm sao tất cả các pháp tu phải đưa mình đến chỗ lìa tham, đưa mình đến chỗ xa rời chứ không phải càng tu càng đi vô. Mình nói rằng tu mà nhập thế cái đó sai không đúng với tinh thần của kinh Nikāya, không đúng lời Phật dạy. Làm gì có chuyện tu mà nhập thế, nhập thế khi nào xuất thế tức là mình ở ngoài trở vô gọi là nhập còn mình đang ở trong đấy luôn rồi thì không phải nhập nữa, mình đã là thế gian, đi ra còn chưa nổi thì sao đi vô được. Cho nên những tư tưởng đó rất nguy hiểm, hiểu sai lời Phật dạy.

Trong giai đoạn gần đây, từ khi Thầy Minh Thành nhập thất ra có nhiều chuyển biến rất lớn trong pháp học và pháp hành. Có những điều Minh Thành không nói được, chỉ những người chuyên tâm, quyết tâm, quyết liệt tu hành mới có thể lĩnh hội được, có những cái nói ra là người ta không chịu nổi. Nếu tu đúng theo tạng kinh Nikāya thì sẽ đưa mình đến Chánh đạo và Chánh quả ngay trong kiếp này. Cho nên đời sống thanh tao của người xuất gia đẹp lắm. Hôm nay Minh Thành muốn chia sẻ về nết hạnh của một người tu cái này quan trọng lắm, nếu không có cái này thì tất cả thiền định hay là tuệ quán, giải thoát đều sụp đổ hết. Nết hạnh tức là giới, phải bám sát 100% vào tạng kinh Nikāya. Bài kinh Andhakavinda Tăng Chi Bộ Kinh

Thế Tôn nói với Tôn giả Ànanda đang ngồi một bên:

- Những Tỷ-kheo nào, này Ànanda, là tân học xuất gia không bao lâu, mới đến trong Pháp và Luật này, các Tỷ-kheo ấy, này Ànanda, thật sự cần phải khích lệ, cần phải làm cho nhập vào và làm cho an trú trong năm pháp.

Thế nào là trong năm pháp?

"Hãy đến, này các Hiền giả, các Thầy cần phải giữ giới, sống được bảo vệ với sự bảo vệ của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhiệm, chấp nhận và học tập trong các học pháp". Như vậy, họ cần được khích lệ, cần phải làm cho nhập vào và làm cho an trú trong sự bảo vệ của giới bổn.(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 2, 5. Chương Năm Pháp, XII. Phẩm Andhakavinda,bài kinh Tại Andhakavinda)

Nhớ là những người mới xuất gia trong thời Đức Phật, còn nói mình xuất gia lâu rồi, không cần học cái này là trật. Bây giờ mình xem nhẹ giới luật lắm. Khi Minh Thành qua thăm viếng tại Trung tâm Thiền quốc tế của ngài Ajahn Chah thấy bất ngờ và xấu hổ lắm. Ngài ăn chỉ ăn 1 bữa, buổi sáng Ngài đi khất thực, 40 nước về nước về đó tu, ở đó không nhiều, khoảng 30 – 40 vị. Ở đó toàn người Châu Mỹ, Âu Châu nhưng giới luật giữ rất kĩ, từng chút, từng chút. Mình tu không thành công là do mình xem nhẹ giới luật, những giới mà mình học chỉ là học cho có để trả bài cho xong lúc thọ giới. Sau đó mình để giới bổn qua một bên, lâu lâu đọc cho có hình thức chứ không đem ra thực dụng. Chính chỗ này làm sụp đổ, không có giới thì làm sao thiền định thành tựu mà muốn giữ giới, Đức Phật dạy phải hộ trì căn. Các vị huynh đệ nói Minh Thành đi lên cầu thang rất nhẹ nhàng, thanh thoát. Khi Minh Thành ra chùa Ba Vàng, có cô Phật tử thấy bước chân của Minh Thành đi tự nhiên cô ấy lại đảnh lễ rồi khóc “Con đi chùa nhiều năm, nghe pháp nhiều bài nhưng con nhìn thấy bước đi của thầy toát ra 1 sự thanh thoát, an lạc, con nhìn lại mình thấy tủi thân, trong lòng như cuộn chỉ tơ vò”. Để được bước chân như vậy Minh Thành phải thực hành 30 năm chứ không phải làm dáng cho người ta coi. Sự tu của mình không phải chỉ là lúc đắp y lên chính điện ngồi mà là bất cứ chỗ nào, cho nên gọi là niệm oai nghi, niệm hành động. Oai nghi là đi, đứng, ngồi, nằm là bốn oai nghi chính, co duỗi, cuối, hướng tất cả các động tác khác ngoài đi đứng, ngồi, nằm là oai nghi phụ. Tất cả oai nghi phụ đó mình phải chú tâm tĩnh giác, thân thể sử dụng như thế nào phải biết như thế đó. Đó gọi là thực tập thân hành niệm, đó là hương vị của bất tử. Tại sao khi mình ngồi thiền, mình học, mình đọc kinh thì mình trang nghiêm mà vừa bước ra khỏi thôi mình trở thành con người phàm tục, trở ra những thói quen, trở lại những tập khí, trở thành những cái rất bình thường mất cái thanh cao hồi nãy. Sự tu đó Đức Phật gọi là không có nhiệt tâm trong giáo pháp, không có tinh cần, không tinh tấn, không có hổ thẹn, không có tàm quý, không có sợ hãi những tội lỗi nhỏ nhiệm, không chấp nhận học pháp. Quý huynh đệ suy nghĩ những cái này mà tu học thì hay lắm, hay tuyệt vời, Muốn thành tựu 1 pháp học, pháp hành thì phải toàn diện. Không phải được 1 chút gì đó thì coi cái đó là số 1 mà phải toàn diện tất cả pháp của Đức Phật dạy trong tạng kinh Nikāya, 37 phẩm trợ đạo phải viên thành chứ không phải một hạnh được. Phải để ý cái đi, đứng, ngồi, nằm của mình là pháp sống, là sự thể hiện, biểu hiện là sự thu hoạch thành quả đời sống tu tập của mình 5 năm, 7 năm, 10 năm, 15 năm trong chùa. Mình đi như ma đuổi quỷ rượt, mình bày ra tập khí của tham ác, không có gì là thanh cao, chánh niệm của một người tu là thất bại. Đó là bữa ăn của phàm phu, bữa ăn của phàm tục, bữa ăn của phàm tình, không phải là bữa ăn của bậc Đa văn Thánh đệ tử.

