Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Bước Đầu & Bước Cuối Đường Tu - Cuộc Đối Thoại Tôn Giả Câu Hy La & Ngài Xá Lợi Phất

2026-03-03 00:53:44
Bước Đầu & Bước Cuối Đường Tu

Cuộc Đối Thoại Tôn Giả Câu Hy La & Ngài Xá Lợi Phất

Thích Minh Thành

Ngày 19 tháng 05 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Cuộc đời Ngài Kothita PAGEREF _Toc141803770 \h 1

II. Những pháp cần Như Lý Tác Ý PAGEREF _Toc141803771 \h 4

III. Mục đích xuất gia PAGEREF _Toc141803772 \h 9

IV. Trình pháp PAGEREF _Toc141803773 \h 16

I. Cuộc đời Ngài Kothita

Hôm nay chúng ta sẽ nghe bài kinh về Tôn giả Mahila Kothita trong Tăng Chi Bộ Kinh tập bốn.

Nội dung của bài kinh này rất đặc biệt, trước khi đi vào bài kinh thì chúng ta nghe một chút về tóm lượt cuộc đời của Ngài trong Tiểu Bộ Kinh:

Trong thời đức Phật hiện tại, Ngài được sanh ở Sàvatthi, trong một gia đình Bà-la-môn rất giàu có và được đặt tên là Kotthita (Câu-hy-la). Khi đến tuổi trưởng thành, Ngài học ba tập Veda và thành tựu các đức tánh của vị Bà-la-môn, Ngài nghe bậc Ðạo Sư thuyết pháp, khởi lòng tin và xuất gia. Thực hiện thiền quán từ khi mới xuất gia, Ngài chứng quả A-la-hán, với hiểu biết về nghĩa và về pháp, Ngài thường hỏi bậc Ðạo Sư và các vị Ðại Trưởng lão về hai vấn đề ấy và trở thành rất lão luyện thuần thục. Rồi bậc Ðạo Sư, sau khi xác nhận các quả chứng Ngài đã được trong kinh Vedalla, xác nhận Ngài là bậc thiền quán đệ nhất.

Sau một thời gian, ý thức được sự an lạc giải thoát, Ngài nói lên bài kệ này:

2. Tịch tịnh và chỉ tức,

Tụng đọc lời trí tuệ,

Tâm tư không tháo động,

Ác pháp được vứt bỏ,

Giống như những lá cây,

Bị gió thổi phiêu bạt.

(Tiểu Bộ Kinh tập 3 - Bài kinh Mahàkotthita)

Trong thời Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni xuất hiện, Ngài được sanh ở Xavathi trong một gia đình rất giàu có, được cha mẹ đặt tên là Kotthita (Câu-hy-la). Khi đến tuổi trưởng thành thì Ngài học tập ba bộ Veda, thành tựu các đức tánh của một vị Bà-la-môn. Nhà giàu, học giỏi và người có đức hạnh.

Sau khi Ngài được nghe Đức Thế Tôn thuyết pháp thì phát khởi lòng tin trong sạch, cao thượng, Ngài đi theo Đức Phật xuất gia. Một con người có gia đình rất giàu có, là đại gia, học rất cao, là trí thức, tri thức, sau nữa là có đức hạnh. Ngài có đầy đủ những thứ mọi người ao ước, mong muốn. Khi gặp được Đức Thế Tôn nghe pháp, bậc đạo sư thuyết pháp thì Ngài sanh khởi lòng tịnh tín và đi theo Đức Thế Tôn xuất gia.

Khi Ngài xuất gia, từ khi Ngài mới xuất gia thì Ngài thực hành thiền quán với một sự nỗ lực, chuyên tâm, tinh cần, tinh tấn, Ngài đoạn tận tất cả những lậu hoặc, thành tựu cứu cánh phạm hạnh, trở thành Phật Thánh A-la-hán.

Với hiểu biết về nghĩa và pháp thì Ngài thường hỏi Đức Thế Tôn và các vị đại trưởng lão về hai vấn đề về pháp và nghĩa. Ngài là một người tri thức, thượng lưu trong xã hội, là một nhà nghiên cứu nên thường nêu vấn đề về pháp và nghĩa trong đạo lộ của Như Lai đối với Đức Phật và các bậc đại trưởng lão. Để các bậc ấy tuyên thuyết, trình bày, tạo nhân duyên để các bậc Thánh triển khai giảng thuyết.

Ngài được lợi lạc và tất cả chúng sanh trong thời đó cũng được lợi lạc, mãi đến ngàn sau như chúng ta ngày nay, mấy ngàn năm sau cũng được lợi lạc. Đó là hai vấn đề về pháp và nghĩa.

Ngài trở thành bậc rất lão luyện, thuần thục, là bậc thượng thủ trong chúng mà mình đọc các bài kinh thường thấy tên của Ngài. Những tôn giả thời văn, rất đức hạnh, danh tiếng của các Ngài vang dội đương thời – tôn giả Tônhila.

