Khổ Thánh Trí 8 - Nhờ Khổ Mới Tin Sâu 2
Kinh Nikāya Giảng Giải
KHỔ THÁNH TRÍ 8
Nhờ Khổ Mới Tin Sâu
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Duyên khởi PAGEREF _Toc146463655 \h 1
II.“Cảm ơn” đau khổ PAGEREF _Toc146463656 \h 2
III.Nhờ khổ mới tin sâu PAGEREF _Toc146463657 \h 3
1.Hạnh phúc khi thấy khổ PAGEREF _Toc146463658 \h 4
2.Định PAGEREF _Toc146463659 \h 8
3.Tri kiến như thật PAGEREF _Toc146463660 \h 10
4.Lộ trình tu tập PAGEREF _Toc146463661 \h 11
Duyên khởi
Hôm nay theo truyền thống Phật giáo phát triển là ngày vía của Đức Bồ-tát Quan Thế Âm, đây cũng là ngày nhập bảo tháp của đại trưởng lão Hòa Thượng Thích Phổ Tuệ, đó là bậc lão Tăng thanh bần đứng đầu giáo hội. Trong lễ truy điệu cung tiên tiểu sử, Hòa Thượng phó pháp chủ đệ nhất Thượng Trí Hạ Quảng nói lời xưng tán Hòa Thượng pháp chủ có ba điều được tôn kính: giữ chức vị cao nhất của giáo hội, sống lâu nhất 105 tuổi, đức hạnh sáng nhất, đây là ba điều đáng được tứ chúng tôn quý, một bậc lão Tăng thanh bần, đơn sơ, mộc mạc, chất phát. Sáu tuổi ngài đã xuất gia, đến nay là ngài 105 tuổi, hiện tại trong tự viện cả nước đều lặp di ảnh của ngài để tưởng niệm. Thủ tướng chính phủ và tất cả ban ngành đoàn thể từ trong đạo cho đến ngoài đời đều đến viếng, cả nước khóc thương vì đức hạnh của ngài. Bữa cơm của ngài rất đơn sơ, y phục bình dị, đơn giản, ngài ở trong ngôi chùa làng ở vùng quê gần trăm năm, dù được các vị tôn đức mời đến trụ trì những ngôi chùa vĩ đại ngoài thị thành nhưng ngài từ chối.
Minh Thành có cơ duyên ra đảnh lễ và hỏi pháp ngài khoảng 5-7 năm về trước, ngài rất bình dị và có gửi cho Minh Thành vài quyển kinh ngài dịch và chú giải. Hôm nay chúng ta ngồi đây cúng dường pháp bảo lên giác linh của ngài và cầu nguyện cho ngài được thành tựu cứu cánh phạm hạnh, phổ lợi nhân thiên. Giờ đây chúng ta hãy hướng tâm về một bậc cao Tăng đức độ đứng đầu giáo hội, đó là đức pháp chủ giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Điều tiếp theo là Minh Thành thấy thầy Pháp An càng ngày càng già bệnh, bổn phận làm con không nuôi dưỡng cung phụng được, phải nhờ các thầy các cô giúp đỡ. Minh Thành chỉ báo đáp bằng giáo pháp cho nên mỗi buổi thầy Pháp An tham dự nghe pháp là Minh Thành rất mừng. Không biết thầy còn sống bao lâu cho nên bản thân Minh Thành cũng cố gắng chia sẻ Thánh pháp này để thầy Pháp An trong những giây phút cuối có đầy đủ tư lương hành trang để khi ra đi được bước lên cõi lành và tiếp tục thể nhập chánh tri kiến.
Hôm nay Minh Thành nhận được cuộc điện thoại cách xa nửa vòng trái đất của các Ni sư đã tu học mấy chục năm; sau khi nghe hiểu về giáo pháp này, chư Tăng Ni và quý Phật tử gọi về để gửinhững lời chân thành cảm ơn và khích lệ bản thân Minh Thành cố gắng trong pháp học và pháp hành này. Các vị tâm sự rằng đã tu mấy chục năm nhưng khi học và thực tập pháp này mới thấy rõ và hiểu thân tâm của mình, đó là duyên khởi rất nhiều của buổi chia sẻ hôm nay.
“Cảm ơn” đau khổ
Trong sự tu này, chúng ta phải lấy khổ làm thầy, lấy khổ làm bậc thiện tri thức, lấy khổ làm bạn lành, lấy khổ làm bạn đạo, lấy khổ làm trợ duyên, làm động lực. Chính nhờ khổ chúng ta mới có niềm tin, mới tin sâu vào pháp; không có khổ chúng ta không phát khởi niềm tin, cho nên chúng ta phải vô cùng cảm ơn đau khổ, chủ đề chia sẻ hôm nay cũng có thể gọi là “cảm ơn đau khổ”.
Thật sự nhờ đau khổ chúng ta mới ngồi đây cùng nhau tu học, nhờ có khổ chúng ta mới có thân tướng viên đảnh phương bào, đầu tròn áo vuông, nhờ có khổ mới khoác tấm y phước điền vô thượng, nhờ khổ mới rũ bỏ hồng trần lên núi cầu đạo, nhờ có khổ mới quay lưng lại năm dục trưởng dưỡng của thế gian. Vì thế phải cảm ơn đau khổ. Tuy học về khổ nhưng chúng ta lại thấy vui và hạnh phúc vì mình tìm được lối thoát khỏi khổ đau. Hãy cảm ơn sự phũ phàng của cuộc đời này, cảm ơn sự cay đắng của thế gian này, cảm ơn sự phản phúc, dối trá, lật lọng, cảm ơn những kẻ lừa đảo, những kẻ hủy nhục, khinh khi mình; nếu không có những điều này, có thể mình đã không tu được.
Khi còn nhỏ, Minh Thành bị thầy Pháp An đánh, bị hai người anh đánh, cũng bị chị đánh, bị đánh nhiều đến nỗi không thể ở nhà mà phải qua ở với các cô, mà ở chỗ nào cũng có nỗi khổ của chỗ đó. Minh Thành khổ tâm từ nhỏ đến lớn, từ vật chất cho đến tinh thần nên sống nội tâm rất nhiều, từ nhỏ đã ngủ chung với nước mắt hằng đêm. Lúc Minh Thành chuẩn bị đi xuất gia thì có người nói "mày mà đi xuất gia được thì tao cùi hết mười ngón tay". Bây giờ nghĩ lại thì cảm ơn tất cả, vì không có những điều đó thì sẽ không có một ông thầy đầu trọc bần cùng, bần Tăng giống như bây giờ. Khi lớn lên cho đến khi đi tu cũng gặp nhiều chuyện đau xót, cay đắng, nhờ vậy mới đi lên núi ẩn tu, mới có ra Linh Quy, mới gặp được dòng pháp Nikāya.
Thầy Pháp An phải cảm ơn đôi mắt không còn thấy gì nữa, cảm ơn thần kinh tọa đang hành hạ mình mỗi ngày, vì nhờ cái khổ này mới ngồi đây tu học, đừng buồn bã, phiền não hay oán trách, vì thân này đang đi dần đến biến hoại đúng với lời Đức Phật đã dạy. Mình đã cố gắng chữa trị nhưng không khỏi bệnh thì phải chấp nhận, vì bản tánh của nó là vậy, bản chất của nó là vậy, bây giờ mình trân trọng từng ngày được sống, cố gắng tu học để thoát khỏi thân năm uẩn này. Tấm thân này như một bộ máy đã hoạt động 78 năm, bây giờ nó dần dần rệu rã là lẽ đương nhiên, không thể mong muốn cơ thể này tốt trở lại như những ngày đầu tiên được. Rất nhiều Phật tử gọi về cám ơn thầy Pháp An và mong thầy có nhiều bài chia sẻ nữa vì thầy nói chuyện bình dân, thân thiện, dễ hiểu cho nên thầy phải cố gắng có nhiều sức khỏe để chia sẻ những điều tâm đắc về kinh Nikāya.
Ngoài đời đã quá nhiều đau khổ, đến khi vào chùa rồi vẫn còn khổ, vẫn không giải quyết được vấn đề, dù học diệt khổ nhưng vẫn không diệt được nếu không thật sự thấy trí tuệ về khổ của bậc Thánh, cho nên lấy khổ làm thầy mới là tinh thần của người tu. Nếu không thấy khổ là mình không tu được, người càng khổ chừng nào thì càng tu sâu sắc chừng đó. Người càng tinh tấn tu hành thì người đó trải nghiệm khổ càng sâu sắc nên lòng tin đạt tịnh tín bất động; người không thấy khổ sẽ không tin pháp sâu nên không thể đi đến chỗ tịnh tín bất động.
Thế nên, chúng ta phải tập nhìn tất cả mọi ngóc ngách của đời sống này đều có khổ trong đó, đây là sự thật không được quên. Hãy nhìn ra được mặt trái của cuộc đời này, nhìn ra bản chất của đời sống này; nếu chỉ thấy vị ngọt mà không thấy sự nguy hiểm và tác hại của nó thì không thể xuất ly khỏi nó. Khi nhìn thấy khổ một cách thấm thía, một cách sâu sắc thì lòng tin với Chánh Pháp không ai lay chuyển được, có chết cũng không bị lung lay, giống như câu "dù ai nói ngả nói nghiêng, lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân".
Do vậy, chỉ có thấy khổ một cách thấm thía thì lòng tin vào Phật Pháp mới vững chắc, còn khi thấy khổ chưa đủ thì lòng tin rất dễ bị lung lay, đó là lý do cả tạng kinh Nikāya chỉ thuần nói về khổ và sự diệt khổ, Đức Phật là bậc đã phơi bày ra bản chất đau khổ của đời sống này. Nhờ thấy khổ mới không còn ham muốn, hơn thua, tranh giành nhau những thứ vô thường, đầy đau khổ này. Cho nên cần lấy khổ làm thầy, khi cái khổ thấm nhuần thì lòng tin được vững chắc, không dao động; khi lòng tin vững chắc thì tâm hân hoan, hạnh phúc, học về khổ nhưng thấy thích thú, thấy bản thân lớn mạnh, sáng tỏ đối với mọi sự vận hành của đời sống này.
