Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Nghệ Thuật Sống An Vui 5 & Trả lời câu hỏi

2026-03-03 00:53:45
TINH HOA NIKĀYA

NGHỆ THUẬT SỐNG AN VUI 5

TRẢ LỜI CÂU HỎI

–Thích Minh Thành–

Kính bạch quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Chúng ta tiếp tục học nghệ thuật sống an vui.

Sống buông bỏ, các con thương mến

Bỏ đúng sai, được mất, hơn thua

Bỏ chê khen, thương ghét ở đời,

Các bậc Thánh đã từ bỏ chúng.

Tập sống buông bỏ là cả một nghệ thuật, cả một trí tuệ, cả một sự khéo léo thiện xảo, cả một trí khôn. Bỏ đúng sai, được mất, hơn thua, giành phần đúng về mình, dù được đi nữa vẫn là phiền não, giành phần được về mình không muốn bị mất nhưng thật sự có được không hay cái được đó cũng vô thường, tan hoại, trong cái được đó là sự ganh ghét, thù hận. Muốn thắng chứ không muốn bại để rồi được cái gì? Được sự mâu thuẫn, hiềm khích, oán hận, thù hằn nhau, cho nên người có trí tuệ là người biết sống buông bỏ, nhìn cái đúng sai chỉ là tương đối, mình chiêm bao được trúng số bay bị xe đụng thì cũng chỉ là chiêm bao, chỉ là giấc mộng, hơi nào đi tranh giành đúng sai với cuộc đời này, Đức Như Lai nói rằng ngài không tranh với đời, không tranh giành với thế gian, nếu mình có được cái tâm này rất tự tại, bình an, nhẹ nhàng.

"-- Này các Tỳ-kheo, Ta không tranh luận với đời, chỉ có đời tranh luận với Ta. Này các Tỳ-kheo, người nói Pháp không tranh luận bất cứ với một ai ở đời". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Uẩn (f), V. Phẩm Hoa, II. Bông Hoa (hay Tăng trưởng)) 

Sống biết buông bỏ là một trí khôn tuyệt vời, chỉ cần ứng dụng được một phần nhỏ sẽ thấy nhẹ nhõm rất nhiều, mình sẽ phủi được bụi đời, tục lụy, phàm tình, thế sự của thế gian. Mình thấy họ tranh giành đúng sai, được mất với mình cũng không sao cả, cứ nhường nhịn, buông bỏ nhưng khi bỏ đúng sai, được mất, hơn thua đó lại được tâm bình an, tâm bình an mới là hạnh phúc thật sự, tâm bình an mới là sự tịnh lạc, mới là quý báu, vô giá trên cuộc đời này. Mình có giành tiếng khen, phần được, phần đúng, phần hơn thì cuối cùng được gì ngoài cảm giác chút ít đó nhưng sự phiền não, hờn giận, đấu tranh với nhau là miên viễn, hết tuần này đến tháng nọ, hết tháng nọ đến năm kia, đến cả một cuộc đời nếu không biết buông bỏ cho nên mình phải biết buông bỏ, bỏ được mất, đúng sai, hay dở, che khen. Người ta có chê mình thì mình cũng bình tĩnh, nhiếp phục cảm thọ, suy xét lại cái chê đó có đúng sự thật không, nếu đúng thì mình sửa chỉnh, còn cái chê đó là sai do người ta chưa hiểu nhưng đừng vội đáp trả, đấu đá, được thương cũng đừng vội mừng mà hãy bình tĩnh quán chiếu. Cái thương ghét của cuộc đời này dễ dàng thay đổi rất chóng vánh, chạy theo thương ghét sẽ đau khổ, chạy theo thương chê, đúng sai sẽ phiền não, chạy theo được mất sẽ bất an, chạy theo hơn thua sẽ gây thù oán, cho nên đối với đúng sai, được mất, hơn thua, chê khen, thương ghét phải tập buông bỏ chúng, chỉ có cái quý nhất trong con người mình là cảm thọ an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, trú trong cảm giác toàn thân đó, định tâm trên thân, giữ được trí sáng soi năm uẩn, giữ tâm bình an, trầm mặc đó thì đó mới là báu vật. Phải buông bỏ tất cả những các đúng sai, hơn thua, tranh giành ở đời để giữ được tâm bình an, đó là trí khôn, trí giác, trí minh, trí huệ, đó là bậc hiền trí, đại trí, còn chạy theo những cái khen chê, thương ghét, đúng sai của đời này sẽ bị dòng đời cuốn trôi, bị bụi đời làm dơ bẩn tâm hồn, bị gió cảnh giới tùy chuyển mình, trong kinh Đức Phật đã nói đến tám ngọn gió làm cuộc sống chúng sanh bị đảo lộn.

"- Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này. Thế nào là tám?

Lợi dưỡng và không lợi dưỡng, danh vọng và không danh vọng, tán thán và chỉ trích, lạc và khổ.

