Thiền Quán - Sự Tìm Cầu Của Bậc Thánh 2
Kinh Nikāya Giảng Giải
Thiền Quán
SỰ TÌM CẦU CỦA BẬC THÁNH 2
Thích Minh Thành
Bài kinh Thánh cầu này cực kì quan trọng và tuyệt đối quan trọng đối với người xuất gia nhưng hiện tại có rất ít người xuất gia được học bài kinh này, vì thế cần để tâm thật nhiều để thấy được sự xuất gia của Thái tử Tất-đạt-đa, thấy được sự xuất gia của Bồ-tát, thấy được mục đích, lý tưởng thật sự chân giá trị của đời sống tu sĩ. Nếu người xuất gia không được học bài kinh này thì thật sự chúng ta không thể biết được sự cao thượng, cao quý, mục đích thật sự của người tu. Tuy chỉ là một bài kinh nhưng trong đây Đức Phật kể lại cả một quá trình từ khi còn là Thái tử cho đến lúc thành đạo và chuyển pháp luân, có khi xuất gia suốt đời trong chùa cũng chưa được đọc bài kinh này một lần, điều này rất uổng. Vì tầm nhìn chúng ta rất nhỏ bé, hạn hẹp so với cái nhìn của bậc Thánh, chỉ có một chút công việc chuẩn bị dịp tết nhưng nếu không có chánh niệm, không tỉnh giác thì sự tu học sẽ bị sa sút ngay cho nên tâm tu của chúng ta vẫn còn yếu kém, đừng nghĩ rằng mình tu đã được. Chúng ta phải biết con đường cầu đạo vẫn còn rất xa, nếu ngày đêm không nỗ lực, chuyên tâm, để ý, để tâm, đặt hết tấm lòng thì sự xuất gia của mình trở thành trống không, vô ích, có khi lại trở thành tai họa cho chúng ta vì chúng ta không biết được chân giá trị của người xuất gia. Chúng ta cứ nhìn mọi người xung quanh rồi làm theo giống người ta thì nghĩ được rồi, điều này hoàn toàn sai lầm, nguồn cội, căn nguyên của sự xuất gia chính là bài kinh này nói riêng và nói chung là cả kinh tạng Nikāya. Đọc những đoạn trong bài kinh này con rơi nước mắt.
"Rồi này các Tỳ-kheo, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Ta xuất gia như vậy, một người đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ". (Trung Bộ kinh, 26. kinh Thánh cầu)
Mỗi buổi sáng phải đọc đoạn này trong thiền đường, mỗi ngày phải đọc vang lên trong tâm trí mình vì đây là những lời tâm sự, tâm tình, những lời nhắn nhủ tha thiết, giống như vang vọng đâu đây lời dạy của Thế Tôn, như Đức Thế Tôn đang ở bên cạnh, đang khuyên bảo, khích lệ, cảnh tỉnh chúng ta. Chúng ta trong vô lượng vô biên kiếp vừa qua đã đi tìm những cái bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết, chúng ta đi tìm những cái buồn đau, sầu khổ, buồn phiền, bực dọc, chúng ta cứ đi tìm vợ chồng con cái, chúng ta cứ đi tìm tài sản ruộng vườn, tiền bạc, xe cộ, nhà cửa, chúng ta cứ chấp thủ vào những cái bị bệnh, bị già, bị chết, bị sầu đau đó, chúng ta cứ nắm giữ, tham đắm, say mê chúng, những thứ đó là những thứ mà bậc Thánh đã vứt bỏ. Thái tử Tất-đạt-đa đã bỏ vợ con, bỏ cha mẹ, bỏ người thân thương, bỏ thành quách cung điện, bỏ tài sản, bỏ sắc đẹp, tuổi thanh xuân, bỏ thời vàng son của cuộc đời trong khi thời niên thiếu còn đầy đủ khí huyết, tóc còn đen nhánh. Chúng ta không thể vào chùa để tiếp tục đi tìm những thứ vô nghĩa, giả dối, tạm bợ, vô thường, phiền não, buồn đau đó. Chúng ta phải ý thức thật sâu sắc sự xuất gia tối thượng, tối thắng, an tịnh đạo lộ này, chúng ta phải hướng đến cái cao thượng, chúng ta phải "đi tìm cái gì chí thiện", cao tột, không bao giờ cho phép mình an lòng với những thứ nhỏ nhặt như chùa