Nhờ khổ mới tin sâu
Trong bài kinh Duyên, Tương Ưng Bộ, tập II, Đức Phật có dạy:
"Và này các Tỳ-kheo, duyên của hỷ là gì? Hân hoan là câu trả lời. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng hân hoan có duyên, không phải không có duyên.
Và này các Tỳ-kheo, duyên của hân hoan là gì? Lòng tin là câu trả lời. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng lòng tin có duyên, không phải không có duyên.
Và này các Tỳ-kheo, duyên của lòng tin là gì? Khổ là câu trả lời. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng khổ có duyên, không phải không có duyên".
Hạnh phúc khi thấy khổ
Như đã học, có ba tính chất của khổ là khổ khổ, hành khổ và hoại khổ. Đầu tiên là khổ khổ, tức là khổ chồng chất lên khổ, ngoài đời thường dùng từ thảm họa kép, thiên tai kép hoặc tổ hợp thảm họa kép, đó chính là khổ thứ nhất. Cái khổ thứ hai là khổ đau trước những sự đổi dời; chẳng hạn, ngày xưa mắt sáng nhưng giờ lại không thấy, ngày xưa chân đi khỏe nhưng giờ đi không được, ngày xưa muốn làm gì cũng được nhưng giờ làm không được; sự đau khổ trước những thay đổi đó gọi là hành khổ. Cái khổ thứ ba là đau khổ trước những sự biến hoại, gọi là hoại khổ. Ngoài ra còn tám cái khổ hay được nói đến: sanh khổ, bệnh khổ, già khổ, chết khổ, thương chia lìa là khổ, oán gặp nhau là khổ, cầu không được là khổ, năm thủ uẩn là khổ.
Nhờ thực thấy đời sống này diễn ra đúng như vậy và chiêm nghiệm được khổ đau vận hành ngay tự thân mình nên ta xác quyết, tịnh tín bất động, không còn dao động đối với Đức Phật, đối với sự chứng ngộ của Đức Phật, đối với những lời dạy của Đức Phật. Lúc đó tâm ta vui vẻ, phấn khởi, hân hoan. Mỗi khi nghe về khổ thì biết sự thật là vậy, thực chứng như vậy, chân lý là vậy thì vô cùng hạnh phúc, vui mừng. Nhiều vị nghe pháp quên cả ăn uống, cảm thọ hân hoan, hỷ lạc vô cùng. Lúc đầu, niềm vui này có thể biểu hiện hơi thô, thậm chí có người muốn nhảy cẫng lên vui mừng khi thấy được pháp. Dần dần, trong khi nghe pháp, thiền quán mà hiểu ra một điều gì đó, hoặc khi nhiếp phục được cảm thọ dục tham, sân hận, bản ngã thì mình thích thú, sung sướng, sau đó chỉ cảm thấy vui nhẹ nhàng, không còn dao động nhiều nữa, các cảm thọ từ từ vi tế, sâu sắc hơn.
Khi đến Bồ-đề đạo tràng, Minh Thành đã òa khóc tức tưởi vì rúng động, cảm thọ tuôn trào giống như đã chất chứa, dồn nén mấy chục năm qua. Hơn thế nữa, vô lượng vô biên kiếp vừa qua mình đã ở trong bóng đêm, trong sự che đậy, mê muội, đến lúc bừng sáng, thấy được ánh mặt trời nên tuôn trào cảm xúc. Người nào tinh cần tinh tấn tu học sẽ có được cảm thọ như vậy, cái khóc đó không phải khổ mà cái khóc đó là hân hoan, như trút được gánh nặng đã dồn nén, bị áp bức trong nhiều năm.
Người ngoài nhìn vào cứ nghĩ đạo tràng Nikāya cứ khóc lóc nặng nề quá nhưng họ không biết đó là niềm hân hoan trong Chánh Pháp. Đây là chỗ đặc biệt, hân hoan có hai trường hợp: thứ nhất là tức tưởi, dâng trào cảm xúc mà biết bao đời bao kiếp bị che lấp; thứ hai là sự phấn khởi, thích thú, sung sướng. Đây là hỷ và ưu trong thiện pháp. Sau một thời gian tu tập, nghe pháp, hành trì thì cảm thọ sẽ dần lắng dịu, không còn dao động nhiều nữa. Đi đúng theo trình tự của pháp thì từ vui mừng sẽ chuyển thành nhẹ nhàng, hoặc khi ngồi thiền thấy nhẹ như bông gòn, đó là trạng thái của khinh an, trong đó ‘khinh’ là nhẹ, ‘an’ là yên. Khi đã khinh an, nhẹ nhàng, ta sẽ có lạc, tức là vui trong pháp. Và Đức Phật có nói, chính hỷ lạc đưa đến chứng đắc:
"Vô thỉ, này các Tỳ-kheo, là sự luân chuyển, khởi điểm không thể nêu rõ, đối với (những đau khổ) do bị thương đâm, do bị kiếm chém, do bị búa chặt. Dầu vậy đi chăng nữa, này các Tỳ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng nhờ khổ và ưu mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Nhưng này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng nhờ lạc và hỷ mà bốn Thánh đế được chứng ngộ".
(trích Tương Ưng Bộ Kinh tập V, bài kinh Một Trăm Cây Thương)
Như vậy, lúc mới bắt đầu tu, ta phải chiêm nghiệm sự thật về khổ nhưng càng đi vào thể nhập sự thật thì sẽ đưa đến hân hoan, vui mừng, nhẹ nhàng, vui nhẹ trong cảm thọ, đây là sự an lạc, tức là yên vui. Cảm thọ không phải cái vui được ăn ngon, đi chơi, mặc đẹp, đây là những cái vui liên hệ đến vật chất; còn cảm thọ vui nhè nhẹ trong pháp là cái vui không liên hệ đến vật chất. Như Đức Thế Tôn có dạy, sanh là khổ, già nua, bệnh tật là khổ, sự biến hoại của các hành là khổ, sự nắm chặt vào trong các cảm giác sân hận, ham muốn, dục vọng là tai họa. Khi thấy rõ ràng các cảm giác đó vận hành trong khổ, đúng như lời Đức Phật đã dạy thì mình bắt đầu nhiếp phục, diệt tận, làm cho những uế nhiễm được an tịnh, lắng dịu thì trong tâm xuất hiện trạng thái hân hoan, vui mừng, nhẹ nhàng và yên vui. Khi đã đi đến lạc thì bắt đầu bước vào định, đây là lộ trình tâm.
Cho nên cần nhớ rằng, thiền định là nhờ yên vui mới chứng đắc chứ không phải do khổ mới chứng đắc; khổ là bước đầu để phá tà kiến, phá cái nhìn sai lầm, lệch lạc; sau đó đi vào tu tập phải an lạc, yên vui thì mới chứng đắc thiền định. Người nào có sai lầm, hối tiếc, trạo cử trong giới hạnh, giới đức là không thể vào định được; bởi lẽ, mỗi khi ngồi thiền là nhìn thấy tội lỗi, thấy sai phạm nên buồn phiền, lo lắng, bất an, bứt rứt, không có hỷ lạc, do đó tâm không được an yên, không nhẹ nhàng mà lại rất nặng nề, không có an vui, vì vậy không thể vào định; cho nên muốn vào định thật sự rất khó khăn.
Muốn thành tựu Chánh định của đạo Phật thì giới hạnh phải viên mãn, nhất là những giới căn bản phải giữ được. Người tu hành lâu năm nhưng vẫn không vào định được là do bị trạo cử. Trạo cử ở đây không phải là do những sự dao động, bận rộn, lăng xăng ở ngoài, đây chỉ là cái thô ngoài thân; mà vi tế hơn là sự ray rứt, hối tiếc, ăn năn bên trong khi thấy mình có những sai phạm trong giới pháp. Chính điều này làm tâm không được khinh an mà rơi vào bất an, hay còn gọi là trạo hối. Trạo là dao động, hối là hối hận, tâm bị dao động vì hối hận do có lỗi nên không tiến bộ trong tu tập. Cho nên giới rất quan trọng, nếu không giữ giới thì không đi vào định được, nếu có thì cũng chỉ đạt được từng phần chứ không được viên mãn, còn khi tâm được yên vui nhè nhẹ mới có thể đi vào an định. Như vậy, sau khi thấy khổ thì mình bắt đầu đi vào bốn trạng thái của hỷ lạc, gồm: hân hoan, hỷ, khinh an, lạc. Qua đó ta thấy rằng, đi tu không phải là đi tìm khổ, mà sau khi thấy khổ, ta đạt được lòng tin xác quyết, bất động, không lay chuyển đối với con đường này. Khi lòng tin thành tựu thì ta sẽ vô cùng hân hoan, phấn khởi, thích thú, thậm chí có thể hét lên, la lên, sung sướng.
Như câu chuyện về một ông quan đi xuất gia, lúc ngồi thiền ban đêm thì đột nhiên ông la lên "ôi hạnh phúc quá, ôi hạnh phúc quá", các thầy đi mách lại cho Thế Tôn chắc vị này ngày xưa làm quan được hưởng dục lạc đầy đủ nên giờ nhớ lại thấy sung sướng mới la lên. Thế Tôn mời lại hỏi thì ông thưa rằng ngày xưa làm quan tổng trấn có rất nhiều quân lính hầu hạ, bảo vệ nhưng vẫn thấy bất an, lo lắng. Ngược lại bây giờ đầu trần chân đất, khoác tấm y, ngồi một mình dưới gốc cây nhưng lòng lại khinh an, hỷ lạc cho nên vị này thấy vi diệu, tuyệt vời vượt ngoài tất cả mọi vật chất trên đời nên ngài la lên "ôi hạnh phúc quá, ôi hạnh phúc quá". Đó chính là sự hỷ lạc sau khi thấy khổ.
