Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Trọng Trách Người Xuất Gia

2026-03-03 00:53:45
SOI SÁNG NIKĀYA – TĂNG NI

TRỌNG TRÁCH NGƯỜI XUẤT GIA

Thích Minh Thành

Xin mời đại chúng rõ biết trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể, cảm giác toàn thân, an tịnh toàn thân. Thân an tịnh, tâm lắng dịu. An tịnh… lắng dịu… dễ chịu.

Đã lâu rồi chúng ta chưa có pháp đàm, hôm nay chúng ta có buổi pháp đàm để chia sẻ những khó khăn, trở ngại, thắc mắc trong sự tu học. Chúng ta chia sẻ trong tinh thần đạo pháp thân thiện, gần gũi, Minh Thành cũng rất muốn lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng của các huynh đệ trong sự tu học, chúng ta không chỉ nghe một chiều mà chúng ta có thể chia sẻ những thắc mắc, khó khăn trong con đường thực tập giáo pháp. Vì lý tưởng xuất gia của chúng ta rất cao thượng, cao quý, nếu chúng ta không có phương pháp thực tập hiệu quả thì sự tu học sẽ rất buồn chán, khó tiến bộ trên con đường tăng thượng tâm học, tăng thượng giới học, tăng thượng tuệ học.

Sư thầy: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy giáo thọ, thượng tọa giáo thọ chứng minh và đại chúng. Con đôi khi có suy nghĩ để tâm đến lý tưởng của người xuất gia, con còn nhớ lại thuở ban đầu trước khi con rời nhà đi theo con đường xuất gia. Lúc đó thật sự con cũng giống như nhiều Phật tử ngoài đời chưa tìm hiểu kĩ nên nghĩ con đường này là màu hồng, có sẵn hết mọi thứ. Sau thời gian được phủi tóc xuất gia thì con thấy có những điều bất cập làm cho con bỡ ngỡ, qua thời gian bỡ ngỡ là chán nản, đôi khi cũng muốn từ bỏ, trong nội tâm một phần cũng do tự bản thân mình làm cho lý tưởng xuất gia ban đầu bị yếu dần đi, song song đó con may mắn có đủ phước duyên được học, được tiếp xúc với kinh điển Phật đà cho nên càng ngày càng lấy lại được niềm tin, được vững tâm, thấy được đường hướng được xác định rõ ràng, con cố gắng vững bước để trú trong ngôi nhà chánh pháp, còn thiện pháp thì phải cố gắng thêm. Con xin thượng tọa giáo thọ chỉ dạy làm sao để chúng con giữ vững được lý tưởng xuất gia ban đầu để huynh đệ chúng con không chao đảo trước cám dỗ vì hiện tại cám dỗ rất nhiều, không chỉ là mặt tiếp xúc mặt mà còn ở trên các phương tiện truyền thông, chưa kể đến một số thành phần ngoại đạo muốn phá hoại làm mình suy nghĩ lệnh lạc về Đức Phật và về giáo pháp của Đức Phật, cho nên tư tưởng xuất gia của chúng con phần nào cũng bị ảnh hưởng. Hôm nay cúi xin thượng tọa chỉ dạy thêm cho chúng con về lý tưởng của người xuất gia để chúng con yên tâm vững bước trên con đường học Phật giải thoát. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư thầy: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên thầy giáo thọ, kính thưa quý thầy, kính thưa đại chúng. Chúng con xin phép đại diện cho anh em ở chùa Hoằng Pháp xin phép được chia sẻ và đặt trên thầy một vài câu hỏi như sau: Kính bạch trên thầy, trong thời gian chúng con được học và chiêm nghiệm giáo pháp của Đức Phật, chúng con thấy rằng đời sống xuất gia là đời sống khó khăn, không phải dễ dàng để đạt đến cứu cánh phạm hạnh cũng như để giữ trọn cái tâm ưa thích tu tập, tìm hiểu học hỏi, mến pháp, suy tư pháp, chiêm nghiệm pháp, thực hành pháp như lời Đức Phật đã dạy rải rác trong kinh. Giữa thời đại này với nhiều cám dỗ ngũ dục, với nhiều cám dỗ lục trần, chúng ta như những người sơ cơ đi giữa con đường ấy thì mong trên thầy có thể hoan hỉ từ bi chỉ dạy phương pháp tu tập cũng như cách thức để đi giữa trần đời này mà vẫn thực hiện được chí nguyện, theo đó cũng thực hiện hoài bảo hoằng pháp độ sinh, lưỡng lợi hai bên để không bị vướng mắc vào bụi trần mà vẫn an toàn cho tự thân, tự lợi lợi tha đầy đủ. Nam mô A-di-đà Phật.