“Rồi bậc Ðạo Sư, sau khi xác nhận các quả chứng Ngài đã được trong kinh Vedalla, xác nhận Ngài là bậc thiền quán đệ nhất.”

(Tiểu Bộ Kinh tập 3 - Bài kinh Mahàkotthita)

Chúng ta ngày nào cũng thực tập thiền quán, nghe thiền quán thì hôm nay chúng ta mới biết được bậc thiền quán đệ nhất trong thời Đức Phật là Ngài Kotthita (Câu-hy-la). Khi vừa xuất gia thì Ngài đã chuyên tâm, chuyên chú, toàn tâm tinh cần, tinh tấn, tập trung hết thời gian vào pháp hành thiền quán. Như chúng ta đã được học, thực hành những thiền quán về thân thọ tâm pháp, về bộ xương, thiền quán về đất nước gió lửa, thiền quán về ba mươi hai vật không sạch, thiền quán về sanh khởi và đoạn diệt của thân này, tức là chín giai đoạn phân hủy của một xác chết, thiền quán về tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả… Và rất nhiều bài thiền quán mà chúng ta đã được học như thiền quán về vô thường, khổ, vô ngã, diệt thân kiến, phá chấp thủ, cắt kiết sử, bẻ gãy ngọn cờ ngã mạn, ngạo mạn, kiêu mạn.

Ngài vừa xuất gia đã chuyên tâm, toàn tâm, toàn ý về thiền quán. Chúng ta biết về thiền quán rất mạnh, đột phá, diệt tận các gốc rễ và đốt cháy tất cả phiền não và Ngài thành tựu cứu cánh phạm hạnh trong một thời gian không lâu. Thế Tôn khen ngợi Ngài là bậc thiền quán đệ nhất trong hàng Thánh chúng.

Sau một thời gian ý thức được sự an lạc, giải thoát, Ngài nói lên bài kệ, chứng đạo kệ của Ngài, bài kệ đắc đạo, ngộ đạo.

2. Tịch tịnh và chỉ tức,

Tụng đọc lời trí tuệ,

Tâm tư không tháo động,

Ác pháp được vứt bỏ,

Giống như những lá cây,

Bị gió thổi phiêu bạt.

(Tiểu Bộ Kinh tập 3 - Bài kinh Mahàkotthita)

Ý nói, lẳng lặng và dừng nghĩ, tâm hành lẳng lặng là tịch tịnh, chỉ tức là dừng nghĩ, mọi suy tư, tưởng tượng, thúc giục, ham muốn, mong cầu đều dừng lại, dừng nghĩ, lẳng lặng, lặng lẽ. Đây là thiền chỉ, đọc tụng lời trí tuệ, là thiền quán.

Nên những lúc chúng ta đọc pháp bảo buổi sáng với một tâm nhu nhuyến, mềm mại, thanh tịnh, nhiếp niệm, thì khi đọc có những người sẽ thể nhập vào các cấp độ của trí tuệ. Lúc chúng ta đọc gọi là cúng dường pháp bảo, tụng thuộc lòng kinh Nikāya buổi sáng đó nếu một người khéo dụng tâm thì khi đọc, thiền quán, thiền tuệ, thể nhập, thâm nhập. Nếu càng sâu hơn nữa là chứng nhập. Ít nhất là trong lúc đọc đó là lúc chúng ta thể nhập vào Thánh trí tuệ với một tâm tịch tịnh, chỉ tức, lặng lẽ, ngưng đọng, tâm hoàn toàn tập trung vào pháp nghĩa, thiền quán, Thánh trí, tuệ giác đó. Nên việc đọc pháp bảo buổi sáng đó rất quan trọng.

Tiếp theo là thiền quán, tâm của mình phải ngưng lặng, lắng lặng thì lúc đó Thánh trí tuệ đột phá những lớp, tầng của cảm thọ, nó đi vào trong những sâu thẳm thì mình mới có những cảm xúc trào dâng như vậy. Chúng ta thấy trong đạo tràng Nikāya thường nước mắt đầy mặt, lông tóc dựng đứng, cảm động, xúc động, chấn động thân tâm.

Đó là những công năng tác dụng, hiệu quả, sự ngấm vào, thấm vào, thẩm thấu vào trong cảm thọ, nói về thọ, tưởng, hành, thức. Tâm mình vận hành theo Thánh trí, Thánh đạo, thời khắc chúng ta biết khéo vận dụng sẽ rất hay. Minh Thành thường dùng từ “tùy văn nhập quán”, tức là mình theo văn nghĩa của pháp đó để mình đi vào thiền quán, đi vào sự quán chiếu.

II. Những pháp cần Như Lý Tác Ý

Ví dụ chúng ta đọc bài kinh Vị giữ giới chẳng hạn. Khi đọc tới đâu thì mình phải quán chiếu tới đó:

1) Một thời, Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.

2-3) Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta... thưa như sau:

-- Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?