Như vậy, thấy khổ chỉ là bước đầu tu học, qua giai đoạn này thì sự hân hoan, vui mừng, nhẹ nhàng, yên vui sẽ thường xuyên xuất hiện, an trú trong cảm thọ. Cũng như mỗi ngày tu học, chúng ta cảm thấy an lạc trong từng bước chân khất thực; hân hoan mỗi khi được ngồi thiền, nghe pháp dưới gốc cây, trên tảng đá giữa trời mây, núi non của đại ngàn. Bốn thọ này là sự hỷ lạc trong Chánh Pháp. Nếu không có hỷ lạc, mà cứ thấy khổ hoài thì không thể tu học lâu dài, mà sau khi thấy được khổ, chúng ta phải hướng đến sự thoát ra. Khi nào thấy hết tất cả khía cạnh của khổ thì lòng tin này mới được vững chắc, thành cột trụ, đây là động lực đẩy mình vào dòng pháp, vì thế cái khổ này là thầy, là bạn lành, là bậc thiện tri thức, là động lực. Sau khi thấy khổ rồi đánh đuổi nguyên nhân làm khổ thì lòng tin của ta sẽ được lớn mạnh đối với sự chứng ngộ của Đức Phật, đối với những lời dạy trong tạng kinh Nikāya và đối với sự thấy biết về tự thân chính mình.
Niềm tin ở đây đặc biệt ở chỗ phải đến để mà thấy. Trước đây chúng ta chỉ thấy trong kinh, trong sách, nghe người ta nói, còn nhận diện ngũ uẩn là giúp ta thấy pháp nơi tự thân mình: thấy sắc vận hành, thấy những hình bóng trong tâm vận hành, thấy những suy nghĩ vận hành, thấy nhận thức, tham ái, si mê, vô minh, bản ngã vận hành. Cái thấy này mới đưa ta đi đến lòng tin không lay chuyển, như vậy mới gọi là tịnh tín bất động, nghĩa là chính mình thấy thật sự chứ không phải nghe hay nhờ người khác nói lại, cho nên gọi là người trí tự mình giác hiểu, tự mình thấy biết, tự mình thành tựu trí tuệ; vì vậy lòng tịnh tín này không gì thay đổi được, có như vậy ta mới có thể Nhập Lưu, mới bước được vào dòng trí tuệ bậc Thánh.
Trong thời nghe pháp, nếu có sự tập trung tâm ý lắng nghe và tác ý thì bốn trạng thái của hỷ lạc sẽ sanh khởi. Chứ tu học không dừng lại ở thấy khổ, mà nhờ khổ mới tin sâu, từ đó đi sâu vào những cảm thọ hiền thiện, hạnh phúc, nhẹ nhàng, tự tại, yên vui. Mặt khác, một người dù còn sai phạm, chưa hoàn chỉnh nhưng nhờ được học chánh kiến, trú vào sự thấy đúng của pháp và từ từ tác ý thâm nhập thì họ cũng sẽ viên thành những thiện pháp. Đây là chỗ đặc biệt trong sự tu, đừng nghĩ sai phạm rồi không tu được, mà điều cần làm là thành tựu được chánh kiến, nhờ đó những sai phạm, lỗi lầm, sơ suất theo năm tháng sẽ được giảm thiểu, mục rã nhờ có sự tác ý theo trí tuệ, cuối cùng đi đến chấm dứt và thể nhập pháp. Cho nên, điều quan trọng là mình có chịu nắm chặt trí huệ này không, nếu chưa thành tựu chánh kiến mà buông bỏ Pháp thì mình bị loại khỏi dòng Thánh đạo của Tám Đúng, vì vậy cần vững tâm hành trì, tu tập theo Pháp liên tục để bước tới trước. Ngoài đời, con người không ngại nguy hiểm để đánh đổi lấy thành công, thoát khỏi nghèo khổ; còn chúng ta nỗ lực vì Pháp để đạt được niềm vui tối thượng, hướng đến sự thoát khổ tận cùng, vậy thì tại sao lại không cố gắng nắm chặt cơ hội này! Khi thường an trú trong sự thật của pháp, ta thường xuyên được hân hoan, phấn khởi, vui mừng, nhẹ nhàng và tâm rất an lạc trong đời sống, không phải đợi khi ngồi thiền mới có, vì an trú trong pháp là mình quay lưng với ngũ dục và hướng đến chánh kiến.
Định
Khi tu theo dòng pháp Nikāya dưới sự hướng dẫn của bậc thiện tri thức thì không cần định quá sâu, chỉ cần vào được Sơ Thiền, ly dục sanh hỷ lạc là đủ; nghĩa là khi tâm hướng đến lìa dục sẽ có những cảm giác hỷ lạc sanh khởi. Do xã hội bây giờ rất khó để đi sâu vào định nên chỉ cần vào được Sơ Thiền là đã rất tốt, cho nên điều quan trọng là phải thành tựu chánh kiến, từ đó mới có thể dẫn đến định.
Chữ “định” này ta có thể hiểu đơn giản là kiên định, xác định, tập trung tâm ý chuyên chú vào pháp, chẳng hạn khi quán về bộ xương mà hình ảnh bộ xương được giữ liên tục trong tâm không mất đi thì đó gọi là định cốt tưởng, cho nên chữ định ở đây nghĩa là tập trung tâm ý vào một đối tượng. Hoặc khi được học liên tục về khổ, lúc ngồi trong thiền đường quán chiếu theo lời kinh thì thấy khổ, trong sinh hoạt bình thường cũng sống với trí tuệ đó thì cái định về Khổ Thánh Trí được duy trì, được thực hiện. Hoặc trong giờ trải tâm từ thì mình thực hành trải tâm từ nhưng ngoài giờ đó ra mình vẫn an trú trong tâm từ thì đó gọi là định tâm từ, nghĩa là đề mục tu tập không bị mất đi, pháp đó được an trú trong tâm không bị rơi rớt.
Thông thường, trong tu tập, định, huệ, chỉ, quán thường đi chung với nhau, vì tu tập đề mục gì cũng có sự tác ý theo đó, ví dụ như tu tập tâm từ cũng phải tác ý; khi quán chiếu sự thật về khổ cũng phải tác ý; Đức Phật tuyên bố “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, vì vậy không thể không có tác ý trong sự tu tập này.
Cũng vậy, khi quán bất tịnh phải tập trung tâm ý vào đề mục bất tịnh, an trú tâm vào đó để làm sanh khởi cảm thọ về sự bất tịnh liên tục.
Khi tu tập Hỷ vô lượng tâm phải tư duy, tác ý, an trú vào tâm hỷ liên tục. Khi nhìn vào gương thấy không còn sợi tóc nào cũng giống như mình đã hoàn toàn rủ bỏ mấy chục ngàn cái phiền não nên mình hạnh phúc, được đắp tấm y ruộng phước hạnh phúc biết bao nhiêu, mở quyển kinh ra thấy trong đó là chân lý, là sự thật mà vô lượng vô biên kiếp mình chưa từng biết. Thế là mình tác ý hạnh phúc, trú trong hỷ vô lượng tâm liên tục, không bị mất đi thì gọi là định tâm hỷ.
Học Khổ Thánh Trí xuyên suốt là để an trú vào trí tuệ, an trú vào những cảm thọ, an trú vào sự tác ý, quán chiếu liên tục về khổ; nhờ vậy những cảm thọ về khổ có chỗ đứng, Thánh trí huệ về khổ được thiết lập trong tim, trong cảm thọ, không bị mất đi. Dù đã học hết chuyên đề về khổ nhưng trí tuệ về khổ vẫn còn đó, chỉ cần tác ý là sanh khởi những cảm thọ về khổ, đó là định về Khổ Thánh Trí.
Khi tu tập tâm xả thì tập trung tâm ý vào đề mục buông bỏ. Mỗi khi thấy hoặc nghe cái gì chướng tai gai mắt, trong tâm có sự chấp chặt, dính mắc thì phải nhớ đến đề mục đang tu tập, lập tức thực hành thiền quán xả bỏ, buông bỏ, chánh niệm tỉnh giác trú xả. Nếu không có chánh niệm tỉnh giác sẽ không thể an trú vào tâm xả, vì chỉ cần tiếp duyên xúc cảnh thì lập tức sanh khởi cảm thọ. Người có chánh niệm tỉnh giác sẽ rõ biết những thứ làm ta sanh khởi cảm thọ đó chỉ là sắc trần, thanh trần, hương trần. Ngược lại, nếu không chánh niệm tỉnh giác, chỉ cần nghe một lời nói bên ngoài thì cảm thọ liền sôi sục, như vậy tâm mình chưa được an tịnh lắng dịu nhiều.
Mặt khác, chúng ta phải biết ơn tất cả những khổ đau này, vì nhờ những điều đó là ta thấy pháp. Dẫu cho người ta có đánh đập, mắng chửi, chê bai, khinh khi, hủy nhục nhưng mình vẫn cảm ơn và cảm ơn, tác ý về cảm ơn liên tục và trú vào tâm cảm ơn, nhớ ơn suốt cả ngày. Cảm ơn và nhớ ơn là pháp của bậc chân nhân. Mỗi ngày tu tập, chúng ta phải cảm ơn thiền đường, cảm ơn tấm y, cảm ơn con đường hằng ngày mình đi qua, cảm ơn những hạt gạo của người nông dân… Gặp bất kì món đồ hay con người nào cũng vậy, dù thương hay ghét thì mình vẫn cảm ơn tất cả. Không bao giờ quên ơn chúng sanh, ơn Tam bảo, ơn thầy tổ, ơn huynh đệ, ơn từng hòn sỏi, từng tấm ván, từng viên gạch, ơn từng đám mây, từng luồn gió mát, cảm ơn luôn cả hơi thở này, tu như vậy thì không bao giờ ngủ gục khi ngồi thiền. Ngủ gục là do không biết khởi động pháp, không biết khéo léo vận dụng nên mới ngủ gục trên thiền đường.
Cho nên, người tu phải thường an trú tâm rộng mở cùng khắp và rộng lớn, tâm vô lượng vô biên không hận không sân. Nếu không thường thực tập như vậy thì tâm chỉ biết trú vào tấm thân nhỏ bé này, rồi sanh khởi bản ngã, cái tôi trong đó. Những vị Thánh Tăng ngày xưa đều thường trú vào vô lượng tâm định hoặc vô tướng tâm định. Đặc biệt là Ngài Ma-ha Ca-diếp khi dùng cơm thường trú vào vô tướng tâm định nên chư Thiên và loài Người rất thích cúng dường cho ngài, vì được cúng dường cho người trú vào vô tướng tâm định thì phước báu có được là vô lượng vô biên, vô cùng vô tận; còn phàm phu chúng ta khi ăn chỉ biết món này ngon, món kia dở, cái nào bổ, cái nào béo.