Sư phụ: Kính thưa quý thầy, lý tưởng của người xuất gia rất cao đẹp. Lúc đầu mình phát tâm đi tu đó là một cái tâm hướng thượng rất cao thượng. Con nhớ lại ngày con xuất gia không có người thân chứng kiến vì người nhà không đồng ý con đi tu, chỉ có duy nhất ba của Minh Thành đi dự còn lại là người lạ và khóc rất nhiều. Ba Minh Thành nói rằng không ngăn cản cũng không khuyến khích đi tu vì đi tu là chuyện rất khó, phải suy nghĩ cho kĩ, làm được thì hãy đi, những người ở nhà thì tuyệt đối không cho, mẹ nằm trong gường khóc lóc không nhìn mặt Minh Thành dù đã xin 5 lần 7 lượt. Những nhát dao đầu tiên cạo mái tóc rất thiêng liêng, rất đẹp, những người chứng kiến tuôn rơi nước mắt và chính mình cũng xúc động, ngày đầu xuất gia như thành con người hoàn toàn mới, có hình dáng mới, đời sống mới, hoàn cảnh mới. Mỗi khi cạo tóc phải nhớ đến lần cạo đầu tiên đẹp như thế nào, cao thượng như thế nào, ý nghĩa như thế nào. Mỗi lần cạo tóc phải quán tưởng đến lần đầu tiên được cạo đầu để hình ảnh đó sống lại trong thân tâm, để những cảm thọ đó được sanh khởi trở lại, những suy nghĩ được đối chiếu trở lại, tất cả chúng ta ngồi đây đều có ngày đầu tiên cạo tóc rất đẹp. Hình ảnh thứ hai là lần đầu chúng ta được khoác chiếc y rất chân thành, cung kính và thiết tha. Chúng ta quỳ rất lâu để được đắp chiếc y đội lên đầu, sau này mỗi lần đắp y phải nhớ đến ngày mình được thọ giới, phải nhớ lần đầu tiên được khoác tấm y lên người. Nghĩa là phải nhớ đến lần đầu tiên được cạo tóc và lần đầu tiên được đắp y, đó là kỉ niệm đẹp trong đời sống xuất gia và đừng quên đi.

Người mới gặp lần đầu rất cẩn thận, e dè, lịch sự nhưng khi ở chung rồi lại xem thường, khi vào chùa ở ngày qua tháng lại thì trở thành quen thuộc, có khi trở thành nhàm chán, những tập khí, tánh tình, thói quen phàm phu bắt đầu sanh khởi trở lại làm mất cái đẹp lúc ban đầu, người nào giữ được cái tâm ban đầu mới có thể tu tập tiến bộ. Thật ra chúng ta thấy đời sống của mình bình thường nhưng lại không bình thường, thật sự rất khác thường so với người thế gian, chỗ người ta đang cười nói vui vẻ mà mình xuất hiện là người ta thay đổi thái độ hoặc có người tránh né vì mình rất khác họ, mình phải ý thức được điều khác đó, nếu không ý thức được sự khác người này thì đây là điều quy hiểm. Người tu là người có “tâm hình dị tục”, thân tâm của mình khác với thế tục, đi ngược dòng đời.

Vạn sự thủy lưu thủy

Bách niên tâm ngữ tâm

Ỷ lan hoành ngọc địch

Minh nguyệt mãn hung khâm.

Dịch nghĩa: Muôn việc nước trôi nước,

Trăm năm lòng nhủ lòng.

Tựa lầu, nâng sáo ngọc,

Trăng sáng đầy cõi tâm.

(Đăng Bảo Đài sơn – Trần Nhân Tông)

Câu quan trọng là lòng nhủ lòng, là suốt đời phải tự nhắc nhở mình. Lòng nhủ lòng (tâm ngữ tâm) tức là tâm của mình đối thoại với chính mình, không cho phép mình quên mình là một người tu, tuyệt đối không cho phép mình quên mình là một người xuất gia, tuyệt đối không cho phép mình quên cha mẹ. Thật sự có hiếu thảo mới thấy cha mẹ mình có mất mát to lớn, thiệt thòi vô cùng khi có một người con đi tu, mình không chăm sóc khi cha mẹ bệnh, không đỡ đần khi cha mẹ khó khăn nguy cấp, đó là về mặt gia đình. Còn vào tu mà không thành tựu giới đức, thiền định, trí tuệ thì lưỡng đồ câu thất, bổn phận làm con không tròn, bổn phận trong Phật pháp không thành, như vậy là hai đường đều mất. Trong bài kinh Cội Rễ Của Sự Vật, Đức Phật nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.

Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).

Tác ý là tác động tâm ý, từ nãy đến giờ là mình đang tác ý, tức là đang suy nghĩ, nếu không suy nghĩ như vậy thì thiện pháp không sanh khởi, sự lo lắng, sợ hãi, sự tàm quý, hổ thẹn không sanh, giới hạnh không sanh, thiền định không đi đến và trí huệ không khởi phát được. Vì thế đại đa số các pháp trong sự tu tập của đạo Phật là thiền quán, sau khi có mức độ dừng tâm tạm lắng dịu thì tất cả pháp đều phải quán chiếu mà quán chiếu là sự tác động tâm ý cũng chính là tâm ngữ tâm.