4) -- Này Hiền giả Kotthika, Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

(Tương Ưng Bộ Kinh tập 3 – Chương Tương Ưng Uẩn - Năm Mươi Kinh Sau - Phẩm Thuyết Pháp - Bài kinh Vị giữ giới)

Khi mình đọc từng từ như vậy thì mình cần để có độ ngấm. Ví dụ, khi mình đọc tới đoạn “năm thủ uẩn này là bệnh hoạn, là ung nhọt” thì lập tức ngay lúc đó trong thọ tưởng hành của mình vận hành lên ngay, một ung nhọt lớn nổi lên ngay, tưởng của mình hiện ra hình bóng đó ngay, thọ của mình ngao ngán, ớn lạnh, sợ quá, hành của mình là tác ý ngay: ung nhọt chín lỗ rỉ chảy ra những bất tịnh, rỉ chảy những cái nhơ nhớp, những cái nhàm chán.

Mình đọc pháp bảo thì phải như vậy và những người lắng nghe cũng phải như vậy. Có những đoạn kinh như vầy thì không đọc nhanh: năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã. Mà phải đọc chậm, đến đoạn thiền quán như vậy thì một người khéo tụng đọc Nikāya thì phải đọc chậm, chúng ta đừng sợ tốn thời gian, cứ đúng giờ là mình ngưng. Đừng mong đọc được nhiều bài kinh, đừng lấy số lượng.

Nên có những lúc chúng ta đọc về pháp bảo Nikāya, tới những đoạn như vậy thì chúng ta đọc chậm, ngay lúc đó mình đi vào thiền quán và để cho đại chúng thiền quán. Bệnh hoạn, ung nhọt… Mình tùy văn, nhập quán, lúc đó mình để cho đại chúng ngưng lại một chút, mình không đọc ào ào, rất uổng phí Thánh trí huệ của Phật. Nó rất uổng trí huệ của mình, mình hành pháp, mình chỉ phớt qua thì khi mình đọc chậm như vậy và mình cùng đại chúng thiền quán thì đại chúng rất lớn, gấp năm lần, gấp mười lần.

Nên đọc kinh không như bây giờ người ta hiểu là đọc ào ào cho hết bài, mà là đọc cho ngấm, tùy văn nhập quán.

Chúng ta nhớ đến Ngài dù chưa vào bài kinh Kotthita (Câu-hy-la), thiền quán đệ nhất trong hàng Thánh chúng, đó là Ngài đi đến hỏi bài kinh này, bài kinh nổi tiếng nhất, là bài tóm thâu toàn bộ đại tạng Nikāya – Vị giữ giới trong Tương Ưng Bộ Kinh tập 3. Nhiều khi Minh Thành chia sẻ cũng là lấy từ bài kinh này không dưới hàng trăm lần:

Này hiền giả, sự kiện này xảy ra, vị Tỳ-kheo giữ giới do như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, có thể chứng được quả dự lưu thì Ngài hỏi tiếp là khi đã chứng được quả dự lưu rồi thì quán điều gì thì cũng được nói như vậy, cho đến chứng quả nhất lai, bất lai, quả A-la-hán cũng quán như vậy. Năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người dưng, người lạ, không phải người quen, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Nên sáng nay có nhân duyên của cô Quản Âm, sau khi vào phụ chỉnh lý để biên tập bộ nhận diện thân tâm trong trường thiền mười tám bài. Sau khi biên tập và chỉnh lý xong rồi cô gửi cho Minh Thành tin nhắn, người hiểu được tổng cương lĩnh của pháp, cốt lõi của pháp chính là cô này, cô gửi qua rất hoan hỷ. Từ nửa vòng Trái đất mà có cả tấm lòng, đọc từng câu từng chữ, chỉnh lý, biên tập để chúng ta chuẩn bị xuất bản ra quyển sách pháp hành Nikāya chuyên sâu, là quán chiếu về năm thủ uẩn và đây là những đề mục quan trọng nhất của pháp tu, lõi của kinh Nikāya đều nằm trong những gì chúng ta đọc.

Người nào thấy đúng như vậy là từ mới tu đến thành A-la-hán, chỉ có một pháp đó.

Nên Ngài hỏi:

7) -- Với Tỷ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?

8-9) -- Với Tỷ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.

10) -- Nhưng Tỷ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?

11) -- Tỷ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.

(Tương Ưng Bộ Kinh tập 3 – Chương Tương Ưng Uẩn - Năm Mươi Kinh Sau - Phẩm Thuyết Pháp - Bài kinh Vị giữ giới)

Bài kinh này rất quan trọng, chúng ta cố gắng học thuộc lòng bài kinh này. Cần đem bài kinh này ra pháp đàm, là bài kinh nhất quán từ khi mới tu đến khi thành tựu Thánh quả tối cao, cần phải đọc tụng, học, thảo luận, pháp đàm, thiền quán, viết bài trình pháp thật nhiều về bài kinh này.

12) -- Nhưng Tỷ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?

13-15) -- Tỷ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.

16) -- Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?

17) -- Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

18) Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.