Khi trú vào định vô tướng là tâm trống rỗng như hư không, yên định, bất động, thênh thang, rộng khắp. ‘Vô tướng’ là một cái tưởng trống rỗng rộng lớn, cái tưởng này an trú vững chắc nên không có một sắc tưởng hay hình bóng nào khác chen vào được. Vô tướng tâm định là một cảm thọ an tịnh lắng dịu, một cái tưởng trống rỗng vô lượng vô biên, cùng với hành an tịnh và thức rõ biết, không có bất kì hình bóng nào trong đó.
Tri kiến như thật
Khi trú được vào định đúng như Đức Phật dạy thì tri kiến như thật xuất hiện; tính chất vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh được hiển hiện. Tức là, nhờ có định mà sự thấy biết đúng sự thật xuất hiện trong lúc tâm yên định, an trú pháp, tập trung tu tập theo trí tuệ về ngũ uẩn của Đức Phật; khi đó bản tánh của các pháp được hiển lộ rõ ràng, minh bạch, sáng tỏ; cái thấy biết đúng sự thật được hiển hiện. Sự thật đó là tổ hợp của đau khổ, sự thật đó là sự đổi dời, dịch chuyển, sự thật đó là tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Một khi sự thật được phơi này thì nhàm chán xuất hiện; yểm ly, chán nản, xa lìa cũng sẽ xuất hiện. Bởi lẽ, nếu thấy dưới mảnh đất này là hố tử thần thì không ai mua mảnh đó để cất nhà; cũng vậy, khi thấy được sự thật vô thường, biến hoại, đau khổ thì không còn ai tham, sân, si, bản ngã vào đó thêm nữa; mà chỉ muốn thoát ra. Tu đúng Chánh Pháp thì tự động tâm sẽ đi theo quy trình như vậy.
Còn nếu mới đạt tới sự an lạc, yên vui mà dừng lại không tu tiếp thì sẽ không thành tựu chánh tri kiến. Nhiều người thích tu thiền là vì họ đạt được trạng thái tâm yên ổn này, sau đó không muốn quán chiếu, không muốn tác ý, không muốn tâm làm dao động, rồi nghĩ rằng như vậy là đạt được tịch tịnh, Niết-bàn, nhưng không đúng như vậy. Vì cho đến khi nào thoát ra sự vận hành của ngũ uẩn, thoát khỏi dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, thành tựu trí về đoạn diệt, chỗ này mới được gọi là Niết-bàn. Sự đoạn diệt này là sự chấm dứt dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã; sự đoạn diệt này là sự chấm dứt hoàn toàn nguyên nhân tác thành đời sống bất an, lo lắng, buồn đau, khổ sầu. Đến giai đoạn này thì trí về đoạn diệt mới hoàn toàn thành tựu, đại viên mãn trong tất cả các góc độ, khía cạnh, phương diện.
Trí đoạn diệt này sẽ làm đoạn tận tất cả các lậu hoặc, tham, sân, si, vô minh, bản ngã và tự biết mình đã đoạn tận xong, đó chính là Diệt Đế, tức là trí tuệ của bậc Thánh về sự chấm dứt khổ. Lúc này không còn một chút đau khổ, chấp thủ vào ngũ uẩn nào còn xót lại mà là diệt hoàn toàn, đó là lộ trình tu tập tâm hay còn gọi là Thánh đạo.
Nhưng vấn đề mấu chốt là nếu chưa thành tựu trí về khổ ngay từ lúc bắt đầu tu tập thì lòng tịnh tín không thể bất động, vì thế cần học về khổ, biết về khổ, tu tập về khổ thật nhiều để nền móng được vững chắc. Bằng không, chưa có nền móng mà muốn vào được định, hoặc muốn tu thiền ngay lập tức thì không thể đưa đến lợi ích lớn, có khi còn tu sai đường. Cho nên nền tảng về Khổ Thánh Trí phải thành tựu thì mới vào tịnh tín bất động, niềm tin chúng ta còn bị lay chuyển là vì Khổ Thánh Trí chưa được viên mãn.
Lộ trình tu tập
"Như vậy, này các Tỳ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên khổ; khổ duyên tín; tín duyên hân hoan; hân hoan duyên hỷ; hỷ duyên khinh an; khinh an duyên lạc; lạc duyên định; định duyên tri kiến như chân; tri kiến như chân duyên yếm ly; yếm ly duyên ly tham; ly tham duyên giải thoát; giải thoát duyên trí về đoạn diệt".
Đức Phật nói rằng, sanh duyên với khổ, nghĩa là người sanh ra có nhân duyên gặp bậc Chánh Đẳng Giác, hoặc bậc A-la-hán, hoặc bậc chân nhân, bậc thành tựu, bậc minh kiến, bậc minh nhãn – bậc có con mắt sáng thấy được khổ, nói cho người này nghe về Khổ Thánh Đế. Còn trường hợp đặc biệt là Bích-chi Phật, nghĩa là vị Phật Độc Giác tự mình chứng ngộ, tự nhìn vào tâm quán rồi thành tựu lý duyên khởi. Sau khi nghe hiểu về khổ mới duyên với lòng tin, tức là sanh ra mà không thấy khổ là vô văn phàm phu; còn người sanh ra được gặp Thánh pháp, hiểu được Khổ Thánh Đế rồi phát khởi lòng tin là bậc Đa văn Thánh đệ tử.
Mà muốn thấy được khổ thì trước hết phải thấy ngũ uẩn, cho nên phải nhận diện được ngũ uẩn mới thấy khổ, còn không nhận diện được là không bao giờ thấy khổ. Trước đây, chúng ta học rất nhiều nhưng không thấy ngũ uẩn nên trí tuệ vô thường, khổ, vô ngã chỉ ở ngoài da chứ không đi vào trong xương, trong tủy. Đến khi nhận diện được ngũ uẩn; thấy được những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức suốt ngày tàn phá thân tâm mình thì ta mới thấy chán ngán với nó. Mặc dù nhìn bên ngoài thấy mình ngồi thiền có vẻ uy nghi, thanh thoát, nhẹ nhàng nhưng bên trong tâm lại khổ vô cùng khi thấy được sự vận hành của ngũ uẩn. Có khi chỉ nghe một câu nói là đã muốn gây chuyện; ăn uống mà không đúng ý thì đã khó chịu; đang ngủ mà có người làm ồn thì tâm liền sận giận… Chúng ta phải thấy tất cả đều vận hành trong khổ một cách toàn diện như vậy thì mới tịnh tín bất động với con đường này.
Như vậy, người sanh ra gặp được bậc Chánh Đẳng Giác giống như con rùa mù trăm năm nổi lên gặp được bọng cây nổi đưa nó vào đất liền; cũng giống như một người đứng trên đỉnh núi thả sợi chỉ xuống, một người đứng ở chân núi đang đưa lỗ kim ra, trong khi ở giữa là bão táp phong ba, nhưng sợi chỉ lọt đúng vào lỗ kim. Gặp được bậc A-la-hán, gặp được bậc chân nhân, gặp được bậc thành tựu chánh kiến cũng là nhân duyên vô lượng vô biên kiếp, chỉ có những vị này mới nói cho ta biết “ngũ uẩn này là khổ”, đó chính là sanh duyên khổ.
Sau khi nghe trí về khổ, nhìn lại ngũ uẩn thấy được tính chất vận hành của nó thật sự là như vậy, nhờ đó là xác quyết niềm tin không dao động đối với Chánh Pháp, không thay đổi nữa, như vậy gọi là ‘khổ duyên tín’, nhờ khổ phát khởi được lòng tin.
Sau khi có niềm tin, chúng ta bắt đầu nghe pháp, chiêm nghiệm, tư duy, tác ý, thiền quán, sống với niềm tin đó rồi mình vui sướng, phấn khởi trong pháp thì đó là ‘tín duyên hân hoan’. Hân hoan vì thấy được ngũ uẩn, hân hoan khi thấy được sự vận hành của những cảm thọ, suy nghĩ, nghĩ tưởng, nhận thức, thấy được sự vận hành của dục ái, tham sân, bản ngã, hơn thua. Thấy tâm này chứa đựng những sự xảo quyệt, lọc lừa, mánh khóe, gian trá, ngụy biện, quanh co, che giấu lỗi lầm. Thấy tất cả sự vận hành này đều là sự vận hành của khổ đúng như lời Đức Phật đã tuyên thuyết.
Khi hiểu được pháp, cảm nhận được pháp ở ngay trong thân tâm ngũ uẩn như vậy thì mình mừng rỡ như người mù được sáng mắt, đó chính là ‘hân hoan duyên hỷ’. Sau đó tiếp tục thiền tập, tiếp tục nhận diện ngũ uẩn, tiếp tục tác ý thì dần dần đạt được trạng thái nhẹ nhàng của tâm, sân được giảm thiểu, mềm mỏng, muội lược; bản ngã cũng bắt đầu nhẹ lại, biết cúi đầu nhận lỗi. Tất cả những tập khí nổi loạn, nặng nề lúc xưa bắt đầu nhẹ nhàng, khinh an, đó là ‘hỷ duyên khinh an’.
Từ sự nhẹ nhàng này, tâm dần dần đi đến niềm vui nhè nhẹ, chứ không thô như sự mừng vui lúc mới vừa thấy pháp, niềm vui nhè nhẹ trong cảm thọ này là ‘khinh an duyên lạc’.
Từ niềm vui nhè nhẹ này sẽ dẫn ta đi vào định, tâm được yên, đây gọi là ‘lạc duyên định’. Lúc này ta mới bắt đầu tập trung tất cả tâm ý vào những lời dạy của Đức Phật một cách sâu sắc, chứ không phải định là không suy nghĩ gì nữa, vì nếu không suy nghĩ thì không thể có được tri kiến như thật. Cho nên, cần phải có một sự tác ý, tư duy của thiền quán và tâm yên định của thiền chỉ kết hợp nhau một cách khéo léo, thiện xảo; vừa đủ để định, vừa đủ để có tuệ; từ đó mới nhìn thành tựu tri kiến như thật.