Làm sao để cho mình lột xác, không có chấp nhận 1 thân xác phàm tục tham, sân, si đầy dẫy này. Mình phải chuyển hóa nó hàng ngày hàng giờ, phải có sự để tâm vào trong đó, đó là Tứ như ý túc. Mình phải muốn điều đó, phải nỗ lực trong cái muốn đó, để tâm vào trong đó, tìm hiểu mọi cách để làm cho bằng được đó là Tứ như ý túc: dục như ý túc, tấn như ý túc, tâm như ý túc và thẩm như ý túc. Bốn như ý túc này vận dụng vô khắp tất cả thế và xuất thế pháp, phải muốn, muốn thay đổi mình, trong cái muốn đó phải nỗ lực lên chứ không phải muốn không. Sự nỗ lực đó mình phải để tâm vô. Ví dụ mình phải để tâm vô bước đi, để tâm vô dáng ngồi thiền, dáng ngồi học là dáng phụng hoàng, dáng bậc thanh thoát, dáng bậc hiền thánh mình không thể chấp nhận mình là người phàm được. Nếu mình chấp nhận mình là một người phàm thì vĩnh viễn mình là người phàm tục thôi. Phải tự đặt mục tiêu bản thân là Hiền Thánh ví như đi làm mà mục tiêu chỉ đạt 1 triệu mỗi tháng thì người đó không giàu nổi được. Tại vì việc kiếm tiền nhiều hay ít là do cái tâm hướng họ đặt mục tiêu ở mức độ bao nhiêu và trong đó họ sẽ nỗ lực cố gắng. Cũng như tu mà không muốn tiến lên Hiền Thánh, từ đầu mục tiêu đã sai rồi. Cho nên oai nghi chánh hạnh của một người tu nó quyết định cái vỏ ngoài của phạm hạnh, không có vỏ ngoài thì làm sao có cái cây, cái vỏ không có làm sao có cái ruột. Đừng nói những câu “Thôi đừng chấp, mình tu cho nó nhẹ nhàng đi”. Chính những câu nói đó giết mình chết, đó là cái tâm buôgn lung, phóng dật, lười biếng, vô minh, si mê, không chịu thay đổi. Phải nhìn cho ra những lời đó xuất phát từ cái gì, từ cái tâm giãi đãi, lười biếng, tâm phàm tục, phàm phu, tập khí, nghiệp chướng mới phát ra những lời như vậy. Từ từ mình mới thành tựu được trí huệ, thấy được cái nào là thiện pháp, cái nào là bất thiện pháp ở trong thân, niệm, ý của mình. Điều quan trọng phải nhớ là đời sống thanh cao của người xuất gia, nhớ kỹ điểm này. Cái đi của mình không phải là cái đi của người bình thường, không phải cái đi của người phàm phu tục tử, cái ngồi của mình không phải cái ngồi của người không biết tu. Phải nhớ và không được chấp nhận những cái thói quen tập khí. Những lời nói như” Tu chi mà gắt vậy, thời gian còn dài mà, mình còn trẻ còn nhiều thời gian…” đó là lời nói của tham ái, phóng dật, những lời nói giết mình, đẩy mình xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Phải biết những tiếng nói đó phát xuất từ đâu. Chỉ có tròng vàng của Tôn Ngộ Không mới nhìn ra được yêu tinh quỷ quái, con mắt thường không nhìn ra được. Cũng như những người thành tựu trí huệ mới thấy được thật sự 5 uẩn nó vận hành bên trong và tham, sân, si bản ngã, giãi đãi, chấp thủ, vô minh. Trí huệ mới thấy được, không phải trí huệ không thấy được. Mình tưởng đâu cái đấy là bình thường nhưng thật sự nó không có bình thường, nó là ác ma, nó là kiết sử, nó là bất thiện pháp, chính nó đẩy mình. Cho nên mình phải giữ giới, phải hộ trì căn. Người xuất gia gặp nhau chắp tay xá một cái đã đẹp biết bao nhiêu, rồi nay có thêm hành động bắt tay thì thấy dư thừa, không giống ai. Cũng như bên Mỹ có lễ Ma (Halloween) bây giờ hội nhập vào mình cũng “ăn” lễ ma theo thì làm mình mất gốc, mình hướng ngoại, không phân biệt cái nào của ta cái nào của người, làm đảo lộn vị trí của chủ và khách từ bên ngoài đến bên trong do mình không nắm vững cái Pháp. Không học kỹ đến nơi đến chốn thì mình không biết gì hết, làm lộn xộn mọi thứ như đống xà bần không còn nét riêng, chỗ nào đông thì mình xuất hiện, chỗ nào náo nhiệt thì đến xem là “Xong rồi!”. Một trong những pháp thoái đọa là ưa thích giao tiếp, ưa thích công chuyện, ưa thích nói, ưa thích giao du, ưa thích ồn áo đó là những pháp thoái đọa của Tỳ-kheo. Nếu như mình không có 1 phần về giữ giới , không có một phần về thiền định, không có một phần về tuệ quán thì không thể nào thâm nhập nổi lời nhất Chánh Đẳng Giác. Lời của bậc Chánh Đẳng Giác là phải có giới hạnh, thiền định và trí huệ mới thâm nhập nổi. Cho nên trong định nghĩa của pháp là người trí tự mình giác hiểu. Chính vậy mà tạng kinh Nikāya Hòa thượng thượng Minh hạ Châu dịch xong rồi, mình để trong tủ thờ, rất là hiếm vận dụng mà trong khi đó là lỗi căn. Đó là 1 gia tài vĩ đại còn hơn một mỏ kim cương của Phật để lại cho hàng đệ tử. Hãy đọc trong đó, hãy nghiền ngẫm trong đó. Phải đầy đủ oai nghi chánh, hạnh và phải sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhiệm, phải sợ hãi những lỗi lầm chứ không phải phạm lỗi rồi trơ ra.