(Tương Ưng Bộ Kinh tập 3 – Chương Tương Ưng Uẩn - Năm Mươi Kinh Sau - Phẩm Thuyết Pháp - Bài kinh Vị giữ giới)

Ý nói, thế nhưng Tỳ-kheo bất lai, này hiền giả Xá-lợi-phất cần phải như lý tác ý những pháp gì? Các vị Tỳ-kheo đã chứng quả bất lai rồi thì hiền giả Kotthita (Câu-hy-la), cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, là hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Đến bậc A-la-hán cũng vậy, Ngài mới nói rằng với vị A-la-hán, này hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không phải thêm gì nữa trong công việc làm nhưng sự tu tập làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác. Các vị A-la-hán là không có gì phải làm nữa, hoàn tất công việc, xong việc, không phải làm thêm gì nữa trong công việc làm của mình. Nhưng sự tu tập làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú.

Vậy nên các vị quán điều này thì các vị rất hoan hỷ, rất vui, hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Nên người luôn luôn chánh niệm sự sanh diệt các uẩn được hoan hỷ, hân hoan, chỉ bậc bất tử biết. Ở đâu cũng nhớ đồ ung nhọt, bệnh hoạn này, này là mũi tên, cứ giận hoài. Khi nó sanh khởi lên thì mình kêu tên nó, mình đọc, mình thật bất hạnh, thật ngu. Tâm mê này mày cứ tham, cứ dục hoài nhưng mình quán nó như vậy mình vui lắm.

Vì ngày xưa nó đã đè đầu cưỡi cổ mình, giờ mình đè đầu nó lại, nhiếp phục, chế ngự nó lại, làm chủ nó lại. Nên ai chưa đọc bài kinh này mà chưa vui, chưa thích thì chưa đi vào pháp được. Còn khi đọc bài kinh này mà vui, thích, hân hoan, muốn đọc hoài, nhớ hoài, nghĩ hoài, học hoài thì người đó đi vào pháp nhanh, mau.

Nên chiều nay chúng ta tiếp tục pháp đàm về bài kinh này.

Chúng ta thấy bậc A-la-hán là:

Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.

(Tương Ưng Bộ Kinh tập 3 – Chương Tương Ưng Uẩn - Năm Mươi Kinh Sau - Phẩm Thuyết Pháp - Bài kinh Vị giữ giới)

Được vui, an lạc, hỷ lạc, tịnh lạc, diệu lạc, Thánh lạc, chánh giác lạc, viễn ly lạc, xuất ly lạc, siêu thế lạc, giải thoát lạc. Khi trú vào trong những pháp này.

Vậy nên hằng ngày mình nên kêu tên nó ra rầy la nó, tâm mê, mình kêu cho nó thức dậy, tỉnh dậy, tâm ngu đó mình cần phải dạy cho nó khôn lanh, tâm si ám đó mình phải đưa ánh sáng trí tuệ này vào. Đây là Thánh tuệ, Thánh pháp, Thánh trí, Thánh đạo, sẽ đưa đến Thánh quả.

Phải thường xuyên, siêng năng nhắc nhở tâm. Người này chịu khó, siêng năng nhắc nhở, tác ý những cái này thì người này đi theo các bậc thiền quán đệ nhất trong hàng Thánh chúng, nối gót Ngài.

2. Tịch tịnh và chỉ tức,

Tụng đọc lời trí tuệ,

Tâm tư không tháo động,

Ác pháp được vứt bỏ,

Giống như những lá cây,

Bị gió thổi phiêu bạt.

(Tiểu Bộ Kinh tập 3 - Bài kinh Mahàkotthita)

Đó là bài kệ chứng đạo của Ngài Kotthika.

III. Mục đích xuất gia

Giờ chúng ta vào bài kinh Tôn giả Mahàkotthita, Tăng Chi Bộ Kinh tập 4, nói về mục đích sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn của Đức Thế Tôn là gì? Tức là mục đích mình đi theo Đức Phật xuất gia là để làm gì? Bài kinh này sẽ trả lời câu hỏi đó, mục đích của đời sống xuất gia theo Phật.

1. Rồi Tôn giả Mahàkotthita đến Tôn giả Sàriputta, sau khi đến, chào đón hỏi thăm Tôn giả Sàriputta, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàkotthita nói với Tôn giả Sàriputta:

- Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: "Phàm nghiệp gì được cảm thọ hiện tại, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ trong tương lai"?

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Tôn Giả Mahàkotthita)

Ý là: có phải mục đích của đời xuất gia là nghiệp gì mình cảm thọ ở hiện tại, nghiệp ấy mình sẽ được cảm thọ trong tương lai?

- Không phải vậy, thưa Hiền giả.

- Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: "Phàm nghiệp gì được cảm thọ tương lai, mong rằng nghiệp ấy, ta được cảm thọ trong hiện tại"?

- Không phải vậy, thưa Hiền giả.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Tôn Giả Mahàkotthita)

Ý nói, câu ở trên là hiện tại mình được cảm thọ như vậy, mai mốt mình cũng mong mình được cảm thọ giống vậy. Thì không phải vậy. Câu thứ hai là những gì mình được cảm thọ trong tương lai thì mình mong rằng bây giờ mình sẽ được cảm thọ.

- Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: "Phàm nghiệp gì được cảm giác là lạc thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là khổ thọ?"

- Không phải vậy, thưa Hiền giả.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Tôn Giả Mahàkotthita)

Ý hói có phải mục đích tu là những gì vui thì mình phải nhìn, cảm thọ nó là khổ không? Thì được trả lời là không phải vậy.

Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: "Phàm nghiệp gì được cảm giác là khổ thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là lạc thọ"?

- Không phải vậy, thưa Hiền giả.

Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: "Phàm nghiệp gì được cảm thọ là thuần thục, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là không thuần thục"?

- Không phải vậy, thưa Hiền giả.

- Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: "Phàm nghiệp gì được cảm thọ là không thuần thục, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là thuần thục"?

- Không phải vậy, thưa Hiền giả.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Tôn Giả Mahàkotthita)

Những câu này rất bao trùm, thuộc về triết lí, rất nhiều phương diện, mình phải thiền quán, phải chiêm nghiệm ra thì mình mới hiểu. Nhiều khía cạnh, phương diện, từ vật chất, tình cảm, tinh thần đến tâm linh, thậm chí trong các tầng thiền nên mình giải thích một chiều, một cái nhỏ là không đủ.

- Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: "Phàm nghiệp gì được cảm thọ là nhiều, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là ít"?

- Không phải vậy, thưa Hiền giả.

- Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: "Phàm nghiệp gì được cảm thọ là ít, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ là nhiều"?

- Không phải vậy, thưa Hiền giả.

- Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: "Phàm nghiệp gì không được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta cảm thọ"?

- Không phải vậy, thưa Hiền giả.

- Thưa Hiền giả Sàriputta, có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: "Phàm nghiệp gì được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta không được cảm thọ"?

- Không phải vậy, thưa Hiền giả.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Tôn Giả Mahàkotthita)

Thứ nhất là thời gian, hiện tại và tương lai. Thứ hai là khổ và vui. Thứ ba là thuần thục và không thuần thục. Thứ tư là nhiều và ít. Thứ năm là có và không. Tất cả những cái này đều dùng từ cảm thọ.

Ví dụ giờ mình xuất gia được an ổn thì mình mong “Đời sau con xuất gia con cũng làm tăng như vậy! Con cũng được tu ở trên núi như vậy!” Thì đó có phải là "Phàm nghiệp gì được cảm thọ hiện tại, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ trong tương lai"? Giờ mình xuất gia ở trong núi, mây, không khí, trong lành, đại chúng hiền thiện, êm ấm thì mình nghĩ “Như vầy là an lạc, thanh tịnh, nếu mình có chết, đời sau mình cũng trở lại đây như vầy nữa.” Đó chính là "Phàm nghiệp gì được cảm thọ hiện tại, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ trong tương lai"

Ví dụ khác về "Phàm nghiệp gì được cảm giác là khổ thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là lạc thọ"

Giờ mình khổ, thiếu thốn, nghèo khổ, tai nạn, bệnh tật, mình mong muốn mình chết sanh chỗ nào chỉ vui không, đừng khổ. Muốn đời sau mình sống trên Trời, chư thiên hay cõi nào đó chỉ vui không, không có khổ. Đó là "Phàm nghiệp gì được cảm giác là khổ thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm giác là lạc thọ" Như vậy những mong muốn này nằm trong uẩn nào? Không đi ra khỏi thọ uẩn.

Nên những cặp phạm trù này mình chiêm nghiệm, quán chiếu sâu, rộng, không nói về một vấn đề, những phạm trù triết học, những phạm trù rất sâu rộng, những phạm trù rất phổ quát, bao quát đời sống này. Tâm thức, tin tưởng, tình cảm, những gì mình chưa thuần thục thì mình mong là mình sẽ được thuần thục.

Ví dụ mình ngồi thiền khoảng hai tiếng, ba tiếng thì mình thích thú, mình thấy những người khác ngồi được thì mình giận? Không phải vậy.

Ngài hỏi Ngài Xá-lợi-phất là nãy giờ Ngài ấy hỏi bao nhiêu câu hỏi như vậy thì Ngài đều nói không đúng hết thì mục đích của sống phạm hạnh với Thế Tôn là gì? Xin Ngài Xá-lợi-phất trả lời. Không phải cảm thọ hiện tại, cảm thọ tương lai, vui hay khổ, thuần thục hay là không thuần thục, nhiều hay ít, được hay mất, có hay không. Vậy rốt cuộc mục đích thật sự của đời sống xuất gia tu hành theo Đức Phật là gì thưa Tôn giả.

Vì sao được hỏi: "Có phải sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn với hy vọng: "Phàm nghiệp gì không được cảm thọ, mong rằng nghiệp ấy ta được cảm thọ"? Hiền giả trả lời: "Không phải vậy, thưa Hiền giả".