Như vậy, nếu quá dao động trong thiền quán cũng không được; hoặc quá im lặng trong thiền chỉ, không nhìn sâu vào các pháp cũng không được. Định, huệ, chỉ, quán cần cân bằng, phù hợp thì tri kiến như thật mới xuất hiện. Giống như mặt nước lặng yên, trong suốt, dưới đáy hồ có gì ta đều nhìn thấy được, cũng vậy, bản chất thật sự của tất cả những lậu hoặc vi tế, nhỏ nhiệm, sâu kín trong những ngõ ngách của tâm sẽ được phơi bày ra trong cái định này, đây gọi là ‘định duyên tri kiến như thật’. Tâm ta lúc này như mặt hồ vừa trong suốt, vừa tĩnh lặng, vừa sáng tỏ, có thể thấy đúng tất cả các pháp đang có mặt. Đây gọi là tri kiến như thật – thấy biết đúng sự thật như nó đang là.
Còn sự tu chúng ta bây giờ mới chỉ đến bước thấy được những tập khí thô bên ngoài, có khi được chỉ dạy còn không chấp nhận. Đến khi nào có được tri kiến như thật, ta mới nhận diện được tất cả những gì sâu kín nhất. Lúc này, mình không chỉ thấy năm tổ hợp của sắc chất, cảm giác, suy nghĩ, hình bóng và nhận thức của tự thân, mà còn thấy năm uẩn của chúng sanh, của thế giới nên càng ngao ngán, chán lìa. Chúng ta giờ đây mới chỉ thấy được một phần bản chất thật của thân tâm này mà còn thấy chán như vậy, nói gì đến việc có thần thông, thấy biết toàn diện mọi khía cạnh, khi đó còn chán ngán đến mức độ nào!
Khi thấy được bản tính dối trá, lọc lừa; thấy được tính chất tan hoại, tí trống rỗng, trống không trong thân tâm này thì trí về đoạn diệt thành tựu. Tức là chấm dứt hoàn toàn, không muốn tái tạo ra những thân hình, đời sống đau khổ đầy tham, sân, si này nữa, đó gọi là đoạn sanh tử, thoát sanh tử, liễu sanh thoát tử, chấm dứt vòng quay của tử sanh, đó chính là Diệt Đế. Lúc này vô minh bị phá sạch, tham ái không còn, đưa đến chấm dứt sự tái tạo ra tham, sân, si, sầu bi, ưu não, chấm dứt sự tái tạo ra đời sống si dại, điên đảo, ngu mê, khổ sầu.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, trên đỉnh núi trời mưa nặng hột và nước chảy theo triền thấp, tràn đầy hang núi, khe núi, thung lũng. Khi các hang núi, khe núi, thung lũng được tràn đầy, thời ao nhỏ được tràn đầy; ao nhỏ được tràn đầy thời ao lớn được tràn đầy; ao lớn tràn đầy thời sông nhỏ được tràn đầy; sông nhỏ được tràn đầy thời sông lớn được tràn đầy; sông lớn được tràn đầy thời biển lớn, đại dương được tràn đầy.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên khổ; khổ duyên tín; tín duyên hân hoan; hân hoan duyên hỷ; hỷ duyên khinh an; khinh an duyên lạc; lạc duyên định; định duyên tri kiến như chân; tri kiến như chân duyên yếm ly; yếm ly duyên ly tham; ly tham duyên giải thoát; giải thoát duyên trí về đoạn diệt.
(trích Tương Ưng Bộ Kinh tập II, bài kinh Duyên)
Như vậy, do đời sống này gặp được trí tuệ về khổ, phát khởi lòng tin bất động đối với Chánh Pháp, từ đó có được sự hân hoan, vui mừng, nhẹ nhàng, an lạc và tâm an tịnh. Từ tâm an định thành tựu cái thấy biết đúng sự thật, sanh ra sự chán lìa, không còn tham muốn, hướng đến giải thoát và thành tựu trí về đoạn diệt. Trí về đoạn diệt là một sự đại viên mãn chứ không phải đoạn diệt là không còn gì nữa. Ví như nước tràn hết tất cả bốn biển thì sự tu hành của chúng ta cũng phải đi đến đó, chấm dứt hoàn toàn dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, chấm dứt hoàn toàn những yếu tố dẫn đến đời sống của tổ hợp khổ đau. Đó là Khổ Diệt Thánh Đế. Vì thế chúng ta cần cảm ơn cái khổ rất nhiều, cảm ơn những người làm cho mình thấy cuộc đời này là khổ nên mình mới có được đầu tròn áo vuông, có tấm y ruộng phước, xả bỏ hồng trần lên non cầu đạo, ngồi nơi đỉnh Linh Quy với mây trắng trăng sao, ngồi ở Cổng Trời nghe chim hót ngắm mây bay, nhìn trúc xây và thấy rõ chân tướng của cuộc đời này.
Vui vẻ ơi!
Vui vẻ ơi!
Hoan hỉ ơi!
Hoan hỉ ơi!
Ta khơi dậy trong ta
Tình thương và niềm vui,
Ta khơi dậy trong ta
Niềm vui và tình thương.
Tình thương sống trong ta,
Niềm vui sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Niềm vui có trong ta.
Ta mở rộng tình thương
Đến các loài hữu tình,
Ta mở rộng niềm vui
Đến các loài chúng sanh.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này,
Tâm vui này tỏa tộng,
Khắp đất trời bao la.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)
KHỔ THÁNH TRÍ 8
Nhờ Khổ Mới Tin Sâu
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Duyên khởi PAGEREF _Toc146463655 \h 1
II.“Cảm ơn” đau khổ PAGEREF _Toc146463656 \h 2
III.Nhờ khổ mới tin sâu PAGEREF _Toc146463657 \h 3
1.Hạnh phúc khi thấy khổ PAGEREF _Toc146463658 \h 4
2.Định PAGEREF _Toc146463659 \h 8
3.Tri kiến như thật PAGEREF _Toc146463660 \h 10
4.Lộ trình tu tập PAGEREF _Toc146463661 \h 11
Duyên khởi
Hôm nay theo truyền thống Phật giáo phát triển là ngày vía của Đức Bồ-tát Quan Thế Âm, đây cũng là ngày nhập bảo tháp của đại trưởng lão Hòa Thượng Thích Phổ Tuệ, đó là bậc lão Tăng thanh bần đứng đầu giáo hội. Trong lễ truy điệu cung tiên tiểu sử, Hòa Thượng phó pháp chủ đệ nhất Thượng Trí Hạ Quảng nói lời xưng tán Hòa Thượng pháp chủ có ba điều được tôn kính: giữ chức vị cao nhất của giáo hội, sống lâu nhất 105 tuổi, đức hạnh sáng nhất, đây là ba điều đáng được tứ chúng tôn quý, một bậc lão Tăng thanh bần, đơn sơ, mộc mạc, chất phát. Sáu tuổi ngài đã xuất gia, đến nay là ngài 105 tuổi, hiện tại trong tự viện cả nước đều lặp di ảnh của ngài để tưởng niệm. Thủ tướng chính phủ và tất cả ban ngành đoàn thể từ trong đạo cho đến ngoài đời đều đến viếng, cả nước khóc thương vì đức hạnh của ngài. Bữa cơm của ngài rất đơn sơ, y phục bình dị, đơn giản, ngài ở trong ngôi chùa làng ở vùng quê gần trăm năm, dù được các vị tôn đức mời đến trụ trì những ngôi chùa vĩ đại ngoài thị thành nhưng ngài từ chối.
Minh Thành có cơ duyên ra đảnh lễ và hỏi pháp ngài khoảng 5-7 năm về trước, ngài rất bình dị và có gửi cho Minh Thành vài quyển kinh ngài dịch và chú giải. Hôm nay chúng ta ngồi đây cúng dường pháp bảo lên giác linh của ngài và cầu nguyện cho ngài được thành tựu cứu cánh phạm hạnh, phổ lợi nhân thiên. Giờ đây chúng ta hãy hướng tâm về một bậc cao Tăng đức độ đứng đầu giáo hội, đó là đức pháp chủ giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Điều tiếp theo là Minh Thành thấy thầy Pháp An càng ngày càng già bệnh, bổn phận làm con không nuôi dưỡng cung phụng được, phải nhờ các thầy các cô giúp đỡ. Minh Thành chỉ báo đáp bằng giáo pháp cho nên mỗi buổi thầy Pháp An tham dự nghe pháp là Minh Thành rất mừng. Không biết thầy còn sống bao lâu cho nên bản thân Minh Thành cũng cố gắng chia sẻ Thánh pháp này để thầy Pháp An trong những giây phút cuối có đầy đủ tư lương hành trang để khi ra đi được bước lên cõi lành và tiếp tục thể nhập chánh tri kiến.
Hôm nay Minh Thành nhận được cuộc điện thoại cách xa nửa vòng trái đất của các Ni sư đã tu học mấy chục năm; sau khi nghe hiểu về giáo pháp này, chư Tăng Ni và quý Phật tử gọi về để gửinhững lời chân thành cảm ơn và khích lệ bản thân Minh Thành cố gắng trong pháp học và pháp hành này. Các vị tâm sự rằng đã tu mấy chục năm nhưng khi học và thực tập pháp này mới thấy rõ và hiểu thân tâm của mình, đó là duyên khởi rất nhiều của buổi chia sẻ hôm nay.
“Cảm ơn” đau khổ
Trong sự tu này, chúng ta phải lấy khổ làm thầy, lấy khổ làm bậc thiện tri thức, lấy khổ làm bạn lành, lấy khổ làm bạn đạo, lấy khổ làm trợ duyên, làm động lực. Chính nhờ khổ chúng ta mới có niềm tin, mới tin sâu vào pháp; không có khổ chúng ta không phát khởi niềm tin, cho nên chúng ta phải vô cùng cảm ơn đau khổ, chủ đề chia sẻ hôm nay cũng có thể gọi là “cảm ơn đau khổ”.