Tám pháp thế gian này, này các Tỳ-kheo, tùy chuyển thế giới. Thế giới tùy chuyển theo tám pháp thế gian này". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (V).Tùy Chuyển Thế Giới (1))

Hãy buông bỏ tất cả những thứ này, đừng quan tâm đến nó nhiều, hãy quan tâm đến tâm bình an, bất động. Lúc nào cũng giữ tâm bình an như giữ viên kim cương, giữ tâm bình an như giữ bảo châu vô giá, giữ tâm bình an như ngọc như ý, buông bỏ những thứ phù phiếm, giả dối, chóng vánh, vô thường của cuộc đời này, người đến rồi đi, khen chê rồi cuối cùng không có gì, mình chạy theo rồi mừng vui, buồn giận, ê chề làm mất tâm, mất trí tuệ cho nên "sống buông bỏ các con thương mến, bỏ đúng sai, được mất, hơn thua, bỏ chê khen, thương ghét ở đời, các bậc Thánh đã từ bỏ chúng". Phải thường trú trong pháp, thường sống với con mắt pháp, thường xuyên ở trong Thánh pháp, thường ở trong tác ý, trong sự quán chiếu nhìn những cái đúng sai, hơn thua, thương ghét của cuộc đời này như bèo bọt, như mây sương buổi sáng ở Linh Quy, Mặt Trời lên là tan biến mọi thứ, đó chỉ là những bong bóng nước.

"Như bọt nước trôi sông,

Như lầu sò chợ bể

Nếu xem đời bằng cặp mắt ấy,

Thần chết không tìm tới được".

(Kinh Pháp Cú 13 Phẩm Thế Gian, kệ 166)

Mình nhìn những cái hơn thua, được mất, đúng sai, thương ghét, tranh giành ở cuộc đời này như bọt nước trôi trên dòng sông, chỉ được chút ít rồi tan ra hết, trên mặt biển thường bị ánh mắt phản chiếu giống như có nhóm chợ nhưng đến gần không có gì cả nên gọi là "lầu sò chợ bể", chỉ là ảo ảnh thôi. Những sự thương ghét, đúng sai, hay dở của cuộc đời này chỉ là ảo ảnh, chỉ là những làn gió, một ngày có biết bao làn gió thổi qua rồi không lẽ mỗi lần gió thổi là mình phải bay theo nó? Cho nên buông bỏ, xả bỏ đi, bỏ đi mới thấy kì tích xuất hiện, nó rất vi diệu, màu nhiệm, ung dung, tự tại trong cuộc đời này.

"Thảnh thơi tay áo không một vật,

Một buổi chiều êm ả thong dong".

Tâm buông được những thứ này xuống sẽ nhẹ nhàng như tay áo không có gì trong đó, gió thổi tà áo của những vị cao Tăng, Thánh Tăng, thiền sư bay phất phới. Tay áo chỉ cho nội tâm, đừng chất chứa những thứ thương ghét, đúng sai, được mất, những thứ đó rất nặng nề, nếu muốn thảnh thơi thì phải bỏ được mất, đúng sai, khen chê, hay dở, thương ghét ở đời, bỏ qua những lời thị phi, còn những lời chỉ dạy, giáo huấn phải khắc cốt ghi tâm, phải phân biệt chỗ này chứ không phải nói bỏ qua là những lời dạy dỗ, chia sẻ của thầy, sư huynh đệ, tỉ muội cũng bỏ qua, mình bỏ là bỏ những lời nói thị phi, phù phiếm, những lời gây sự, kiếm chuyện nhưng lỗi lầm của mình không được bỏ mà phải nhớ để sửa đổi. Tâm của mình dễ bị dính mắc, không trạch pháp phân biệt cái nào nên, cái nào không nên, bỏ những cái thị phi, hơn thua, tranh giành ở cuộc đời này, người ta muốn gây sự, kiếm chuyện thì buông bỏ hết, những cái xấu dở trong lòng phải thấy biết để trừ diệt.

Sống thoát ra, các con thương mến

Thoát khỏi tâm hôn ám, hôn mê,

Thoát khỏi tâm lơ lửng, vật vờ

Sống tỉnh giác như trời rực nắng.