chiền, phòng ốc, xe cộ, ăn mặc… những thứ danh lợi, địa vị, kiến thức là những thứ bị sầu đau, cấu nhiễm. Phải hướng tâm diệt tận cái tham dục, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã, chấp thủ, lấy đó làm mục tiêu, hồng tâm, lấy đó làm đích đến cho mình, đừng để những chuyện nhỏ hẹp, nhỏ nhoi làm dao động tâm mình, che kín tâm mình, chúng ta phải như Mặt Trăng vượt ra khỏi đám mây để chiếu sáng. Chúng ta phải nhìn ông bà, cha mẹ, bà con cô bác đau khổ như thế nào, đau buồn như thế nào, bệnh tật đau đớn như thế nào khi mình bỏ đi xuất gia. Làm sao mình lại quên được những dòng nước mắt đó, những sự chia ly đau xót đó? Mình phải lấy những dòng nước mắt của cha mẹ làm đề tài thiền quán, phải lấy sự đau đớn của sự chia ly như cắt đi núm ruột để cho phép mình vào chùa làm đề tài, đề mục, làm công án quán chiếu. Làm sao mình có thể an tâm chấp nhận đời sống lững lờ, qua ngày đoạn tháng trong chùa? Mình phải vượt lên để biết rõ sự nguy hiểm và tác hại của cái bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết này. Mình phải thấy rõ sự nguy hiểm và tác hại của các buồn lo, buồn rầu, buồn phiền này. Mình phải quán chiếu sâu sắc sự nguy hiểm và tác hại của sự ô nhiễm này. Tâm thức của mình bị ô nhiễm bởi tham dục, tham ái, tham ăn, tham ngủ, tham nói, tham thể hiện, tham vui, tham đi rong chơi, một tâm thức bị ô nhiễm bởi ham ta đây, ham ngã mạn. Chúng ta phải thấy rõ sự nguy hiểm và tác hại của tâm cấu uế, cấu nhiễm, lậu hoặc này, đó là cái tâm đau khổ. Tại sao mình không thao thức, ray rứt, trăn trở, ngày đêm phải thanh lọc những cái ác bất thiện pháp còn tồn động trong tâm tư. Hướng ngoại ra ngoài để nhìn gì, nghe gì, cảm xúc cái gì trong khi vô lượng vô biên kiếp vẫn không thỏa mãn cho nên hãy nhìn vào trong những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm này để phát giác ra tâm cấu uế, ô nhiễm, lậu hoặc, sự nguy hiểm và tác hại của nó.
Chúng ta đi tu bao lâu rồi? Giờ này nội tâm chúng ta như thế nào? Chúng ta có nhiếp phục được tham dục hay chưa? Diệt tận được sân hận hay chưa? Phá vỡ được vô minh hay chưa? Có hoàn toàn chứng nhập được Thánh trí vô ngã hay chưa? Chúng ta phải nhắc nhở bản thân, phải đi đến mình, phải dò xét mình, phải chỉ trích mình, phải quở trách tâm của mình. Thái tử Tất-đạt-đa đã đi đến những bậc thầy lớn thời đó để học những tầng thiền định rất thâm sâu và ngài đã chứng ngộ những tầng thiền định đó: Vô sở hữu xứ, không vô biên xứ, thức vô biên xứ và các vị thầy đó tôn kính ngài với sự tôn kính tối thượng, dù ngài là học trò nhưng những vị thầy đó xem ngài ngang hàng như một bậc thầy, rồi ngày suy xét:
"Này các Tỳ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ". Như vậy này các Tỳ-kheo, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi". (Trung Bộ kinh, 26. kinh Thánh cầu)
