Tương Ưng KOSALA 1B - Đế Vương & Pháp Vương - Di Hoạ Của Tam Độc
Kinh Nikāya Giảng Giải
TƯƠNG ƯNG KOSALA 1B
ĐẾ VƯƠNG & PHÁP VƯƠNG
DI HOẠ CỦA TAM ĐỘC
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn loại trẻ tuổi không nên khinh thường PAGEREF _Toc113978225 \h 1
II. Tam độc PAGEREF _Toc113978226 \h 6
I. Bốn loại trẻ tuổi không nên khinh thường
Chúng ta sẽ tìm hiểu về Tương Ưng Kosala – Đế Vương và Pháp Vương để thấy được những bậc vua chúa, cửu ngũ chí tôn trong thiên hạ kính lễ, tôn sùng, tôn trọng Đức Như Lai như thế nào và chúng ta sẽ thấy sự giáo hóa của Đức Phật với đầy đủ sự khéo léo, thiện xảo, trí tuệ và lòng từ bi, cách hành xử của ngài là nhân thiên Mô phạm, mẫu mực cho muôn đời.
Kosala được phiên âm ra tiếng Hán Việt nghĩa là Câu-tác-la hoặc là Kiều-tác-la, đó là một vương quốc của Ấn Độ thời Đức Phật có thế lực mạnh nhất ở miền bắc Ấn, Đức Phật thường đến thành Xá-vệ là kinh đô của Kiều-tác-la để lưu trú ở Kỳ viên Tinh Xá, bài kinh có tên là Tuổi trẻ.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
Rồi vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) nước Kosala (Kiều-tát-la) đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Tôn giả Gotama có tự cho mình đã chứng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác không?
-- Thưa Ðại vương, nếu có ai có thể nói một cách chơn chánh là mình đã chứng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, thời người ấy phải chính là Ta. Thưa Ðại vương, Ta đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
-- Thưa Tôn giả Gotama, có những vị Sa-môn, Bà-la-môn là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Như ngài Purana Kassapa, Makkali Gosàla, Nigantha Nàtaputta, Sanjaya Belatthiputta, Kakudha Kaccàyana, Ajita Kesakambala. Khi con hỏi các vị ấy: 'Có tự xem là đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không?', thời họ đã trả lời, không tự xem mình đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vậy làm sao Tôn giả Gotama, trẻ tuổi, sanh sau đẻ muộn, và chỉ mới xuất gia lại tự cho mình như vậy?
-- Thưa Ðại vương, có bốn loại trẻ tuổi không nên khinh thường, hay không nên miệt thị vì họ là trẻ. Thế nào là bốn?
Thưa Ðại vương, Khattiya trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì họ là trẻ.
Thưa Ðại vương, con rắn trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì chúng là trẻ.
Thưa Ðại vương, ngọn lửa trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì chúng là trẻ.
Thưa Ðại vương, Tỳ-kheo trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì họ là trẻ.
Thưa Ðại vương, bốn loại trẻ tuổi này không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì chúng là trẻ".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
Chữ "vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác" là một bậc tu hành giác ngộ cứu cánh cùng cực, viên mãn tột đỉnh. Có bốn loại tuổi trẻ không nên khinh thường hay mệt thị vì còn trẻ, thứ nhất là dòng dõi hoàng thất, là thái tử, hoàng tử còn nhỏ, thứ hai là con rắn còn nhỏ, thứ ba là đóm lửa nhỏ và cuối cùng là vị tu sĩ còn trẻ.
"Thế Tôn nói như vậy. Nói xong, bậc Thiện Thệ lại nói thêm như sau:
Sanh dòng Sát-đế-lỵ,
Thuộc quý tộc, danh xưng,
Chớ khinh thường là trẻ,
Chớ miệt thị là nhỏ.
Vị Sát-đế-lỵ ấy,
Ðến thời lên ngôi vua,
Làm chúa tể loài Người,
Trị vì cả quốc độ.
Vị ấy nếu phẫn nộ,
Dùng vương phạt gia hình,
Ai bảo tồn mạng mình,
Hãy tránh né vị ấy".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
Đây là ý thứ nhất giải thích tại sao không nên xem thường một vị thái tử còn nhỏ tuổi. Tuy rằng còn nhỏ, còn trẻ tuổi nhưng khi lên ngôi vua sẽ làm chúa tể của loài người, trị vì cả quốc độ, nắm giữ việc sống chết của dân chúng trong tay.
"Ở làng hay là rừng,
Có thấy rắn bò qua,
Chớ khinh thường rắn trẻ,
Chớ miệt thị rắn nhỏ,
Cao thấp hình sai biệt.
Rắn sống đầy nhiệt khí,
Bị tấn công, nó cắn,
Kẻ ngu cả nam nữ,
Ai bảo tồn mạng mình,
Hãy tránh né loài rắn".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
Đừng xem thường con rắn nhỏ, dù nhỏ nhưng bị cắn có thể mất mạng.
"Lửa cháy đầy khát vọng,
Lửa đốt thiêu, đốt cháy,
Chớ khinh thường lửa trẻ,
Chớ miệt thị lửa nhỏ.
Lửa được đồ bén cháy,
Liền cháy to, cháy lớn,
Bị tấn công, lửa đốt,
Kẻ ngu cả nam nữ,
Ai bảo tồn mạng mình,
Hãy tránh né lửa cháy".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
Chỉ một đóm lửa nhỏ nhưng có thể cháy hết xóm làng, cháy hết thành ấp, cháy biết bao mẫu rừng, thậm chí làm con người mất mạng.
"Khu rừng bị lửa đốt,
Lửa đốt thiêu, đốt cháy,
Sau nhiều đêm và ngày,
Rễ mầm lại mọc lên".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
"Còn Tỳ-kheo trẻ giới,
Nồng cháy với nhiệt tình,
Nhưng không con, không cái,
Không của cải truyền thừa,
Không con, không thừa tự,
Như thân cây tala".
"Do vậy, người hiền trí,
Tự thấy hạnh phúc mình,
Ðối với rắn và lửa
Danh xưng Sát-đế-lỵ,
Vị Tỳ-kheo trì giới,
Với bốn vị kể trên,
Hãy biết cách cư xử,
Chơn chánh và tốt đẹp.
Khi nghe nói vậy, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
Có thể đây là lần đầu tiên vua Pasenadi yết kiến Đức Phật, cũng trong lần này ngài đã quy y. Qua bài kinh này chúng ta thấy được rằng Thế Tôn tuyên bố mình là người đã chứng ngộ cứu cánh cùng cực một cánh mạnh mẽ, xác quyết nhưng vua Ba-tư-nặc lại nói bản thân ông đã từng gặp các vị tu hành nổi tiếng khác, những vị tổ sư, những vị khai tổ của các tông phái được mọi người tôn kính nhưng bản thân họ cũng không khẳng định mình là người giác ngộ tột cùng nhưng tại sao Đức Phật là người còn trẻ, sanh sau đẻ muộn lại mới xuất gia, tu chưa bao lâu lại dám tuyên bố mình đã giác ngộ cứu cánh cùng cực.