Phải thoát ra khỏi tâm hôn ám, tâm hôn mê, tâm si mê, u mê, tâm mờ tối. "Thương thay tâm mờ tối, chúng sanh đáng thương thay", suốt ngày nói huyên thuyên nhưng tâm tối đen chứ không phải nói là tâm sáng, trong đó đầy năm triền cái, mở mắt ra nói nhưng vẫn ở trong tâm hôn ám, hôn mê không thấy pháp, không thấy ngũ uẩn, không thấy lậu hoặc, không thấy vô thường, khổ, vô ngã. Cho nên phải thoát ra khỏi tâm hôn ám, hôn mê này, thoát ra khỏi tâm vật vờ, vất vơ vất vưởng, tâm lơ là, tâm mê muội, vô minh, mờ tối, phải xuất ly khỏi những cái tâm đó, không biết cái nào nên làm cái nào không nên làm, không biết lúc đó phải ứng xử như thế nào. Từ cảm giác bất khổ bất lạc, tâm trơ ra đó sẽ bước qua tâm lơ lửng, rồi qua tiếp tâm vật vờ, hôn ám, hôn mê, mình phải tác ý đánh đuổi cái tâm đó, mở mắt lớn để phóng tầm nhìn rộng khắp chân trời, đọc lên những bài kinh Pháp cú, thắp lên ngọn đèn trong tâm. Phải thấy được lúc nào tâm sáng, lúc nào tâm bị mờ tối, đó gọi là nhận diện ngũ uẩn, xem lại cảm thọ như thế nào, có vật vờ, hôn ám, hôn mê không. Tỉnh giác là khi thọ khởi lên, an trú và chấm dứt như thế nào phải biết, tưởng khởi lên, an trú và chấm dứt phải biết, sự hướng tâm về pháp thiện hay bất thiện phải thấy phải biết và sự thấy biết đó phải sáng tỏ, tinh minh, rực sáng như ánh Mặt Trời, phải có sự tác ý, quán chiếu mạnh mẽ mới thoát ra được tâm hôn ám, hôn mê. Thực tế trong một ngày mình không được mấy tiếng chánh niệm tỉnh giác cao độ, trừ những người tinh cần tinh tấn tu tập, còn mình đi đứng như vậy nhưng không có sự chánh niệm và tỉnh giác đúng mức cao độ, tinh anh, chỉ cần bị ngoại cảnh tác động sẽ bị biến đổi lập tức vì sức chánh niệm tỉnh giác, sức định tĩnh, sức cảm giác toàn thân, an trú và an tịnh, lắng dịu không đủ, định tuệ và chỉ quán không đủ cho nên chỉ cần làn gió cảnh giới thổi nhẹ thôi là người đó bị cuốn đi, tức là lúc đó có sắc xuất hiện, thanh xuất hiện, mùi vị hay có sự tiếp xúc sẽ chao đảo lập tức. Nhưng cũng đừng nghĩ những người lanh lợi là không hôn mê, họ hôn mê theo dạng khác, những người lanh lợi, mưu sĩ, toan tính là bị hôn mê nặng, hôn mê rồi tạo nghiệp, hôn mê theo tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Chữ hôn mê, hôn ám có rất nhiều cấp độ, ngồi thiền ngủ gục là tệ rồi, tiếp theo là trạng thái không phải ngủ gục nhưng hôn trầm, tức là chìm vào trạng thái lờ đờ, tâm vật vờ, lơ lửng nhưng không phải ngủ cũng không phải thức, sau đó là trạng thái vẫn ngồi tỉnh, mắt mở, không buồn ngủ nhưng không để tâm để nhìn ngũ uẩn, đó cũng là trạng thái tâm không chánh niệm tỉnh giác, không chú tâm vào việc ngồi thiền, đang thả lỏng ý căn, lúc đó mắt; tai; mũi; lưỡi; thân không thả lỏng nhưng lại thả lỏng ý nên không tập trung vào đối tượng thiền quán, quán chiếu, xem xét, người như vậy có ngồi thiền suốt đời cũng không sanh ra trí tuệ, chỉ được yên tịnh một chút vậy thôi.

Sống mạnh lên, các con thương mến

Sống thân tâm mạnh mẽ, kiên cường

Sống thân tâm minh mẫn, tinh anh

Sống vực dậy, thân tâm khoẻ mạnh.

Phải tác ý để mình được mạnh mẽ, nhiều lúc cơ thể muốn bệnh nhưng tác ý chuyên chú vào pháp chứ không để ý cảm thọ thân thì có thể hết bệnh, còn lúc đó phi như lý tác ý "đang cảm mà lên tu chắc bệnh luôn quá" là đi không nổi luôn cho nên tác ý rất quan trọng, khi tác ý thì thọ; tưởng sanh khởi, sắc và tâm thức bị ảnh hưởng, toàn bộ ngũ uẩn đều ảnh hưởng theo lời tác ý đó cho nên phải sống mạnh mẽ, kiên cường. Minh Thành đang bệnh nhưng tác ý "không có bệnh gì hết, pháp không có bệnh", cứ như vậy lên chia sẻ pháp, xong là xuống hết bệnh, khi Thế Tôn và ngài Ca-diếp bị bệnh là các ngài nghe về thất giác chi, sau khi nghe xong các ngài cũng hết bệnh.

"Lúc bấy giờ, Thế Tôn bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.

Rồi Tôn giả Mahà Cunda đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Cunda đang ngồi một bên:

-- Này Cunda, hãy thuyết về giác chi.

-- Bạch Thế Tôn, có bảy giác chi này do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Bạch Thế Tôn, niệm giác chi do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn... Bạch Thế Tôn, xả giác chi do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, bảy giác chi này do Thế Tôn chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

Thật vậy, này Cunda, chúng là giác chi. Thật vậy, này Cunda, chúng là giác chi.

Tôn giả Mahà Cunda thuyết như vậy, bậc Ðạo Sư chấp nhận. Và Thế Tôn thoát khỏi bệnh ấy. Bệnh ấy của Thế Tôn được đoạn tận như vậy". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), II. Phẩm Về Bệnh, VI. Bệnh (3))

"Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, rừng Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahà Kassapa trú ở hang Pipphalì, bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.

Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.

Ngồi xuống, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa :

-- Này Kassapa, Ông có kham nhẫn được chăng? Ông có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không có tăng trưởng?

-- Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, con không thể chịu đựng. Khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không có giảm thiểu.

-- Này Kassapa, bảy giác chi này do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn... Xả giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Bảy giác chi này, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.

-- Thật vậy, bạch Thế Tôn, chúng là giác chi. Thật vậy, bạch Thiện Thệ, chúng là giác chi.

Thế Tôn thuyết như vậy, Tôn giả Mahà Kassapa hoan hỉ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và Tôn giả Mahà Kassapa được thoát khỏi bệnh ấy. Bệnh ấy của Tôn giả Mahà Kassapa" (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương II. Tương Ưng Giác Chi (a), II. Phẩm Về Bệnh, IV. Bệnh (1))