Ngài đã chứng đắc thiền định vô sở hữu xứ. Vô sở hữu xứ là vượt lên mọi thức vô biên xứ, nghĩ rằng không có vật gì. Đây là những tầng thiền rất sâu sắc, trú trong định và lúc nào cũng thấy trống không, trống rỗng nhưng ngài không chấp nhận vì pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ. Pháp này không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn mà chỉ đưa đến cái tâm trống rỗng, không có vật gì, như vậy ngài không tôn kính pháp này và bỏ đi. Ở đây chúng ta thấy rằng con dấu của Thánh pháp (Thánh Pháp Ấn) chính là pháp đưa đến sự yểm ly, ly tham. Yểm ly là chán nản và xa lìa, cái pháp nào đưa đến chán nản và xa lìa, hướng đến Niết-bàn thì đó là pháp mà ngài đang tìm kiếm. Nhưng chán nản cái gì, xa lìa cái gì? Chán nản sắc, xa lìa sắc. Tại sao phải chán nản sắc, xa lìa sắc? Vì sắc là vô thường, là khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chán nản, không xa lìa thì mình sẽ bị vô thường, bị khổ, bị sự biến đổi và tàn hoại chính vì vậy phải đi đến sự nhàm chán và xa lìa đối với sắc, đó là pháp của Thế Tôn. Nhàm chán và xa lìa cái gì? Các cảm thọ, cảm giác. Tại sao phải nhàm chán, xa lìa các cảm thọ, cảm giác? Vì các cảm thọ, cảm giác này là vô thường, là khổ đau, là chịu sự biến đổi và hoại diệt, nhưng chúng sanh lại chấp thủ, nắm giữ vào sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn này, nắm chặt vào những hình bóng, cảm giác này cho rằng đó là tôi và của tôi, ảo tưởng nó là thường còn, là vui sướng, là đẹp đẽ, sạch sẽ, hạnh phúc thì làm sao không đau khổ được? Cho nên nhàm chán, xa lìa thứ hai là nhàm chán, xa lìa cảm thọ, cảm xúc vì Thế Tôn đã nói phàm cái gì được cảm thọ thì cái ấy đều nằm trong đau khổ.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". (Tương Ưng Bộ, tập IV – Thiên Sáu Xứ, chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Câu nói này nhằm đưa đến sự yểm ly, sự ly tham, sự chấm dứt, đoạn diệt, an tịnh, hướng đến thượng trí, đưa đến giác ngộ, đi vào chỗ tịch diệt Niết-bàn là lắng dịu, an tịnh tất cả ngũ uẩn. Nhàm chán, xa lìa những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, những sự nhận thức rõ biết này, phải hướng đến ly tham đối với ngũ uẩn, rời sự tham muốn đối với sắc, hình hài, vật chất, những sự suy tưởng, nhận thức, phải hướng đến chỗ lìa tham đối với năm uẩn đó, không tham đắm, khoan khoái, không cho nó là mình, là của mình, không chấp thủ, nắm giữ, đi đến sự chấm dứt, hướng đến sự an tịnh, hướng đến thượng trí là trí tuệ cao thượng. Trí tuệ cao thượng này sẽ thấu suốt một cách trọn vẹn hết tất cả khía cạnh, góc độ, phương diện viên mãn về ngũ uẩn, thấy được bản chất của nó là khổ thì từ đó mới dập tắt hoàn toàn vô minh, tham ái đối với năm uẩn cho nên Niết-bàn là sự dập tắt hoàn toàn vô minh, không thấy không biết đối với năm uẩn và dập tắt hoàn toàn, cắt đứt tất cả sự khao khát tham ái trong năm uẩn này. Đó là pháp mà Bồ Tát Tất-đạt-đa hướng đến, hướng tìm, đó gọi là pháp giải thoát sanh tử, xuất ly ngũ uẩn, đó còn gọi là đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ.
Từ đây chúng ta mới nhìn lại đời sống của chúng ta hiện tại, những cảm giác, nghĩ tưởng của chúng ta hiện tại, sự tu tập hiện ta của chúng ta ra sao. Chúng ta có nhàm chán, xa lìa đối với thân xác này không? Có nhàm chán, muốn xa lìa đối với những cảm giác không? Chúng ta có nhàm chán, xa lìa, muốn chấm dứt đối với những hình bóng, suy nghĩ trong tâm không? Chúng ta có nhàm chán, xa lìa, không tham muốn mà chỉ muốn đi đến chỗ an tịnh đối với những nhận thức, rõ biết này không hay chúng ta nắm chặt, chấp thủ vào đây cho là mình, là của mình. Nếu không chấp thân thì chấp tâm hoặc chấp pháp, đây là Thánh Pháp Ấn.
./.