Tự mình chỉ trích mình

Tự mình dò xét mình,

Tỷ kheo tự phòng hộ

Chánh niệm, trú an lạc

(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỷ Kheo, kệ 379)

Đó chính là quán tâm, đó là tác ý, tự mình đi đến mình là tự mình soi rọi trở lại những ngôn ngữ hành vi, đời sống sinh hoạt trong chùa, trở lại nội tâm để phản tỉnh nhắc nhở, tự mình dò xét chính mình có phù hợp với một người tu không, có xứng đáng ngồi để người ta lễ lạy, dâng cúng không, có xứng đáng dự vào hàng Tăng bảo không, chúng trung tôn là bậc tôn quý trong tứ chúng đệ tử Phật. Tự mình chỉ trích mình khi thấy còn sai, còn lỗi lầm, còn dục tham ái, sân si, bản ngã, tâm cấu uế, rác bẩn thì tự mình phải trở trách, la mắng chính mình, tự mình làm mình giày vò, nhức nhối, đau khổ khi còn những cấu nhiễm đó, không chấp nhận cái tâm đầy rẫy cấu nhiễm, mình thấy đó là một sự nhục nhã, xấu hổ, tàm quý, đó là một sự hèn hạ, thấp kém, mình tự làm mình thao thức, băn khoăn và trước Tam bảo dập đầu lạy mỗi ngày nhưng không phải là nghi thức suông mà thật sự tự mình dò xét mình, đó là sự sám hối chân chánh, nghĩa là tự mình dùng tòa án lương tâm xử mình, tự mình phát lồ trước Tam bảo, trước thầy, trước bậc thiện tri thức "con thấy mình thật xấu hổ, thật kém cỏi khi mang hình tướng cao đẹp, đầu tròn áo vuông, viên đảnh phương bào mà trong tâm con còn đầy rẫy dục tham ái, ham muốn, ưa thích của phàm tục. Con thấy thật tàm quý, hổ thẹn". Lạy trước thầy, lạy trước Tam bảo, lạy trước bậc thiện tri thức để phát lồ, bày tỏ chân thành tha thiết vào mỗi ngày, đó là sự chân chánh sám hối chứ không phải đợi đến nửa tháng mới vào lạy sám hối, đó là dạy cho những người sơ cơ mới vào chùa.

Ở đây, này Bhaddali, có Tỳ-kheo không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp của bậc Đạo Sư. Vị ấy suy nghĩ như sau: "Ta hãy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Và ta có thể chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh". Vị ấy sống tại một trú xứ xa vắng, khu rừng, gốc cây, sườn núi, chỗ hoang dã, hang núi, nghĩa địa, tùng lâm, ngoài trời, đống rơm. Khi vị ấy sống viễn ly như vậy, bậc Đạo Sư quở trách, các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, chư Thiên quở trách, tự mình quở trách mình. Vị này bị bậc Đạo Sư quở trách, bị các vị đồng Phạm hạnh có trí sau khi quán sát quở trách, bị chư Thiên quở trách, bị tự mình quở trách mình, nên không chứng được thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Tại sao vậy? Sở dĩ như vậy, này Bahaddali, là vì vị ấy không thực hành trọn vẹn học giới trong giáo pháp bậc Ðạo Sư. (Trung Bộ Kinh, 65. Kinh Bhaddàli)

Tại sao tật xấu này còn trong đây? Tại sao tham sân si không giảm thiểu? Bao nhiêu năm ở trong chùa nhận sự lễ lạy cúng dường, nhận chỗ ăn, chỗ ở, phòng ốc, thuốc men rồi mình đem cái gì đền đáp lại cho cha mẹ, đền đáp lại những người đã tin tưởng cung kính, đảnh lễ, cúng dường, chắp tay, tôn trọng mình? Mình đem cái gì để đền trả? Những buổi thiền quán nhằm mục đích phanh phui, mổ xẻ trong thân tâm chứ không phải thiền là ngồi im nhắm mắt thở ra thở vô rồi trơ ra, mà phải lắng tâm soi rọi trở lại bên trong những tập khí tánh tình, những cái xấu xa ô nhiễm, những góc cạnh trong căn nhà nội tâm đầy rác bẩn, tự xử lý thân tâm làm cho mình có cảm giác đại tàm quý. Ấn Quang đại sư lấy pháp hiệu là Thường Tàm Quý Tăng, ngài Trí Tịnh đức độ như vậy mà ngài nói không dám nhận là Tỳ-kheo chân chánh, chỉ như cỏ che đất thôi, đại lão Hòa Thượng Vạn Đức là bậc lãnh đạo giáo hội, bậc thầy của các thầy mà lại nói vậy, đó là Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời. (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua). Đó là những vị với một cái tâm chân chánh, chính trực, ngay thẳng, dám nhìn nhận sự sai quấy, tội lỗi, cấu nhiễm của mình, đó là những bậc gương mẫu. Bây giờ nhìn lại mình còn nhỏ, tuổi đời chưa bao nhiêu, tuổi đạo cũng chưa được bao nhiêu mà sự tu học về đức hạnh khiêm hạ lại không được nhiều, cho nên căn bản đầu tiên của người tu là thực tập tâm hiền hòa, hiền từ, thứ hai là tính khiêm hạ để nhiếp phục bản ngã, hai điều này tuyệt đối quan trọng. Một người tu mà dữ dằn, bất kính, vô nghĩa, vô tình thì làm sao thành tựu? Căn bản đạo đức của một người tại gia còn chưa thành tựu cho nên sự tu thật sự không đơn giản, không phải chỉ ngồi để lấy bằng cấp là tờ giấy vô giá trị mà thật sự phải có đức hạnh thì tờ giấy đó mới có ý nghĩa, phải thiết tha, chân thành trong tu học. Không được dễ vui, buông lung phóng dật, không cho phép mình phản bội lý tưởng cao thượng chính mình, phụ bạc sự hi sinh và tình thương cao cả của cha mẹ, lừa gạt, lợi dụng lòng tin của Phật tử, cô phụ ân đức vĩ đại của Tam bảo. Mình phải xót xa, thiết tha, phải suy ngẫm, thấy hối hận, xấu hổ, từ đó mới làm cho mình tiến lên, tăng trưởng các thiện pháp. Nếu không có tàm quý không đi đến thánh quả được, không đi đến thành tựu trong bước đường tu học, tức là lo lắng, sợ hãi và xấu hổ đối với ác và bất thiện pháp.

