Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Trí Tuệ Về Tham Dục

2026-03-03 00:53:45
Kinh Nikāya Giảng Giải

Trí Tuệ Về Tham Dục

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khổ vì "sắc uẩn" PAGEREF _Toc204009290 \h 1

II. Đau khổ vì tham ái, tham dục PAGEREF _Toc204009291 \h 6

III. Nhắc nhở tu học PAGEREF _Toc204009292 \h 17

I. Khổ vì "sắc uẩn"

Anh em cũng vậy hay là cha con, mẹ con, chị em, bạn bè đồng nghiệp cũng vậy, mình nghĩ rằng tại người kia làm cho mình khổ, huynh đệ trong chùa tu cũng vậy, tỷ muội cũng vậy, tu mà người kia không hợp với mình nên khổ quá, ở chung phòng khổ quá. Cái đổ thứ thừa thứ nhất ra phía ngoài là đổ thừa cho con người, thứ hai là đổ thừa cho tài sản, cuộc sống mưu sinh, cơm áo gạo tiền nhưng mà tiền trong tủ cũng đầy, ngân hàng trương mục cũng đầy hết nhưng mà cứ nói "bây giờ không làm lấy gì ăn", mấy người nghèo thì không nói nhưng mà những người đầy đủ, dư giả, thậm chí là ăn tới chết cũng không hết nhưng họ vẫn nói là cơm áo gạo tiền "không làm sao sống thầy?". Thí dụ kêu vô dự khóa tu thì "phải làm thầy ơi, phải cày, không làm sao sống, chết à", như vậy cái đổ thừa thứ hai là đổ cho vật chất, tiền của, cái vật chất này bao gồm luôn nhà xe, đất, sổ đỏ, sổ hồng, thẻ xanh, thẻ đỏ, cái đổ thứ hai là họ đổ cho vật chất, vì cái đồng tiền phải khổ như này.

Bây giờ mình nói những cái thông thường trước, quý vị mới vô đã nhảy vào ngũ uẩn tối thượng thánh pháp, thì đúng vậy đó nhưng mà bây giờ mình phải đi từ từ để mình thấy cái thực tế trước, rồi sau đó mới nhìn sâu vào trong pháp được, thực tế là như vậy. Mình có vì tình cảm mà khổ không? Mình có vì tiền bạc mà khổ không? Ngoài ra còn đổ thừa cho ngoại cảnh, căn nhà mình bị cháy, chỗ mình ở bị sụp thì khổ không? Chúng ta thấy những cái tiếng khóc kêu gào thảm thương, trong thời gian gần đây rất nhiều vụ hỏa hoạn, có chỗ chết năm mươi mấy người, bị thương gần cả trăm người, không thôi là chiến tranh, bây giờ xảy ra chiến tranh mới nữa. Như vậy con người làm cho mình khổ, vật chất tài sản làm cho mình khổ, hoàn cảnh làm cho mình khổ, hay là danh vọng, địa vị làm cho mình khổ, mình muốn vị trí đó, mình muốn được chỗ ngồi đó, mình muốn được cái ghế đó, mình phấn đấu hoài mà mình không được thì khổ không.

Như vậy là con người, tài sản, hoàn cảnh ở phía bên ngoài, rồi cái danh vọng, địa vị, tất cả cái này mình có khổ với nó nhiều không? Đó là cái nói khổ chung trong đời sống này, ăn uống có khổ không? Cái miếng ăn có khổ không? Mình chiêm nghiệm cả một cuộc đời của mình, lòng vòng ở trong đó, không có đi ra khỏi, từ khi mình sanh ra cho đến ngày mình vô hòm là bao nhiu nhiêu đó. Nếu người tu không có thành tựu chánh kiến cũng vậy thôi, một cái cách khác thôi, biến thể, một hình thức khác, ngoài đời thì khổ với căn nhà, còn người tu khổ với ngôi chùa, người đời khổ với vợ chồng, con cái, đi tu khổ với thầy trò, huynh đệ. Đây là cái nhìn của phàm phu, cái nhìn của Đức Phật sâu sắc lắm, nếu Đức Phật giống như cái nhìn của mình thì đâu có cái gì để mình học, lên đây mình học một chữ thôi, làm cho mình khổ chỉ có một chữ thôi, trước khi mình đi vào chữ đó phải chiêm nghiệm cái làm cho mình khổ không phải là ở bên ngoài, không phải tại con người kia, không phải tại món đồ nọ, không phải là tại cái chiếc ghế này, cái chiếc ghế kia, không phải tại cái bên ngoài.

Tại vì cả cuộc đời của chúng ta là một cuộc đời hướng ngoại, đâu có thấy được tâm mình, cả cuộc đời chúng ta là cả cuộc đời chạy theo năm thứ, năm cái này Đức Phật gọi là năm thứ làm cho mình nuôi lớn lòng ham muốn, gọi là năm dục trưởng dưỡng bao gồm sắc, tiếng, mùi, vị, sự đụng chạm. Sắc do mắt nhận thức, cái sắc này nó là khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn hoặc là kích thích lòng dục. Cái sắc này đáng vui, đáng nhìn, đáng ưa, đáng thích, vừa lòng thích ý, kích thích lòng tham muốn của con người, vậy mình có khổ với cái này không. Bây giờ mình chỉ ra từng tên, ngọn ngành, căn nguyên, gốc rễ của khổ. Sắc làm mình chảy không biết bao nhiêu là nước mắt, không biết bao nhiêu là thời gian, không biết bao nhiêu là công sức, không biết bao nhiêu là máu, không biết bao nhiêu là những sự lao tâm khổ tứ, lo lắng, suy nghĩ, nhọc nhằn, bất an, khổ sầu, sợ hãi, thậm chí là tù tội cho đến mất mạng cũng vì có một chữ này.

Thành ra một chữ này là trùm hết cả cái địa cầu, sắc là thế giới vật chất, một chữ của Đức Phật là bao trùm cả trái đất, chúng ta thấy khủng khiếp cái trí tuệ thánh trí của Đức Phật, mình khổ với cái sắc này. Tại sao tiếc không dám cạo cái đầu? Tại sợ mất cái đẹp, đó là sắc, sự chấp thủ vào trong cái sắc, nói thì hay lắm, khóc ầm ầm tới chừng cạo đầu không dám cạo, "thôi ai cạo đi, tôi không cạo". Đi chùa một hồi đi ra mất tiêu dép, ở đây còn đỡ tại dép đây có một màu, vô đây là phá cái của riêng hết cho nên quý Phật tử ở trong đạo tràng Linh Quy cũng có trí tuệ, hiền trí đó, cho dép giống với nhau hết khỏi có của ai, có của ai là mệt à, của ai mà người khác mang vô là khổ. Khổ với sắc, khổ với đôi dép, mất bộ đồ nên khổ. Một chữ sắc thôi mà chiêm nghiệm là đủ sức thành A-la-hán, sắc này phải có bảy loại trí tuệ cho nên ở đây chúng ta học cái tổng quát.

Cái am tranh hay là cái tòa lâu đài có phải sắc không? Một người ăn xin bò lếch, cụt hai tay hai chân, đi bằng cái bụng tức là họ làm tấm ván gắn bốn cái bánh xe và họ nằm lên đẩy tấm ván đó nhích lên, đó cũng là sắc. Một người nam vương quốc tế có phải sắc không? Một người cụt hai tay hai chân lê lếch dưới đường có khổ không? Nam vương có khổ không? Có những cái khổ khác nhau, mình sẽ học bảy cái trí nhưng chỗ quan trọng ở đây là vô văn phàm phu không có học chánh pháp, không có được nghe, không được dạy, không được suy tư, không được quán chiếu, không được thiền quán, không được chiêm nghiệm, không được tu tập thì mình nhìn cái nào là nó ra cái nấy. Nhìn cây tùng ra cây tùng, nhìn cái bông sen ra cái bông sen, nhìn cái kính cận ra cái kính cận, lỡ người ta gỡ cái kính cận ra thì không thấy đường là một lẻ rồi nhưng mà quan trọng là cái cảm thọ của mình sanh khởi như thế nào.