Nhiều khi quý huynh đệ thấy Minh Thành đang bình thường tự nhiên có ai phạm cái gì đấy thì bắt đầu la lên mạnh mẽ, để chi? Để làm cho con ma bên trong ngũ uẩn nó khiếp sợ sau đó Thầy Minh Thành cười nói chuyện bình thường. Phải đánh vào cái cảm thọ của nó để cho nó rúng động mà sợ để sau này nó không dám nữa đấy là dùng tuệ lực. Những tập khí, những phiền não những cái vô minh na ná chấp khổ của mình mà mình nói “Thôi không sao đâu, dễ cưng quá à!....” là Chết! Cho nên phải ra đòn cho mạnh để trị cái ương ngạnh, cứng đầu, cứng cổ, khó dạy ban đầu, huấn luyện lâu ngày tâm mình sẽ nhu nhuyến, mềm mại dễ sử dụng. Sau này bảo ngồi thiền luôn đến 6 giờ chiều cũng được, thì lúc đó sắp sửa đắc đạo rồi. Còn bây giờ bắt nó ngồi 5 phút mà nó quậy không chịu được là mình chưa làm chủ được cảm giác, mình tưởng đâu mình tu hay lắm thật ra là chưa. Tất cả do cảm xúc, cảm giác, cảm thọ làm chủ mình, nắm mình, thộp đầu mình, như đại bàng chụp con chim sẻ. Mình bị cảm thọ nắm giữ thì không thể nhiếp phục, không thể vượt qua được, làm chủ nó được. Khi nhập thất, Minh Thành quán mình chết rồi nằm đó, những người vây quanh khóc, xong rồi cái thân sình lên, rã ra, giòi rỉa thành bộ xương. Những người đứng khóc cũng chết luôn, xong rồi giòi ăn, mấy con giòi đó cũng chết luôn. Đối với cái tâm phải quán sâu sắc chứ không thể quán thường thường được, cái tâm này nó ghê gớm và kinh khiếp lắm, đừng dễ vui, xem thường tâm này. Để điều phục giai đoạn đầu đó là dùng giới hạnh, là hộ trì căn, là oai nghi, là kỷ luật, là thanh quy, là nội quy, pháp quy. Đó là giai đoạn ban đầu để điều phục cái tướng thô của tham, sân , si. Giới luật là điều phục cái tướng thô, cái đuôi, cái biểu hiện ra bên ngoài. Còn hôm trước tu tập quán thọ là mình quán vô cái gốc, chỗ xuất phát điểm. Cái pháp của Đức Thế Tôn là chụp đầu, chụp đuôi, bứng gốc, chặt cành. Pháp của Đức Phật là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện – ban đầu toàn thiện, chính giữa toàn thiện và rốt ráo toàn thiện. Không còn 1 vị thầy nào vĩ đại hơn Đức Thế Tôn, bậc Chánh Giác trong Tam thiên đại thiên thế giới này. Bây giờ mình là học trò của thầy mà tham, sân, si mình trị không được thì nhục nhã, xấu hổ, yếu hèn, hèn hạ. Dùng những từ nặng để chửi vô đầu để nó thấy nhục đặng nó tu, chứ không nó ngủ, nó ăn hoài, nó mê chơi là cái ngũ uẩn. Sâu sắc là trong cái thọ, nó muốn thọ, nó muốn cảm giác, nó đi tìm cảm giác và cảm xúc mạnh rồi có những hành động đưa đến cái chết. Mới đây có người đàn ông chuyên môn hướng dẫn chinh phục mấy ngon núi cao nhất thế giới kinh nghiệm hơn 20 năm đã chết 7 người trên đỉnh núi Fasipan cao hơn 5000 mét, tất cả là đi tìm cảm giác. Người tu là nhiếp phục cảm giác, làm chủ cảm giác, cho nên phải nhớ tu được cái này là thầy của trời và người, là pháp tối thượng trên trời. Quý huynh đệ phải nhớ để ý dáng vẻ của người xuất gia rất quan trọng, đây là vỏ ngoài của phạm hạnh, không giữ được cái này thì đừng nói đến thiền định, trí huệ được. Nhìn kỹ nhiều người xuất gia đi mà không ra dáng của người xuất gia thì còn thua người bình thường ngoài đời nữa. Đó là sa sút trầm trọng của phẩm chất đạo đức người xuất gia. Đây là vấn đề rất quan trọng, vô 5 bữa, 10 bữa, 1 tháng cạo đầu, 3 tháng cạo đầu, 5 người, 10 người, 20 người cũng cạo đầu, cứ việc đè xuống cạo đầu mà chưa biết để làm gì cũng cạo là điều không nên, từ chết cho đến bị thương, thấy chết, trò chết. Phải xem chí hướng như thế nào, đức hạnh như thế nào, nết hạnh như thế nào, chí nguyện ra làm sao? Phải đạo luyện, phải thử thách.