Chúng ta phải biết sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, dù cho lỗi nhỏ mà phạm phải thì cũng phải sợ hãi, từ cái nhỏ mới đi đến nhiều rồi trơ ra và vô cảm đối với giới luật, oai nghi chánh hạnh, như vậy là cực kì tai họa, nguy hiểm. Một người có tâm tu học sẽ lo lắng rất nhiều, lúc nào cũng canh cánh trong lòng, nếu không đi sâu vào chánh pháp thì ngộ nhận rất nhiều về pháp vì hiểu không đúng, còn khi đã hiểu sẽ rất sợ hãi. Ví dụ các thầy châm trà nói chuyện thấy rất an lạc nhưng cái đó không phải an lạc, nếu ngồi đó bàn về 37 phẩm trợ đạo, bàn về khổ và nguyên nhân của khổ, nói về việc làm sao để thành tựu cứu cánh đời sống phạm hạnh, đàm đạo để diệt tận tham sân si, vô minh và bản ngã thì được Đức Phật tán thán vì có hai việc mà bậc thánh cần làm là im lặng như bậc thánh và nói năng theo chánh pháp.

-- Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)

Còn nếu ngồi đó nói chuyện thời sự kim cổ Đông Tây mà cho đó là an lạc thì không phải, vì ngồi đó là một thân kiến, một bản ngã to lớn. Mình ngồi đó mà nói đúng sai, hay dở rồi có khi bực bội thì đó là sân, ngồi đó mà không thấy ngũ uẩn, không thấy tính chất sanh diệt vô thường, vô ngã, trống rỗng của thân tâm là ngồi trong vô minh và si ám. Xin thưa đại chúng, từ khi con bước vào con đường Nikāya là đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, từ lo sợ này đến lo sợ khác, tu thật sự sẽ rất khổ, người chân tu sẽ rất khổ, người không chân tu lại càng khổ hơn vì không biết đó là khổ, cái khổ này hơn cái khổ kia gấp vạn lần chứ không phải sướng. Đừng nghĩ rằng "có gì khổ đâu, sao nói khổ hoài vậy", chính điều này mới là đại khổ, ví như người bác sĩ khi còn là sinh viên học liên tục hết bệnh này đến bệnh kia và các loại thuốc để điều trị, gặp nhau toàn nói về bệnh, sau đó thành bác sĩ sẽ biết tự trị liệu cho bản thân và cho người khác vì suốt ngày chỉ nghiên cứu về bệnh, vì thế sẽ được khỏe hơn. Còn một người không biết bệnh, không biết về thuốc, suốt ngày cứ vô tư cứ tưởng mình khỏe nhưng khi bất thình lình phát hiện ra có thể gặp ung thư giai đoạn cuối, nghĩa là những mầm bệnh nan y trầm kha khủng khiếp phát triển trong thân tâm mà người đó không biết thì cái này mới là đại khổ, đại bệnh, vì vậy điều đau khổ nhất là người khổ nhưng lại không biết mình đang khổ, vô minh nhất là người đang vô minh mà lại không biết mình vô minh, tai họa nhất là người đang nằm trong địa phận cực kì nguy hiểm mà lại nghĩ là an toàn, đó là đại họa. Tất cả chúng ta nằm trong hiểm họa khôn lường và khủng khiếp sau khi nhắm mắt, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh sẽ lập tức hiện ra. Thật sự rất khủng khiếp.

 -- Khổ lụy, này các Tỳ-kheo, là các lợi đắc, cung kính, danh vọng; thật là đắng cay, ác độc, là chướng ngại pháp để chứng đạt vô thượng an ổn, khỏi các khổ ách.