Sau đó Thế Tôn nói có bốn loại không nên xem thường, đó là thái tử, con rắn, đóm lửa và vị Tỳ-kheo trẻ tuổi. Vì thế không thể nhìn tuổi tác, dung mạo bên ngoài mà khinh thường người ta, nếu một người không chứng ngộ cứu cánh cùng cực mà lại nói bản thân đã chứng ngộ thì lời nói của họ khi đối diện với những bậc vua chúa tất nhiên sẽ run sợ, không thể xác quyết mạnh mẽ như ngưu vương, như voi chúa, qua đây chúng ta thấy rằng nếu mình hiểu chứng ngộ là không được nói, những người chứng ngộ khi chết mới được biết đến là một cái hiểu sai lầm, phải nói đúng thời đúng lúc và nói sự thật.
Khi một bậc đã giác ngộ nói rằng mình đã giác ngộ thì đó là sự thật vì họ đang nói thật, đạo lộ của Phật pháp nguyên chất mà chúng ta đang tu học là tâm mình còn những cấu uế thì mình sẽ thấy, sẽ biết hết, cái nào nặng mình cũng biết, cái nào nhẹ mình cũng biết và cái nào hết rồi mình cũng biết chứ không phải tu trong lờ mờ, tu trong không thấy không biết nên Đức Phật đã nói rằng ngài tuyên bố đoạn tận các lậu hoặc cho người thấy, cho người biết.
"Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy".
(Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc).
Thân kiến, bản ngã của mình còn hay không thì mình thấy, mình biết được điều đó cho nên Đức Thế Tôn tuyên bố dõng mãnh:
"Thưa Ðại vương, nếu có ai có thể nói một cách chơn chánh là mình đã chứng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, thời người ấy phải chính là Ta. Thưa Ðại vương, Ta đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
Dù ở trước mặt nhà vua ngài vẫn nói dõng dạt, mạnh mẽ, rống lên tiếng rống con sư tử rằng chính ngài là bậc tu hành đã giác ngộ chỗ cứu cánh cùng cực tối thượng, không còn chỗ giác ngộ nào cao hơn nữa. Lời nói của Đức Phật là lời nói như thật, chắc chắn, không có sự sai khác. Còn bây giờ tu mà người khác hỏi có thấy được pháp gì chưa thì trả lời không thấy pháp gì cả, như vậy làm sao người ta học pháp với mình, không có sự xác quyết, không có sự chắc chắn thì làm sao người ta theo học, chính tự thân người hướng dẫn cũng không thấy pháp, không ngộ pháp, không chứng pháp thì làm sao trình bày pháp cho người khác nghe. Sau đây là bài kinh thứ hai, có tên Người.
II. Tam độc
"Tại tịnh xá ở Sàvatthi.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Có bao nhiêu loại pháp, bạch Thế Tôn, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy?
-- Thưa Ðại vương có ba loại pháp khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy. Thế nào là ba?
Tham pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy.
Sân pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an trú cho người ấy.
Si pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy.
Ba pháp ấy, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy.
Tham, sân, si ba pháp,
Là ác tâm cho người,
Chúng di hại tự ngã,
Chúng tác thành tự ngã,
Như vỏ và lõi cây,
Tự tác thành trái cây".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Người)
Trong mỗi câu trả lời Đức Phật đều nói "thưa Đại vương", Thế Tôn được các bậc vua chúa đảnh lễ cung kính nhưng sự tôn trọng của ngài đối với đức vua không kém hơn, còn người bình thường nghĩ rằng mình đã là sư phụ, đó là đệ tử nên không có sự tôn trọng qua lại lẫn nhau. Cái ứng xử của Đức Phật từ trong lời kinh cho chúng ta thấy được tuệ giác của Đức Như Lai, tất cả mọi thứ đều là nhân nhiên sư phạm, mẫu mực muôn đời, không chỉ là sư phạm cho cõi người mà sư phạm cho cả chư thiên. Đức Phật nói rất rõ ràng, rành mạch từng pháp cho nhà vua:
Tham pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy.
Sân pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an trú cho người ấy.
Si pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy.
Nếu là mình chắc chắn sẽ đọc tóm tắt theo kiểu "Thưa Đại vương, đó là tham, sân, si, ba pháp này khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy". Tại sao trong mỗi câu Đức Phật đều nói lặp lại rồi cuối cùng ngài có câu kết "Ba pháp ấy, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy"?
Đó là Thế Tôn muốn nhấn mạnh để cảm thọ đi sâu vào nội tâm người đó, không thể quên được, đây là cách giáo dục, cách thuyết pháp của Đức Phật, là cách để làm cho người nghe khắc ghi, nhớ kĩ, đi vào trong cảm thọ cũng là cách để Thánh chúng sau này truyền thừa, còn mình chỉ cần truyền qua truyền lại vài lần là mất luôn cho nên mới có câu "tam sao thất bản", tam sao là sao chép lại ba lần là mất luôn bản gốc (thất bản), đó là lý do tại sao chúng ta phải học thuộc kinh sách, ở Myanmar có những vị đệ nhất tạng, đệ nhị tạng và bậc tam tạng pháp sư, cả thế giới này chỉ có mười mấy vị tam tạng pháp sư, người ta gọi những người đó là quốc bảo, họ thuộc lòng hết cả một tạng kinh khổng lồ này nhưng không phải chỉ Tương Ưng mà thuộc hết từ Tăng Chi Bộ, Tương Ưng Bộ, Trường Bộ, Trung Bộ, Tiểu Bộ nhưng đó chỉ mới là đệ nhất tạng kinh thôi, đệ nhị tạng là thuộc thêm tạng luật, còn tam tạng pháp sư là ngoài tạng kinh và tạng luật thì phải thuộc luôn cả tạng luận nữa. Các vị đó từ lúc sanh ra chỉ học kinh điển chứ không học cái gì ngoài đời cả, chính quyền xem những vị đó là quốc bảo, là báu vật của quốc gia, còn mình học thuộc rồi lên đọc cũng sai hoặc trích kinh thì không trích hết mà dùng dấu ba chấm để thể hiện đoạn kinh.
"- Năm pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, biến mất. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo,
Các Tỳ-kheo không cẩn trọng nghe pháp;
Không cẩn trọng học thuộc lòng pháp;
Không cẩn trọng thọ trì pháp;
Không cẩn trọng quan sát ý nghĩa các pháp được thọ trì;
Không cẩn trọng thực hành pháp và tùy pháp sau khi hiểu ý nghĩa và hiểu pháp.
Năm pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, biến mất".
(Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVI. Phẩm Diệu Pháp, (IV). Diệu Pháp Hỗn Loạn (1))
Đó là chúng ta không tôn trọng pháp, không biết giá trị thật sự của pháp, Đức Thế Tôn là pháp chủ, pháp vương, tất cả pháp đều từ nơi ngài mà ra, mỗi lời ngài nói ra đều là mẫu mực. Khi nhà vua hỏi ba pháp nào khi khởi lên đưa lại bất lợi, khổ não, bất an cho một người thì đầu tiên mở bải Đức Phật nó có ba loại pháp đưa đến bất lợi, khổ não, bất an cho một người khi khởi lên trong tâm, đến thân bài Đức Phật trình bày chi tiết ba loại pháp đó là tham pháp, sân pháp và si pháp, quan trọng là ở mỗi pháp Đức Phật đều có câu "thưa Đại vương" thể hiện sự tôn trọng với nhà vua, kết bài Đức Phật kết luận ba pháp ấy khi khởi lên trong tâm một người sẽ đưa đến bất lợi, khổ não và bất an cho một người, cuối bài ngài còn một bài kệ tổng kết lại lời vừa nói, "Tham, sân, si ba pháp, Là ác tâm cho người".
Ở trên Đức Phật đã nói năm lần tham, sân, si là ba pháp gây hại cho người, ở dưới bài kệ nói thêm một lần nữa là sáu lần Đức Phật khẳng định tham, sân, si là ba pháp gây ra ác tâm cho con người. Chúng ta phải học kinh vì đây là bách khoa toàn thư để tiến đến bậc hiền Thánh, chỉ là một bài kinh ngắn thôi nhưng lại là chân lý vĩnh hằng bất diệt, dù trải qua gần ba ngàn năm nhưng vẫn đúng đắn và cho đến năm ngàn năm sau vẫn đúng, khi tham dục, tham vọng, tham lam, tham ái khởi lên trong tâm người nào sẽ đưa lại bất lợi, khổ não, bất an cho người đó.
Hai nhà hàng xóm đối diện nhau, nhà này không ưa nhà kia vì nhà kia mỗi lần kéo cửa sắt là tạo ra âm thanh ồn ào, thế là hai bên ra cự cãi nhau rồi án mạng xảy ra, đó là lý do Đức Phật nói "sân pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an trú cho người ấy". Khi đang đi mà gặp chuyện làm bực mình, nếu biết nhiếp phục cái sân làm thân tâm an tịnh, lắng dịu thì nó giúp cho mình có sự an lạc, an ổn, còn nếu mình cứ lao vào cự cãi, làm cho ra chuyện sẽ đem lại cho mình sự bất an, khổ não, bất lợi.
Dịch bệnh diễn ra nên bị cách ly trong nhà quá lâu, bây giờ tham muốn ra ngoài chơi hít thở khí trời, hút thuốc nhưng bất ngờ công an đến yêu cầu lên phường đóng phạt vì vi phạm giãn cách, đó là đưa đến bất lợi cho mình, cho nên giá trị của những pháp là bất hủ, tuyệt vời, đúng mọi lúc mọi nơi, siêu việt thời gian không gian, tức là trong bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào thì giá trị của những lời nói của Đức Phật vẫn không thay đổi. Chiều hôm qua Minh Thành thấy bụng không được tốt lắm nên chỉ uống chút nước ấm rồi đi kinh hành mà thấy nhẹ nhàng, an lạc, nếu lúc đó ăn vào thì không chừng sẽ đau bụng thêm, đó là bất lợi, khổ não, bất an.
Có một người ở Đài Loan ăn mì xuyên suốt nhiều tháng trời cuối cùng đột tử, kiểm tra thì phát hiện lượng muối nạp vào cơ thể người này quá cao và mắc chứng cao huyết áp, đó là "tham pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy", người ấy chết vì tham ăn mì. Si là trạng thái lơ ngơ, mơ hồ, có những trường hợp kí giấy tờ mà không đọc hoặc không hiểu gì cả nhưng vẫn kí, hậu quả tán gia bại sản, thậm chí còn mắc nợ, phải đi làm cả chục năm để trả nợ vì một chữ kí, vì thế Đức Phật nói "si pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy". Toàn bộ sự tu của chúng ta là nhiếp phục tham, sân, si, đoạn tận tham, sân, si, đó là cứu cánh phạm hạnh vì ba pháp này là ba thứ xấu ác trong tâm con người.
"Tham, sân, si ba pháp,
Là ác tâm cho người,
Chúng di hại tự ngã,
Chúng tác thành tự ngã,
Như vỏ và lõi cây,
Tự tác thành trái cây".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Người)
Di là để lại, hại là xấu ác, nghĩa là tham, sân, si là thứ tai hại để lại hậu quả xấu cho con người một cách lâu dài, không phải bị tai họa ngay lúc đó mà tai họa, sự nguy hiểm, hiểm họa đến với chúng ta một cách dài lâu về sau thì gọi là di họa. Toàn bộ phạm hạnh của chúng ta là làm thế nào để thấy tham, sân, si để nhiếp phục nó triệt để, tận cùng là xong công việc, nhưng để thấy hết tất cả khía cạnh, góc độ, phương diện của tham, sân, si là cả một sự thiền định và trí tuệ, chánh niệm và tỉnh giác.
Trong việc nói cũng có tham nói, thích nói nên nói xong có khi hối hận suốt đời chứ không phải ăn cắp, lấy đồ của người ta mới là tham, trong suy nghĩ cũng có tham, trong cảm giác cũng có dục, những hình bóng trong tâm có ái trong đó, mình càng nhìn thấy rõ tham, sân, si chừng nào thì sự nhiếp phục của mình càng vi tế chừng đó, càng nhiếp phục vi tế, nhỏ nhiệm thì càng mau chóng tẩy sạch hết chừng đó, còn bây giờ tu suốt đời trong chùa mà không thấy tham, sân, si hoạt động trong cảm thọ hoặc chỉ thấy cái thô như vô văn phàm phu thì tu có rất ít kết quả, mình phải thấy được những thứ sâu sắc, nhỏ nhiệm vì nếu không nó sẽ để lại di chứng tác hại khôn lường về sau cho mình.
"Tác thành tự ngã" nghĩa là những ác nghiệp tham, sân, si đó về sau sẽ tạo thành một tấm thân ngũ uẩn, ví dụ thân con chó, thân con rắn, thân của người dị dạng, dị hình, đó chính là di hại của tham, sân, si, là tai hại của tham, sân, si để lại trên tấm thân năm uẩn đó. Tu chánh niệm tỉnh giác để nhận diện ngũ uẩn là nhằm thấy được tham, sân, si rồi nhiếp phục được phần nào là lợi ích ngay trong lúc đó, an lạc lâu dài về sau, không chỉ có an lạc ngay trước mắt mà an lạc, lợi ích, an ổn, hạnh phúc lâu dài về sau, Đức Phật đã nói từ bỏ năm uẩn sẽ được lợi ích lâu dài về sau.
"Này các Tỳ-kheo, cái gì không phải của các Ông, các Ông hãy từ bỏ. Các Ông từ bỏ, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỳ-kheo, cái gì không phải của các Ông? Chư Tỳ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ sắc. Các Ông từ bỏ sắc sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỳ-kheo, thọ không phải của các Ông, hãy từ bỏ thọ. Các Ông từ bỏ thọ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỳ-kheo, tưởng không phải của các Ông, hãy từ bỏ tưởng. Các Ông từ bỏ tưởng sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỳ-kheo, các hành không phải của các Ông, hãy từ bỏ các hành. Các Ông từ bỏ các hành sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỳ-kheo, thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ thức. Các Ông từ bỏ thức sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông".