Các ngài nhiếp phục cảm thọ, trú trong pháp là giải phá cảm thọ bệnh khổ, cho nên người tu có tâm lực mạnh mẽ sẽ vượt qua được cảm thọ của thân. Tấm gương của bậc thiện tri thức ngoài sức tưởng tượng, thân thể mang bệnh hiểm nghèo nhưng với tâm mạnh mẽ, kiên cường, minh mẫn, sống vực dậy để thân tâm khỏe mạnh, cho nên những lúc mình yếu, bệnh tật là những lúc mình cần kiên cường nhất, thậm chí có nằm một chỗ thì thân bệnh nhưng tâm không bệnh, những lúc đó là những lúc vận dụng công phu, trong hoàn cảnh nào cũng phải sống mạnh mẽ, kiên cường, một khi tâm lực mạnh thì thân khỏe, còn tâm lực yếu thì dù thân khỏe nhưng cũng bị yếu cho nên suy nghĩ, cảm thọ rất quan trọng, đang cười nói vui vẻ mà chỉ cần nghe một cuộc gọi thôi là sụp xuống xỉu tại chỗ, đó là thọ do nhĩ xúc sanh cho nên sự tu của chúng ta nhiếp phục cảm thọ tuyệt đối quan trọng, dẫn cảm thọ theo chiều hướng mình muốn, chiều hướng mình muốn là sống mạnh mẽ, kiên cường, sống minh mẫn, tinh anh, sống vực dậy mạnh khỏe. Khi đi những ngọn núi linh thiêng không được nói mệt, dù mồ hôi chảy đầy người, chân mỏi nhưng vẫn phải nói khỏe, đó chính là tác ý làm cho ai leo núi cao cũng khỏe, còn leo núi mà cứ than mệt, mỏi chân là không thể lên đến đỉnh núi được, sự tu cũng giống như leo núi, muốn nhiếp phục cảm thọ phải tác ý mạnh mẽ, oai hùng và trú vào pháp thì mình sẽ thoát ra thể chất thường tình của tứ đại, khi trú vào pháp thì những cảm thọ của thân không thể quật ngã được mình, vẫn có đau, vẫn có khổ nhưng tâm lực mạnh là nhiếp phục, khống chế, áp đảo cảm thọ đau nhức đó được, còn tâm yếu là gục ngã, sụp đổ. Đối với giờ ngồi thiền, nghe pháp, đọc kinh, làm việc cũng giống như vậy, đều phải tác ý sống mạnh mẽ, kiên cường.

Sống vui lên, các con thương mến

Vui vì con Giới hạnh, ngoan hiền

Vui vì con đã biết vươn lên

Để sống với một đời sống đẹp.

Đây không phải là cái vui của ngũ dục mà vui vì mình có giới hạnh ngoan hiền, tự mình thấy bản thân ngoan hơn, dễ nghe hơn, dễ học pháp hơn, tâm nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng hơn, tâm hiền lành hơn, tâm biết tàm quý, biết hổ thẹn, lo lắng, sợ hãi, ưu tư với thiện pháp và đối với bất thiện pháp. Mình có tâm tàm quý nhưng thấy vui, đây cũng là chỗ đặc biệt, vui vì biết lo biết sợ, vui vì biết khổ nên phải cẩn thận, thấy khổ nhưng vui, lo lắng nhưng vui vì biết lo, đỡ hơn người không biết lo. Vui vì biết vươn lên tăng thượng tự ngã, tăng thượng thế giới, tăng thượng Thánh pháp, Thánh trí, Thánh tuệ trong con người mình, nhiếp phục được cơn giận nên mở tiệc tâm linh, nhiếp phục ham muốn là đãi tiệc trong lòng, thấy được bản ngã nên nhiếp phục được đôi phần thế là vui, đó là tự mình thưởng cho mình, phải có phần thưởng nội tâm cho mình chứ tu lâu ngày chỉ toàn thấy lậu hoặc, không nhìn ra được sự tích cực của mình trong sự tu thì coi chừng nản chí, chúng ta bỏ mọi sự ồn ào, náo nhiệt của phố thị để lên núi nhập hạ ba tháng phải thấy vui, hiện tại mình được tu học nhiều hơn nên vui, trước đó mình chưa thấy lậu hoặc và ngũ uẩn, còn giờ đã thấy nên vui. Sống theo những lời dạy nguyên chất của Đức Phật là đẹp vô cùng, vi diệu, cao thượng.

Sống như vậy, khó ai chê trách,

Sống như vậy, khó kẻ gièm pha,

Sống như vậy là khó đó nha,

Nhưng quyết chí là ta làm được!

Sống mà lúc nào cũng quay trở về an trú cảm giác toàn thân, nhận diện cảm giác, nghĩ tưởng, biết phê bình, chỉ trích, quở mắng những cái xấu dở, ác bất thiện pháp, biết nhiếp phục bản ngã, đánh đuổi vô minh, dập tắt những ngọn lửa sân hận thì khó ai chê trách, khó có kẻ nào gièm pha được mình. Sống lúc nào cũng tập tâm hiền, tâm hỷ, tâm buông xả, sống tha thứ, sống như vậy là khó nhưng quyết tâm, quyết chí sẽ làm được.

Vững bước lên, các con thương mến

Lúc con cười, con khóc, con buồn,

Cha mẹ luôn quan sát đời con,

Con hãy vững bước trong Chánh pháp.

Phải vững bước trong chánh pháp mới báo được đại ân đức của song thân sanh thành, mới báo được đại ân đức của chúng sanh vạn loài, bốn ân nặng đè trên vai chúng ta.

Quyết chí lên, các con thương mến

Sống thanh cao, thanh thoát, nha con

Sống thanh cao, thanh tịnh giữa đời

Sống như vậy là con hạnh phúc.