Do vậy, này các Tỳ-kheo, cần phải học tập như sau: "Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng đã đến, chúng ta sẽ từ bỏ chúng. Ðối với lợi đắc, cung kính, danh vọng chưa đến, chúng ta không để chúng xâm chiếm tâm và an trú".

Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập. (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, I. Phẩm Thứ Nhất, I. Khổ Lụy)

Khi học và quán chiếu trong kinh Nikāya về địa ngục, về các loài ngạ quỷ, về những ác nghiệp sẽ thấy khủng khiếp, có hơn 40 bài kinh về địa ngục trong Nikāya mà trong đó Đức Phật nói chính mắt ta chứng ngộ, chính mắt ta thấy, chỉ một mình ta thấy, một mình ta hiểu. Trong Tương Ưng Lakkhana, các Tỳ-kheo trước thời Đức Phật Ma-ha-ca-diếp tới thời Đức Phật Thích-ca là quằn quại trong lửa cháy trong chiếc y, làm ngạ quỷ vất vơ vất vưởng trong hư không.

Ở đây, này Hiền giả, khi tôi từ núi Gijjhakùta bước xuống, tôi thấy một Sa-di-ni đi giữa hư không.

Y tăng-già-lê (sanghàti) của vị này bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Bình bát cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Cái nịt cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Thân cũng bị cháy đỏ, cháy đỏ rực, cháy đỏ ngọn. Vị ấy thốt lên những tiếng kêu đau đớn.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

-- Sống với nhau như thực nhãn, này các Tỳ-kheo, là các đệ tử. Sống với nhau như thực trí, này các Tỳ-kheo, là các đệ tử. Vì rằng, một đệ tử sẽ biết, hay sẽ thấy, hay sẽ chứng thực như vậy.

Xưa kia, này các Tỳ-kheo, Ta cũng thấy Sa-di-ni ấy, nhưng Ta không có nói. Nếu Ta có nói, các người khác cũng không tin Ta. Và những ai không tin Ta, những người ấy sẽ bị bất hạnh, đau khổ lâu dài.

Vị Sa-di-ni ấy, này các Tỳ-kheo, là một ác Sa-di-ni trong thời bậc Chánh Ðẳng Giác Kassapa thuyết pháp. Do nghiệp của người đó thuần thục, sau khi bị nung nấu trong địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm, và với quả thuần thục còn lại, người đó cảm thọ một tự ngã như vậy. (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương VIII. Tương Ưng Lakkhana, II. Phẩm Thứ Hai, XI. Sa Di Ni) 

Vì thế mà thật sự lo lắng, sợ hãi, bổn phận và trách nhiệm của người tu phải lấy chủ đề địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh làm đề mục đề quán chiếu, phải lấy chủ đề cha mẹ, ông bà, cô bác làm đề mục quán chiếu, phải lấy những hình ảnh Đàn-na tín thí quỳ lạy, trong đó có những bà cụ 70-80 tuổi, những người đáng tuổi ông bà mình quỳ lạy mình để thiền quán. Thật sự lo lắng và sợ hãi! Thật sự là hổ thẹn! Mình kiểm tra bao nhiêu năm qua mình đã làm được gì trong giới đức, thiền định, trí tuệ, trong giải thoát, trong giải thoát tri kiến, thánh giới uẩn, thánh định uẩn, thánh tuệ uẩn, thánh giải thoát uẩn và thánh giải thoát tri kiến uẩn. Phải cực kì nỗ lực, đau đớn và cay đắng, ray rứt và thao thức, người chân tu phải ăn không ngon ngủ không yên khi chưa thành tựu, một người vay nóng bạc tỷ thì người đó ăn ngon ngủ yên không? Trong khi mình hơn cái đó rất nhiều vì không chỉ vay nợ mà người ta còn quỳ lạy mình, cha mẹ sanh ra rồi nuôi dưỡng trong thời gian dài, sự tin tưởng, đảnh lễ, cung kính, cúng dường, chắp tay, sự hi vọng, mong chờ của bao nhiêu thân tộc thật nhiều. Làm sao mình có thể dễ vui, có thể sống qua ngày, có thể buông lung nếu biết suy nghĩ và quán chiếu? Chúng ta không thể sống đời sống lãng quên được, không thể sống đời sống vô cảm đối với cha mẹ, đối với những người quỳ lễ lạy và khóc lóc, không thể nào. Mọi người phải suy nghĩ điều này thật là nhiều và không bao giờ cho phép mình quên, Đức Thế Tôn đã nói người xuất gia không được từ bỏ gánh nặng của thiện pháp, thiện pháp là một gánh nặng chứ không phải nói rằng bỏ ngoài đời để vào chùa cho khỏe, cái đó là quan niệm sai lầm của người xuất gia. Làm sao có thể khỏe được? Mình ăn của ai, chỗ ở của ai, cha me nuôi lớn mà mình bỏ đi là xong sao? Làm sao có thể nói vậy được? Phải thành tựu thánh định uẩn, thánh tuệ uẩn, thánh giới uẩn hoặc ít nhất phải có sự hướng thượng, tăng thượng chứ không được hài lòng, chấp nhận với hiện tại, mình phải nhìn nhận, sửa đổi, làm mới bản thân, phải tẩy sạch, làm thân tâm được thanh tịnh. Ngày nào còn dục tham ái là ngày đó còn xấu hổ, nhục nhã. Ngày nào còn thấy vô minh, si ám thì ngày đó còn thấy bóng đêm trường dạ. Ngày nào mình còn thấy bản ngã, cái ta, cái tao, tôi to lớn thì ngày đó còn thê thảm, còn hiểm họa, còn thấy tai ương và hoạn nạn. Ngày nào nhìn lại thân tâm còn thấy ác và bất thiện pháp còn tồn tại, xâm chiếm, áp đảo, còn dẫn dắt, sai khiến trong thân tâm thì ngày đó còn phải lo và sợ, phải thiết tha, chân thành.