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn, không sở hữu)
Vì thế sự tu của mình là quay lại nhìn vào nội tâm tìm kiếm những rác bẩn, cấu uế, nếu có thì tác ý, quán chiếu đánh đuổi, tẩy sạch, từ bỏ, công việc tu hành cả ngày lẫn đêm của mình là thế, nếu không làm như vậy nó sẽ di hại khôn lường.
"Chúng tác thành tự ngã,
Như vỏ và lõi cây,
Tự tác thành trái cây".
Ví dụ này không đơn giản như chúng ta nghĩ, vỏ và lõi cây tác thành trái cây. Cái lõi ở bên trong là những cảm xúc tham dục, sân hận, si mê, nó tạo ra những ngôn ngữ, hành vi của ác hạnh, từ những cảm xúc tham dục, nóng giận, si mê, bản ngã mới sanh khởi ra những ý nghĩ ác, hành động ác, lời nói xấu, những ý nghĩ xấu, hành động xấu, lời nói xấu, những ý nghĩ tiêu cực, hành động tiêu cực, lời nói tiêu cực, những cái này chính là vỏ cây. Từ ý nghĩ ác, lời nói ác, hành động ác sẽ có ra quả dị thục của nó chính là quả độc, quả đắng cho nên cần canh chừng và đề phòng ba thứ ác độc tham, sân, si này.
"Ở tại Sàvatthi.
Ngồi một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có cái gì sanh mà không già và không chết không?
-- Thưa Ðại vương, không có cái gì sanh mà không già và không chết".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Vua)
Các vị vua rất thích thú với việc sanh ra mà không già, không chết, trong lịch sử ghi lại hoàng đế Tần Thủy Hoàng sai người đi tìm thuốc trường sinh bất tử cho mình, vì ở trên đỉnh cao quyền lực quá sung sướng, hưởng phước quá lớn nên không muốn già lẫn không muốn chết. Các vị tu tiên cũng luyện linh đan, thần dược nhằm trị được bách bệnh giúp cơ thể sống lâu nhất có thể.
"Thưa Ðại vương, dầu cho những vị Sát-đế-lỵ là những bậc đại phú, phú hào, có tiền của lớn, có tài sản lớn, có nhiều vàng và bạc, có nhiều tài sản vật dụng, có nhiều tiền của, ngũ cốc. Các vị ấy có sanh cũng không thoát khỏi già và chết.
Thưa Ðại vương, dầu cho những vị Bà-la-môn là những bậc đại phú, dầu cho những gia chủ là những bậc đại phú, phú hào, có tiền của lớn, có tài sản lớn, có nhiều vàng bạc, có nhiều tài sản vật dụng, có nhiều tiền của, ngũ cốc, các vị ấy có sanh cũng không thoát khỏi già và chết.
Thưa Ðại vương, cho đến các vị Tỳ-kheo, những bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn được hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh trí, cho đến thân này của các vị ấy cũng phải bị hủy hoại, cũng phải bị từ bỏ.
Xe vua dầu mỹ diệu,
Rồi cũng phải hư hoại,
Thân thể này cũng vậy,
Rồi cũng phải già yếu.
Chỉ thiện pháp không già,
Bậc thiện nhân nói vậy".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Vua)
Câu trả lời của Đức Phật có ba đẳng cấp, thứ nhất là những vị Sát-đế-lỵ vua chúa quyền uy đến cỡ nào rồi cũng phải già chết, thứ hai là những vị Bà-la-môn tu hành ở đẳng cấp cao, giàu có, phú quý cũng phải chết, thứ ba là những vị Tỳ-kheo, những bậc A-la-hán "đã đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn được hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh trí" rồi cuối cùng cũng phải chết. Gánh nặng chính là tham, sân, si, vô minh, là ngũ uẩn, tham ái, chấp thủ, những gánh nặng này đã được bỏ xuống.
Các quý thầy gửi về những hình ảnh làm Minh Thành rất xúc động, xe đậu nối dài trên đường vào lò thiêu, trong mỗi xe là bốn năm cái hòm, những người đang xét nghiệm chưa có kết quả đã chết, không những là người đời mà có cả những chiến sĩ công an, những người đi truy vết F0, F1 cũng hi sinh, không những các chiến sĩ công an mà có đến hàng ngàn bác sĩ, điều dưỡng nhiễm bệnh, những vị Tăng Ni qua đời, có những Phật tử cả nhà đều nhiễm bệnh, cả nhà chú lau chùa thường xuyên ở Bửu Liên cũng bị nhiễm bệnh, cô Phật tử lớn tuổi tóc bạc trắng thường lên núi tu cả nhà cũng bị nhiễm và chồng cô đã qua đời, các vị có chức sắc cho biết con số thực tế gấp bốn năm lần con số được báo cáo, nghĩa là lên hàng triệu người nhiễm, thời gian nhiễm bệnh rút ngắn còn vài ngày, nhiễm khoảng sáu bảy ngày là ra đi cho nên trong thời gian này chúng ta cần cố gắng học pháp, hành pháp, mạng sống trong thời buổi này cực kì mong manh, áo quan không có đủ vì số người chết quá nhiều, lò thiêu thì quá tải.
"Chỉ thiện pháp không già,
Bậc thiện nhân nói vậy".
Xe cộ dù có đẹp có đắt cỡ nào đi nữa rồi cũng hoại theo thời gian, tấm thân tứ đại này rồi cũng tan rã nhưng thiện pháp là bất tử, những việc lành, việc thiện, việc công đức sống mãi với thời gian, Đức Thế Tôn đã viên tịch mấy ngàn năm nhưng công đức của ngài không già, trí tuệ của ngài không già, những điều ngài làm cho cuộc đời này không bị tàn hoại, những bậc Thánh chúng như ngài Ananda kết tập kinh điển, chỉ một việc đó thôi mà danh tiếng còn mãi gần ba ngàn năm không mất đi, ông Cấp-cô-độc phát tâm cúng dường Tinh Xá cho Đức Phật nên tiếng thơm kéo dài qua 26 thế kỉ không phai nhòa.
Những ý nghĩ lành thiện, những lời nói lành thiện, những hành động cao thượng như các y bác sĩ xung phong vào tuyến đầu chống dịch, những người không ngại khó khăn, gian khổ vẫn đi làm từ thiện, vác từng bình oxy cho bệnh nhân thở, những Tăng Ni hoặc các Phật tử đã từng học ngành y thì bây giờ xung phong ra tuyến đầu chống dịch… Còn rất nhiều những tấm gương khác nữa và những thiện pháp này sẽ không bao giờ già, không bao giờ bị mất đi, những gì chúng ta đang làm hiện nay là thiện pháp, là pháp lành, những đều này cũng không mất đi và nó sẽ đi theo mình cho đến khi đạt đến mục đích tối hậu.
./.