Ngày xưa, Đức Thế Tôn không cho có nhiều đệ tử. Lúc đó, ngài Mục Kiền Liên và Ngài Xá Lợi Phất dẫn theo 500 Tỳ-kheo đến tinh xá nơi Đức Phật đang ở. Vào trong rồi lo lấy bát, phân chia chỗ ở …làm xôn xao khắp nơi trong tịnh thất. Đức Thế Tôn mới hỏi Ngài A-nan tiếng gì vậy? Ngài A-nan mới bạch với Đức Thế Tôn là Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đưa 500 vị tân học Tỳ-kheo đến để diện kiến Đức Thế Tôn, họ đang phân chia bát, tọa cụ, chỗ nghỉ ngơi. “A-nan à! Nhân danh ta hãy nói họ rời đi, Thế Tôn không muốn gặp!” Tại sao một người xuất gia mà giống như đang dành cá mắm ngoài chợ vậy? Trong kinh Nikāya mình thấy được đời thực của Đức Phật, tưởng rằng Đức Phật giống như cục bột vậy, hiền khô, ai làm gì cũng cười thì không phải. Những lúc như vậy Đức Phật quở trách mạnh mẽ vô cùng. Người nói rằng: Đây là tiếng phát ra của chợ cá hả, là đang tranh giành cá với nhau hả? Người đuổi hết cả 500 vị Tỳ-kheo. Sau khi các vị dẫn đoàn năn nỉ thì mới được trở lại. Rồi Người giảng cho bài pháp chấn động tất cả rồi trở về tu mới chứng quả, nhờ la mới chứng quả, nhiều khi cái la nó độc thủ lắm.