Vì mục đích gì sống Phạm hạnh dưới Thế Tôn?

3. - Thưa Hiền giả, với những gì không biết, không thấy, không đạt, không chứng ngộ, không hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Tôn Giả Mahàkotthita)

Ý nói, những gì mình không thấy, không đạt, không chứng, không hiện quán, không thấy rõ trong ngay giây phút hiện tại này, với mục đích để mình biết được, thấy được, đạt được, chứng được, nhìn ra được ngay trong hiện tại này thì như vậy để mình sống với Đức Thế Tôn.

- Nhưng thưa Hiền giả, do không biết gì, không thấy gì, không đạt gì, không chứng ngộ gì, không hiện quán gì, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn?

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Tôn Giả Mahàkotthita)

Không biết gì, không thấy gì, không chứng gì, không hiện quán gì?

- "Đây là Khổ", này Hiền giả, là điều không được biết, không được thấy, không đạt, không chứng ngộ, không hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy... mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.

"Đây là Khổ tập"...

"Đây là Khổ diệt"...

"Đây là con Đường đưa đến khổ diệt", này Hiền giả, là điều không được biết, không được thấy, không được đạt, không được chứng ngộ, không được hiện quán, với mục đích được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.

Thưa Hiền giả, đây là điều không được biết, không được thấy, không đạt, không được chứng ngộ, không được hiện quán, với mục đích để được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.

(Tăng Chi Bộ Kinh tập 4 – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Tôn Giả Mahàkotthita)

Vậy quý vị đã thấy lõi cây chưa? Không phải ở quá khứ hay hiện tại, hay tương lai, cũng không phải tu vì cái khổ, cái vui, cái có, cái không cũng không phải vì mục đích thuần thục hay là không thuần thục, hay là ít với nhiều ở trong cảm thọ mà với mục đích thấy được sự thật về khổ của thân tâm này, của đời sống này, của Trái đất này, hành tinh này, thế giới này, của những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này.

Thấy được bản chất của nó thật sự thấy nó là khổ, thấy được nguyên nhân vì sao vô minh, khát ái trong ngũ uẩn này không thấy, không biết, ham thích, ham đắm, say đắm, đắm đuối. Vì muốn thấy biết được điều đó, muốn chứng ngộ, thiền quán được điều đó. Vì sự chấm dứt khổ, vì sự thấy được con đường đưa đến sự diệt tận hoàn toàn tất cả khổ đó mà chúng ta đi tu, đi học đạo, đi vào chùa, quy y tam bảo, thọ trì năm giới, tám giới, mười giới, hai trăm năm mươi giới.

Vì mục đích đó mà chúng ta ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da, bỏ cha bỏ mẹ, bỏ chồng, bỏ con, bỏ gia đình, người thân là vì mục đích thấy được, biết được, chứng đắc, chứng ngộ được thân xác này là khổ đau, cảm giác này là cảm giác gì cũng khổ đau, suy nghĩ gì cũng nằm trong đau khổ. Có tưởng gì cũng ở trong vô thường, khổ, vô ngã, nhận thức gì, biết tới trên trời trên mây, sao hỏa, hành tinh nào rồi cũng nằm trong khổ đau. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là khổ, vì mong muốn thấy được điều đó, biết được điều đó, đạt được điều đó, chứng được điều đó, ngộ được điều đó, thiền quán được điều đó.

Với mục đích đó mà mình đi tu, mình đi vào chùa, mình đi cúng dường, mình nhịn ăn, bớt mặc để đi cúng dường, mình đem đỉnh đầu của mình lạy dưới gót chân của Phật bằng tất cả lòng tín thành, chân thành, lòng cung kính. Với mục đích đó mà mình bỏ cha mẹ, bỏ em, bỏ ông bà, cô bác, gia đình, làng xóm, bỏ lục thân quyến thuộc để mình thấy được đó là khổ đau. Đống ngũ uẩn, tứ đại này bản chất là khổ đau, để mình mong cầu thấy được điều đó, thấy thật sự, biết thật sự, đạt thật sự, chứng ngộ thật sự, hiện quán thật sự. Hiện quán là nhìn ra được ngay trong giây phút hiện tại này, rõ biết ngay bây giờ. Hiện quán, quán chiếu ngay trong hiện tại, với mục đích đó.

Chúng ta thấy Ngài tướng quân Chánh pháp trả lời câu hỏi này ra sao? Rung động trời đất, rung chuyển vũ trụ không? Chấn động thân tâm? Nên đây là khổ, khổ là đây, Thánh chuông vang động trời mây muôn ngàn. Cái gì sanh phải diệt, cái gì hiện hữu cũng rồi tiêu tan. Chúng ta quên cái này là không có tu.