Sống cho trong sạch, hiền ngoan, sống cho hiền thiện, hiền hòa, hiền lành, sống cho hiền trí, thanh thoát, thanh cao, đừng sống nặng nề, buông lung, thối đọa, sống như vậy là hạnh phúc. Sống cho thanh cao, thanh tịnh, sống cho vững bước, quyết chí, sống vực dậy, vui lên, sống hoan hỉ với thiện pháp, với Thánh pháp, Thánh trí, Thánh đạo, sống như vậy là hạnh phúc lắm. Mọi người phải thấy được sự thanh tịnh, thanh cao, hạnh phúc ngay trong giờ phút này.

Trong hoàn cảnh bất an hiện tại mong rằng tất cả chúng ta hãy ghi nhớ và thực tập những đức hạnh nhỏ nhiệm, căn bản, nền tảng và từ từ đi sâu vào sự tu tập sâu sắc để thành tựu những đức hạnh của bậc hiền trí, hiền thiện trong giáo pháp vi diệu, cao thượng của Đức Như Lai.

Con kính bạch sư phụ con xin phép được hỏi, nếu có thầm ý khởi lên dù là thiện, vậy là có cái tôi chính là nơi để thức an trú. Vậy trong tương lai con không muốn tái sanh để hưởng phước lành vì con đã thấy sự khổ trong Tứ Thánh Đế nên con ngao ngán lắm, xin sư phụ soi sáng cho con để con được đúng như chân lý mà con tác ý. Con có nghe pháp sư phụ giảng về duyên lý sanh khởi, con tư duy nếu con nhận diện được ngũ uẩn rõ ràng về 12 xứ, 18 giới vức thì con có thể quán sự sanh diệt của ngũ uẩn và con tác ý không có mình trong công việc làm này, nếu thấy thì có tự ngã, đó là nguyên nhân cho thức an trú. Con kính trên sư phụ soi sáng cho con, sự tu tập con cạn cợt nên thực hành như vậy có lẫn trước và sau hay không. Con kính trên sư phụ ạ.

Câu hỏi này có nhiều ý, thứ nhất là làm việc thiện nhưng có thầm ý khởi lên nhưng vị này không muốn tái sanh dù để hưởng phước lành vì thấm thía được Tứ Thánh Đế nên thấy ngao ngán. Trong sự tu học của mình phải có tuần tự, khi mình chưa biết tu thì bị rơi vào ba ác hành, nghĩ xấu, nói xấu và làm việc xấu ác, còn khi đã biết tu, nhất là nhận diện được ngũ uẩn thì nhìn ra được những cái xấu đó là những cái bất thiện, Đức Phật dạy chặn lại những cái bất thiện đó thì gọi là thiện, song song đó làm thêm những việc phước như bố thí, cúng dường, từ thiện, giúp đỡ mọi người, những việc làm thiện này trước hết chặn cái ác, sau đó phát huy cái thiện. Tất cả đều có tuần tự, trước hết là thấy biết cái đó là ác bất thiện thì sợ hãi, tránh né, thâu nhiếp, nhiếp phục, đó cũng là một sự tu, ngoài ra mình làm thêm những việc thiện để phá đi những tâm xấu ác, làm từ thiện để phá tâm tham, tâm keo kiệt, bủn xỉn và phát huy được tâm xót thương, tâm bi, tâm từ đối với những người đau khổ. Mình cứ nghĩ làm việc thiện để giúp đỡ đối tượng túng thiếu, khó khăn kia nhưng thật chất là đang giúp bản thân mình trước. Thứ nhất chúng ta phải nhiếp phục tâm tham, tâm keo kiệt thì mới dám bố thí, cho, tặng, thứ hai mình phải có tình thương đối với người kia, có lòng xót thương muốn đem niềm vui cho họ, vậy là chúng ta có được tâm từ, nhiếp phục tâm tham lam, bủn xỉn và phát huy được tâm từ, tâm bi, tâm xót thương muốn đem niềm vui cho mọi người, đầu tiên mình cũng được lợi ích trước rồi người được nhận cũng được lợi ích cho nên việc làm đó lợi mình lợi người, là thiện pháp. Khi chúng ta mới khởi lên suy nghĩ muốn đi giúp người khác là đã thấy vui rồi, khi nói ra là vui, trong lúc sửa soạn, chuẩn bị để bố thí, cúng dường, giúp đỡ mọi người cũng vui nữa, người nhận được những món quà, sự chia sẻ đó cũng hoan hỉ, vui mừng, cho nên việc làm thiện lành này trước hết sẽ giúp cho nội tâm mình, thứ hai là giúp cho người bên ngoài, đó là thiện pháp để mình tu nhiếp phục và hóa giải những ác pháp.