Nhiều lúc Đức Phật rầy la mạnh lắm, có 1 vị Tỳ-kheo bệnh đang hấp hối, lý do vị này phát tâm xuất gia là do rất quý dáng vẻ 32 tướng tốt của Phật, thấy thân tướng đẹp nên xuất gia. Vị này dù bệnh nặng cũng ráng bò đến để nhìn thân tướng trang nghiêm của Đức Phật cho thỏa nỗi nhớ mong. Đức Phật bảo rằng “Vô sỉ, một tấm thân ô uế bất tịnh, hôi thúi, bẩn thỉu chín lỗ có gì mà đáng để cho ông nhớ mong, phải nhìn thấy rằng bản chất của năm uẩn là vô thường, khổ, không, vô ngã …diễn cho một bài pháp sau đó vị này chứng quả A-la-hán. Từ bài kinh đó mới có câu “Ai mà thấy được Pháp thì người đó mới thấy được Như Lai”. Dù cho ở bên Ngài hàng trăm năm nhưng không thấy thì cũng không thấy được Như Lai, người nào thấy Pháp thì người đó mới thấy được Như Lai. Pháp là gì? Là Tứ Niệm Xứ, là quán chiếu về 5 uẩn, là thấy rõ thật tính xác thực trước mắt. Tối ngày ngắm tượng Phật rồi khen Phật đẹp quá, rồi sờ, tưởng đấy là Phật thì lầm to. Đấy là sắc pháp. Ngày ngày cầu nguyện Đức Phật mau mau để con được cái này cái kia để con giải thoát là mê tính, người xuất gia những chưa thành tựu Chánh tri kiến, cái đó chỉ là một biểu tượng chứ làm gì có Phật trong đó. Quý huynh đệ nhìn xem bây giờ có phải tu như vậy nhiều không. Tưởng tượng ông ngồi chính giữa Chánh điện là Phật, thật ra không phải. Đó chỉ là một biểu tượng thôi vì chưa ai thấy Phật bao giờ sao tạc tượng giống Phật được. Nếu không hiểu về Đức Phật thì không thể thành tựu được chánh tín đối với Đức Phật. Phải nhìn lại mình để thấy tham, sân, si, bản ngã, nội tâm mình, nó an trú trong cảm giác. Dùng Như lý tác ý đánh mạnh vô, mình quán chiếu bất tịnh, quán chiếu 32 thể trược, mình quán chiếu 9 giai đoạn 1 tử thi, mình phá tan cái nhìn sai lầm của mình về sắc uẩn, thành tựu trí huệ thì điều đó mới đưa đến chỗ giác ngộ của Phật. Chứ không phải xem mấy cái hình, cái tượng là Phật rồi làm thật to đưa hết chỗ này chỗ kia là gieo duyên, gieo duyên cho những người sơ cơ. Cho nên phải hiểu cho kỹ vẫn đề, nếu không có ở trong chùa 70 năm cũng không thấy được Phật, không biết Phật thật sự là ai. Học đến Cao đẳng Phật học mới nói đến cái này để có cái nhìn cho sâu sắc.

"Hãy đến, này các Hiền giả, các Thầy cần phải sống với các căn môn phải được chế ngự, thành tựu với niệm được phòng hộ, với niệm thận trọng sáng suốt, với ý được khéo phòng hộ, với tâm được chánh niệm bảo vệ". Như vậy, họ cần được khích lệ, cần phải làm cho nhập vào, cần làm cho an trú trong sự bảo vệ các căn.” Các căn môn tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình phải được chế ngự, niệm phải được phòng hộ. “Niệm phải được phòng hộ” thâm sâu vô cùng, nó là trong những ý niệm của mình sanh khởi ra các ý hành của mình. Mình có phòng hộ trong đó không hay là nó nghĩ gì mình cũng cho nó nghĩ lung tung hết mà mình không biết nhiếp phục, không biết làm cho nó dừng lại, không biết chuyển hướng nó trở về với niệm thiện quán. Niệm mà không phòng hộ thì sẽ niệm lung tung, suy nghĩ nhớ nhung, bao nhiêu chuyện mình để cho nó nghĩ, để cho nó nhớ, để cho nó tưởng. Như vậy, niệm của mình không có phòng hộ. Niệm phòng hộ thôi chưa đủ mà phải niệm thận trọng sáng suốt ở trong những ý niệm sanh khởi của nội tâm. Xem coi cái suy nghĩ này có phải là ly dục tư duy không? Coi cái suy nghĩ này có phải là ly tham tư duy không? Coi cái suy nghĩ này có phải là bách hại tư duy không? Phải đúng như vậy mới gọi là Chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo. Những suy nghĩ nào giúp mình rời khỏi tham dục là suy nghĩ chân chánh, những suy nghĩ nào làm mình rời khỏi sự nóng giận, rời khỏi sự sân hận là suy nghĩ chân chánh, những suy nghĩ nào không có hại người là suy nghĩ Chánh tư duy, những suy nghĩ đưa đến tham, dục, ác là tà tư duy. Mình phải thận trọng, sáng suốt và phòng hộ ở trong sự suy nghĩ của mình.