Thật sự nhờ đau khổ chúng ta mới ngồi đây cùng nhau tu học, nhờ có khổ chúng ta mới có thân tướng viên đảnh phương bào, đầu tròn áo vuông, nhờ có khổ mới khoác tấm y phước điền vô thượng, nhờ khổ mới rũ bỏ hồng trần lên núi cầu đạo, nhờ có khổ mới quay lưng lại năm dục trưởng dưỡng của thế gian. Vì thế phải cảm ơn đau khổ. Tuy học về khổ nhưng chúng ta lại thấy vui và hạnh phúc vì mình tìm được lối thoát khỏi khổ đau. Hãy cảm ơn sự phũ phàng của cuộc đời này, cảm ơn sự cay đắng của thế gian này, cảm ơn sự phản phúc, dối trá, lật lọng, cảm ơn những kẻ lừa đảo, những kẻ hủy nhục, khinh khi mình; nếu không có những điều này, có thể mình đã không tu được.
Khi còn nhỏ, Minh Thành bị thầy Pháp An đánh, bị hai người anh đánh, cũng bị chị đánh, bị đánh nhiều đến nỗi không thể ở nhà mà phải qua ở với các cô, mà ở chỗ nào cũng có nỗi khổ của chỗ đó. Minh Thành khổ tâm từ nhỏ đến lớn, từ vật chất cho đến tinh thần nên sống nội tâm rất nhiều, từ nhỏ đã ngủ chung với nước mắt hằng đêm. Lúc Minh Thành chuẩn bị đi xuất gia thì có người nói "mày mà đi xuất gia được thì tao cùi hết mười ngón tay". Bây giờ nghĩ lại thì cảm ơn tất cả, vì không có những điều đó thì sẽ không có một ông thầy đầu trọc bần cùng, bần Tăng giống như bây giờ. Khi lớn lên cho đến khi đi tu cũng gặp nhiều chuyện đau xót, cay đắng, nhờ vậy mới đi lên núi ẩn tu, mới có ra Linh Quy, mới gặp được dòng pháp Nikāya.
Thầy Pháp An phải cảm ơn đôi mắt không còn thấy gì nữa, cảm ơn thần kinh tọa đang hành hạ mình mỗi ngày, vì nhờ cái khổ này mới ngồi đây tu học, đừng buồn bã, phiền não hay oán trách, vì thân này đang đi dần đến biến hoại đúng với lời Đức Phật đã dạy. Mình đã cố gắng chữa trị nhưng không khỏi bệnh thì phải chấp nhận, vì bản tánh của nó là vậy, bản chất của nó là vậy, bây giờ mình trân trọng từng ngày được sống, cố gắng tu học để thoát khỏi thân năm uẩn này. Tấm thân này như một bộ máy đã hoạt động 78 năm, bây giờ nó dần dần rệu rã là lẽ đương nhiên, không thể mong muốn cơ thể này tốt trở lại như những ngày đầu tiên được. Rất nhiều Phật tử gọi về cám ơn thầy Pháp An và mong thầy có nhiều bài chia sẻ nữa vì thầy nói chuyện bình dân, thân thiện, dễ hiểu cho nên thầy phải cố gắng có nhiều sức khỏe để chia sẻ những điều tâm đắc về kinh Nikāya.
Ngoài đời đã quá nhiều đau khổ, đến khi vào chùa rồi vẫn còn khổ, vẫn không giải quyết được vấn đề, dù học diệt khổ nhưng vẫn không diệt được nếu không thật sự thấy trí tuệ về khổ của bậc Thánh, cho nên lấy khổ làm thầy mới là tinh thần của người tu. Nếu không thấy khổ là mình không tu được, người càng khổ chừng nào thì càng tu sâu sắc chừng đó. Người càng tinh tấn tu hành thì người đó trải nghiệm khổ càng sâu sắc nên lòng tin đạt tịnh tín bất động; người không thấy khổ sẽ không tin pháp sâu nên không thể đi đến chỗ tịnh tín bất động.
Thế nên, chúng ta phải tập nhìn tất cả mọi ngóc ngách của đời sống này đều có khổ trong đó, đây là sự thật không được quên. Hãy nhìn ra được mặt trái của cuộc đời này, nhìn ra bản chất của đời sống này; nếu chỉ thấy vị ngọt mà không thấy sự nguy hiểm và tác hại của nó thì không thể xuất ly khỏi nó. Khi nhìn thấy khổ một cách thấm thía, một cách sâu sắc thì lòng tin với Chánh Pháp không ai lay chuyển được, có chết cũng không bị lung lay, giống như câu "dù ai nói ngả nói nghiêng, lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân".
Do vậy, chỉ có thấy khổ một cách thấm thía thì lòng tin vào Phật Pháp mới vững chắc, còn khi thấy khổ chưa đủ thì lòng tin rất dễ bị lung lay, đó là lý do cả tạng kinh Nikāya chỉ thuần nói về khổ và sự diệt khổ, Đức Phật là bậc đã phơi bày ra bản chất đau khổ của đời sống này. Nhờ thấy khổ mới không còn ham muốn, hơn thua, tranh giành nhau những thứ vô thường, đầy đau khổ này. Cho nên cần lấy khổ làm thầy, khi cái khổ thấm nhuần thì lòng tin được vững chắc, không dao động; khi lòng tin vững chắc thì tâm hân hoan, hạnh phúc, học về khổ nhưng thấy thích thú, thấy bản thân lớn mạnh, sáng tỏ đối với mọi sự vận hành của đời sống này.
Nhờ khổ mới tin sâu
Trong bài kinh Duyên, Tương Ưng Bộ, tập II, Đức Phật có dạy:
"Và này các Tỳ-kheo, duyên của hỷ là gì? Hân hoan là câu trả lời. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng hân hoan có duyên, không phải không có duyên.
Và này các Tỳ-kheo, duyên của hân hoan là gì? Lòng tin là câu trả lời. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng lòng tin có duyên, không phải không có duyên.
Và này các Tỳ-kheo, duyên của lòng tin là gì? Khổ là câu trả lời. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng khổ có duyên, không phải không có duyên".
Hạnh phúc khi thấy khổ
Như đã học, có ba tính chất của khổ là khổ khổ, hành khổ và hoại khổ. Đầu tiên là khổ khổ, tức là khổ chồng chất lên khổ, ngoài đời thường dùng từ thảm họa kép, thiên tai kép hoặc tổ hợp thảm họa kép, đó chính là khổ thứ nhất. Cái khổ thứ hai là khổ đau trước những sự đổi dời; chẳng hạn, ngày xưa mắt sáng nhưng giờ lại không thấy, ngày xưa chân đi khỏe nhưng giờ đi không được, ngày xưa muốn làm gì cũng được nhưng giờ làm không được; sự đau khổ trước những thay đổi đó gọi là hành khổ. Cái khổ thứ ba là đau khổ trước những sự biến hoại, gọi là hoại khổ. Ngoài ra còn tám cái khổ hay được nói đến: sanh khổ, bệnh khổ, già khổ, chết khổ, thương chia lìa là khổ, oán gặp nhau là khổ, cầu không được là khổ, năm thủ uẩn là khổ.
Nhờ thực thấy đời sống này diễn ra đúng như vậy và chiêm nghiệm được khổ đau vận hành ngay tự thân mình nên ta xác quyết, tịnh tín bất động, không còn dao động đối với Đức Phật, đối với sự chứng ngộ của Đức Phật, đối với những lời dạy của Đức Phật. Lúc đó tâm ta vui vẻ, phấn khởi, hân hoan. Mỗi khi nghe về khổ thì biết sự thật là vậy, thực chứng như vậy, chân lý là vậy thì vô cùng hạnh phúc, vui mừng. Nhiều vị nghe pháp quên cả ăn uống, cảm thọ hân hoan, hỷ lạc vô cùng. Lúc đầu, niềm vui này có thể biểu hiện hơi thô, thậm chí có người muốn nhảy cẫng lên vui mừng khi thấy được pháp. Dần dần, trong khi nghe pháp, thiền quán mà hiểu ra một điều gì đó, hoặc khi nhiếp phục được cảm thọ dục tham, sân hận, bản ngã thì mình thích thú, sung sướng, sau đó chỉ cảm thấy vui nhẹ nhàng, không còn dao động nhiều nữa, các cảm thọ từ từ vi tế, sâu sắc hơn.
Khi đến Bồ-đề đạo tràng, Minh Thành đã òa khóc tức tưởi vì rúng động, cảm thọ tuôn trào giống như đã chất chứa, dồn nén mấy chục năm qua. Hơn thế nữa, vô lượng vô biên kiếp vừa qua mình đã ở trong bóng đêm, trong sự che đậy, mê muội, đến lúc bừng sáng, thấy được ánh mặt trời nên tuôn trào cảm xúc. Người nào tinh cần tinh tấn tu học sẽ có được cảm thọ như vậy, cái khóc đó không phải khổ mà cái khóc đó là hân hoan, như trút được gánh nặng đã dồn nén, bị áp bức trong nhiều năm.
Người ngoài nhìn vào cứ nghĩ đạo tràng Nikāya cứ khóc lóc nặng nề quá nhưng họ không biết đó là niềm hân hoan trong Chánh Pháp. Đây là chỗ đặc biệt, hân hoan có hai trường hợp: thứ nhất là tức tưởi, dâng trào cảm xúc mà biết bao đời bao kiếp bị che lấp; thứ hai là sự phấn khởi, thích thú, sung sướng. Đây là hỷ và ưu trong thiện pháp. Sau một thời gian tu tập, nghe pháp, hành trì thì cảm thọ sẽ dần lắng dịu, không còn dao động nhiều nữa. Đi đúng theo trình tự của pháp thì từ vui mừng sẽ chuyển thành nhẹ nhàng, hoặc khi ngồi thiền thấy nhẹ như bông gòn, đó là trạng thái của khinh an, trong đó ‘khinh’ là nhẹ, ‘an’ là yên. Khi đã khinh an, nhẹ nhàng, ta sẽ có lạc, tức là vui trong pháp. Và Đức Phật có nói, chính hỷ lạc đưa đến chứng đắc:
"Vô thỉ, này các Tỳ-kheo, là sự luân chuyển, khởi điểm không thể nêu rõ, đối với (những đau khổ) do bị thương đâm, do bị kiếm chém, do bị búa chặt. Dầu vậy đi chăng nữa, này các Tỳ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng nhờ khổ và ưu mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Nhưng này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng nhờ lạc và hỷ mà bốn Thánh đế được chứng ngộ".