Đương nhiên trong sự tu phải đi từng bước, nếu mình hiểu được pháp, thấy được sự đau khổ của cuộc đời này rồi, mình làm thiện sẽ có cảm thọ vui, khi tu tập Sơ thiền phải có tầm, có tứ, tác ý hỷ lạc mới sanh ra hỷ lạc, khi mình làm thiện cũng giống như vậy, cũng phải để cho những tác ý hoan hỉ, chính cái vui, hân hoan, phấn khởi, vui vẻ trong việc làm thiện mới làm chất liệu bổ dưỡng nuôi tâm tu của mình, còn nếu làm thiện mà không thấy vui, không có cảm giác gì sẽ rất khó làm thiện, cho nên tác ý hỷ lạc trong khi làm thiện cứ để cho sanh khởi, được nhiều thì tốt nhưng cũng đừng để quá đà. Sâu xa bên trong nếu có khởi bản ngã mà nhiếp phục được là quá tuyệt vời, tức là phước huệ song tu, tuy mình làm phước, làm lành, làm thiện nhưng khi thấy bản ngã là nhiếp phục thì cái đó gọi là "bi trí song vận, phước huệ song tu". Bi là thực thiện tình thương, giúp đỡ, cho, tặng mọi người, còn trí là khi thấy trong người có những ác bất thiện pháp bản ngã thì lập tức nhiếp phục, tác ý, trừ diệt thì gọi là bi trí song hành, bên ngoài thực hiện tâm từ bi, bên trong cũng có tâm xót thương mới làm được nhưng sâu thẳm bên trong mình thấy đang khởi cái ta, cái tôi, cái ta là người đi ban phát, cho những người nghèo khó kia mà mình không nhiếp phục thì đó là mầm móng để phước thiện của mình không được viên mãn, không được thuần thiện, chí thiện, không được thánh thiện. Vì lỡ như chỗ nào mình cho mà họ niềm nở, vui vẻ, vỗ tay thì mình thích, còn đi đến chỗ nào mà có sơ suất, xảy ra chuyện không vui là mình không cho nữa, có rất nhiều trường hợp đi làm từ thiện rồi sân hận là do có làm phước mà không tu huệ, có bi nhưng không biết thực tập cái trí vì thế bi trí phải song vận và phước huệ phải song tu. Tùy theo sự tu học của mình mà mình tác ý hoặc lên trang linhquyphapan.vn để xem lại những bài tác ý Minh Thành đã hướng dẫn, chia sẻ.

Người Phật tử này ghi vì mình thầm ý về tự ngã là nguyên nhân cho thức an trú, chỗ này rất sâu sắc. Mình có cái tôi, dù là thiện pháp thì thức cũng sẽ có chỗ an trú vì vậy nguyên nhân cho tái sanh ở đời sau còn tiếp diễn. Cho nên khi nhìn thấy sâu sắc bên trong, giải phá được, nhổ được gốc rễ của cái tôi thì rất tốt, đó mới là hành giả Nikāya chân chánh.

Mô Phật, con kính xin sư phụ giảng cho con rõ khi một Phật tử đã có học và hiểu về ngũ uẩn nhưng chưa lâu năm có ý muốn hiến xác khi ra đi thì điều gì cần tu tập cấp thiết nhất vì con cũng hơn 60 tuổi, do khi ngồi thiền quán tưởng thân xác mình bị cưa cắt như trong clip con cảm giác lo sợ, nóng, tim đập nhanh hơn, cảm giác đau như chính mình bị mặc dù những cảm giác đó không mạnh lắm. Con kính sư phụ giúp con ạ, con cảm ơn sư phụ.

Phật tử muốn phát tâm hiến xác nhưng bây giờ phải tu tập cái gì cấp thiết nhất vì năm nay cũng hơn 60 tuổi, khi ngồi thiền quán thân xác bị cưa cắt trong clip thì thấy sợ, nghĩa là muốn hiến xác nhưng sợ bị người ta cắt, mổ nên sợ đau. Trước tiên muốn hiến xác phải tu tập quán bất tịnh thật nhiều, không được rời tâm từ nhưng vì tâm nguyện của mình như vậy nên cần thực tập quán bất tịnh, quán tứ đại, quán chín giai đoạn của một tử thi cho sâu sắc. Quán như vậy để phá thân kiến, cái kiến chấp về một cái tôi, cái ta, kiến chấp về sắc uẩn, sắc pháp này, kiến chấp về mấy chục kí lô thịt này, về tim, gan, phèo, phổi… mình nghe và quán chiếu để thành tựu trí tuệ kiến chấp về thân. Khi mình xem thiền quán thấy họ giải phẫu có những cảm thọ như vậy là đương nhiên vì ai cũng vậy nhưng khi từ từ thâm nhập trí tuệ sẽ có cảm giác an tịnh, lắng dịu, nhưng phải dụng công phu về trí tuệ phá thân kiến đó. Ngoài ra, khi mình chết rồi còn biết gì nữa mà sợ, đâu còn biết gì nữa nên ai muốn cắt, muốn chặt, muốn bỏ vào lò thiêu, vào hòm mình cũng đâu biết gì nữa, có nhiều người nói muốn chôn chứ không muốn thiêu vì sợ nóng, chết rồi có biết gì nữa đâu mà sợ nóng với lạnh. Bây giờ mình còn sống thì còn thức phân biệt cảm thọ, nhưng khi mình tắt thở là phong đại đi trước kế đó là hỏa đại vì tắt hơi là thân thể lạnh ngắt, sau đó đến thủy đại vì cơ thể sẽ trương phình lên, nứt nẻ chảy nước ra, cuối cùng thân thể bắt đầu phân hủy từ từ rã tan ra thành tro thành bụi là địa đại nát hết. Trong lúc tim ngừng đập, thân thể lạnh ngắt thì thức uẩn sẽ thoát ra, trong kinh ghi lại khi đó Ác ma sẽ đi tìm những cái thức đó.

"-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy làn khói đen tối ấy đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới không?

-- Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy như vậy.