Quý vị thấy cái tu này nó thâm thúy, nhỏ nhiệm không? Tu theo kiểu này thì không có thời giờ rảnh để nói chuyện với người này, người kia, nếu có rảnh mà xuống bếp nấu ăn mãi thì “Mệt rồi!”. Khi mình học đến 5 cái pháp quán hay 7 cái pháp quán đưa đến bậc A-la-hán, đưa thành tựu của cấp 5 hạnh thì có quán nhàm chán đối với tất cả thức ăn. Thời Đức Phật, đâu có nặng chuyện thức ăn, cứ ôm bình bát đi, người ta cho gì rồi về ăn nấy. Còn mình bây giờ nấu bao nhiêu món mà còn chưa đủ còn phải đi kiếm sách để học nấu, kiếm qua chỗ khác học để biết nhiều món. Tất cả cái đó gọi là vị giác, ái, tham, dục ở trong cảm thọ. Như vậy đi ra không được, đấy là những cái mình từ bỏ. Nghĩ xem ở ngoài đời mình hưởng thụ ăn, mặc, ở, ngủ,… chỉ có nhiêu đấy thôi. Bây giờ mình đi tu không khéo lại rơi vào trong trận tuyến đó lại ăn, mặc, ở, ngủ. Cho nên những cái niệm, những suy nghĩ của mình phải thận trọng và sáng suốt. Tại sao nói với cái ý được khéo phòng hộ, những từ này mắc lắm, phòng hộ thôi chưa đủ phải thêm từ khéo, khéo phòng hộ ở trong những ý niệm của mình. Khéo phòng hộ này hay lắm, nó cũng chính là Như lý tác ý, là Chánh tư duy. Có 1 vị giáo thọ sư trong trường mình qua Ấn Độ học, lúc đó thầy còn là tăng sinh, ngồi học lúc giữa trưa tại Ấn Độ bốn mươi mấy độ C. Lúc đó thầy nóng quá rồi, học không được nữa, mồ hôi chảy ướt hết rồi suy nghĩ không muốn học, muốn đi về Việt Nam. Vừa khởi ý nghĩ chợt thấy những đứa trẻ Ấn Độ đang cởi trần đá banh ngoài nắng. Thầy mới suy nhĩ những đứa trẻ nhỏ như vậy nó chơi vui thôi, nó không có một mục tiêu lý tưởng gì về cuộc đời hết, chỉ vì cái chơi vui đấy thôi nó còn dám ở ngoài nắng 40 mấy độ, mồ hôi chảy ròng ròng mà nó vẫn vui cười để chơi. Tại sao mình người xuất gia, mình có ý tưởng cao thượng, mình bỏ cả đất nước của mình đi qua tha hương để mà học hỏi, bao nhiêu gia đình Phật tử lo tiền bạc để mình đi học để bây giờ mình lại vì chút xíu cái nóng này mà mình lại không vượt qua được cái cảm thọ này hay sao? “Ngồi xuống! Học!”. Cuối cùng lãnh bằng Tiến sĩ về làm giáo thọ. Đây gọi là khéo phòng hộ đối với những ý niệm, nếu chỗ đó mình không khéo suy nghĩ, không khéo tác ý, không khéo Chánh tư duy thì cái đó thôi dẹp cất đồ vô đặt vé đi về. Đó là thời hiện đại, còn thời xưa thời của Đức Phật cũng có những vị Tỳ-kheo bị nóng, bị lạnh cũng có những suy nghĩ vậy đó. Những vị Tỳ-kheo này mới quán bây giờ nóng chút xíu mình không chịu nổi thì lửa địa ngục làm sao mình chịu nổi? Vị Tỳ-kheo này Như lý tác ý mạnh lên, quán chiếu sâu sắc, tinh tấn nỗ lực, quán chiếu thân thọ tâm pháp đốt hết tất cả phiền não, chứng Thánh quả A-La-Hán ngay thời Đức Phật. Cho nên Như lý tác ý này quan trọng vô cùng, từ lúc bắt đầu tu cho đến lúc chứng Thánh quả, Đức Phật cũng là nhờ cái Như lý tác ý này mà thành tựu Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Do đó tác ý, suy nghĩ của mình quan trọng lắm.