(trích Tương Ưng Bộ Kinh tập V, bài kinh Một Trăm Cây Thương)
Như vậy, lúc mới bắt đầu tu, ta phải chiêm nghiệm sự thật về khổ nhưng càng đi vào thể nhập sự thật thì sẽ đưa đến hân hoan, vui mừng, nhẹ nhàng, vui nhẹ trong cảm thọ, đây là sự an lạc, tức là yên vui. Cảm thọ không phải cái vui được ăn ngon, đi chơi, mặc đẹp, đây là những cái vui liên hệ đến vật chất; còn cảm thọ vui nhè nhẹ trong pháp là cái vui không liên hệ đến vật chất. Như Đức Thế Tôn có dạy, sanh là khổ, già nua, bệnh tật là khổ, sự biến hoại của các hành là khổ, sự nắm chặt vào trong các cảm giác sân hận, ham muốn, dục vọng là tai họa. Khi thấy rõ ràng các cảm giác đó vận hành trong khổ, đúng như lời Đức Phật đã dạy thì mình bắt đầu nhiếp phục, diệt tận, làm cho những uế nhiễm được an tịnh, lắng dịu thì trong tâm xuất hiện trạng thái hân hoan, vui mừng, nhẹ nhàng và yên vui. Khi đã đi đến lạc thì bắt đầu bước vào định, đây là lộ trình tâm.
Cho nên cần nhớ rằng, thiền định là nhờ yên vui mới chứng đắc chứ không phải do khổ mới chứng đắc; khổ là bước đầu để phá tà kiến, phá cái nhìn sai lầm, lệch lạc; sau đó đi vào tu tập phải an lạc, yên vui thì mới chứng đắc thiền định. Người nào có sai lầm, hối tiếc, trạo cử trong giới hạnh, giới đức là không thể vào định được; bởi lẽ, mỗi khi ngồi thiền là nhìn thấy tội lỗi, thấy sai phạm nên buồn phiền, lo lắng, bất an, bứt rứt, không có hỷ lạc, do đó tâm không được an yên, không nhẹ nhàng mà lại rất nặng nề, không có an vui, vì vậy không thể vào định; cho nên muốn vào định thật sự rất khó khăn.
Muốn thành tựu Chánh định của đạo Phật thì giới hạnh phải viên mãn, nhất là những giới căn bản phải giữ được. Người tu hành lâu năm nhưng vẫn không vào định được là do bị trạo cử. Trạo cử ở đây không phải là do những sự dao động, bận rộn, lăng xăng ở ngoài, đây chỉ là cái thô ngoài thân; mà vi tế hơn là sự ray rứt, hối tiếc, ăn năn bên trong khi thấy mình có những sai phạm trong giới pháp. Chính điều này làm tâm không được khinh an mà rơi vào bất an, hay còn gọi là trạo hối. Trạo là dao động, hối là hối hận, tâm bị dao động vì hối hận do có lỗi nên không tiến bộ trong tu tập. Cho nên giới rất quan trọng, nếu không giữ giới thì không đi vào định được, nếu có thì cũng chỉ đạt được từng phần chứ không được viên mãn, còn khi tâm được yên vui nhè nhẹ mới có thể đi vào an định. Như vậy, sau khi thấy khổ thì mình bắt đầu đi vào bốn trạng thái của hỷ lạc, gồm: hân hoan, hỷ, khinh an, lạc. Qua đó ta thấy rằng, đi tu không phải là đi tìm khổ, mà sau khi thấy khổ, ta đạt được lòng tin xác quyết, bất động, không lay chuyển đối với con đường này. Khi lòng tin thành tựu thì ta sẽ vô cùng hân hoan, phấn khởi, thích thú, thậm chí có thể hét lên, la lên, sung sướng.
Như câu chuyện về một ông quan đi xuất gia, lúc ngồi thiền ban đêm thì đột nhiên ông la lên "ôi hạnh phúc quá, ôi hạnh phúc quá", các thầy đi mách lại cho Thế Tôn chắc vị này ngày xưa làm quan được hưởng dục lạc đầy đủ nên giờ nhớ lại thấy sung sướng mới la lên. Thế Tôn mời lại hỏi thì ông thưa rằng ngày xưa làm quan tổng trấn có rất nhiều quân lính hầu hạ, bảo vệ nhưng vẫn thấy bất an, lo lắng. Ngược lại bây giờ đầu trần chân đất, khoác tấm y, ngồi một mình dưới gốc cây nhưng lòng lại khinh an, hỷ lạc cho nên vị này thấy vi diệu, tuyệt vời vượt ngoài tất cả mọi vật chất trên đời nên ngài la lên "ôi hạnh phúc quá, ôi hạnh phúc quá". Đó chính là sự hỷ lạc sau khi thấy khổ.
Như vậy, thấy khổ chỉ là bước đầu tu học, qua giai đoạn này thì sự hân hoan, vui mừng, nhẹ nhàng, yên vui sẽ thường xuyên xuất hiện, an trú trong cảm thọ. Cũng như mỗi ngày tu học, chúng ta cảm thấy an lạc trong từng bước chân khất thực; hân hoan mỗi khi được ngồi thiền, nghe pháp dưới gốc cây, trên tảng đá giữa trời mây, núi non của đại ngàn. Bốn thọ này là sự hỷ lạc trong Chánh Pháp. Nếu không có hỷ lạc, mà cứ thấy khổ hoài thì không thể tu học lâu dài, mà sau khi thấy được khổ, chúng ta phải hướng đến sự thoát ra. Khi nào thấy hết tất cả khía cạnh của khổ thì lòng tin này mới được vững chắc, thành cột trụ, đây là động lực đẩy mình vào dòng pháp, vì thế cái khổ này là thầy, là bạn lành, là bậc thiện tri thức, là động lực. Sau khi thấy khổ rồi đánh đuổi nguyên nhân làm khổ thì lòng tin của ta sẽ được lớn mạnh đối với sự chứng ngộ của Đức Phật, đối với những lời dạy trong tạng kinh Nikāya và đối với sự thấy biết về tự thân chính mình.
Niềm tin ở đây đặc biệt ở chỗ phải đến để mà thấy. Trước đây chúng ta chỉ thấy trong kinh, trong sách, nghe người ta nói, còn nhận diện ngũ uẩn là giúp ta thấy pháp nơi tự thân mình: thấy sắc vận hành, thấy những hình bóng trong tâm vận hành, thấy những suy nghĩ vận hành, thấy nhận thức, tham ái, si mê, vô minh, bản ngã vận hành. Cái thấy này mới đưa ta đi đến lòng tin không lay chuyển, như vậy mới gọi là tịnh tín bất động, nghĩa là chính mình thấy thật sự chứ không phải nghe hay nhờ người khác nói lại, cho nên gọi là người trí tự mình giác hiểu, tự mình thấy biết, tự mình thành tựu trí tuệ; vì vậy lòng tịnh tín này không gì thay đổi được, có như vậy ta mới có thể Nhập Lưu, mới bước được vào dòng trí tuệ bậc Thánh.
Trong thời nghe pháp, nếu có sự tập trung tâm ý lắng nghe và tác ý thì bốn trạng thái của hỷ lạc sẽ sanh khởi. Chứ tu học không dừng lại ở thấy khổ, mà nhờ khổ mới tin sâu, từ đó đi sâu vào những cảm thọ hiền thiện, hạnh phúc, nhẹ nhàng, tự tại, yên vui. Mặt khác, một người dù còn sai phạm, chưa hoàn chỉnh nhưng nhờ được học chánh kiến, trú vào sự thấy đúng của pháp và từ từ tác ý thâm nhập thì họ cũng sẽ viên thành những thiện pháp. Đây là chỗ đặc biệt trong sự tu, đừng nghĩ sai phạm rồi không tu được, mà điều cần làm là thành tựu được chánh kiến, nhờ đó những sai phạm, lỗi lầm, sơ suất theo năm tháng sẽ được giảm thiểu, mục rã nhờ có sự tác ý theo trí tuệ, cuối cùng đi đến chấm dứt và thể nhập pháp. Cho nên, điều quan trọng là mình có chịu nắm chặt trí huệ này không, nếu chưa thành tựu chánh kiến mà buông bỏ Pháp thì mình bị loại khỏi dòng Thánh đạo của Tám Đúng, vì vậy cần vững tâm hành trì, tu tập theo Pháp liên tục để bước tới trước. Ngoài đời, con người không ngại nguy hiểm để đánh đổi lấy thành công, thoát khỏi nghèo khổ; còn chúng ta nỗ lực vì Pháp để đạt được niềm vui tối thượng, hướng đến sự thoát khổ tận cùng, vậy thì tại sao lại không cố gắng nắm chặt cơ hội này! Khi thường an trú trong sự thật của pháp, ta thường xuyên được hân hoan, phấn khởi, vui mừng, nhẹ nhàng và tâm rất an lạc trong đời sống, không phải đợi khi ngồi thiền mới có, vì an trú trong pháp là mình quay lưng với ngũ dục và hướng đến chánh kiến.
Định
Khi tu theo dòng pháp Nikāya dưới sự hướng dẫn của bậc thiện tri thức thì không cần định quá sâu, chỉ cần vào được Sơ Thiền, ly dục sanh hỷ lạc là đủ; nghĩa là khi tâm hướng đến lìa dục sẽ có những cảm giác hỷ lạc sanh khởi. Do xã hội bây giờ rất khó để đi sâu vào định nên chỉ cần vào được Sơ Thiền là đã rất tốt, cho nên điều quan trọng là phải thành tựu chánh kiến, từ đó mới có thể dẫn đến định.