Thiền Quán
SỰ TÌM CẦU CỦA BẬC THÁNH 2
Thích Minh Thành
Bài kinh Thánh cầu này cực kì quan trọng và tuyệt đối quan trọng đối với người xuất gia nhưng hiện tại có rất ít người xuất gia được học bài kinh này, vì thế cần để tâm thật nhiều để thấy được sự xuất gia của Thái tử Tất-đạt-đa, thấy được sự xuất gia của Bồ-tát, thấy được mục đích, lý tưởng thật sự chân giá trị của đời sống tu sĩ. Nếu người xuất gia không được học bài kinh này thì thật sự chúng ta không thể biết được sự cao thượng, cao quý, mục đích thật sự của người tu. Tuy chỉ là một bài kinh nhưng trong đây Đức Phật kể lại cả một quá trình từ khi còn là Thái tử cho đến lúc thành đạo và chuyển pháp luân, có khi xuất gia suốt đời trong chùa cũng chưa được đọc bài kinh này một lần, điều này rất uổng. Vì tầm nhìn chúng ta rất nhỏ bé, hạn hẹp so với cái nhìn của bậc Thánh, chỉ có một chút công việc chuẩn bị dịp tết nhưng nếu không có chánh niệm, không tỉnh giác thì sự tu học sẽ bị sa sút ngay cho nên tâm tu của chúng ta vẫn còn yếu kém, đừng nghĩ rằng mình tu đã được. Chúng ta phải biết con đường cầu đạo vẫn còn rất xa, nếu ngày đêm không nỗ lực, chuyên tâm, để ý, để tâm, đặt hết tấm lòng thì sự xuất gia của mình trở thành trống không, vô ích, có khi lại trở thành tai họa cho chúng ta vì chúng ta không biết được chân giá trị của người xuất gia. Chúng ta cứ nhìn mọi người xung quanh rồi làm theo giống người ta thì nghĩ được rồi, điều này hoàn toàn sai lầm, nguồn cội, căn nguyên của sự xuất gia chính là bài kinh này nói riêng và nói chung là cả kinh tạng Nikāya. Đọc những đoạn trong bài kinh này con rơi nước mắt.
"Rồi này các Tỳ-kheo, sau một thời gian, khi Ta còn trẻ, niên thiếu, tóc đen nhánh, đầy đủ huyết khí của tuổi thanh xuân, trong thời vàng son cuộc đời, mặc dầu cha mẹ không bằng lòng, nước mắt đầy mặt, than khóc, Ta cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Ta xuất gia như vậy, một người đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ". (Trung Bộ kinh, 26. kinh Thánh cầu)
Mỗi buổi sáng phải đọc đoạn này trong thiền đường, mỗi ngày phải đọc vang lên trong tâm trí mình vì đây là những lời tâm sự, tâm tình, những lời nhắn nhủ tha thiết, giống như vang vọng đâu đây lời dạy của Thế Tôn, như Đức Thế Tôn đang ở bên cạnh, đang khuyên bảo, khích lệ, cảnh tỉnh chúng ta. Chúng ta trong vô lượng vô biên kiếp vừa qua đã đi tìm những cái bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết, chúng ta đi tìm những cái buồn đau, sầu khổ, buồn phiền, bực dọc, chúng ta cứ đi tìm vợ chồng con cái, chúng ta cứ đi tìm tài sản ruộng vườn, tiền bạc, xe cộ, nhà cửa, chúng ta cứ chấp thủ vào những cái bị bệnh, bị già, bị chết, bị sầu đau đó, chúng ta cứ nắm giữ, tham đắm, say mê chúng, những thứ đó là những thứ mà bậc Thánh đã vứt bỏ. Thái tử Tất-đạt-đa đã bỏ vợ con, bỏ cha mẹ, bỏ người thân thương, bỏ thành quách cung điện, bỏ tài sản, bỏ sắc đẹp, tuổi thanh xuân, bỏ thời vàng son của cuộc đời trong khi thời niên thiếu còn đầy đủ khí huyết, tóc còn đen nhánh. Chúng ta không thể vào chùa để tiếp tục đi tìm những thứ vô nghĩa, giả dối, tạm bợ, vô thường, phiền não, buồn đau đó. Chúng ta phải ý thức thật sâu sắc sự xuất gia tối thượng, tối thắng, an tịnh đạo lộ này, chúng ta phải hướng đến cái cao thượng, chúng ta phải "đi tìm cái gì chí thiện", cao tột, không bao giờ cho phép mình an lòng với những thứ nhỏ nhặt như chùa chiền, phòng ốc, xe cộ, ăn mặc… những thứ danh