Thí dụ, sáng này chùa có đám Trai Tăng, khuya này mình mới có 2 giờ thức dậy nấu rồi dọn bàn dọn ghế, lo đủ thứ trưa mệt ăn cơm không được nữa, mệt quá thôi nằm ngủ chút hay vô phòng nghỉ một bữa, mình đi theo y nghĩ đó là xong, đấy là ý nghĩ lười biếng mà mình đi theo nó thì không còn nếp nữa. Thầy Tịnh Tâm ở Sydney, Úc là tiến sĩ toán học, 1 ngày đi học xưa chỉ ngủ 3 giờ mỗi ngày, mà quãng đường đi học đi làm 20 giờ, nhiều đêm chỉ ngủ có 2 giờ. Những người như vậy, họ làm được tại sao mình lại không trong khi mình đã ngủ 7 giờ một đêm rồi còn chưa chịu sao? Phải dùng Như lý tác ý mạnh đánh vô ý niệm của mình tự nhiên mình sẽ dũng mãnh tinh tấn xách cặp đi học, đi vô trường vui vẻ, khỏe. Suy nghĩ được như vậy nó làm cho mình mạnh lên, mà suy nghĩ kia nó làm mình yếu xuống, làm cho mình giãi đãi. Cho nên phòng hộ ý hành, suy nghĩ quan trọng lắm. Bên cạnh đó, Chánh tư duy cũng quan trọng cực kì, mà có Chánh kiến thì mới có Chánh tư duy, muốn có Chánh kiến là phải gặp được bậc chân nhân, nghe bậc chân nhân giảng pháp. Sau khi nghe cái tư duy, tùy pháp, hành pháp, thực hành Chánh pháp thì mới có Chánh kiến, mới có Chánh tư duy chứ không phải muốn có Chánh tư duy là được. Với tâm được chánh niệm bảo vệ, mấy cái chữ này mắc vô cùng, phải ngồi nghiền ngẫm cả ngày còn chưa thấy gì.

"Hãy đến, này các Hiền giả, hãy nói ít lại, hãy hạn chế lời nói". Như vậy, họ cần được khích lệ, cần phải làm cho nhập vào, cần làm cho an trú trong sự hạn chế lời nói”. Xin thưa với quý huynh đệ là Thầy Minh Thành ít nói lắm, ngồi trên lớp thì vậy thôi, ngoài ra ở chùa ít nói lắm, để dành cái tiếng đó để nói pháp thôi, mình không đủ hơi để nói chia sẻ pháp, mình nói mấy cái chuyện kia có ích lợi gì đâu, nên phải để dành. Các vị cao tăng bên Trung Hoa nói rằng: “Cái miệng để cho nó meo mốc giống như cây quạt mùa đông, hai ba chục năm rồi sau đó hạ sơn nói một câu, nửa câu kinh thiên động địa”. Còn bây giờ, mình ham nói, cái gì mình cũng nói cuối cùng lời nói không có giá trị, cái gì cũng nói. Bước vô chùa chưa tới cửa nói xa xa nghe tiếng là biết người đến, xuống bếp cũng nghe mà lên chánh điện cũng nghe, chỗ nào cũng nghe. Cái này rất quan trọng mà không giữ được cái này thì không thể vào định được.Tại vì tâm mình loạn, thân mình động như vậy đến khi mình thiền không có định được. Người muốn được nhập thiền, từ sơ thiền trở lên, người đó phải có sự sửa soạn, chuẩn bị rất kỹ. Đừng tưởng đâu đơn giản mà nhảy vô rồi “Hên quá! Hôm nay tôi vô được sơ thiền!”, không có hên xui trong tu hành. Đức Thế Tôn nói pháp của Ngài là tuần tự, từ từ, rồi tới viên mãn chứ pháp, không có gì là đột ngột chứng ngộ. Có nhiều người không biết vô tu thiền, nói tối nay mình ngồi sáng đêm, hôm nay là ngày Phật thành đạo, biết đâu sấm sét xẹt ngang, tự nhiên mình ngộ ra là sai, là tu bằng cái tâm tham. Mình tu từ từ, mình sửa soạn cái tâm của mình mới vô được Sơ thiền, Nhị thiền được. Mình phải sửa soạn cái tâm của mình cực kỳ kỹ lưỡng mới vô được Chánh tri kiến của Tu-đà-hoàn hay là hướng Dự lưu. Cũng như 1 ngày đại lễ Trai Tăng, mình phải chuẩn bị rất nhiều lễ chứ. Mà mình muốn vào cái tâm Thánh, muốn vào cái Thánh trí mà mình không có sự chuẩn bị gì hết là sự việc không thể xảy ra – phải có sự chuẩn bị.