Vậy là có phải tại sắc mà khổ không? Con mắt có phải sắc không? Cái kính cận có phải sắc không? Cái người đó có phải sắc không? Tất cả đều là sắc hết, hằng ngày mình sống với sắc cho nên Thế Tôn ví dụ cái con chó buộc vô cây cột bằng một sợi dây thừng, con chó này nó có đi, có đứng, có ngồi, có nằm, có chạy, có nhảy, có sủa, có kêu gì đi nữa thì nó cũng quẩn quanh cái cây cột thôi, cột đó là sắc và cái sợi dây thừng đó là tham ái ở trong sắc, lòng ham thích, thích muốn, tức là dục, tham, ái.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, có con chó bị dây thằng trói chặt vào một cây cột trụ vững chắc. Nếu nó có đi, nó chỉ đi tới cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó đứng, nó chỉ đứng gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó ngồi, nó chỉ ngồi gần cây cột hay cột trụ ấy. Nếu nó nằm, nó chỉ nằm gần cây cột hay cột trụ ấy.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu quán sắc: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi', quán thọ... quán tưởng... quán các hành... quán thức: 'Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi'. Nếu người ấy có đi, người ấy chỉ đi tới năm thủ uẩn này. Nếu người ấy đứng, người ấy chỉ đứng gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy ngồi, người ấy chỉ ngồi gần năm thủ uẩn này. Nếu người ấy nằm, người ấy chỉ nằm gần năm thủ uẩn này." (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, VIII. Dây Thằng)

Cái muốn, ham, thích là thủ phạm, cái đó làm cho mình khổ cho nên giáo pháp của mình là giáo pháp ly tham tối thượng giải thoát ham muốn, thích, khoái, ưa, thèm thuồng, khao khát, thèm khát, đói khát, khát ái với cái sắc này. Cả một cuộc đời mà không phải một đời, mười đời mà không phải mười đời đâu, trăm đời, ngàn đời, trăm ngàn đời, trăm ngàn vạn đời, vô lượng, vô số, vô biên và không biết từ hồi nào đến bây giờ gọi là vô thỉ kiếp là ham muốn, khoái, thích sắc đó. Bao nhiêu nước mắt, bao nhiêu máu, bao nhiêu sinh mạng, bao nhiêu suy nghĩ, lo toan, tính toán, mưu mô xảo quyệt, gian trá, lừa đảo, tạo ra bao nhiêu thứ nghiệp là vì cái lòng ham, muốn, thích cái sắc ác độc này. Sắc này Đức Phật gọi là hố than hừng, gọi là than đỏ.

"Sắc là than đỏ, này các Tỳ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!

Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức.

Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: 'Ta đã được giải thoát'. Vị ấy biết rõ: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'." (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, I. Than Ðỏ Hực)

Chúng sanh khi mình nhìn thấy một cái sắc là bị đốt liền, khi mình nhìn thấy một cái sắc bực bội khó chịu là đốt cháy liền, khi mình nhìn thấy một cái sắc không khó chịu không dễ chịu, mình tưởng đâu là ngon rồi, nhưng đốt cháy với tâm si, ba trạng thái đều bị hết. Chỉ có bậc Đa văn thánh đệ tử mới biết cách thoát ra ba cảm thọ đó, mình nhìn cái đẹp thì mình mê, mình nhìn cái xấu thì mình không ưa, mình ghét, còn bây giờ không đẹp không xấu, bình thường mà mình không biết bản chất của sắc, bản tánh của sắc, mình thấy có con người thật, căn nhà thật, chiếc xe thật, miếng đất thật, cái sổ hồng, sổ đỏ thật thì cái đó vẫn là si mê. Như thế là cái con chó đó nó cứ chạy lòng vòng cây cột đó dầu cho nó có nằm, có đi, có đứng, có ngồi, có sủa, có kêu, có làm bất cứ cái gì thì nó cũng chạy vòng quanh cây cột, trừ khi cắt được sợi dây đó nhưng biết đến bao giờ mới cắt đứt được sợi dây đó.

"Nhân duyên ở Sàvatthi...

Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

-- 'Ðoạn diệt sợi dây tái sanh. Ðoạn diệt sợi dây tái sanh', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Thế nào là sợi dây tái sanh, bạch Thế Tôn? Thế nào là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh?

-- Này Ràdha, phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với sắc, như vậy gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh.

... đối với thọ... với tưởng... với các hành...

Phàm dục gì, tham gì, hỷ gì, khát ái gì, phàm những chấp thủ phương tiện, tâm kiên trú, thiên chấp tùy miên gì đối với thức, đó gọi là sợi dây tái sanh. Sự đoạn diệt chúng là sự đoạn diệt sợi dây tái sanh." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương II. Tương Ưng Ràdha, I. Phẩm Thứ Nhất, III. Sợi Dây Tái Sanh)

Dục, tham, ái tức là muốn, ham, thích, chấp thủ là nắm giữ vào trong cái sắc này, cái tâm muốn, ham thích, nắm giữ chặt vào trong sắc này đó chính là sợi dây buộc con chó chạy lòng vòng cây cột, chính là buộc chúng sanh vào trong luân hồi. Học cái này là chúng ta phải chiêm nghiệm thật là kỹ, phải chêm nghiệm thật là nhiều, phải chêm nghiệm thật là sâu sắc. Chúng ta ngồi chiêm nghiệm coi tất cả cái khổ của mình có phải từ cái ham, thích, muốn, khoái, đi tìm cái đó không?

"Này các Bà-la-môn, năm dục trưởng dưỡng này được gọi là thế giới trong Luật của bậc Thánh. Thế nào là năm?

Các sắc do con mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức... các hương do mũi nhận thức... các vị do lưỡi nhận thức... các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn.

Này Bà-la-môn, năm dục trưởng dưỡng này được gọi là thế giới trong Luật của bậc Thánh." (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, IV. Ðại Phẩm, (VII). Các Bà-La-Môn)

Bây giờ làm thế nào để thấy sự nguy hiểm và tác hại của năm dục trưởng dưỡng này?

"Sắc này bị suy già,

Ổ tật bệnh, mỏng manh,

Nhóm bất tịnh, đổ vỡ,

Chết chấm dứt mạng sống."

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 148)

Đây là bài kệ trong kinh Pháp Cú nói về sự nguy hại của sắc, sắc này dầu cho đẹp tới cỡ nào đi nữa rồi cuối cùng cũng suy tàn, suy hao, suy kiệt, suy già nhưng mà không đợi tới già mới suy, mới bốn mấy tuổi thôi mà răng sắp sửa rụng hết rồi, giờ cắn đồ cứng không nổi nữa, bây giờ mới có mấy tuổi bệnh ung thư. Sắc này là hang ổ, sào huyệt của tất cả các chứng bệnh, nó nằm trong này. Tại sao có ra bệnh viện? Tại vì có cái thân này, không có thân này sao có bệnh viện? Tại sao có ra cái toilet? Tại vì có cái thân này. Tại sao có ra bao nhiêu thứ thuốc? Tại vì để điều trị cho cái thân này, cái này là ổ tật bệnh, cái hang ổ, cái sào huyệt, cái căn cứ địa của tất cả chứng bệnh nằm trong thân này, chẳng qua là nó chưa có trổ ra thôi, chẳng qua là nó chưa có bày ra thôi, chẳng qua là nó chưa có lộ ra thôi. Nó bày, nó lộ ra là ôi thôi tàn tạ, tả tơi, nhơ nhớp, bẩn thỉu, tanh hôi, xú uế, nhầy nhụa, ghê tởm, bất cứ đồ bén nhọn đụng nhẹ vào thân này là chảy máu.

II. Đau khổ vì tham ái, tham dục

Đức Thế Tôn là phơi bày những cái gì bị che kín, bây giờ chúng ta sống suốt cuộc đời nhiều khi chưa có một lần nào ngồi để chiêm nghiệm, quán xét, suy tư sự thật những cái gì đang có ở bên trong này, không có thấy, không có nghe, không có được học, không có được suy tư, quán chiếu, thành ra chúng ta bị cái sắc này hại. Ai tôn trọng cái thân này là ta thương, ta mến, ai xem thường cái thân này là ta hận, ta thù mà ta không biết rằng đây là sắc, ta cứ nghĩ đây là ta, là của ta, là tự ngã của ta cho nên toàn bộ kinh tạng Nikāya giúp cho mình thành tựu trí tuệ về năm uẩn, thấy được bản chất sự thật của cái sắc này. Chúng ta thấy không ngồi càng cao té càng đau, mình thấy, mình nghe, mình cảm xúc vậy đó, mình đi đám ma rồi người thân mình chết, rồi cha chết, mẹ chết, ông chết, bà chết, cô chết, chú chết, hàng xóm chết, mình đi đến cũng khóc chút xíu rồi trở về cũng nghĩ là mình sống chứ mình không có chết, không bao giờ nghĩ mình chết, mình đi thăm bệnh thì mình cũng không bao giờ nghĩ là mình bệnh, mình gặp mấy người bị tai nạn thì thấy tội nghiệp chứ không nghĩ rằng có khả năng mình cũng bị tai nạn.

Đó là cái tâm hôn mê, cái tâm si ám, cái tâm mê muội, cái tâm mù lòa cho nên có một bài kinh Đức Phật nói lúc đó ngài thành tựu định các tầng định rất thâm sâu nhưng ngài tu mà không thấy tiến bộ, cuối cùng ngài mới suy xét kỹ thì sau đó ngài phát triển cái quán nguy hại này lên thì cuối cùng ngài đoạn tận hết tất cả lậu hoặc và chứng thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

"- Này các Tỳ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chánh đẳng giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: 'Cái gì là vị ngọt ở đời? Cái gì là nguy hại, cái gì là xuất ly?'. Rồi này các Tỳ-kheo, về vấn đề ấy, tư tưởng sau đây khởi lên nơi Ta: 'Do duyên với đời, khởi lên lạc hỷ gì, đấy là vị ngọt ở đời. Cái gì ở đời là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hại ở đời. Điều phục dục tham ở đời, đoạn tận tham dục, đấy là xuất ly ở đời'.