TƯƠNG ƯNG KOSALA 1B
ĐẾ VƯƠNG & PHÁP VƯƠNG
DI HOẠ CỦA TAM ĐỘC
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn loại trẻ tuổi không nên khinh thường PAGEREF _Toc113978225 \h 1
II. Tam độc PAGEREF _Toc113978226 \h 6
I. Bốn loại trẻ tuổi không nên khinh thường
Chúng ta sẽ tìm hiểu về Tương Ưng Kosala – Đế Vương và Pháp Vương để thấy được những bậc vua chúa, cửu ngũ chí tôn trong thiên hạ kính lễ, tôn sùng, tôn trọng Đức Như Lai như thế nào và chúng ta sẽ thấy sự giáo hóa của Đức Phật với đầy đủ sự khéo léo, thiện xảo, trí tuệ và lòng từ bi, cách hành xử của ngài là nhân thiên Mô phạm, mẫu mực cho muôn đời.
Kosala được phiên âm ra tiếng Hán Việt nghĩa là Câu-tác-la hoặc là Kiều-tác-la, đó là một vương quốc của Ấn Độ thời Đức Phật có thế lực mạnh nhất ở miền bắc Ấn, Đức Phật thường đến thành Xá-vệ là kinh đô của Kiều-tác-la để lưu trú ở Kỳ viên Tinh Xá, bài kinh có tên là Tuổi trẻ.
"Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm), tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
Rồi vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) nước Kosala (Kiều-tát-la) đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Tôn giả Gotama có tự cho mình đã chứng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác không?
-- Thưa Ðại vương, nếu có ai có thể nói một cách chơn chánh là mình đã chứng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, thời người ấy phải chính là Ta. Thưa Ðại vương, Ta đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
-- Thưa Tôn giả Gotama, có những vị Sa-môn, Bà-la-môn là vị hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng. Như ngài Purana Kassapa, Makkali Gosàla, Nigantha Nàtaputta, Sanjaya Belatthiputta, Kakudha Kaccàyana, Ajita Kesakambala. Khi con hỏi các vị ấy: 'Có tự xem là đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không?', thời họ đã trả lời, không tự xem mình đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vậy làm sao Tôn giả Gotama, trẻ tuổi, sanh sau đẻ muộn, và chỉ mới xuất gia lại tự cho mình như vậy?
-- Thưa Ðại vương, có bốn loại trẻ tuổi không nên khinh thường, hay không nên miệt thị vì họ là trẻ. Thế nào là bốn?
Thưa Ðại vương, Khattiya trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì họ là trẻ.
Thưa Ðại vương, con rắn trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì chúng là trẻ.
Thưa Ðại vương, ngọn lửa trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì chúng là trẻ.
Thưa Ðại vương, Tỳ-kheo trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì họ là trẻ.
Thưa Ðại vương, bốn loại trẻ tuổi này không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì chúng là trẻ".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
Chữ "vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác" là một bậc tu hành giác ngộ cứu cánh cùng cực, viên mãn tột đỉnh. Có bốn loại tuổi trẻ không nên khinh thường hay mệt thị vì còn trẻ, thứ nhất là dòng dõi hoàng thất, là thái tử, hoàng tử còn nhỏ, thứ hai là con rắn còn nhỏ, thứ ba là đóm lửa nhỏ và cuối cùng là vị tu sĩ còn trẻ.
"Thế Tôn nói như vậy. Nói xong, bậc Thiện Thệ lại nói thêm như sau:
Sanh dòng Sát-đế-lỵ,
Thuộc quý tộc, danh xưng,
Chớ khinh thường là trẻ,
Chớ miệt thị là nhỏ.
Vị Sát-đế-lỵ ấy,
Ðến thời lên ngôi vua,
Làm chúa tể loài Người,
Trị vì cả quốc độ.
Vị ấy nếu phẫn nộ,
Dùng vương phạt gia hình,
Ai bảo tồn mạng mình,
Hãy tránh né vị ấy".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
Đây là ý thứ nhất giải thích tại sao không nên xem thường một vị thái tử còn nhỏ tuổi. Tuy rằng còn nhỏ, còn trẻ tuổi nhưng khi lên ngôi vua sẽ làm chúa tể của loài người, trị vì cả quốc độ, nắm giữ việc sống chết của dân chúng trong tay.
"Ở làng hay là rừng,
Có thấy rắn bò qua,
Chớ khinh thường rắn trẻ,
Chớ miệt thị rắn nhỏ,
Cao thấp hình sai biệt.
Rắn sống đầy nhiệt khí,
Bị tấn công, nó cắn,
Kẻ ngu cả nam nữ,
Ai bảo tồn mạng mình,
Hãy tránh né loài rắn".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
Đừng xem thường con rắn nhỏ, dù nhỏ nhưng bị cắn có thể mất mạng.
"Lửa cháy đầy khát vọng,
Lửa đốt thiêu, đốt cháy,
Chớ khinh thường lửa trẻ,
Chớ miệt thị lửa nhỏ.
Lửa được đồ bén cháy,
Liền cháy to, cháy lớn,
Bị tấn công, lửa đốt,
Kẻ ngu cả nam nữ,
Ai bảo tồn mạng mình,
Hãy tránh né lửa cháy".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
Chỉ một đóm lửa nhỏ nhưng có thể cháy hết xóm làng, cháy hết thành ấp, cháy biết bao mẫu rừng, thậm chí làm con người mất mạng.
"Khu rừng bị lửa đốt,
Lửa đốt thiêu, đốt cháy,
Sau nhiều đêm và ngày,
Rễ mầm lại mọc lên".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
"Còn Tỳ-kheo trẻ giới,
Nồng cháy với nhiệt tình,
Nhưng không con, không cái,
Không của cải truyền thừa,
Không con, không thừa tự,
Như thân cây tala".
"Do vậy, người hiền trí,
Tự thấy hạnh phúc mình,
Ðối với rắn và lửa
Danh xưng Sát-đế-lỵ,
Vị Tỳ-kheo trì giới,
Với bốn vị kể trên,
Hãy biết cách cư xử,
Chơn chánh và tốt đẹp.
Khi nghe nói vậy, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
Có thể đây là lần đầu tiên vua Pasenadi yết kiến Đức Phật, cũng trong lần này ngài đã quy y. Qua bài kinh này chúng ta thấy được rằng Thế Tôn tuyên bố mình là người đã chứng ngộ cứu cánh cùng cực một cánh mạnh mẽ, xác quyết nhưng vua Ba-tư-nặc lại nói bản thân ông đã từng gặp các vị tu hành nổi tiếng khác, những vị tổ sư, những vị khai tổ của các tông phái được mọi người tôn kính nhưng bản thân họ cũng không khẳng định mình là người giác ngộ tột cùng nhưng tại sao Đức Phật là người còn trẻ, sanh sau đẻ muộn lại mới xuất gia, tu chưa bao lâu lại dám tuyên bố mình đã giác ngộ cứu cánh cùng cực.