lợi, địa vị, kiến thức là những thứ bị sầu đau, cấu nhiễm. Phải hướng tâm diệt tận cái tham dục, sân hận, si mê, vô minh, bản ngã, chấp thủ, lấy đó làm mục tiêu, hồng tâm, lấy đó làm đích đến cho mình, đừng để những chuyện nhỏ hẹp, nhỏ nhoi làm dao động tâm mình, che kín tâm mình, chúng ta phải như Mặt Trăng vượt ra khỏi đám mây để chiếu sáng. Chúng ta phải nhìn ông bà, cha mẹ, bà con cô bác đau khổ như thế nào, đau buồn như thế nào, bệnh tật đau đớn như thế nào khi mình bỏ đi xuất gia. Làm sao mình lại quên được những dòng nước mắt đó, những sự chia ly đau xót đó? Mình phải lấy những dòng nước mắt của cha mẹ làm đề tài thiền quán, phải lấy sự đau đớn của sự chia ly như cắt đi núm ruột để cho phép mình vào chùa làm đề tài, đề mục, làm công án quán chiếu. Làm sao mình có thể an tâm chấp nhận đời sống lững lờ, qua ngày đoạn tháng trong chùa? Mình phải vượt lên để biết rõ sự nguy hiểm và tác hại của cái bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết này. Mình phải thấy rõ sự nguy hiểm và tác hại của các buồn lo, buồn rầu, buồn phiền này. Mình phải quán chiếu sâu sắc sự nguy hiểm và tác hại của sự ô nhiễm này. Tâm thức của mình bị ô nhiễm bởi tham dục, tham ái, tham ăn, tham ngủ, tham nói, tham thể hiện, tham vui, tham đi rong chơi, một tâm thức bị ô nhiễm bởi ham ta đây, ham ngã mạn. Chúng ta phải thấy rõ sự nguy hiểm và tác hại của tâm cấu uế, cấu nhiễm, lậu hoặc này, đó là cái tâm đau khổ. Tại sao mình không thao thức, ray rứt, trăn trở, ngày đêm phải thanh lọc những cái ác bất thiện pháp còn tồn động trong tâm tư. Hướng ngoại ra ngoài để nhìn gì, nghe gì, cảm xúc cái gì trong khi vô lượng vô biên kiếp vẫn không thỏa mãn cho nên hãy nhìn vào trong những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm này để phát giác ra tâm cấu uế, ô nhiễm, lậu hoặc, sự nguy hiểm và tác hại của nó.
Chúng ta đi tu bao lâu rồi? Giờ này nội tâm chúng ta như thế nào? Chúng ta có nhiếp phục được tham dục hay chưa? Diệt tận được sân hận hay chưa? Phá vỡ được vô minh hay chưa? Có hoàn toàn chứng nhập được Thánh trí vô ngã hay chưa? Chúng ta phải nhắc nhở bản thân, phải đi đến mình, phải dò xét mình, phải chỉ trích mình, phải quở trách tâm của mình. Thái tử Tất-đạt-đa đã đi đến những bậc thầy lớn thời đó để học những tầng thiền định rất thâm sâu và ngài đã chứng ngộ những tầng thiền định đó: Vô sở hữu xứ, không vô biên xứ, thức vô biên xứ và các vị thầy đó tôn kính ngài với sự tôn kính tối thượng, dù ngài là học trò nhưng những vị thầy đó xem ngài ngang hàng như một bậc thầy, rồi ngày suy xét:
"Này các Tỳ-kheo, rồi Ta tự suy nghĩ: "Pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ". Như vậy này các Tỳ-kheo, Ta không tôn kính pháp này, và từ bỏ pháp ấy, Ta bỏ đi". (Trung Bộ kinh, 26. kinh Thánh cầu)
Ngài đã chứng đắc thiền định vô sở hữu xứ. Vô sở hữu xứ là vượt lên mọi thức vô biên xứ, nghĩ rằng không có vật gì. Đây là những tầng thiền rất sâu sắc, trú trong định và lúc nào cũng thấy trống không, trống rỗng nhưng ngài không chấp nhận vì pháp này không hướng đến yểm ly, không hướng đến ly tham, không hướng đến đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, không hướng đến thượng trí, không hướng đến giác ngộ, không hướng đến Niết-bàn, mà chỉ đưa đến sự chứng đạt Vô sở hữu xứ. Pháp này không đưa đến yểm ly, ly tham, đoạn diệt, không hướng đến an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn mà chỉ đưa đến cái