Này các Tỳ-kheo, cho đến khi nào Ta chưa thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, Ta không có xác nhận Ta đã giác liễu vô thượng Chánh đẳng giác, cùng với thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Này các Tỳ-kheo, cho đến khi nào Ta như thật giác tri vị ngọt ở đời là vị ngọt, nguy hại là nguy hại, xuất ly là xuất ly, cho đến khi ấy, này các Tỳ-kheo, Ta mới xác nhận Ta đã giác liễu vô thượng Chánh đẳng giác, cùng với thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người. Và tri kiến khởi lên nơi Ta: 'Bất động là tâm giải thoát của Ta. Đây là đời sống cuối cùng. Nay không còn tái sanh nữa'." (Tăng Chi Bộ, Chương III. Ba Pháp, XI. Phẩm Chánh Giác, Trước Khi Giác Ngộ).

Đây là chủ đề thiền quán rất là quan trọng, sự nguy hiểm và tác hại của sắc, nguy hiểm và tác hại của lòng tham, mình phải quán, mình phải chiêm nghiệm, suy tư phải sự thật của sắc này hằng ngày hằng giờ khi mình thấy, mình nghe, mình tiếp xúc, mình phải nắm bắt những cái sự thật mà nó diễn ra trước mắt mình, bên cạnh mình, chung quanh mình, trong nhà mình, người thân của mình và ngay trên thân của mình.

Mình cứ nghĩ tới cái vị ngọt của nó không à, mình không có quán cái nguy hại của nó, vị ngọt là cái này khỏi cần nói rồi, cả cuộc đời mình chạy theo vị ngọt của sắc, mình chạy trốn vị đắng của nó, mình tránh né sự tàn tạ của nó. Cho nên là bệnh là giấu không dám nói, trong tâm có phiền não cũng giấu không dám nói, che hết, đậy hết, lắp hết, phủ hết, bao hết đó gọi là chữ uẩn. Mình để ở trong đó là một cái đống đau khổ, trong đó một đống to lớn đại khổ uẩn ở trong tâm mình, ngay cả người thân thương nhất ở trong gia đình mà không nói được, mình không có chia sẻ được, mình giấu mấy cái đó, mình cất trong đó bốc mùi lên cho nên sự tu học chúng ta là khai mở mấy cá đó ra hết. Người nào mà giấu giấu che che thì không có học pháp này được, mở cái nó ra hết, tự rộng rồi chúng ta sẽ thấy thánh trí rọi vào khai mở cảm thọ làm cho cảm thọ của mình từ tê cứng một người bị tê liệt rồi mình điều trị vật lý trị liệu, bấm huyệt này kia, xoa bóp đủ thứ, trong uống ngoài xoa thì từ từ nó mềm lại, từ từ nó nhũng ra, tan ra rồi nó hòa cùng với một cái tâm hiền thiện, ngọt ngào thì lúc đó mới đủ cái điều kiện thể nhập vào thánh pháp này. Cái tâm mình mới nó còn cứng cỏi lắm cứng cõi lắm.

Nay con xin tập hạnh tâm hiền,

Hiền lành, lắng dịu, chẳng phiền ai,

Dễ chịu, dễ thương và dễ mến,

Dễ bảo, dễ nghe pháp Thánh hiền.

Khi mình chưa tu ở trong cảm thọ mình rất khó chịu, khó nghe, khó bảo, cứng chắc, khi mình tu cái này rồi nó từ từ sẽ mềm mại, nhu nhuyến, dễ sử dụng nửa tháng là nó mềm ra, nếu mà nó chưa mềm thì lên tiếp tục ở lại, không có cho xuống núi, tu đến khi nào nó mềm ra, nó nhũng ra, nó tan ra, nó chảy ra, nó trở thành nước với sữa hòa hợp không còn chia cách được nữa. Chúng ta đem nước với sữa trộn chung với nhau thì chúng ta còn tách nước cái sữa ra riêng được nữa không? Tất nhiên là không, cho nên tại sao ở đây chúng ta thấy các thầy, các cô dễ thương là tu vậy đó, chúng ta ứng dụng cái này đem về nhà sẽ giúp ít cho gia đình của mình rất là lớn.

Sự đau khổ của chúng ta là cái tâm ham thích ở trong sắc; thanh; hương; vị; xúc chứ không phải là cái ở bên ngoài, bên ngoài thức ăn và cái sâu thẳm bên trong khi chúng ta nhận diện được thọ; tưởng; hành; thức như Đức Phật giải thích trong kinh:

"- Này các Tỳ-kheo, cần phải biết các dục, cần phải biết các dục duyên khởi, cần phải biết các dục sai biệt, cần phải biết các dục dị thục, cần phải biết các dục đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các dục đoạn diệt, đã được nói như vậy. Và do duyên gì được nói như vậy?

Này các Tỳ-kheo, có năm dục trưởng dưỡng này: Các sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả ý, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Các tiếng do tai nhận thức... các hương do mũi nhận thức... các vị do lưỡi nhận thức... các xúc do thân nhận thức... khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỳ-kheo, dầu chúng không phải dục, chúng được gọi là dục trưởng dưỡng trong giới luật của bậc Thánh." (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Dù chúng không phải là sự ham muốn nhưng chúng được gọi là dục trưởng dưỡng trong giới luật của bậc thánh. Cái sắc đẹp đó, cái tiếng hay đó, cái mùi vị ngon, hấp dẫn đó, sự đụng chạm đó làm lớn lên lòng tham muốn của mình.

"Các tư duy tham ái,

Là dục của con người,

Các hoa mỹ ở đời,

Chúng không phải là dục,

Các tư duy tham ái

Là dục của con người,

Các hoa mỹ an trú

Như vậy ở trên đời,

Ở đây những bậc Trí,

Nhiếp phục được lòng dục." (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

"Các tư duy tham ái là dục của con người", đây là chỗ quan trọng, cái thọ; tưởng; hành ham muốn, thích, khoái đó, các tư duy đó là những suy nghĩ muốn, ham, thích, cái đó làm cho mình khổ. Nếu mình không có nhận diện được ngũ uẩn, mình không biết được thọ; tưởng; hành; thức làm sao mình biết được cho nên kẻ vô văn phàm phu là đổ cho người này người kia, cảnh này cảnh nọ, vật này vật kia chứ người ta đâu có thấy được thọ; tưởng; hành. Chúng ta đã thấy tại sao phải nhận diện ngũ uẩn chưa? Đó chính là công năng của việc nhận diện ngũ uẩn, nếu không chịu nhận diện ngũ uẩn thì làm sao thấy được nguyên nhân của khổ.

Nguyên nhân của khổ nằm ở trong thọ; tưởng; hành; thức mà bây giờ mình không có nhận rõ ở trong, mình lẫn lộn thì mình không thể nào thấy được nguyên nhân của khổ hết, mà không thấy nguyên nhân của khổ mình có thể diệt khổ được không, mình không thấy được tại sao mình bệnh, nguyên nhân gì sanh ra bệnh, bệnh gì, bệnh trạng ra làm sao thì làm sao trị liệu được bằng cái thuốc gì cho nên mình nhìn vô thọ; tưởng; hành, lắng nghe thọ; tưởng; hành; thật kỹ để mình nhìn ra được những cái suy nghĩ, nhìn ra được những cái hình bóng, nhìn ra được những cái cảm giác, cảm xúc.

Khi mình nhìn ra được cái đó rồi mình mới thấy các tư duy tham ái là dục của con người, suy nghĩ ý hành đó, cái lời nói lầm thầm ở trong tâm đó, các cái suy nghĩ muốn, thích, khoái đó, cái suy nghĩ đó nó giết người, đó cái suy nghĩ đó là chủ nhân của mình. Mình là đầy tớ cho cái suy nghĩ đó cho nên trong kinh Đức Phật nói thân này là thiếu thốn, là khao khát, là nô lệ cho tham ái.

"Thế giới là thiếu thốn, khao khát, nô lệ cho tham ái, thưa Ðại vương, đó là thuyết giáo Chánh pháp thứ tư, do Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Do tôi biết, tôi thấy, tôi nghe thuyết giáo ấy, mà tôi xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình." (Trung Bộ Kinh, 82. Kinh Ratthapàla)

Tham ái ở trong cái suy nghĩ của mình rồi giờ mình không nhận diện ngũ uẩn thì làm sao mình biết? Đầu tiên là mình phải biết được cái suy nghĩ, biết được cái hình bóng, biết được cảm thọ, biết được nhận thức rồi sau đó mình mới đào sâu ở bên trong, cái này mới chỉ mở cái cửa thôi, còn nhiều phòng nữa, những cái từng hầm nữa. Thành ra chúng ta phải nắm thật là vững nhận diện ngũ uẩn, đó là cứu mình, cứu giúp mình, cứu độ mình là cái đó, Đức Phật độ mình, Phật cứu mình, Phật giúp mình, Phật phóng hào quang cho mình là giúp mình nhìn thấy được ngũ uẩn. Ở đây ngài giải thích cho mình thế nào là các dục, năm cái thứ mà nãy chúng ta đã nói là sắc; thanh; hương; vị; xúc, người đẹp, đồ đẹp, cảnh đẹp chỉ là thức ăn thôi, những âm thanh du dương, những hương vị thơm tho, ngọt ngào, ngon lành và những cái sự tiếp xúc đụng chạm chỉ là thức ăn còn cái thật sự đó là những suy nghĩ bên trong của mình. Những cái suy nghĩ đó chính là thủ phạm thật sự làm cho chúng ta đau khổ, những cái suy nghĩ ham, thích, muốn, khoái, những cái suy nghĩ khao khát, thèm khát, đói khát, khát ái từ trong cái thọ dâng lên mới có ra những cái hình ảnh rồi những lời nói lầm thầm đi theo ở trong đó.