-- Này các Tỳ-kheo, đó là Ác ma đang đi theo dõi thức của thiện nam tử Godhika: 'Thức của thiện nam tử Godhika được an trú ở đâu?'. Và này các Tỳ-kheo, thiện nam tử Godhika đã nhập diệt, với thức không an trú ở đâu cả". (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, III. Phẩm Thứ Ba (Thêm năm kinh), III. Godhika)

Khi thức thoát ra thì chỉ còn lại đống thịt vô tri không còn biết lạnh nóng, đau đớn gì nữa, vì vậy mình cần cố gắng thành tựu trí tuệ phá thân kiến, trí tuệ về tứ đại, về sắc uẩn này chứ đừng lo sợ hiến xác bị người ta mổ xẻ rồi sợ đau. Tâm nguyện hiến xác là tốt vì khi chết rồi cũng phải thiêu hoặc chôn dưới đất, còn hiến xác như vậy cũng đóng góp cho nền y học để nghiên cứu trị bệnh cho nhân loại, cho thế giới, đó là một thiện pháp nên không cần lo hiến rồi bị mổ xẻ đau đớn và chỉ cần lo chết rồi vẫn chưa thành tựu chánh kiến, chưa thành tựu trí tuệ phá thân kiến, chưa thành tựu trí tuệ về tứ đại thân xác này.

Một sư cô tiếp xúc với dòng pháp này cũng từng lên đâu tu học thì cô thấy rất sốc vì thấy được vô minh, ngũ uẩn tham ái của mình cho nên khi thường thực hành ba pháp và nhận diện năm uẩn sẽ không giống với bạn học, thấy giống như mình tách biệt với mọi người. Khi con thực hành tập ít nói lại, làm việc chú tâm, nhận diện ngũ uẩn, thực hành ba pháp thì vô tình sự im lặng của mình làm cho mình biệt chúng vì mọi người ai cũng cười nói mà mình quá im lặng, vậy có phải mình phải hòa đồng với mọi người nhưng khi hòa đồng con sẽ mất chánh niệm. Khi mọi người nói chuyện huyên náo thì con thích ngồi một mình, thích sự tĩnh lặng học bài hay nghe pháp, ít quan tâm người khác nghĩ gì, làm gì, vậy có phải là ích kỷ, chỉ biết sống cho một mình mình không ạ?

Cô làm như vậy là đúng, chúng ta học lục hòa là lục hòa trong Thánh giới, Thánh định, Thánh tuệ và Thánh giải thoát chứ không phải lục hòa trong buông lung, vì thế đây là sự khéo léo. Ngày xưa Minh Thành ở trong chúng cũng vậy, Minh Thành có suy nghĩ cha mẹ mình mà mình còn bỏ, ông bà, cô bác, chú dì, sự nghiệp tương lai mà mình dám bỏ hết tất cả thì không thể nào vì lời khen tiếng chê của mọi người mà phải đi theo người ta, chính vì vậy Minh Thành ở trong chùa mấy chục năm nhưng trong chùa xảy ra chuyện gì Minh Thành đều không biết vì chỉ chuyên tâm vào pháp, trong chùa không có ngồi thiền mà nếu mình ngồi thì không giống ai nên Minh Thành ra mái hiên ngồi, ban ngày ánh nắng chiếu vào rất nóng muốn ngồi phải lấy nước đổ xuống lau cho thấm nước mát mới ngồi được nhưng hơi nóng vẫn hắt lên. Có nhiều huynh đệ cười chọc nhưng mình không ngại vì mình xuất gia là một cuộc xuất ly vĩ đại chứ không phải đi tu để tìm tình bạn, tìm sự chấp nhận của những người mình thương, mình đi tìm sự tìm cầu của bậc Thánh. Ta bị sanh, không thoát khỏi sanh nên đi tìm cái không sanh, ta bị già, không thoát khỏi già nên ta ra đi để tìm cái không già, ta bị phiền não, khổ đau, ta bị chết nên ta ra đi để tìm cái không chết, không phiền não, khổ đau, đó là sự tìm cầu của thái tử Tất-đạt-da, đó là sự tìm cầu của bậc Thánh.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Thánh cầu? Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị sanh, tìm cầu cái vô sanh, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị già, sau khi biết rõ sự nguy hại của bị già, tìm cầu cái không già, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn; tự mình bị bệnh... cái không bệnh... tự mình bị chết... cái bất tử... tự mình bị sầu... cái không sầu... tự mình bị ô nhiễm, sau khi biết rõ sự nguy hại của ô nhiễm, tìm cầu cái không ô nhiễm, vô thượng an ổn khỏi các khổ ách, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, như vậy, gọi là Thánh cầu". (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)

Mình phải xác định rõ mục tiêu, lý tưởng, chí hướng, sự tìm cầu của mình là gì, không để cho những thứ xung quanh làm lạc hướng, làm mình rơi vào lối tẻ, phải xác quyết con đường của mình, không vì tiếng khen tiếng chê, cái nhìn của mọi người mà đánh mất đi mục tiêu tối thượng mà mình phải từ bỏ mẹ cha, việc làm này rất vĩ đại, ngày nào cũng chạm vào đầu rồi tự hỏi "cạo đầu khoác áo để tìm cầu cái gì? Mong muốn đạt đến chỗ nào?", hỏi nhiều lần trong ngày thì mới giữ được lập trường, chí hướng, nếu không mình sẽ dễ vui, dễ buông lơi, mình sẽ rơi rớt, mình sẽ giống như những người mà mình đã thấy chứ không giống như bậc Đa văn Thánh đệ tử. Tuy nhiên, mình vẫn phải linh động, uyển chuyển để hòa hợp, khi có người đến hỏi mình vẫn nói chuyện, người ta không hỏi thì cứ tập trung thời gian, tập trung tâm ý, tất cả tâm lực, hạnh lực, nguyện lực, trí lực vào việc hành pháp, học pháp để thể nhập, chứng nhập Thánh pháp, ngoài việc này ra không còn chuyện gì quan trọng nữa, không nhất thiết phải được mọi người công nhận, vui vẻ với mình, mình không phải đi tìm tình bạn mà mình đi tìm sự giác ngộ, chánh giác, vì thế lập trường, chí hướng của chúng ta phải được xác định và phải giữ vững mục tiêu, lập trường đó để mình tiến, nhưng trong huynh đệ thì mình cứ chia sẻ và cũng cần nhớ "gần mực thì đen, gần đèn thì sáng", phải chọn bạn trong sự giao lưu để cầu học tăng thượng giới – định – tuệ chứ không phải theo cái thường tình của thế gian.