Sự ra đi xuất gia của chúng ta là cuộc xả ly vĩ đại cho nên phải có thành tích, thành quả, phải thành công. Không thể nào cả một đời sống trong chùa lại trống rỗng và còn mang nợ. Thật là tai họa! Không thể như thế được mà phải ngày đêm nỗ lực, tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm tu tập các thiện pháp.

Này các Tỳ-kheo, có mười pháp này, vị xuất gia phải luôn luôn quán sát. Thế nào là mười?

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: "Ta nay đi đến tình trạng là người không có giai cấp" (mất hết giai cấp).

Người xuất gia phải luôn luôn quán sát: "Ðời sống của ta tùy thuộc vào người khác".

Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: "Nay cử chỉ uy nghi của ta cần phải thay đổi!".

Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: "Không biết tự ngã có chỉ trích ta về giới hạnh không?".

Vị xuất gia cần luôn luôn quán sát: "Không biết các đồng Phạm hạnh có trí, sau khi tìm hiểu, có chỉ trích ta về giới hạnh không?".

Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: "Mọi sự vật khả ái, khả ý của ta bị đổi khác, bị biến hoại".

Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: "Ta là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là thai tạng của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ quy hướng của nghiệp; phàm nghiệp gì ta sẽ làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy".

Vị xuất gia cần phải luôn quán sát: "Ðêm ngày trôi qua bên ta và nay ta đã thành người như thế nào?".

Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: "Ta có cố gắng hoan hỷ trong ngôi nhà trống không hay không?".

Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: "Ta có chứng được pháp Thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh không, để đến những ngày cuối cùng, các đồng Phạm hạnh có hỏi, ta sẽ không có xấu hổ?"

Này các Tỳ-kheo, mười pháp này, vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát. (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, V. Phẩm Mắng Nhiếc, (VIII) (48) Các Pháp)

Trong xã hội này chúng ta không thuộc về dạng nào, tức là thấp hèn nhất, khất sĩ là ăn xin. Tất cả đời sống của mình đều do Đàn-na tín thí cúng dường, tùy thuộc toàn bộ vào người khác, một người ăn xin, một người chạy xe ôm kiếm tiền bằng chính mồ hôi nước mắt dù cho họ đi xin, tự họ làm ra tiền để dùng còn toàn bộ đời sống của mình đều lệ thuộc vào người khác thì mình đem cái gì để đền trả? Giới hạnh không thành tựu, thiền định không có, trí huệ thì mù mờ thì lấy gì đền trả? Những hành động, cử chỉ của mình không thể giống người đời.

Không biết tự ngã có chỉ trích ta về giới hạnh không? Tức là khi làm sai thì tòa án lương tâm của mình sẽ chỉ trích, khi làm đúng thì tâm sẽ an định khi ngồi thiền, nếu không đi vào ngũ cái sẽ bị trạo hối, khi ngồi thiền thì những giới mình phạm, những chuyện mình lầm lỗi sẽ hiện ra làm tâm bất an không đi vào định được, trạo hối là sự hối hận, hối tiếc khi giới hạnh không thành tựu, không ngồi thiền được, những hình ảnh, cảm thọ, suy nghĩ hiện tra làm cho mình ray rứt, làm cho mình dao động thì đó là trạo hối. Còn muốn đi vào sơ thiền phải phá năm triền cái: Dục tham, sân, hôn trầm – thụy miên, trạo hối, hoài nghi, phải phá những thứ này mới vào được sơ thiền, vì thế mà các pháp được Đức Phật dạy có liên kết chặt chẽ với nhau, có mối tương quan với nhau. Cứ ngồi thiền là bất an thì làm sao định, không ở yên một mình được vì thế có người nhập thất không được, vì vậy mà học không phải là sẽ làm được ngay mà học để biết cái gì là cái cần làm và mình đang ở vị trí nào, đời sống xuất gia thật sự như thời Đức Thế Tôn thì đại đa số phải độc cư thiền định cho nên mình phải có thời gian ngồi một mình.