Từ ở trong cái cảm thọ dâng lên luôn luôn là một sự đói vĩnh hằng, khát muôn thở là cái bản chất của cảm thọ này, không bao giờ nó no hết, ăn bảy mươi năm rồi vẫn còn thèm, mặc cả cuộc đời vẫn còn muốn, đi hết cả cái địa cầu này rồi nhưng mà cái lòng hướng ngoại vẫn còn muốn đi nữa, thậm chí là chết ở trên con đường đi du lịch. Chỗ này là chỗ thâm sâu của thánh trí tuệ, thâm sâu cực kỳ thâm sâu, phải nhận diện ngũ uẩn mới thấy, nó đói muôn thở, nó khát vĩnh hằng, nó không bao giờ thỏa mãn cho nên chữ khổ trong kinh tạng Nikāya là bất toại nguyện. Mình khổ là do mình không có vừa lòng, mình còn muốn nữa mà ông chủ ra lệnh đó là những cái tư duy tham ái, những cái suy nghĩ ham muốn, thích, khoái, những cảm thọ ở dưới này nung lên, những hình bóng hiện ra, những lời nói lầm thầm chạy lên loanh quanh, thọ; tưởng; hành dính chùm lại với nhau.

Suốt ngày, suốt tuần, suốt tháng, suốt năm, suốt thập kỷ, suốt cả một cuộc đời là mình làm nô lệ, tay sai, đầy tớ cho những cái tư duy tham ái đó vô lượng, vô biên kiếp. Mình là đệ tử của tham ái, tham dục, mình là đầy tớ của lòng khao khát, mình là nô lệ cho những cái ham muốn, khoái, thích, không bao giờ dừng lại, không bao giờ đầy, không bao giờ đủ. Như vậy khổ vĩnh hằng, mãi mãi nhưng nhờ hai tuần lễ này chính là những lúc mà chúng ta làm cho an tịnh, lắng dịu cái cảm giác thèm thuồng, thèm khát, thèm muốn và khát ái đó. Chúng ta đang làm cho nó lắng diệu, an tịnh xuống và chúng ta bắt đầu nhìn ra được cái nguyên nhân của khổ nằm bên trong cái sự thúc giục, nó đòi hỏi trong này. Phải tập nhìn, mình có đi trong sự thúc giục không, nếu thì nhiếp phục đi chậm lại, trong phần chánh quán thọ thực có đoạn "Nếu thấy có dục, ái trong thân tâm thì như lý tác ý để diệt dục, ái".

Tất cả sự tu hành của mình là nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham, nếu mình không nhận diện thọ; tưởng; hành làm sao mình thấy được dục tham, không thấy được nó thì làm sao nhiếp phục, chế ngự nó, làm sao mình đoạn tận nó. Khi mình nói có thúc giục không? Mình có ham nói, mình có muốn nói không? Mình có khoái nói không? Mình có ưa nói, mình có thích nói không? Mình có nói ở trong dục không? Chính vì mình nói ở trong dục, mình nói ở trong sân, mình nói ở trong bản ngã cho nên người kế bên mình, đầu ấp tay gối, vợ chồng, mẹ con, cha con, anh em mình không có nghe rồi sao mình hiểu? Cho nên mình đâu có cảm thông, mình có những sự hiểu lầm, không có cảm thông rồi cuối cùng có những cái mâu thuẫn bất hòa, từ từ đi đến chỗ đổ vỡ. Trong công ty cũng vậy, huynh đệ tu cũng vậy, trong đạo tràng cũng vậy, đừng có để nói trong dục, làm ở trong dục, suy nghĩ ở trong dục, mình chỉ biết cái gì mình thích thôi còn xung quanh mình không biết ai hết, thích cái đó là mình cứ muốn làm cái đó, còn người ta có tổn hại, người ta có bị suy hao thì kệ người ta.

Mình không có nhìn ra được cái suy nghĩ đó, cái cảm thọ đó, cái hình bóng đó, mình cứ làm cái mình muốn làm là làm trong dục. Mình cứ nói cái mình muốn nói là nói trong dục, mình không lắng nghe câu hỏi đó là cái gì và người đó mình cần nghe hay là cần nói, mình gặp là từ đầu tới cuối mình xổ ra xong người ta chạy mất dép luôn. Mình không có lắng nghe để mình hiểu người đó cần cái gì, người ta đang muốn cái gì, người ta đang gặp khó chỗ nào thành ra chúng ta thấy cái dục chi phối cùng khắp hết, nói ở trong dục, làm ở trong dục, đi ở trong dục, lái xe ở trong dục, hành động ở trong cái dục, đóng cửa ầm ầm, đi đùng đùng, đụng tô là rớt tô, bưng chén là bể chén, đụng tới đâu là rầm rầm tới đó. Những cái tâm mà nó loạn động, nó bạo động, nó dao động như vậy đưa mình đến chỗ lỗi lầm, tai họa, bất trắc vì mình không có kiểm soát được cảm thọ, mình không có quản lý được cảm thọ. Mình thích quản lý thiên hạ lắm, mình thích quản lý cái này, cái kia, cái nọ bên ngoài mà mình không có quản lý tâm của mình.

"Này các Tỳ-kheo, thế nào là các dục duyên khởi? Xúc, này các Tỳ-kheo, là các dục duyên khởi" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Tại sao dục sanh khởi lên? Cái ham, cái muốn, cái khoái, cái thích tại sao sanh khởi lên? Là do mình tiếp xúc, những cái này đó nó là tâm lý học tối tôn tối thượng của Đức Phật. Nếu mình không có gặp người đó mình thì có thương hay ghét không? Không gặp người đó thì mình có thương được không? Không có thấy hình ở trên mạng cũng không có thấy qua tiếp xúc gián tiếp, trực tiếp, không nghe, không thấy, không biết gì hết rồi mình có yêu được không? Tại sao mình thương? Tại sao mình thất tình, mình tương tư? Tại mình tiếp xúc, trong cái xúc này có sáu xúc, không phải chỉ đụng chạm trên thân, con mắt nhìn là nhãn xúc, lỗ tai nghe âm thanh là nhĩ xúc, tiếp xúc cái mũi, cái mùi, tiếp xúc bằng cái lưỡi, tiếp xúc bằng cái thân và tiếp xúc trong cái ý, tức là mình về không còn gặp người đó nữa nhưng hình bóng người đó có trong tâm, cảm giác nó còn, suy nghĩ về người đó có, cho nên có sáu xúc.

Từ cái tiếp xúc đó mà có ra muốn, thích, ham, cho nên xúc tập khởi thì thọ tập khởi, xúc đoạn diệt là thọ đoạn diệt vì tiếp xúc nó sanh ra cái cảm giác thích, muốn hay là ghét bỏ. Nếu mình cắt cái xúc là không có nữa, xúc đoạn diệt là thọ đoạn diệt. Thí dụ một người làm mình hết sức giận, bực bội thì có hình bóng người đó trong tâm, có cảm thọ khó chịu, mỗi khi mình nghĩ tới là có suy nghĩ về người đó, nếu mình cắt hết hình bóng đó, cảm giác đó, những cái suy nghĩ đó mình không cho nó sanh khởi lên nữa thì xúc đoạn diệt là thọ đoạn diệt thì hết giận. Tuyệt diệu không? Tối thượng không?

Cái thương cũng giống vậy thôi, mình đọc thì không có hiểu đâu, mình phải tu, phải thực tập, phải được hướng dẫn mình mới hiểu. Xúc tập khởi là thọ tập khởi, xúc đoạn diệt là thọ đoạn diệt, tức là mình tiếp xúc thì mình sẽ thích, mình muốn, mình ham. Nếu mình không còn tiếp xúc nữa thì chúng ta cứ nghĩ rằng không gặp thì thôi nhưng mà có nhớ không? Thí dụ bây giờ mình thương một người, mình đi qua tới bên Mỹ còn thương không? Tại sao không có tiếp xúc mà còn thương? Hình bóng ở trong tâm mình vẫn còn nuôi dưỡng cảm thọ đó, mình vẫn còn ôm ấp và những cái suy nghĩ đó mình vẫn còn chất chứa, chính vì vậy lòng dục, lòng tham, lòng ái đó vẫn còn tồn tại, được cho ăn thức ăn, mỗi ngày đem ra nhớ là cho ăn thì làm sao không nhớ được.