tâm trống rỗng, không có vật gì, như vậy ngài không tôn kính pháp này và bỏ đi. Ở đây chúng ta thấy rằng con dấu của Thánh pháp (Thánh Pháp Ấn) chính là pháp đưa đến sự yểm ly, ly tham. Yểm ly là chán nản và xa lìa, cái pháp nào đưa đến chán nản và xa lìa, hướng đến Niết-bàn thì đó là pháp mà ngài đang tìm kiếm. Nhưng chán nản cái gì, xa lìa cái gì? Chán nản sắc, xa lìa sắc. Tại sao phải chán nản sắc, xa lìa sắc? Vì sắc là vô thường, là khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chán nản, không xa lìa thì mình sẽ bị vô thường, bị khổ, bị sự biến đổi và tàn hoại chính vì vậy phải đi đến sự nhàm chán và xa lìa đối với sắc, đó là pháp của Thế Tôn. Nhàm chán và xa lìa cái gì? Các cảm thọ, cảm giác. Tại sao phải nhàm chán, xa lìa các cảm thọ, cảm giác? Vì các cảm thọ, cảm giác này là vô thường, là khổ đau, là chịu sự biến đổi và hoại diệt, nhưng chúng sanh lại chấp thủ, nắm giữ vào sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn này, nắm chặt vào những hình bóng, cảm giác này cho rằng đó là tôi và của tôi, ảo tưởng nó là thường còn, là vui sướng, là đẹp đẽ, sạch sẽ, hạnh phúc thì làm sao không đau khổ được? Cho nên nhàm chán, xa lìa thứ hai là nhàm chán, xa lìa cảm thọ, cảm xúc vì Thế Tôn đã nói phàm cái gì được cảm thọ thì cái ấy đều nằm trong đau khổ.
"-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: 'Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ'. Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". (Tương Ưng Bộ, tập IV – Thiên Sáu Xứ, chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)
Câu nói này nhằm đưa đến sự yểm ly, sự ly tham, sự chấm dứt, đoạn diệt, an tịnh, hướng đến thượng trí, đưa đến giác ngộ, đi vào chỗ tịch diệt Niết-bàn là lắng dịu, an tịnh tất cả ngũ uẩn. Nhàm chán, xa lìa những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, những sự nhận thức rõ biết này, phải hướng đến ly tham đối với ngũ uẩn, rời sự tham muốn đối với sắc, hình hài, vật chất, những sự suy tưởng, nhận thức, phải hướng đến chỗ lìa tham đối với năm uẩn đó, không tham đắm, khoan khoái, không cho nó là mình, là của mình, không chấp thủ, nắm giữ, đi đến sự chấm dứt, hướng đến sự an tịnh, hướng đến thượng trí là trí tuệ cao thượng. Trí tuệ cao thượng này sẽ thấu suốt một cách trọn vẹn hết tất cả khía cạnh, góc độ, phương diện viên mãn về ngũ uẩn, thấy được bản chất của nó là khổ thì từ đó mới dập tắt hoàn toàn vô minh, tham ái đối với năm uẩn cho nên Niết-bàn là sự dập tắt hoàn toàn vô minh, không thấy không biết đối với năm uẩn và dập tắt hoàn toàn, cắt đứt tất cả sự khao khát tham ái trong năm uẩn này. Đó là pháp mà Bồ Tát Tất-đạt-đa hướng đến, hướng tìm, đó gọi là pháp giải thoát sanh tử, xuất ly ngũ uẩn, đó còn gọi là đi tìm cái gì chí thiện, tìm cầu vô thượng tối thắng an tịnh đạo lộ.
Từ đây chúng ta mới nhìn lại đời sống của chúng ta hiện tại, những cảm giác, nghĩ tưởng của chúng ta hiện tại, sự tu tập hiện ta của chúng ta ra sao. Chúng ta có nhàm chán, xa lìa đối với thân xác này không? Có nhàm chán, muốn xa lìa đối với những cảm giác không? Chúng ta có nhàm chán, xa lìa, muốn chấm dứt đối với những hình bóng, suy nghĩ trong tâm không? Chúng ta có nhàm chán, xa lìa, không tham muốn mà chỉ muốn đi đến chỗ an tịnh đối với những nhận thức, rõ biết này không hay chúng ta nắm chặt, chấp thủ vào đây cho là mình, là của mình. Nếu không chấp thân thì chấp tâm hoặc chấp pháp, đây là Thánh Pháp Ấn.
./.