Sau đó Thế Tôn nói có bốn loại không nên xem thường, đó là thái tử, con rắn, đóm lửa và vị Tỳ-kheo trẻ tuổi. Vì thế không thể nhìn tuổi tác, dung mạo bên ngoài mà khinh thường người ta, nếu một người không chứng ngộ cứu cánh cùng cực mà lại nói bản thân đã chứng ngộ thì lời nói của họ khi đối diện với những bậc vua chúa tất nhiên sẽ run sợ, không thể xác quyết mạnh mẽ như ngưu vương, như voi chúa, qua đây chúng ta thấy rằng nếu mình hiểu chứng ngộ là không được nói, những người chứng ngộ khi chết mới được biết đến là một cái hiểu sai lầm, phải nói đúng thời đúng lúc và nói sự thật.
Khi một bậc đã giác ngộ nói rằng mình đã giác ngộ thì đó là sự thật vì họ đang nói thật, đạo lộ của Phật pháp nguyên chất mà chúng ta đang tu học là tâm mình còn những cấu uế thì mình sẽ thấy, sẽ biết hết, cái nào nặng mình cũng biết, cái nào nhẹ mình cũng biết và cái nào hết rồi mình cũng biết chứ không phải tu trong lờ mờ, tu trong không thấy không biết nên Đức Phật đã nói rằng ngài tuyên bố đoạn tận các lậu hoặc cho người thấy, cho người biết.
"Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy".
(Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc).
Thân kiến, bản ngã của mình còn hay không thì mình thấy, mình biết được điều đó cho nên Đức Thế Tôn tuyên bố dõng mãnh:
"Thưa Ðại vương, nếu có ai có thể nói một cách chơn chánh là mình đã chứng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, thời người ấy phải chính là Ta. Thưa Ðại vương, Ta đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Tuổi Trẻ)
Dù ở trước mặt nhà vua ngài vẫn nói dõng dạt, mạnh mẽ, rống lên tiếng rống con sư tử rằng chính ngài là bậc tu hành đã giác ngộ chỗ cứu cánh cùng cực tối thượng, không còn chỗ giác ngộ nào cao hơn nữa. Lời nói của Đức Phật là lời nói như thật, chắc chắn, không có sự sai khác. Còn bây giờ tu mà người khác hỏi có thấy được pháp gì chưa thì trả lời không thấy pháp gì cả, như vậy làm sao người ta học pháp với mình, không có sự xác quyết, không có sự chắc chắn thì làm sao người ta theo học, chính tự thân người hướng dẫn cũng không thấy pháp, không ngộ pháp, không chứng pháp thì làm sao trình bày pháp cho người khác nghe. Sau đây là bài kinh thứ hai, có tên Người.
II. Tam độc
"Tại tịnh xá ở Sàvatthi.
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Có bao nhiêu loại pháp, bạch Thế Tôn, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy?
-- Thưa Ðại vương có ba loại pháp khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy. Thế nào là ba?
Tham pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy.
Sân pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an trú cho người ấy.
Si pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy.
Ba pháp ấy, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy.
Tham, sân, si ba pháp,
Là ác tâm cho người,
Chúng di hại tự ngã,
Chúng tác thành tự ngã,
Như vỏ và lõi cây,
Tự tác thành trái cây".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Người)
Trong mỗi câu trả lời Đức Phật đều nói "thưa Đại vương", Thế Tôn được các bậc vua chúa đảnh lễ cung kính nhưng sự tôn trọng của ngài đối với đức vua không kém hơn, còn người bình thường nghĩ rằng mình đã là sư phụ, đó là đệ tử nên không có sự tôn trọng qua lại lẫn nhau. Cái ứng xử của Đức Phật từ trong lời kinh cho chúng ta thấy được tuệ giác của Đức Như Lai, tất cả mọi thứ đều là nhân nhiên sư phạm, mẫu mực muôn đời, không chỉ là sư phạm cho cõi người mà sư phạm cho cả chư thiên. Đức Phật nói rất rõ ràng, rành mạch từng pháp cho nhà vua:
Tham pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy.
Sân pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an trú cho người ấy.
Si pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy.
Nếu là mình chắc chắn sẽ đọc tóm tắt theo kiểu "Thưa Đại vương, đó là tham, sân, si, ba pháp này khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy". Tại sao trong mỗi câu Đức Phật đều nói lặp lại rồi cuối cùng ngài có câu kết "Ba pháp ấy, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy"?
Đó là Thế Tôn muốn nhấn mạnh để cảm thọ đi sâu vào nội tâm người đó, không thể quên được, đây là cách giáo dục, cách thuyết pháp của Đức Phật, là cách để làm cho người nghe khắc ghi, nhớ kĩ, đi vào trong cảm thọ cũng là cách để Thánh chúng sau này truyền thừa, còn mình chỉ cần truyền qua truyền lại vài lần là mất luôn cho nên mới có câu "tam sao thất bản", tam sao là sao chép lại ba lần là mất luôn bản gốc (thất bản), đó là lý do tại sao chúng ta phải học thuộc kinh sách, ở Myanmar có những vị đệ nhất tạng, đệ nhị tạng và bậc tam tạng pháp sư, cả thế giới này chỉ có mười mấy vị tam tạng pháp sư, người ta gọi những người đó là quốc bảo, họ thuộc lòng hết cả một tạng kinh khổng lồ này nhưng không phải chỉ Tương Ưng mà thuộc hết từ Tăng Chi Bộ, Tương Ưng Bộ, Trường Bộ, Trung Bộ, Tiểu Bộ nhưng đó chỉ mới là đệ nhất tạng kinh thôi, đệ nhị tạng là thuộc thêm tạng luật, còn tam tạng pháp sư là ngoài tạng kinh và tạng luật thì phải thuộc luôn cả tạng luận nữa. Các vị đó từ lúc sanh ra chỉ học kinh điển chứ không học cái gì ngoài đời cả, chính quyền xem những vị đó là quốc bảo, là báu vật của quốc gia, còn mình học thuộc rồi lên đọc cũng sai hoặc trích kinh thì không trích hết mà dùng dấu ba chấm để thể hiện đoạn kinh.
"- Năm pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, biến mất. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo,
Các Tỳ-kheo không cẩn trọng nghe pháp;
Không cẩn trọng học thuộc lòng pháp;
Không cẩn trọng thọ trì pháp;
Không cẩn trọng quan sát ý nghĩa các pháp được thọ trì;
Không cẩn trọng thực hành pháp và tùy pháp sau khi hiểu ý nghĩa và hiểu pháp.
Năm pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa đến diệu pháp hỗn loạn, biến mất".
(Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVI. Phẩm Diệu Pháp, (IV). Diệu Pháp Hỗn Loạn (1))
Đó là chúng ta không tôn trọng pháp, không biết giá trị thật sự của pháp, Đức Thế Tôn là pháp chủ, pháp vương, tất cả pháp đều từ nơi ngài mà ra, mỗi lời ngài nói ra đều là mẫu mực. Khi nhà vua hỏi ba pháp nào khi khởi lên đưa lại bất lợi, khổ não, bất an cho một người thì đầu tiên mở bải Đức Phật nó có ba loại pháp đưa đến bất lợi, khổ não, bất an cho một người khi khởi lên trong tâm, đến thân bài Đức Phật trình bày chi tiết ba loại pháp đó là tham pháp, sân pháp và si pháp, quan trọng là ở mỗi pháp Đức Phật đều có câu "thưa Đại vương" thể hiện sự tôn trọng với nhà vua, kết bài Đức Phật kết luận ba pháp ấy khi khởi lên trong tâm một người sẽ đưa đến bất lợi, khổ não và bất an cho một người, cuối bài ngài còn một bài kệ tổng kết lại lời vừa nói, "Tham, sân, si ba pháp, Là ác tâm cho người".