Mỗi lần mình nghĩ tới người mình thương hoặc người mình giận, mỗi một lần hình bóng hiện lên thì cảm thọ đi theo, có suy nghĩ đi theo mà cái đó mình chấp nhận, giận nhưng mà mình thích nổi lên cho tức vậy đó thì mới trở thành quân tử trả thù mười năm chưa muộn, mới có ra chuyện tương tư, thất tình, tự vẫn, tự tử là tại vì nó cứ đồ lên hoài. Cứ mỗi lần nó khởi lên là giống như mình vẽ bút chì thêm một nét lên, mình tô lên một nét, cứ mỗi lần nó khởi lên cái cảm thọ đó mình chấp nhận nó, mình cho nó thêm một cái nét nữa, mỗi lần khởi lên suy nghĩ như vậy là mình ưa thích, mình muốn thêm một nét, thậm chí thêm nhiều nét cứ vậy mà tô bức tranh càng ngày càng đậm lên, mà người kia thì chết mất rồi thì người này cũng phải chết theo để được gặp.

Ở chùa Bửu Liên có cô Phật tử có một con gái nhưng đã chết, cô bé rất đẹp, học rất giỏi, thông minh, hiền thục thương một cậu con trai nhưng gia đình không chấp nhận. Thế rồi hai người buộc dây vô chân rồi cột thêm đá nặng nhảy xuống sông chết, bà mẹ mỗi lần đi vào đó là bao nhiêu năm rồi nước mắt đầm đìa đầy mặt hết, đau khổ, hối hận, ray rứt, đó là trạo hối, hối tiếc, hối lỗi, chết nhiều năm rồi, hai hũ cốt để trong chùa Bửu Liên, một người mới hai mươi, một người hai mươi mốt tuổi. Chúng ta mới nhìn thấy cái thâm sâu đó là thọ; tưởng; hành, gặp người đó có một chút xíu, đâu có gặp lâu nhưng mà về nó ám ảnh cái hình bóng đó, cái hình bóng lờ mờ đó cứ chập chờn trong tâm hoài, nó cứ hiện hoài ở trong tâm, khi nó sanh khởi lên những cái cảm thọ sanh khởi theo, cái suy nghĩ sanh khởi theo và rộng ra là một cái thức. Cái thức ở trong tham ái, trong cái dục, tì người này cứ xà quần ở trong đó, đi ra không được, vô ma trận, cái hình bóng cứ hiện khởi lên, cái cảm giác đó, cái suy nghĩ đó, cái nhận thức cứ lòng vòng lòng trong đó, đi ra không được, nó vô mê hồn trận.

Ý trung nhân tức là cái hình bóng nó trong tâm đi ra không được, cứ đau khổ hoài, đó là cái người không biết pháp, còn bây giờ mình biết pháp rồi mình thấy nó chỉ là thọ; tưởng; hành thôi. Hồi nãy cũng suy nghĩ mà nó tham ái, bây giờ mình cũng dùng cái suy nghĩ ly tham, phá ái, diệt dục thì như vậy gọi là dùng suy nghĩ đập suy nghĩ, dùng suy nghĩ đánh suy nghĩ, dùng suy nghĩ diệt suy nghĩ, đó gọi là chiến đấu cũng là tu. Thành ra cái tu của mình là dùng cái suy nghĩ này đập suy nghĩ kia, dùng cái suy nghĩ này trừ cái suy nghĩ kia, dùng cái suy nghĩ này để phá đánh phá cái suy nghĩ kia, mà đánh phá lúc đầu là bên kia mạnh lắm, nó như lực sĩ và bên đây giống như xì ke cho nên nói ra chống liền, nó biết cái này là đúng, là hay, là Phật pháp nhưng bên trong nó vẫn chống.

Lúc đầu nó vậy nhưng mà từ từ mình nuôi cái anh ốm này cho nó lên thêm, nghe pháp mỗi ngày, tác ý liên tục để nó mập lên ba kí, năm kí, bảy kí, ba mươi kí, tám mươi kí, cơ bắp cuồn cuộn cầm thêm cái thiết bản nữa, gọi là gậy như ý tức là tinh tấn lực. Như vậy mình nuôi cái thánh trí này nó lớn lên thì bây giờ hai bên là 50-50, hai bên ngày nào cũng đánh trận, sáng đánh, trưa đánh, chiều đánh, tối đánh, nằm chiêm bao cũng đánh trận luôn thì như vậy thời gian là năm ăn năm thua, sau đó một thời gian là mình tập trung tất cả tâm ý vào trong thánh trí, ngày đêm như lý tác ý, chiêm nghiệm pháp, đi ỉa cũng chiêm nghiệm, đi đái cũng chiêm nghiệm, ăn cơm cũng chiêm nghiệm, quét nhà cũng chiêm nghiệm, mặc đồ, lau nhà, rửa chén, tắm giặt… tất cả mọi lúc, lúc nào cũng chiêm nghiệm pháp hết không có rời thì như vậy thể nhập, thâm nhập, chứng nhập, Nhập Lưu vào luôn.

Cho nên cái tâm này là một cái tâm chống đối, một cái tâm ngã mạn, một cái tâm ngu si, một cái tâm hôn ám, vô minh, một cái tâm khát ái. Một cái tâm không thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức gọi là vô minh, vô minh là không thấy, không biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Vì nó không thấy, không biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức là biến đổi, là tật bệnh, là ung nhọt, là tai họa, là đau khổ, là bất an, là lo lắng, là sợ hãi, là trống rỗng, trống không, vì nó không thấy, không biết điều đó cho nên nó ham, nó thích, nó khoái, nó muốn, nó ưa, nó thèm, nó khát, nó khao. Khi nó ưa, nó thích, nó muốn, nó khoái, nó thèm, nó khát thì nó đi tìm kiếm, hang hùm miệng cọp cũng vô nữa, nó tìm không được thì đau khổ, nó cũng muốn chết cho nên có những trường hợp người ta tự vẫn.

Vì nó không được cái dục, cái ái đó, cái ham, cái thích, cái khoái, cái muốn thì bây giờ chết cho rồi, muốn không được thì chết. Như vậy vì cái dục ái đó mà nó sống, cũng vì cái dục ái đó mà nó chết. Cha mẹ có phải dục ái sanh ra mình không? Từ ái mình sanh ra, từ dục đó mình sanh ra rồi cũng từ ái, từ dục đó mình đau khổ, cũng từ ái, từ dục đó mà mình chết, cũng từ ái, từ dục đó mà mình đi luân hồi. Lúc sắp ra đi, thở những hơi cuối cùng rồi mà vẫn ráng "má còn việc này chưa làm, con làm giúp má", vẫn còn muốn nữa thì cái tâm đó sẽ luân hồi. Hoặc là gọi người về cho gặp lần cuối rồi chết, đó là nhãn xúc, đó là sợi dây tái sanh. Có nhiều người gần chết rồi đem hũ vàng ra cho nhìn lần cuối vì cất chứa bốn mươi năm mà giờ chết không nhìn là không chịu, suy nghĩ không biết chia cho đứa nào nhiều, đứa nào ít, chết ngay cho chỗ đó là thôi khổ lắm. Thành ra nó ám ảnh trong tâm mình, cái chỗ thâm sâu là thọ; tưởng; hành.

Người ta chửi câu đó đâu có bao lâu đâu, có ba mươi giây hay một phút thôi nhưng mà cái thọ đó nó về đó là tám tháng sau nó vẫn còn, thậm chí là tám năm nó vẫn còn. Như vậy có phải là thọ; tưởng; hành nó nuôi không? Còn lời nói đó phớt qua lỗ tai có một chút xíu thôi, một phút thôi là đi qua rồi, người đó đâu có còn nhưng ở đây cái hình ảnh đó, cái cảm giác đó, cái âm thanh đó cứ vang lên, cái thanh tưởng cứ vang vang lên rồi cái cảm thọ nổi nóng lên, những cái suy nghĩ đó cứ chạy hoài như vậy mà tám năm rồi chưa hết. Khủng khiếp không? Lời nói đó thậm chí còn chưa tới một phút mà bây giờ cả một cuộc đời câu nói đó nó vẫn còn vang, cái cảm thọ đó nó vẫn còn chất chứa bên trong, những cái suy nghĩ đó vẫn còn tồn tại, tăng trưởng, phát triển, sống để dạ chết đem theo cho nên cái thọ; tưởng; hành này khủng khiếp lắm.

Vì thế nhìn vô một con người thì những lời nói, cử chỉ, hành động của họ là cái thọ biểu hiện ra. Một người có thọ an tịnh rồi nhìn khác một người ở trong cảm thọ còn thúc giục mạnh thì nhìn biết liền, những người cảm thọ mà trong này sân nhiều quá là nhìn lúc nào cũng phừng phừng lên, một người có cái thọ chất chứa nhiều dục, tham, ái thì ướt át, cái gì cũng quyến liếng, cái gì cũng bịn rịn, cái gì cũng yêu thương, đi đâu dính đó cho nên nó biểu hiện hết trong cảm thọ. Trở lại vấn đề cái xúc này rất quan trọng, mình đổi cái xúc từ bất thiện sang xúc với thiện pháp chứ không thể vừa vào đã muốn diệt cái xúc là không được, cũng như mà mình nhịn ăn bảy ngày, có nhiều người nhịn ăn một tuần, hai tuần, mấy tuần mà ăn trở lại là ăn liền không được, phải uống sữa, ăn cháo rồi từ từ mới ăn cơm.