"Hãy đến, này các Hiền giả, hãy là những người sống trong rừng, hãy sử dụng các trú xứ núi rừng cao nguyên xa vắng". Như vậy, họ cần phải được khích lệ, cần làm cho nhập vào, cần làm cho an trú trong nếp sống thân viễn ly”. Đây là pháp quyết định, hãy là những người sống trong rừng, quý huynh đệ muốn sau này lợi lạc rộng lớn cho mình, cho người thì học xong đừng vội đi ra giảng pháp làm chi. Nếu mình đã thành tựu Chánh chi kiến rồi thì tự mình có thể tu còn không phải tìm bậc minh sư và mình ở trong núi, trong rừng, trong chỗ xa vắng 1 thời gian để mình gội rửa dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Nếu như mới học xong ra đi dạy thì giống như mấy thầy cô giáo ngoài đời thôi. Mình có được mớ kiến thức gì, mình nói lại kiến thức đó, mình đâu có thực tập, đâu có chứng ngộ, đâu có chứng nghiệm, đâu có chứng đắc, đâu có chứng đạt gì đâu? Như vậy thì giống như ngoài đời, ngoài đời là thầy cô giáo, trong pháp là giáo thọ. Cái pháp là cái để thể nghiệm, chứng nghiệm, chứng ngộ, chứng đạt, chứng đắc thì ít nhất mình phải thành tựu tối thiểu hướng Dự lưu, hoặc vào Dự lưu quả rồi, thì khi ra hoằng pháp mới lợi lạc nhân thiên. Khi đó mới thật sự là đại khai viên giải, gầm rống tiếng của sư tử, lúc đó mình mới đánh lên trống pháp, thổi lên pháp loa, mưa xuống pháp vũ lợi lạc cho chúng sanh. Bằng không mình vô minh đầy đầu, bản ngã to đùng, tham, sân, si vận hành chẳng biết cái gì là thọ, tưởng, hành, thức. Một cái ta to tướng mà mình ra mình hoằng pháp thì trở thành quằn quại. Có biết cái gì đâu mà nói hoặc là nói tà, nói sai, nói vô tà pháp, nói vô mê tín hết. Sự tu tập nó thâm sâu như vậy đâu phải chuyện mình nói đại được. Mình không thấy, không biết về mình thì làm sao nói, cái tham nó vận hành làm sao? Tại sao có tham? Làm sao chấm dứt tham? Mình không biết mà đi trị bệnh là mình vô tù, phải có bằng cấp bác sĩ, phải có mấy năm thực nghiệm, có kinh nghiệm hành nghề, kinh nghiệm lâm sàng. Vậy nếu dạy sai, người ta đọa, người dạy có trách nhiệm cũng bị đọa, Cho nên núi rừng cao nguyên xa vắng lên Linh Quy Pháp Ấn, trong tương lại sẽ là rừng thiền.

Cuối cùng "Hãy đến, này các Hiền giả, hãy có chánh tri kiến, thành tựu chánh kiến". Như vậy, họ cần phải được khích lệ, cần làm cho nhập vào, cần làm cho an trú trong chánh kiến. Chánh chi kiến này quyết định hết tất cả. Có một bài kinh là Chánh chi kiến dẫn đầu, tất cả đường lối tu tập trong Phật pháp thì Chánh chi kiến dẫn đầu, nếu không có cái này thì toàn bộ sẽ trở thành tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà niệm, tà định. Phải có Chánh chi kiến mới quyết định được tất cả mọi vấn đề. Bây giờ nói ở chùa đi qua trường Phật học mà không biết đường, cũng không hỏi đường, cứ lên xe chạy thì dù có chạy cũng sẽ không đi đến đâu. Cho nên cái biết đường là cái quyết định, còn đi bằng xe gì, kiểu gì, đi cách gì thì chuyện đó tính sau. Chánh chi kiến cũng giống vậy, cho nên Chánh chi kiến quyết định tất cả. Mong rằng quý huynh đệ đến ngày tốt nghiệp đều thành tựu Chánh chi kiến, Nếu người nào chú ý lắng nghe cho thật kỹ, để tâm bằng tất cả tấm lòng của mình sẽ thành tựu Chánh chi kiến tối thiểu là hướng Nhập lưu, là thuộc về 4 đôi 8 chúng của của Hiền Thánh. Đó là sự thật!

Từ đây đến ngày tốt nghiệp, đem tất cả tấm lòng, tất cả sự lắng nghe của mình rồi trở về nhà nghe lại những bài giảng trong video của linhquyphapan.vn, rồi mở bộ kinh phân loại Nikāya Minh Thành đưa về đọc. Nghiền ngẫm ngày đêm mỗi ngày ít nhất 8 giờ, tu liên tục như vậy là sẽ có cơ hội bước vào đội ngũ của Hiền Thánh, dự vào dòng trí huệ, thấy rõ pháp. Không có sai thì trong 1 đời này thôi, tối thiểu là vào dòng trí huệ Dự lưu. Vào đây rồi thì ngon lành, Đức Thế Tôn “bảo chứng cho các ông thẳng tiến đến Chánh giác không bao giờ lui sụt”. Phải thật mạnh mẽ dứt khoát, đem hết lòng tin bất động của mình đối với Phật, đối với tạng kinh Nikāya là Pháp, đối với các bậc Hiền Thánh đã chứng quả A-la-hán ngày xưa là Tăng. Thành tựu niềm tin bất động đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng, và đối với Thánh giới. Cố gắng nỗ lực, biết hổ thẹn, biết cung kính, biết cố gắng thực tập lắng nghe thì mình sẽ thành công. Chắn chắn thành công!

Mời đại chúng trải tâm từ, quán tâm hiền, miệng cười nhẹ lan tỏa, cảm giác hoan hỉ, hiền lành, dễ thương!