Ở trên Đức Phật đã nói năm lần tham, sân, si là ba pháp gây hại cho người, ở dưới bài kệ nói thêm một lần nữa là sáu lần Đức Phật khẳng định tham, sân, si là ba pháp gây ra ác tâm cho con người. Chúng ta phải học kinh vì đây là bách khoa toàn thư để tiến đến bậc hiền Thánh, chỉ là một bài kinh ngắn thôi nhưng lại là chân lý vĩnh hằng bất diệt, dù trải qua gần ba ngàn năm nhưng vẫn đúng đắn và cho đến năm ngàn năm sau vẫn đúng, khi tham dục, tham vọng, tham lam, tham ái khởi lên trong tâm người nào sẽ đưa lại bất lợi, khổ não, bất an cho người đó.
Hai nhà hàng xóm đối diện nhau, nhà này không ưa nhà kia vì nhà kia mỗi lần kéo cửa sắt là tạo ra âm thanh ồn ào, thế là hai bên ra cự cãi nhau rồi án mạng xảy ra, đó là lý do Đức Phật nói "sân pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an trú cho người ấy". Khi đang đi mà gặp chuyện làm bực mình, nếu biết nhiếp phục cái sân làm thân tâm an tịnh, lắng dịu thì nó giúp cho mình có sự an lạc, an ổn, còn nếu mình cứ lao vào cự cãi, làm cho ra chuyện sẽ đem lại cho mình sự bất an, khổ não, bất lợi.
Dịch bệnh diễn ra nên bị cách ly trong nhà quá lâu, bây giờ tham muốn ra ngoài chơi hít thở khí trời, hút thuốc nhưng bất ngờ công an đến yêu cầu lên phường đóng phạt vì vi phạm giãn cách, đó là đưa đến bất lợi cho mình, cho nên giá trị của những pháp là bất hủ, tuyệt vời, đúng mọi lúc mọi nơi, siêu việt thời gian không gian, tức là trong bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào thì giá trị của những lời nói của Đức Phật vẫn không thay đổi. Chiều hôm qua Minh Thành thấy bụng không được tốt lắm nên chỉ uống chút nước ấm rồi đi kinh hành mà thấy nhẹ nhàng, an lạc, nếu lúc đó ăn vào thì không chừng sẽ đau bụng thêm, đó là bất lợi, khổ não, bất an.
Có một người ở Đài Loan ăn mì xuyên suốt nhiều tháng trời cuối cùng đột tử, kiểm tra thì phát hiện lượng muối nạp vào cơ thể người này quá cao và mắc chứng cao huyết áp, đó là "tham pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy", người ấy chết vì tham ăn mì. Si là trạng thái lơ ngơ, mơ hồ, có những trường hợp kí giấy tờ mà không đọc hoặc không hiểu gì cả nhưng vẫn kí, hậu quả tán gia bại sản, thậm chí còn mắc nợ, phải đi làm cả chục năm để trả nợ vì một chữ kí, vì thế Đức Phật nói "si pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy". Toàn bộ sự tu của chúng ta là nhiếp phục tham, sân, si, đoạn tận tham, sân, si, đó là cứu cánh phạm hạnh vì ba pháp này là ba thứ xấu ác trong tâm con người.
"Tham, sân, si ba pháp,
Là ác tâm cho người,
Chúng di hại tự ngã,
Chúng tác thành tự ngã,
Như vỏ và lõi cây,
Tự tác thành trái cây".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, II. Người)
Di là để lại, hại là xấu ác, nghĩa là tham, sân, si là thứ tai hại để lại hậu quả xấu cho con người một cách lâu dài, không phải bị tai họa ngay lúc đó mà tai họa, sự nguy hiểm, hiểm họa đến với chúng ta một cách dài lâu về sau thì gọi là di họa. Toàn bộ phạm hạnh của chúng ta là làm thế nào để thấy tham, sân, si để nhiếp phục nó triệt để, tận cùng là xong công việc, nhưng để thấy hết tất cả khía cạnh, góc độ, phương diện của tham, sân, si là cả một sự thiền định và trí tuệ, chánh niệm và tỉnh giác.
Trong việc nói cũng có tham nói, thích nói nên nói xong có khi hối hận suốt đời chứ không phải ăn cắp, lấy đồ của người ta mới là tham, trong suy nghĩ cũng có tham, trong cảm giác cũng có dục, những hình bóng trong tâm có ái trong đó, mình càng nhìn thấy rõ tham, sân, si chừng nào thì sự nhiếp phục của mình càng vi tế chừng đó, càng nhiếp phục vi tế, nhỏ nhiệm thì càng mau chóng tẩy sạch hết chừng đó, còn bây giờ tu suốt đời trong chùa mà không thấy tham, sân, si hoạt động trong cảm thọ hoặc chỉ thấy cái thô như vô văn phàm phu thì tu có rất ít kết quả, mình phải thấy được những thứ sâu sắc, nhỏ nhiệm vì nếu không nó sẽ để lại di chứng tác hại khôn lường về sau cho mình.
"Tác thành tự ngã" nghĩa là những ác nghiệp tham, sân, si đó về sau sẽ tạo thành một tấm thân ngũ uẩn, ví dụ thân con chó, thân con rắn, thân của người dị dạng, dị hình, đó chính là di hại của tham, sân, si, là tai hại của tham, sân, si để lại trên tấm thân năm uẩn đó. Tu chánh niệm tỉnh giác để nhận diện ngũ uẩn là nhằm thấy được tham, sân, si rồi nhiếp phục được phần nào là lợi ích ngay trong lúc đó, an lạc lâu dài về sau, không chỉ có an lạc ngay trước mắt mà an lạc, lợi ích, an ổn, hạnh phúc lâu dài về sau, Đức Phật đã nói từ bỏ năm uẩn sẽ được lợi ích lâu dài về sau.
"Này các Tỳ-kheo, cái gì không phải của các Ông, các Ông hãy từ bỏ. Các Ông từ bỏ, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỳ-kheo, cái gì không phải của các Ông? Chư Tỳ-kheo, sắc không phải của các Ông, hãy từ bỏ sắc. Các Ông từ bỏ sắc sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỳ-kheo, thọ không phải của các Ông, hãy từ bỏ thọ. Các Ông từ bỏ thọ sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỳ-kheo, tưởng không phải của các Ông, hãy từ bỏ tưởng. Các Ông từ bỏ tưởng sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỳ-kheo, các hành không phải của các Ông, hãy từ bỏ các hành. Các Ông từ bỏ các hành sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông. Chư Tỳ-kheo, thức không phải của các Ông, hãy từ bỏ thức. Các Ông từ bỏ thức sẽ đem lại hạnh phúc, an lạc lâu dài cho các Ông".
(Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn, không sở hữu)
Vì thế sự tu của mình là quay lại nhìn vào nội tâm tìm kiếm những rác bẩn, cấu uế, nếu có thì tác ý, quán chiếu đánh đuổi, tẩy sạch, từ bỏ, công việc tu hành cả ngày lẫn đêm của mình là thế, nếu không làm như vậy nó sẽ di hại khôn lường.
"Chúng tác thành tự ngã,
Như vỏ và lõi cây,
Tự tác thành trái cây".
Ví dụ này không đơn giản như chúng ta nghĩ, vỏ và lõi cây tác thành trái cây. Cái lõi ở bên trong là những cảm xúc tham dục, sân hận, si mê, nó tạo ra những ngôn ngữ, hành vi của ác hạnh, từ những cảm xúc tham dục, nóng giận, si mê, bản ngã mới sanh khởi ra những ý nghĩ ác, hành động ác, lời nói xấu, những ý nghĩ xấu, hành động xấu, lời nói xấu, những ý nghĩ tiêu cực, hành động tiêu cực, lời nói tiêu cực, những cái này chính là vỏ cây. Từ ý nghĩ ác, lời nói ác, hành động ác sẽ có ra quả dị thục của nó chính là quả độc, quả đắng cho nên cần canh chừng và đề phòng ba thứ ác độc tham, sân, si này.
"Ở tại Sàvatthi.
Ngồi một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, có cái gì sanh mà không già và không chết không?
-- Thưa Ðại vương, không có cái gì sanh mà không già và không chết".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Vua)
Các vị vua rất thích thú với việc sanh ra mà không già, không chết, trong lịch sử ghi lại hoàng đế Tần Thủy Hoàng sai người đi tìm thuốc trường sinh bất tử cho mình, vì ở trên đỉnh cao quyền lực quá sung sướng, hưởng phước quá lớn nên không muốn già lẫn không muốn chết. Các vị tu tiên cũng luyện linh đan, thần dược nhằm trị được bách bệnh giúp cơ thể sống lâu nhất có thể.
"Thưa Ðại vương, dầu cho những vị Sát-đế-lỵ là những bậc đại phú, phú hào, có tiền của lớn, có tài sản lớn, có nhiều vàng và bạc, có nhiều tài sản vật dụng, có nhiều tiền của, ngũ cốc. Các vị ấy có sanh cũng không thoát khỏi già và chết.
Thưa Ðại vương, dầu cho những vị Bà-la-môn là những bậc đại phú, dầu cho những gia chủ là những bậc đại phú, phú hào, có tiền của lớn, có tài sản lớn, có nhiều vàng bạc, có nhiều tài sản vật dụng, có nhiều tiền của, ngũ cốc, các vị ấy có sanh cũng không thoát khỏi già và chết.
Thưa Ðại vương, cho đến các vị Tỳ-kheo, những bậc A-la-hán, đã đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn được hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh trí, cho đến thân này của các vị ấy cũng phải bị hủy hoại, cũng phải bị từ bỏ.
Xe vua dầu mỹ diệu,
Rồi cũng phải hư hoại,
Thân thể này cũng vậy,
Rồi cũng phải già yếu.
Chỉ thiện pháp không già,
Bậc thiện nhân nói vậy".
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Vua)
Câu trả lời của Đức Phật có ba đẳng cấp, thứ nhất là những vị Sát-đế-lỵ vua chúa quyền uy đến cỡ nào rồi cũng phải già chết, thứ hai là những vị Bà-la-môn tu hành ở đẳng cấp cao, giàu có, phú quý cũng phải chết, thứ ba là những vị Tỳ-kheo, những bậc A-la-hán "đã đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích tối hậu, đã đoạn được hữu kiết sử, đã được giải thoát nhờ chánh trí" rồi cuối cùng cũng phải chết. Gánh nặng chính là tham, sân, si, vô minh, là ngũ uẩn, tham ái, chấp thủ, những gánh nặng này đã được bỏ xuống.
Các quý thầy gửi về những hình ảnh làm Minh Thành rất xúc động, xe đậu nối dài trên đường vào lò thiêu, trong mỗi xe là bốn năm cái hòm, những người đang xét nghiệm chưa có kết quả đã chết, không những là người đời mà có cả những chiến sĩ công an, những người đi truy vết F0, F1 cũng hi sinh, không những các chiến sĩ công an mà có đến hàng ngàn bác sĩ, điều dưỡng nhiễm bệnh, những vị Tăng Ni qua đời, có những Phật tử cả nhà đều nhiễm bệnh, cả nhà chú lau chùa thường xuyên ở Bửu Liên cũng bị nhiễm bệnh, cô Phật tử lớn tuổi tóc bạc trắng thường lên núi tu cả nhà cũng bị nhiễm và chồng cô đã qua đời, các vị có chức sắc cho biết con số thực tế gấp bốn năm lần con số được báo cáo, nghĩa là lên hàng triệu người nhiễm, thời gian nhiễm bệnh rút ngắn còn vài ngày, nhiễm khoảng sáu bảy ngày là ra đi cho nên trong thời gian này chúng ta cần cố gắng học pháp, hành pháp, mạng sống trong thời buổi này cực kì mong manh, áo quan không có đủ vì số người chết quá nhiều, lò thiêu thì quá tải.
"Chỉ thiện pháp không già,
Bậc thiện nhân nói vậy".
Xe cộ dù có đẹp có đắt cỡ nào đi nữa rồi cũng hoại theo thời gian, tấm thân tứ đại này rồi cũng tan rã nhưng thiện pháp là bất tử, những việc lành, việc thiện, việc công đức sống mãi với thời gian, Đức Thế Tôn đã viên tịch mấy ngàn năm nhưng công đức của ngài không già, trí tuệ của ngài không già, những điều ngài làm cho cuộc đời này không bị tàn hoại, những bậc Thánh chúng như ngài Ananda kết tập kinh điển, chỉ một việc đó thôi mà danh tiếng còn mãi gần ba ngàn năm không mất đi, ông Cấp-cô-độc phát tâm cúng dường Tinh Xá cho Đức Phật nên tiếng thơm kéo dài qua 26 thế kỉ không phai nhòa.
Những ý nghĩ lành thiện, những lời nói lành thiện, những hành động cao thượng như các y bác sĩ xung phong vào tuyến đầu chống dịch, những người không ngại khó khăn, gian khổ vẫn đi làm từ thiện, vác từng bình oxy cho bệnh nhân thở, những Tăng Ni hoặc các Phật tử đã từng học ngành y thì bây giờ xung phong ra tuyến đầu chống dịch… Còn rất nhiều những tấm gương khác nữa và những thiện pháp này sẽ không bao giờ già, không bao giờ bị mất đi, những gì chúng ta đang làm hiện nay là thiện pháp, là pháp lành, những đều này cũng không mất đi và nó sẽ đi theo mình cho đến khi đạt đến mục đích tối hậu.
./.