Đức Phật rất thiện xảo trong cái tâm này vì ngài là bậc đại thành tựu trong tâm cho nên ngài biết cách đưa ra các phương pháp. Đầu tiên phải diệt nghiệp đen, tu tập nghiệp trắng cho cái đen hết, cái trắng viên mãn thì sau đó bỏ nghiệp trắng luôn, đoạn dứt tất cả nghiệp mới đi để bất động giải thoát của các bậc thánh. Còn mình mới nhảy vô là tu tâm bất động liền, nhảy vô đại chánh định luôn cho nên có mấy vị mới lại hỏi:

Giờ con vô muốn tu thiền định.

Dạ mô Phật, con chưa tới đó nữa, giờ đang tu tập chánh kiến.

Bát Chánh Đạo của Đức Phật rõ ràng vậy đó mà nhảy vô là muốn học thiền định thôi, tâm lý chung của mình là khỏi cần học bò, học đi gì nữa mà muốn lái máy bay luôn, muốn làm cơ trưởng rồi đưa mấy trăm người xuống biển. Thành ra mình phải để ý thật kỹ trong sự tu học, mấy ngày vừa qua thay vì mình xúc với những cái tham, sân, si, xúc với những thứ làm cho mình tăng trưởng lòng dục, bây giờ sự tu chúng ta thứ nhất bình thường ở nhà là ăn cái này, cái nọ, cái kia, lên cho ăn chay hết, cái này đáng khen. "Thưa thầy ở nhà bình thường con nằm nệm Kim Đan năm ngàn đô một tấm", bữa nay lên cho nằm dưới đất, bình thường ở nhà là sáng café, trưa cà pháo, muốn gì có nấy hết, lên đây tới cử mới được ăn, tu là liên tục, ở nhà ngủ tới tám, chín giờ sáng, lên đây mới ba, bốn giờ phải thức dậy, ráng nhướng mắt lên để vào ngồi thiền.

Đó là cho chúng ta thành công những cái đó, lúc đầu nói cái đầu cạo là cũng là dữ dằn rồi, tu hoài mà không dám cạo đầu, chúng ta chiến thắng được nhiều cái lắm. Mình biết tác ý mình mới hạnh phúc, cạo bỏ được mái tóc yêu dấu, cũng như sáng có giới tử tâm sự với con ở nhà chăm chuốt lắm, đồ sang xịn lắm mà bây giờ con tu rồi, cạo cái đầu, mặc cái áo lam cho nữa còn sang xịn gì nữa đâu. Chúng ta mới thấy được mình tu ở đây là tất cả những cái mà mình sống là nó thể hiện đời sống nhiếp phục dục tham. Con thưa với các ngài, các ngài lên nhìn chánh điện có gì giá trị không, muốn lấy gì lấy, không có khóa gì hết, thậm chí chùa không có cửa, khỏi cần canh ai giữ hết, khỏi mướn bảo vệ, tất cả những cái kiến trúc ở đây là ứng dụng trong kinh tạng Nikāya đời sống ly tham. Mình ăn chay rát ruột cạo đầu rát da, ở thì nằm dưới đất, hôm nào mưa lớn ở trên đổ xuống như thác làm các sư cô nửa đêm phải chạy ra lấy bao cát ngăn lại, sống vậy mà thấy hạnh phúc.

Tấn đạo nghiêm thân,

Tam thường bất túc.

(Quy Sơn Cảnh Sách)

Muốn tấn tu đạo nghiệp, trang nghiêm pháp thân, ăn, mặc, ở thường chẳng đủ. Ăn rồi mà gần tới giờ ngồi thiền làm thêm tô nữa, lên ngồi đó thiền sao được, cho nên tu mà ăn thiếu một chút, ngủ cũng phải thiếu một chút, ngủ nhiều quá nhìn mặt giống Trư Bát Giới, mặc cũng phải thiếu một chút. Tất cả mọi thứ đều tối giản, từ trong kinh là ít muốn biết đủ nhưng mình phải vui với điều đó, đừng có tác ý sai, mình phi như lý tác ý là sai "ở nhà nằm gường, giờ vô tu cho tôi nằm vầy", cứ nghĩ như vậy là nửa đêm quải đãi xuống núi không từ giã. Thành ra mình phải tác ý hỷ lạc do ly dục sanh, thí dụ mình ăn hết sức đơn sơ, hay mình mặc cũng vậy, mình thấy mình vui quá, "sao mà mình hay giữ vậy ta, trong cuộc đời mình chắc cái khóa tu này là hay nhất". Mình cho mình vui lên, mình cho mình hạnh phúc, mình cho mình phấn khởi, mình cho mình hân hoan, cho mình sung sướng lên vì mình làm được những điều mà mình nghĩ rằng mình không bao giờ làm được mà bây giờ mình làm được, cái đó là tác ý hỷ lạc do ly dục sanh, là hướng đến sơ thiền. Ngược lại ngồi đó đếm ngày cho hết khóa tu "mới có bốn ngày hả? Sao lâu quá vậy?", tu vậy khổ lắm.

Hồi nãy là mình xúc theo kiểu thế gian, tài; sắc; danh; thực; thùy hay là sắc; thanh; hương; vị; xúc, cái xúc ở ngoài đời so với xúc trong đạo khác nhau mà nó tuyệt diệu lắm. Bây giờ mình đi lại cái chỗ đó nhà lầu, xe hơi, vũ trường, quán bar, khách sạn năm sao, những cái chỗ như vậy đó lòng tham mình có khởi lên không? Lòng dục mình có khởi lên không? Lòng say đắm, ham mê có sanh khởi lên không? Đó là thức ăn của dục, bây giờ mình lên nhìn cành trúc xanh, bầu trời, đám mây, khoác lên người chiếc y đơn giản, ngồi trên tọa cụ, tâm mình rộng mở, trải tình thương bao la thì cái nào khỏe hơn, nhẹ hơn, an lạc hơn? Cái này cũng là xúc nhưng một cái là hóa chất độc hại, còn một cái là bổ dưỡng thuần khiết, mình chọn cái nào?

III. Nhắc nhở tu học

Chúng ta tu Nikāya này là trở về Phật pháp nguyên chất, không có màu mè gì hết, không có viễn vong, hứa hẹn gì hết, ngay tại chỗ tu đó thấy rõ được sự nhiếp phục dục tham, ly dục và chúng ta hạnh phúc, hân hoan trong điều đó. Chúng ta cho mình an lạc, hoan hỉ, phấn khởi, sung sướng, vui thích, hoan khoái, thích thú thì lúc đầu mình phải có cái này, rất là quan trọng để cho mình tu. Cho nên mấy ngày qua con chúng ta liên tục là cho uống sữa pháp, móm sữa pháp, cho hỷ lạc, cho hoan hỉ trước. Trình tự thuyết pháp của Đức Thế Tôn đầu tiên ngài thuyết pháp cho người ta khởi lòng tin, khuyến khích giữ giới và ngài nói về những cái quả báo, phúc lạc của cõi trời cho người cư sĩ tu. Sau khi thấy người này tu khá khá rồi đó Đức Thế Tôn mới nói về sự nguy hiểm và tác hại của dục, mấy ngày qua con đi theo cái trình tự đó, bây giờ là bắt đầu qua nguy hiểm và tác hại của dục. Khi nói cái nguy hiểm, cái tác hại, cái khổ đau, cái tai họa, cái hoạn nạn của dục thì người này bắt đầu thấm thía, thuần thục thì lúc bấy giờ Đức Thế Tôn mới thuyết pháp, tất cả các bậc Chánh Đẳng Giác quá khứ, hiện tại, vị lai tuyên dương, tôn sùng bốn sự thật về khổ đau, gọi là Tứ Thánh Đế.

Cho nên chúng ta phải khéo trong sự tu học của mình, phải khéo làm cho mình có mùi vị, có thú vị, có hương vị, có đạo vị, có pháp vị, có thiền vị, có hỷ lạc vị, viễn ly lạc, xuất ly lạc, siêu thế lạc, chánh giác lạc, Niết-bàn lạc. Chúng ta có rất nhiều niềm vui ở trong sự tu học chánh pháp Nikāya nếu mình biết, mình tu được cái này rồi cái dung sắc của mình, cái tâm của mình nó tươi tắn lắm, nó tươi thấm lắm, nó tươi nhuận lắm, nó tươi đẹp lắm. Mình không phải ở trong cái tâm tiều tụy, khô héo, đói khát, thèm khát của một cái tâm hạ liệt, cái tâm bình thường không biết tu là cứ tìm dục, tìm ái, tìm tham, tìm ngũ dục, không có cái đó là nó khổ, nó bực bội, nó bức xúc, nó khó chịu lắm, khi mình có được một niềm vui cao thượng hơn, thánh thiện hơn, thanh cao hơn thì mình sẽ không cần những niềm vui thấp kém cho nên mình có được niềm vui của thượng nhân pháp, tức là những niềm vui hỷ lạc do ly dục sanh.