Không biết các đồng Phạm hạnh có trí, sau khi tìm hiểu, có chỉ trích ta về giới hạnh không?". Xấu hổ với các bạn đồng phạm hạnh, những người cùng tu với mình, những người có giới hạnh, có thiền định, có trí tuệ. Người ta cũng có cha mẹ, mình cũng có cha mẹ, người ta cũng ở trong chùa như mình mà người ta thành tựu, tại sao mình lại thất bại? Tại sao mình lại đi tới tình trạng như thế này?

Mọi sự vật khả ái, khả ý của ta bị đổi khác, bị biến hoại. Tất cả những gì mình ưa thích rồi sẽ biến hoại, tan nát, hoại diệt.

Ta là chủ của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là thai tạng của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ quy hướng của nghiệp; phàm nghiệp gì ta sẽ làm, thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy. Phải quán chiếu về nghiệp quả để sợ hãi đối với ác nghiệp.

Ðêm ngày trôi qua bên ta và nay ta đã thành người như thế nào? Ngày đêm trôi qua, năm tháng trôi qua, ở trong chùa đã lâu và bây giờ ta đã trở thành một người như thế nào? Đây là những pháp tuyệt đối quan trọng của người xuất gia, mỗi ngày đều phải đọc tụng. Ta đi tu 7 năm, 10 năm rồi ta đã trở thành người như thế nào?

Ta có cố gắng hoan hỷ trong ngôi nhà trống không hay không? Ở một mình có hoan hỉ không? Ở một mình có thiền định không? Ở một mình có tư duy quán chiếu mục đích xuất gia này là gì không hay cứ chạy đôn chạy đáo hết cái này đến cái kia, hết cái kia đến cái nọ, không ở yên được. Có vui vẻ, hoan hỉ trong ngôi nhà trống, trong tịnh thất một mình hay không?

Ta có chứng được pháp Thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh không, để đến những ngày cuối cùng, các đồng Phạm hạnh có hỏi, ta sẽ không có xấu hổ? Ta đã chứng được pháp Thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh không? Đây là pháp nhất định cần phải chứng để đến những ngày cuối cùng của cuộc đời thì các bạn đồng tu có hỏi ta cũng không xấu hổ. Khi nằm trên gường sắp chết, các bậc đồng phạm hạnh sẽ hỏi "thầy đã thành tựu hay chưa?" hay là lúc đó lại đau khổ, dính mắc, tham ái, tiếc nuối ngôi chùa, đất đai, xe cộ, như vậy không khác gì người đời.

Trên đây là 10 điều tâm niệm của người xuất gia, con rất muốn chia sẻ nhiều vì còn những điều rất hay trong kinh nhưng khó thay là những người chịu nghe, thật là khó thay là những người biết cảm thông, khó thay là những người đồng cảm.

Bất nhân phong quyển phù vân tận,

Tranh kiến thanh thiên vạn lý thu?

Tương thức mãn thiên hạ,

Tri âm năng kỷ nhân?

(Tạ Đạo Huệ thiền sư)

Quen biết khắp thiên hạ nhưng tri âm được mấy người? Thật là khó cho một người chân tu thật học! Thật là khó cho một người ý thức sâu sắc mục đích, ý nghĩa, giá trị của đời sống xuất gia! Thật là khó cho một người có thể bặm môi, cắn răng, chảy nước mắt một mình thiền định quán chiếu, nỗ lực để nhổ gốc rễ của khổ đau! Những gì ghi trong sách sau này con không có ý kiến, con chỉ có ý kiến trong kinh tạng Nikāya thôi. Sự tu học của chúng ta đừng quan trọng tông phái, đừng quan trọng đại thừa hay tiểu thừa mà hãy quan trọng phương pháp diệt khổ cho chính mình, hãy quan trọng cách thức nhiếp phục tham sân si, bản ngã cho chính mình, hãy quan trọng mình đã đi tới đâu trong thánh đạo và nếu cứ chạy theo bên ngoài thì đến chết mình cũng làm không xong việc cần làm của người xuất gia. Hãy quan trọng đối với tự thân mình trong đời tu, mình đã tìm được phương pháp để nhiếp phục tham sân si, dục ái trong lòng mình chưa? Thật sự đã nắm chắc trong tay phương pháp hay chưa và mình đã làm được đến đâu? Câu hỏi đó cần phải được hỏi, cần tìm hiểu cho nên Đức Phật mới nói phải đặt tâm đúng hướng.

Ví như, này các Tỳ-kheo, sợi râu của lúa mì, hay sợi râu của lúa mạch bị đặt sai hướng, khi tay hay chân đè vào, có thể đâm thủng tay hay chân, hay có thể làm đổ máu; sự tình này không xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì sợi râu bị đặt sai hướng. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo với tâm bị đặt sai hướng, có thể đâm thủng vô minh, làm minh sanh khởi, có thể chứng đạt Niết-bàn; sự tình này không xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì tâm bị đặt sai hướng.