Khi gặp những việc trái ý thì con khởi tâm khó chịu, sân vi tế trong lòng. Con tác ý để chuyển hóa nhìn mặt ngoài như tự tại nhưng bên trong vẫn khó chịu một khoảng thời gian mới hết ạ, vì nó chưa được chuyển hóa nên khi gặp duyên nào bên ngoài tác động thì nó lại khởi lên tâm sân. Con kính xin thầy chỉ dạy thêm để hiểu rõ hơn và thực tập trong đời sống hằng ngày, con kính tri ân trên thầy và đại chúng.

Phải thực tập tâm từ thường xuyên và liên tục mới được chứ sân của mình là tùy miên, nó đi theo bên mình miên man, nếu giỏi lắm chỉ nhiếp phục được cái thô bên ngoài còn không thực hành từ tâm giải thoát thì không thể bứng tận gốc rễ sân si, cho nên phải thực tập thường xuyên và liên tục không chỉ trong thời khóa mà bất cứ khi nào có thời gian là tác ý trải tâm từ, thường xuyên và liên tục tưới tẩm và vun bồi, tăng trưởng, phát triển, nuôi lớn tâm từ vô lượng, bi vô lượng, thường xuyên an trú trong cảm giác toàn thân trong cảm giác từ ái, xót thương chính mình và hữu tình chúng sanh, thực tập như vậy thường xuyên thì đến một lúc nào đó chúng ta sẽ hóa giải, giải phá được những cảm giác sân vi tế, cho nên những tâm hiền, tâm từ, tâm bi tuyệt đối quan trọng. Kính mời quý sư cô lên trang linhquyphapan.vn để nghe những bài giảng cũng như những bài thực hành, nếu được hãy học thuộc lòng những bài trải tâm từ, phải thực tập nhiều tuần, nhiều tháng, nhiều năm rồi sẽ thành công.

Con kính sư phụ giảng giải cho con phân biệt trạch pháp tâm nhu nhược và âm hiền nhẫn nhục.

Tâm nhu nhược là tâm yếu đuối, yếu kém, không mạnh mẽ. Ví dụ mình học nhận diện ngũ uẩn, mới thực tập vài ngày là thấy khó quá, nghĩ tu không được, đó là nhu nhược, chỉ quen một hơi thở hay niệm một câu mà giờ bắt nhận diện nhiều quá cảm thấy không làm được thì đó là tâm yếu kém. Sau khi qua được quan ải này sẽ thấy được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si, bản ngã thì lần thứ hai lại nghĩ không làm nổi, cứ suy nghĩ theo chiều yếu đuối, yếu kém, không làm được rồi muốn dừng lại hoặc muốn thoái lui thì đó là nhu nhược, là yếu kém, hoặc trong tâm sanh khởi lên những lậu hoặc, khi cơn sân sanh khởi lên mình thấy cảm thọ sân hận đó nhưng lại đi theo tham ái, nghĩ rằng không trị được cơn sân, không hóa giải được tận cùng thì đó cũng là suy nghĩ nhu nhược, yếu kém chứ không phải đại hùng, đại lực theo tinh thần Đức Phật dạy, Đức Phật là bậc đại hùng, mình mạnh mẽ thì đó là đại hùng.

Tâm hiền lành, nhẫn nhục là như thế nào? Nếu có người muốn gây sự, hơn thua nhưng mình an tịnh, lắng dịu, mình thấy chuyện đó không đáng để mình phải tức tối, sân giận, tranh đấu cho nên mình nhường, mình nhịn, mình buông xả, tha thứ, thậm chí có những việc mình biết họ lợi dụng nhưng mình vẫn bỏ qua vì trong tâm mình hiền lành, hiền từ. Không phải mình không biết, mình biết nhưng mình không muốn tranh giành, hơn thua, tranh đấu, mình biết nhưng vẫn buông bỏ, trong gia đình cũng vậy, vợ/chồng muốn nói cho hơn, nói chỉ trích, nói nặng nề, mình vẫn nghe, vẫn biết nhưng tâm vẫn an tịnh, lắng dịu, nhẫn nhịn, nhúng nhường thì đó là đức hiền nhẫn của người Phật tử chứ không phải nhu nhược. Như nhược là không chịu nỗ lực học, không chịu nỗ lực tu, không nỗ lực để làm các thiện pháp mà làm biếng, thoái lui thì đó là nhu nhược, còn hiền nhẫn là người ta muốn hại, muốn sân si, muốn lấn lướt mình và mình biết nhưng vẫn an tịnh, lắng dịu, từ nhẫn. Hơn thua, gây gổ, tranh đấu rồi cuối cùng được cái gì? Đó là đức hiền nhẫn cao đẹp của người Phật tử, mọi người hãy tinh tấn tu tập để có được đức hiền nhẫn này.

Đây là phương trước mặt

Rộng lớn và bao la

Hòa lẫn khắp phương này

Là tâm từ của ta

Tâm từ này rộng lớn

Vô lượng và vô biên.

./.