Hồi xưa những cái ham muốn mình được thì mình vui, bây giờ mình lìa được những cái ham muốn đó mình vui, đó gọi là nghịch lưu, tức là ngược với đời. Người đời chạy theo cái sắc, người ta tìm kiếm ở trong cái sắc, có được là người ta vui nhưng khi họ chạy đi tìm như vậy thì họ khổ, họ nhọc nhằn, biết bao khổ đau, nhọc nhằn khi họ tìm chưa được, khi họ được rồi mà cái sắc này quá đẹp thì ăn không ngon, ngủ không yên, đi đâu cũng sợ bị mất. Có ông chồng ghen quá nên lấy cả thùng Axit tạt vào người vợ làm vợ bị thương tổn 75%, cả gương mặt nhìn vào chỉ thấy kinh hãi, cô vợ không dám ra đường, phải ở trong nhà dưới sự đau khổ, oán hận, oán thù. Đó là kết quả của sắc đẹp cho nên ai nói mình xấu thì kệ "xấu dễ tu", đừng ham đẹp, đẹp cũng ráng tu chứ không phải kiêu ngạo trong sắc đẹp, còn xấu thì dễ tu, khỏi ai nhìn nên dễ tu, còn ai đi ngang cũng nhìn nên khó tu.

Con nhìn thấy các vị có hảo tướng ở trong chùa hồi đó là mệt mỏi lắm, tu rất khó cho nên mình không có mong cầu. Trở lại vấn đề họ chạy theo cái sắc, họ đi tìm họ khổ mà họ được thì lo lắng, bất an, họ mất thì càng đau khổ nữa, còn bây giờ mình tu là lìa được cái sắc đó nên mình vui, cái này đặc biệt. Mình rời bỏ được cái sắc đó mình vui cho nên có những lúc con rời bỏ chùa, bỏ hết vô rừng ở mình làm mấy trăm bài kệ mà quý vị nghe hôm bữa là con làm lúc ở trong rừng, thấy vui quá, hạnh phúc, sung sướng quá, không có gì hết nên khỏe. Bây giờ đi bộ lên núi mà mình quải ba lô, mình xách vali, mang thêm năm cái bao thì có khỏe không? Nếu mình buông xuống được hai bao, mình buông xuống năm bao, mình đi tay không thì cái nào khỏe hơn?

Năm cái bao đó là năm dục trưởng dưỡng không thôi là ngũ uẩn, nó là gánh nặng cho nên mình buông được sắc nên vui, hân hoan, mình cười hoài, mình hạnh phúc quá, ngồi một mình cũng vui, đi một mình cũng vui, nghe pháp một mình cũng vui, mình tác ý cười hạnh phúc. Quý vị thấy mấy thầy, mấy cô nhập thất một tháng, hai tháng, ba tháng, năm tháng, có quý thầy ở đây chục năm, sư phụ giao chùa trụ trì không về, ở đây trên mười năm rồi, bây giờ thầy qua bên bồ đề đạo tràng tu sáu tháng bên đó. Thành ra mình biết tác ý người đời chạy theo sắc, chạy theo tiếng, chạy theo mùi vị, họ đam mê cái đó, họ thích thú, họ khoan khoái, thèm khát trong đó, họ vui trong đó, họ khổ trong đó, ca ở đó rồi khóc ở đó, cười ở đó rồi đó nằm một chỗ ở đó. Còn cái người tu là lìa bỏ những cái đó mình vui, thí dụ hồi xưa mình thèm ăn cái món đó thì phải kiếm cho được món đó ăn thì mới thấy thích, vui, khoái, bây giờ mình từ bỏ được món đó nên vui.

Cái vui của trong tu là vui từ bỏ, điều này rất tuyệt diệu, sâu sắc. Hồi xưa nghe người ta nói chuyện đúng gu của mình là tự nhiên rề rề lại, bây giờ nghe là từ bỏ, ra bụi trúc ngồi thiền, cái vui từ bỏ. Mình thích nấu ăn, mình khoái nấu ăn, mình muốn nấu ăn, mình ham nấu ăn, mình nghe mấy người nói đề tài nấu ăn là đúng gu mình rồi nhưng bây giờ "thôi ăn gì nữa, giờ này bảy mươi rồi", tác ý để từ bỏ. Phải biết cách tác ý, phải khéo léo, thiện xảo trong sự tác ý, đó là dùng suy nghĩ diệt suy nghĩ, những cái tư duy tham ái là dục của con người nên từ bỏ đi. Đi thiền hành xong ra làm được mấy bài kệ, tất cả mọi người đều viết bài nhật ký tu học, tối thiểu cũng phải có một bài thu hoạch, sau khóa tu phải nộp bài, ai không nộp bài không cho xuống núi, không viết được thì phải nói chuyện ghi âm nộp lên. Nếu không là mình tu tới bữa cuối là rớt mất tiêu hết, rồi xuống núi không còn gì nữa hết, như cái gáo bể, đổ nước vô chảy ra, không còn gì hết trơn.

Mình phải làm cái bình, mình phải đựng nước được, bình không có rỉ chảy cho nên là mình phải tập cái vui từ bỏ, cái vui rời xa gọi là viễn ly lạc. Chỗ chư Tăng ở con đặt cái tựa là Viễn Ly Xứ, là nơi rời xa, tránh cái duyên tiếp xúc, đừng có nhìn, đừng có nghe thấy nữa. Người ta làm mấy con khỉ bịt mắt, bịt tai để tránh duyên xúc, càng tiếp xúc càng sanh ra thọ; tưởng; hành, nếu tiếp xúc thiện pháp thì tốt để sanh ra những cái thọ; tưởng; hành thiện pháp, thánh pháp, thánh trí, thánh đạo, thánh tuệ thì cái đó rất tốt, cái đó cần. Nhưng nếu mình tiếp xúc ở trong tham, sân, si, hơn thua, bản ngã, mình nghe một người nói chuyện hơn thua rồi lúc đó tâm mình có khởi hơn thua không cho nên xúc sanh thọ, vì thế cần phải tránh, ông bà xưa mình nói "gần mực thì đen, gần đèn thì rạng".

Con mắt mình tiếp xúc với hình thánh tượng của Đức Phật, lỗ tai mình nghe thánh pháp, cái miệng mình nói chánh pháp, cái thân của mình là cái thân pháp thân, thân pháp tướng, thân xuất gia, cảnh của mình là cảnh của pháp, biểu hiện từ cái pháp ly tham cho nên tất cả những gì thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, nhận thức ở trong cái cảnh của pháp, thế giới của pháp cho nên tâm mình an trú vào trong pháp. Đó là cái duyên xúc cho chúng ta, đổi cái duyên xúc của đời và đưa qua cái duyên xúc của đạo, đổi cái duyên xúc của thấp kém, thấp hèn, bẩn thiểu, hạ liệt, tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã đưa mình qua duyên xúc từ, bi, hỷ, xả vô lượng tâm, một cái tâm hiền từ, hiền thiện, hiền trí, hiền đức, một cái tâm lắng dịu, ngọt ngào, dễ thương, dễ mến. Như vậy là chúng ta chuyển cái xúc từ đen đưa qua cái trắng, từ cái bất thiện đưa qua thiện pháp, từ cái mê đưa qua bên cái giác tình, từ màn đêm đưa qua thánh tuệ, thánh minh, thánh trí. Chúng ta nhớ kỹ cái đó để mình tu.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các dục sai biệt? Này các Tỳ-kheo, dục trên các sắc là khác, dục trên các tiếng là khác, dục trên các hương là khác, dục trên các vị là khác, dục trên các xúc là khác. Này các Tỳ-kheo, đây là các dục sai biệt" (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Cái ham muốn ở trên vật chất là khác, cái sắc nó khác, còn cái ham muốn ở trên cái âm thanh, nhiều khi chỉ cần muốn nghe tiếng nói thôi, cái giọng nói thôi, thiếu giọng nói đó không được, khổ không, cái giọng nói đó, cái mùi, cái vị đó thì đó là những cái ham muốn liên hệ đến năm dục thành ra có năm cái ham muốn khác nhau, Đức Phật gọi là dục sai biệt, là những sự khác nhau của ham muốn.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các dục đoạn diệt? Xúc đoạn diệt, này các Tỳ-kheo là dục đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo tám ngành đưa đến các dục đoạn diệt. Tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định." (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, (IX). Một Pháp Môn Quyết Trạch)

Chúng ta muốn nhiếp phục và chế ngự thì chúng ta phải thấy đúng về nó, thấy đúng về năm thứ này, sắc này do cha mẹ sanh ra, do cơm cháo nuôi dưỡng, do tứ đại tác thành, vô thường, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt. Mình phải nhớ câu kinh đó để mình quán.

Định nghĩa 2:

Thân người, cảnh vật, đồ vật tứ đại là Sắc.

Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu là Thọ.

Bóng dáng thô tế trong tâm là Tưởng.

Suy nghĩ nói thầm trong tâm là Hành.

-Rõ biết trong ngoài sáu trần là Thức.