Đó là mục đích của sự tu học từ tại gia tới xuất gia, từ cư sĩ tới tu sĩ, từ tục tới tăng, quên cái này là không tu học được, tu học được gì vì rất sâu sắc. Vì quên cái khổ này nên mới ham muốn, chạy theo hướng ngoại, dù biết đó là những thứ vô thường, tan hoại, bất hạnh. Vì quên cái khổ này nên mới hơn thua, tranh cãi với nhau ngay cả là vợ chồng, anh chị em, mẹ con, cha con, ăn thua chung đủ, một tiếng nói cũng không nhường được, một hành động cũng không nhịn được vì không thấy khổ nên mới làm ra thêm cho khổ. Nó chồng chất thêm khổ, một người thấy khổ thì làm sao làm vậy được? Có khi nào nhà mình đang cháy mà mình đổ xăng lên thêm không? Đó là hành động của người không bình thường.

Nên một người thấy khổ không làm thêm cho mình khổ đau hay làm thêm cho người khổ đau. Nên mỗi ngày chúng ta nghe là để thấy cái này, mỗi ngày chúng ta lên là để nghe pháp, đọc lại Thánh ngôn, Thánh điển, Thánh pháp, Thánh trí là để nhớ về cái này vì ra thì một lúc sau sẽ quên. Để nhớ, để biết, để thấy, để đạt, để chứng ngộ, để hiện quán. Những câu trong bài kinh này chúng ta nên học thuộc lòng, tụng pháp bảo:

"Đây là Khổ tập"...

"Đây là Khổ diệt"...

"Đây là con Đường đưa đến khổ diệt", này Hiền giả, là điều không được biết, không được thấy, không được đạt, không được chứng ngộ, không được hiện quán, với mục đích được biết, được thấy, được đạt, được chứng ngộ, được hiện quán, mà Phạm hạnh được sống dưới Thế Tôn.

“Hãy nhớ cái khổ, niệm cái khổ, tham sân lên, hơn thua lên thì niệm cái khổ đi! Tâm ơi là tâm! Mày có nhớ khổ không tâm? Mày quên khổ rồi hả tâm? Mày mù rồi hả tâm? Mày không còn thấy đường nữa hả tâm? Mở mắt to lên đi tâm, để nhìn cái khổ. Sanh, già, bệnh, chết còn chưa đủ, tham, sân, si, hận thù chồng chất lên. Tội nghiệp tâm quá tâm! Tâm hãy tỉnh ngộ, tỉnh thức, tỉnh giác! Đừng mê nữa tâm ơi!”

Giờ cảm thọ của Minh Thành tràn ấp, đầy ắp, tràn ngập ở trong lòng ngực, dâng trào cảm xúc thấm thía. Hãy để cho các vị chia sẻ cảm thọ của mình.

IV. Trình pháp

Phật tử số 1 trình pháp:

Con xin được kính lễ trên sư phụ, chư tôn hiền đức tăng ni cùng tất cả các bậc hiền trí.

Sáng nay khi con được sư phụ giảng về bài pháp thiền, cảm thọ trong con rất an lạc, vì đó là pháp hành mà mỗi ngày con đều an trú. Và khi con được lắng nghe lời dạy của Ngài Xá-lợi-phất đến trò chuyện cùng Ngài Kotthita (Câu-hy-la) thì con rất cảm xúc. Bài kinh phải quán năm thủ uẩn này, vô thường là khổ, là bệnh hoạn, là ung nhọt, là người lạ thì cảm xúc rất dâng trào trong con.

Cảm xúc ấy được dâng trào hơn nữa khi Ngài Xá-lợi-phất nói khi là một vị Tỳ-kheo vẫn an trú trong quán niệm như vậy, rồi đến vị Dự lưu, vị Nhất lai, Bất lai và đến cả A-la-hán thì vẫn an trú trong quán niệm như thế thì cảm xúc trong con dạt dào và cảm thấy hạnh phúc. Giống như một lộ trình mình hướng về tu tập thì nhất quán về năm thủ uẩn là lõi đưa cho mình từ phàm phu đến vị xuất gia, đến quả vị thứ nhất, thứ hai, đến quả vị A-la-hán. Cảm xúc rất chấn động và hoan hỷ vì mình đã thực hành được đúng theo lời dạy của Đức Thế Tôn, cũng như là sự chia sẻ của Tôn giả Xá-lợi-phất.

Đó là cảm thọ trong suốt bài giảng, con trú trong cảm thọ rất hạnh phúc và hoan hỷ vì mình cũng đang thực hành và quán chiếu mỗi ngày.

Thầy Pháp Lực trình pháp:

Con kính trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô, quý ni sư cùng toàn thể đại chúng.

Con xin chia sẻ cảm thọ của con trong bài thiền quán của sư phụ sáng hôm nay giảng.

Cảm giác trong con rất hoan hỷ, con an trú trong pháp. Khi được nghe sư phụ giảng về bài kinh Ngài Kotthita (Câu-hy-la), và Ngài Xá-lợi-phất thì trong con rất vui và hoan hỷ vì nắm được chìa khóa của sự giải thoát.