Này các Tỳ-kheo, ví như các sợi râu của lúa mì, hay sợi râu của lúa mạch được đặt đúng hướng, khi tay hay chân đè vào, có thể đâm thủng tay hay chân, hay có thể làm cho đổ máu; sự tình này có xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì sợi râu được đặt đúng hướng. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo với tâm được đặt đúng hướng, có thể đâm thủng vô minh, làm minh sanh khởi, có thể chứng đạt Niết-bàn; sự tình này có thể xảy ra. Vì cớ sao? Này các Tỳ-kheo, vì tâm được đặt đúng hướng. (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, V. Phẩm Ðặt Hướng và Trong Sáng, 1-10 Tâm Ðặt Sai Hướng v.v...)

Đặt tâm sai hướng thì không bao giờ giảm thiểu được tham sân si, còn đặt tâm đúng hướng mới đi đến diệt tận tham sân si, cứu cánh Niết-bàn. Sự đặt tâm đúng hướng là từ đêm Như Lai thành đạo dưới cội Bồ-đề cho đến khi nhắm mắt dưới Tala song thọ chỉ nói hai điều là sự thật về khổ và con đường diệt tận khổ đau.

Chư Tỳ-kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ. (Trung Bộ Kinh, 22. Kinh Ví dụ con rắn)

Cái gì làm cho mình khổ? Dục tham, ưa thích, đòi hỏi, khát ái làm cho mình khổ, những cảm giác nung nấu, thiêu đốt, phựt cháy làm cho mình khổ, người khổ, những cảm giác u mê, tối tăm che lấp thân tâm mà không nhận diện được tự thân, tự tâm làm mình khổ, những cảm giác hách dịch, ta đây, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, khe mình chê người làm đau khổ mình, làm đau khổ người. Sự tu học của chúng ta là quay trở lại quán chiếu các cảm giác rồi nhiếp phục và diệt tận, đó là con đường diệt khổ. Mình ngồi ở đây mà phân biệt các tông phái, phân biệt đại thừa tiểu thừa, phân biệt Nam Bắc thì ngồi đến chết cũng chưa hết tham sân si, đến chết vẫn ở trong thị phi đúng sai. Giống như Đức Phật ví dụ một người bị trúng tên, có người lại rút tên ra, cho thuốc uống mà không chịu, cứ lo tên này ai bắn, nam hay nữ, đen hay trắng, nhà ở đâu… đến khi hỏi cho bằng được hết thì đã chết rồi.

Với kẻ phàm phu không học, này các Tỳ-kheo, phải bị già và già đến; khi già đến, kẻ ấy không suy tư: "Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến, nhưng đối với loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả loài hữu tình đều phải bị già và già đến. Và nếu phải bị già và khi già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích, thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn". Kẻ ấy phải bị già, khi già đến, sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh.

Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ phàm phu không học bị mũi tên sầu muộn tẩm thuốc độc bắn trúng, kẻ ấy tự làm mình ưu não.

Với vị Thánh đệ tử có học, này các Tỳ-kheo, phải bị già và già đến; khi già đến, vị ấy suy tư như sau: "Không phải chỉ một mình ta phải bị già và già đến. Nhưng đối với các loài hữu tình, có đến, có đi, có diệt, có sanh, tất cả các loài hữu tình đều phải bị già, và già đến. Và nếu phải bị già và già đến, ta lại sầu, bi, than khóc, đập ngực, đi đến bất tỉnh, thời ăn uống không làm ta ưa thích, thân ta trở thành xấu xí; các công việc không có xúc tiến; kẻ thù sẽ hoan hỷ; bạn bè sẽ lo buồn." Vị ấy phải bị già, khi già đến, không sầu, không bi, không than khóc, không đập ngực, không đi đến bất tỉnh.

Này các Tỳ-kheo, đây gọi là vị Thánh đệ tử có học, được nhổ lên là mũi tên sầu muộn có tẩm thuốc độc, mà kẻ phàm phu không học bị bắn trúng, tự làm mình ưu não. Không sầu muộn, không bị tên bắn, vị Thánh đệ tử làm cho chính mình được hoàn toàn tịch tịnh. (Tăng Chi Bộ, Chương V - Năm Pháp, V. Phẩm Vua Munda, (VIII) Sự Kiện Không Thể Có Ðược)

Mũi tên đó là mũi tên tham sân si, vô minh và bản ngã, vậy mà không chịu lo rút ra vậy mà cứ tìm hiểu tông này tông kia, phái này phái kia để làm gì? Rồi ngồi lại nói ai đúng ai sai, nói hoài thì có lợi ích gì? Hãy quay lại thân tâm nhìn những cảm giác thúc giục, đòi hỏi, tìm kiếm, khao khát, khát ái rồi nhiếp phục, đánh gục, diệt tận nó. Đó là con đường thoát khổ của bậc thánh đã truyền trao.

Con chia sẻ đến tất cả các thầy, các huynh đệ bằng tất cả tấm lòng. Nếu có những lời làm các thầy, các huynh đệ không hoan hỉ con xin sám hối. Mong rằng tất cả chúng ta trong tinh thần lục hòa cùng tu học, ý thức sâu sắc đời sống cao đẹp của người xuất gia, cùng cố gắng nỗ lực trong tinh thần thành tựu phạm hạnh.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.