Cái này chỉ là đất, nước, gió, lửa thôi, chừng nào mình nhìn cái nào cũng thấy đất, nước, gió, lửa hết thì lúc đó là tâm mình nhẹ rồi cho nên mình học về thiền quán, như lý tác ý, mình nghe nhắc nhở trong đó, rầy la trong đó mà mình nghĩ "sao rầy tôi vậy?", "sao nói tôi như vậy?" là mình sẽ học không được. Khi thiền quán thì không có ai hết trơn chỉ là hướng vào bên trong thọ; tưởng; hành, nhớ kỹ nha, nếu mà mình ngồi thiền quán nói cái tâm này ngu dữ lắm thì nghĩ "nói tôi ngu hả?" là xong rồi, chừng ba câu là xuống núi. Mình nói cái tâm này ngu là mình hướng vô bên trong thọ; tưởng; hành, cái chấp ngã đây nè chứ không nói cá nhân một ai hết, đó là nói cái pháp cho tất cả các chúng sanh ngũ uẩn Đức Phật. Nếu như mình nói thầy nhắm vô con, thầy rầy con thì không học được, mà cái đó mình chỉ thấy là pháp thôi, không có ai hết, tất cả là sự vận hành của năm uẩn, ngồi đây là năm uẩn mà mình không thấy năm uẩn, mình thấy một cục to tướng thì làm sao mình học pháp được.

Tất cả những cái nói đó là nói vô trong cảm thọ này, nói đơn giản là vậy, nói vô cái tưởng, cái hành này, cái thức này chứ không phải nhắm vào một cái cá nhân nào hết. Đức Phật không có nhắm vô cá nhân nào hết, ngài nói là cho tất cả chúng sanh là như vậy hết, tất cả ngũ uẩn đều như vậy hết, tất cả hữu tình đều như vậy hết, tất cả tâm mê đều như vậy hết, tất cả bản ngã đều giống y như vậy hết, tất cả dục ái, tham, sân, si, đau khổ đều như vậy hết. Nếu nghe lời ngài nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận hết khổ đau, còn không nghe khổ đau ráng chịu, vậy thôi. Mình nghe được lợi ích cho mình, giúp cho mình bớt khổ, làm theo mình hết khổ, mình không chịu nghe, không chịu làm thì mình khổ đau, vậy thôi. Cho nên trở lại vấn đề là mình phải thấy được cái sắc này là đất, nước, gió lửa, thôi, phải tập nhìn, lúc nào cũng phải niệm, mình gặp cái nó đẹp quá mình nhắc cái này đất, nước, gió, lửa, đây là cái đống gan ruột, cái bao da, cái túi thịt, cái bộ xương.

Khi mình gặp một người làm cho mình giận, hãy nhớ kỹ chỉ là bộ xương thôi, có gì mà giận, có gì mà khó chịu với nhau, có gì mà hơn thua với nhau, có gì mà ganh tị, mà ghim gút, chỉ là bộ xương thôi, tất cả chỉ là những bộ xương di động thôi, hãy nhìn cho kỹ và không bao giờ được quên cái bộ xương này. Hãy lấy bộ xương này làm định tướng, hãy ăn với bộ xương này, ngủ với bộ xương này, hãy để bộ xương này vào trong tâm, đừng bao giờ quên hình ảnh này. Hãy nhớ cho kỹ để rồi tham, sân, si sẽ rơi rụng xuống, hãy nhớ cho kỹ rồi cái bản ngã này nó sẽ gục ngã, hãy nhớ cho kỹ để rồi cái ta này sẽ trở thành cát bụi, hãy nhớ cho kỹ cái bộ xương này để rồi tất cả sự hơn thua trên cuộc đời này đều sụp đổ hết, hãy nhớ cho kỹ cái bộ xương này và mình sẽ tha thứ được cho mọi người. Mình sẽ khiêm cung, khiêm nhường, khiêm hạ, khiêm tốn, hãy nhớ kỹ bộ xương này mình sẽ có thể nhúng nhường hết những người ức hiếp mình, mình có thể cho họ thắng hết để cho mình bại, mình có thể bỏ hết tất cả những thứ vô thường, vô nghĩa, hư ảo, giả dối trên cuộc đời này.

Hãy nhớ cho kỹ và đừng bao giờ quên, nhớ cho kỹ cái bộ xương này, chúng ta về thiền quán từ đây cho đến ngày xuống núi, đừng có quên hình ảnh này. Mỗi lần sân si lên, tham khởi lên hãy nhớ kỹ, hơn thua với bộ xương này, cãi lộn với bộ xương này, háy, nguýt, liếc, trừng trợn với bộ xương này ư, tham đắm, thèm khát với bộ xương này à. Tại sao lúc con đi không ai nhìn thấy con là bộ xương, đến lúc con để bộ xương này mọi người đều rất sợ? Tại vì mình bị cái lớp da bao phủ lên là mình không thấy, chính vì vậy mà thiền quán của mình là phải giải phẫu cơ thể để cái tâm này bớt hôn mê, ngu si, bớt mù lòa. Khi mình nghĩ tới điều này, khi hình ảnh này sanh khởi ra trong tâm của mình, khi những cảm thọ này sanh khởi lên thì những tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã sẽ được lắng dịu khi mình nghĩ tới nó.

"Chỉ là một bộ xương thôi mà làm cái gì ta đây, chết đi, hãy chết đi", mình nói với tâm mình như vậy, "hãy chết đi những cái hơn thua, sân si, ngu si, hãy chết đi những cái tham muốn, thèm khát. Ngươi hãy chết đi, ngươi hãy chết đi, đừng có sống lại làm gì, chết một cách hoàn toàn trong tâm ta". Tất cả những tham, sân, si, dục ái, hơn thua, bản ngã chết rồi thì lúc đó mình mới sống, cái trí tuệ bừng sáng mình mới sống, còn mình để cho những cái đó hoành hành, nó sai khiến, nó làm chủ mình thì mình chết, mình bị đè đầu cưỡi cổ, mình bị làm nô lệ, làm đầy tớ, mình làm tay sai, làm con sen, mình đi ở đợ những cái thứ dục, tham, ái đó.

Mình phải nhiếp phục, chế ngự và diệt tận hết chúng để mình dành quyền làm chủ, mình được sống lại với trí tuệ, sống lại với một cái tâm tự do, sống lại với một cái tâm làm chủ, mình dành lại quyền làm chủ từ vô lượng, vô biên kiếp vừa qua mình bị cái dục này nó làm chủ, bây giờ mình phải giật lại cái quyền làm chủ bằng cái cách mình đưa hình ảnh này vào trong cái tưởng của mình, vào trong suy nghĩ của mình, vào trong tác ý của mình.

"Thành này làm bằng xương,

Quét tô bằng thịt máu,

Ở đây già và chết,

Mạn, lừa đảo chất chứa"

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 150)

Cái thành này, cái thân này, cái khung sườn của nó là một bộ xương, quét tô bên ngoài là thịt và máu, trong đây có cái gì, nó kết thúc bằng sự già nua và chết chóc nhưng bên trong của nó là đầy ngã mạn và lừa đảo, dối trá.

"Sắc này bị suy già,

Ổ tật bệnh, mỏng manh,

Nhóm bất tịnh, đổ vỡ,

Chết chấm dứt mạng sống."

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 148)

Sắc thân này rồi sẽ bị suy già, trong này là cái ổ chứa nhóm tật bệnh và cái thân này là mong manh, nó nhóm hợp những thứ nhơ nhớp và cuối cùng nó đổ xuống, nó sụp xuống, nó quỵ xuống và nó sẽ ngã xuống dưới lòng đất.

"Như trái bầu mùa thu,

Bị vất bỏ quăng đi,

Nhóm xương trắng bồ câu,

Thấy chúng còn vui gì?"

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 149)

Bộ xương này là màu trắng bồ câu, khi nhìn thấy một cái đống xương này thì còn vui gì nữa, tất cả chúng ta kết thúc trong bộ xương này, trong cái đống xương này, trong cái hũ tro cốt này mà chúng ta không có nhớ, chúng ta sống trong lãng quên, quên vĩnh hằng, quên muôn thở, lâu lâu nhớ một chút rồi lại quên và đến khi nó ập tới, cái bộ xương này sụm xuống, nó sụp xuống, nó ngã xuống, nó đổ xuống, nó quỵ xuống, nó nằm xuống thì lúc đó nước mắt đầm đìa tiếc nối, đau khổ. Tại sao bây giờ còn tỉnh táo, còn khỏe mạnh, còn đầy nhiệt huyết, tại sao không cố gắng để tìm lối thoát?

"Cười gì, hân hoan gì,

Khi đời mãi bị thiêu?

Bị tối tăm bao trùm,

Sao không tìm ngọn đèn?"

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 146)

Cười cái gì, vui sướng cái gì khi cuộc đời này bị thiếu đốt bởi già nua, bệnh tật và chết chóc. Vui sướng gì khi tâm này bị thiêu đốt bởi những lòng tham dục, tức giận, hơn thua, ngu si, bản ngã, vô minh. Chúng ta hãy ghi khắc kỹ hình ảnh hôm nay để thu tập, hãy ghi khắc kỹ hình ảnh này vào trong tâm để tu tập.

Tâm thương này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.