Ngài Kotthita (Câu-hy-la) có hỏi Ngài Xá-lợi-phất và được trả lời là phải quán về ngũ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên và phải quán từ khi là một vị mới xuất gia cho tới khi đắc quả A-la-hán thì vẫn xuyên suốt một con đường là quán về khổ, về ngũ uẩn này. Con thấy rất vui vì nắm được chìa khóa đầu tiên là mình phải thấy rõ và tại sao mình không có sự nhàm chán ngũ uẩn, vì mình chưa thấy rõ ngũ uẩn là khổ, khi thấy rõ được ngũ uẩn là khổ thì sẽ nhàm chán và ly tham, giải thoát. Công thức thấy rõ, nhàm chán, ly tham, giải thoát con cũng được nghe trước đây nhưng không thấm nhiều, chỉ hiểu vừa phải nhưng sáng hôm nay may mắn được sư phụ giảng về bài pháp này thì con hiểu hơn về định lý, thấy rõ nhàm chán, ly tham, giải thoát.

Đầu tiên phải cố gắng thực tập, nhìn lại, quán tới quán lui về năm thủ uẩn, khi nào thấy rõ năm thủ uẩn là khổ thì tự nhiên sẽ nhàm chán, ly tham, giải thoát. Trước đây, nếu không được học kinh Nikāya, không được nghe sư phụ, bậc đạo sư giảng thì nghe giải thoát rất mông lung, trừu tượng. Và khi mông lung, trừu tượng thì không biết đường nào thực hành và không có niềm tin vào sự giải thoát. Nhưng khi được nghe về định lý giải thoát này thì niềm tin vào giải thoát mãnh liệt và có con đường để thực hành.

Đoạn sau thì con được nghe rất vui vì mục đích của phạm hạnh này là gì, kim chỉ nam của thực hành là liễu tri đau khổ nên con rất vui vì trong quá trình thực hành. Đầu tiên quán về đau khổ, khi quán nhiều về đau khổ thì khi thấy được pháp sẽ thấy được hỷ lạc và thường thường trú trong hỷ lạc, nhiều lúc lãng quên kim chỉ nam của mình, phải thấy đầy đủ đau khổ. Còn nếu mình chỉ thấy được một chút đau khổ, mình thỏa mãn trong đó, hỷ lạc trong đó thì vẫn còn trong sinh tử luân hồi, không thấy rõ khổ thì không nhàm chán, sẽ không ly tham được hoàn toàn và sẽ không được giải thoát.

Nên con rất hoan hỷ khi sáng nay nắm được chìa khóa của phạm hạnh và được sư phụ nhắc để con tinh tấn, siêng năng, quán về khổ hơn, để con không quên mục đích của mình xuất gia để làm gì, để liễu tri đau khổ.

Con xin tri ân sư phụ.

Phật tử số 3 trình pháp:

Con kính bạch trên sư phụ, quý ni sư, quý sư cô, quý thầy cùng toàn thể chư vị hiền trí.

Trong thời pháp sáng nay, sư phụ nói về điều cần phải tác ý của công việc của vị Tỳ-kheo xuất gia cho đến vị Dự lưu, đến Thánh quả A-la-hán. Chìa khóa đó là phải nhớ được ngũ uẩn là vô thường, khổ, là bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, trống rỗng, vô ngã.

Cảm thọ trong con vô cùng hỷ lạc, tưởng trong con là thanh tưởng, lời sư phụ nói làm con nghĩ rằng đây là chìa khóa vô cùng quan trọng mà con phải khắc ghi, ghi nhớ, con lập đi lập lại lời này. Thức con rõ biết thọ, tưởng, hành.

Con rất biết ơn và cảm thấy mình thật hạnh phúc vì biết được con đường chân chánh nhận diện ngũ uẩn từ một vị Tỳ-kheo xuất gia mới sa cơ cho đến chứng đạt quả vị cao nhất đều trải qua con đường này, là từ mức độ nông cạn, sâu sắc và đi đến chỗ cùng tột. Khi sư phụ giảng đến chỗ mục đích của một vị xuất gia là phải nhận diện được sự thật về khổ, bản chất của thân tâm, thế giới, tất cả thọ, tưởng, hành, thức đều nằm trong khổ đau thì lúc này cảm thọ của con khởi lên một sự xấu hổ, con thấy hình bóng của chính mình những lúc con chưa thấy khổ. Có những lúc con đã lên đây nhưng con có bệnh là hay ngắm cảnh nên khi đứng trước cảnh đẹp là con lại chìm đắm vào trong đó, lúc đó con quên hết khổ, con không thấy được sắc pháp trước mặt là vô thường, là khổ, con không nhìn lại cảm thọ của mình.

Hành của con nghĩ là con phải thật sự nghe thật nhiều để thấm khổ thật sự, phải có được tâm nhàm chán, xa lìa và con tự nhắc mình phải nghe pháp, học kinh, đọc thật nhiều. Thức con rõ biết thọ tưởng hành. Đó là những gì sáng nay trong tâm con diễn ra.

Tâm thương này tỏa rộng,

Cùng khắp thế giới này,

Tâm thương này tỏa rộng,

Khắp trời đất bao la.