Chữ “định” này ta có thể hiểu đơn giản là kiên định, xác định, tập trung tâm ý chuyên chú vào pháp, chẳng hạn khi quán về bộ xương mà hình ảnh bộ xương được giữ liên tục trong tâm không mất đi thì đó gọi là định cốt tưởng, cho nên chữ định ở đây nghĩa là tập trung tâm ý vào một đối tượng. Hoặc khi được học liên tục về khổ, lúc ngồi trong thiền đường quán chiếu theo lời kinh thì thấy khổ, trong sinh hoạt bình thường cũng sống với trí tuệ đó thì cái định về Khổ Thánh Trí được duy trì, được thực hiện. Hoặc trong giờ trải tâm từ thì mình thực hành trải tâm từ nhưng ngoài giờ đó ra mình vẫn an trú trong tâm từ thì đó gọi là định tâm từ, nghĩa là đề mục tu tập không bị mất đi, pháp đó được an trú trong tâm không bị rơi rớt.
Thông thường, trong tu tập, định, huệ, chỉ, quán thường đi chung với nhau, vì tu tập đề mục gì cũng có sự tác ý theo đó, ví dụ như tu tập tâm từ cũng phải tác ý; khi quán chiếu sự thật về khổ cũng phải tác ý; Đức Phật tuyên bố “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, vì vậy không thể không có tác ý trong sự tu tập này.
Cũng vậy, khi quán bất tịnh phải tập trung tâm ý vào đề mục bất tịnh, an trú tâm vào đó để làm sanh khởi cảm thọ về sự bất tịnh liên tục.
Khi tu tập Hỷ vô lượng tâm phải tư duy, tác ý, an trú vào tâm hỷ liên tục. Khi nhìn vào gương thấy không còn sợi tóc nào cũng giống như mình đã hoàn toàn rủ bỏ mấy chục ngàn cái phiền não nên mình hạnh phúc, được đắp tấm y ruộng phước hạnh phúc biết bao nhiêu, mở quyển kinh ra thấy trong đó là chân lý, là sự thật mà vô lượng vô biên kiếp mình chưa từng biết. Thế là mình tác ý hạnh phúc, trú trong hỷ vô lượng tâm liên tục, không bị mất đi thì gọi là định tâm hỷ.
Học Khổ Thánh Trí xuyên suốt là để an trú vào trí tuệ, an trú vào những cảm thọ, an trú vào sự tác ý, quán chiếu liên tục về khổ; nhờ vậy những cảm thọ về khổ có chỗ đứng, Thánh trí huệ về khổ được thiết lập trong tim, trong cảm thọ, không bị mất đi. Dù đã học hết chuyên đề về khổ nhưng trí tuệ về khổ vẫn còn đó, chỉ cần tác ý là sanh khởi những cảm thọ về khổ, đó là định về Khổ Thánh Trí.
Khi tu tập tâm xả thì tập trung tâm ý vào đề mục buông bỏ. Mỗi khi thấy hoặc nghe cái gì chướng tai gai mắt, trong tâm có sự chấp chặt, dính mắc thì phải nhớ đến đề mục đang tu tập, lập tức thực hành thiền quán xả bỏ, buông bỏ, chánh niệm tỉnh giác trú xả. Nếu không có chánh niệm tỉnh giác sẽ không thể an trú vào tâm xả, vì chỉ cần tiếp duyên xúc cảnh thì lập tức sanh khởi cảm thọ. Người có chánh niệm tỉnh giác sẽ rõ biết những thứ làm ta sanh khởi cảm thọ đó chỉ là sắc trần, thanh trần, hương trần. Ngược lại, nếu không chánh niệm tỉnh giác, chỉ cần nghe một lời nói bên ngoài thì cảm thọ liền sôi sục, như vậy tâm mình chưa được an tịnh lắng dịu nhiều.
Mặt khác, chúng ta phải biết ơn tất cả những khổ đau này, vì nhờ những điều đó là ta thấy pháp. Dẫu cho người ta có đánh đập, mắng chửi, chê bai, khinh khi, hủy nhục nhưng mình vẫn cảm ơn và cảm ơn, tác ý về cảm ơn liên tục và trú vào tâm cảm ơn, nhớ ơn suốt cả ngày. Cảm ơn và nhớ ơn là pháp của bậc chân nhân. Mỗi ngày tu tập, chúng ta phải cảm ơn thiền đường, cảm ơn tấm y, cảm ơn con đường hằng ngày mình đi qua, cảm ơn những hạt gạo của người nông dân… Gặp bất kì món đồ hay con người nào cũng vậy, dù thương hay ghét thì mình vẫn cảm ơn tất cả. Không bao giờ quên ơn chúng sanh, ơn Tam bảo, ơn thầy tổ, ơn huynh đệ, ơn từng hòn sỏi, từng tấm ván, từng viên gạch, ơn từng đám mây, từng luồn gió mát, cảm ơn luôn cả hơi thở này, tu như vậy thì không bao giờ ngủ gục khi ngồi thiền. Ngủ gục là do không biết khởi động pháp, không biết khéo léo vận dụng nên mới ngủ gục trên thiền đường.
Cho nên, người tu phải thường an trú tâm rộng mở cùng khắp và rộng lớn, tâm vô lượng vô biên không hận không sân. Nếu không thường thực tập như vậy thì tâm chỉ biết trú vào tấm thân nhỏ bé này, rồi sanh khởi bản ngã, cái tôi trong đó. Những vị Thánh Tăng ngày xưa đều thường trú vào vô lượng tâm định hoặc vô tướng tâm định. Đặc biệt là Ngài Ma-ha Ca-diếp khi dùng cơm thường trú vào vô tướng tâm định nên chư Thiên và loài Người rất thích cúng dường cho ngài, vì được cúng dường cho người trú vào vô tướng tâm định thì phước báu có được là vô lượng vô biên, vô cùng vô tận; còn phàm phu chúng ta khi ăn chỉ biết món này ngon, món kia dở, cái nào bổ, cái nào béo.
Khi trú vào định vô tướng là tâm trống rỗng như hư không, yên định, bất động, thênh thang, rộng khắp. ‘Vô tướng’ là một cái tưởng trống rỗng rộng lớn, cái tưởng này an trú vững chắc nên không có một sắc tưởng hay hình bóng nào khác chen vào được. Vô tướng tâm định là một cảm thọ an tịnh lắng dịu, một cái tưởng trống rỗng vô lượng vô biên, cùng với hành an tịnh và thức rõ biết, không có bất kì hình bóng nào trong đó.
Tri kiến như thật
Khi trú được vào định đúng như Đức Phật dạy thì tri kiến như thật xuất hiện; tính chất vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh được hiển hiện. Tức là, nhờ có định mà sự thấy biết đúng sự thật xuất hiện trong lúc tâm yên định, an trú pháp, tập trung tu tập theo trí tuệ về ngũ uẩn của Đức Phật; khi đó bản tánh của các pháp được hiển lộ rõ ràng, minh bạch, sáng tỏ; cái thấy biết đúng sự thật được hiển hiện. Sự thật đó là tổ hợp của đau khổ, sự thật đó là sự đổi dời, dịch chuyển, sự thật đó là tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Một khi sự thật được phơi này thì nhàm chán xuất hiện; yểm ly, chán nản, xa lìa cũng sẽ xuất hiện. Bởi lẽ, nếu thấy dưới mảnh đất này là hố tử thần thì không ai mua mảnh đó để cất nhà; cũng vậy, khi thấy được sự thật vô thường, biến hoại, đau khổ thì không còn ai tham, sân, si, bản ngã vào đó thêm nữa; mà chỉ muốn thoát ra. Tu đúng Chánh Pháp thì tự động tâm sẽ đi theo quy trình như vậy.
Còn nếu mới đạt tới sự an lạc, yên vui mà dừng lại không tu tiếp thì sẽ không thành tựu chánh tri kiến. Nhiều người thích tu thiền là vì họ đạt được trạng thái tâm yên ổn này, sau đó không muốn quán chiếu, không muốn tác ý, không muốn tâm làm dao động, rồi nghĩ rằng như vậy là đạt được tịch tịnh, Niết-bàn, nhưng không đúng như vậy. Vì cho đến khi nào thoát ra sự vận hành của ngũ uẩn, thoát khỏi dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, thành tựu trí về đoạn diệt, chỗ này mới được gọi là Niết-bàn. Sự đoạn diệt này là sự chấm dứt dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã; sự đoạn diệt này là sự chấm dứt hoàn toàn nguyên nhân tác thành đời sống bất an, lo lắng, buồn đau, khổ sầu. Đến giai đoạn này thì trí về đoạn diệt mới hoàn toàn thành tựu, đại viên mãn trong tất cả các góc độ, khía cạnh, phương diện.
Trí đoạn diệt này sẽ làm đoạn tận tất cả các lậu hoặc, tham, sân, si, vô minh, bản ngã và tự biết mình đã đoạn tận xong, đó chính là Diệt Đế, tức là trí tuệ của bậc Thánh về sự chấm dứt khổ. Lúc này không còn một chút đau khổ, chấp thủ vào ngũ uẩn nào còn xót lại mà là diệt hoàn toàn, đó là lộ trình tu tập tâm hay còn gọi là Thánh đạo.
Nhưng vấn đề mấu chốt là nếu chưa thành tựu trí về khổ ngay từ lúc bắt đầu tu tập thì lòng tịnh tín không thể bất động, vì thế cần học về khổ, biết về khổ, tu tập về khổ thật nhiều để nền móng được vững chắc. Bằng không, chưa có nền móng mà muốn vào được định, hoặc muốn tu thiền ngay lập tức thì không thể đưa đến lợi ích lớn, có khi còn tu sai đường. Cho nên nền tảng về Khổ Thánh Trí phải thành tựu thì mới vào tịnh tín bất động, niềm tin chúng ta còn bị lay chuyển là vì Khổ Thánh Trí chưa được viên mãn.
Lộ trình tu tập
"Như vậy, này các Tỳ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên khổ; khổ duyên tín; tín duyên hân hoan; hân hoan duyên hỷ; hỷ duyên khinh an; khinh an duyên lạc; lạc duyên định; định duyên tri kiến như chân; tri kiến như chân duyên yếm ly; yếm ly duyên ly tham; ly tham duyên giải thoát; giải thoát duyên trí về đoạn diệt".
Đức Phật nói rằng, sanh duyên với khổ, nghĩa là người sanh ra có nhân duyên gặp bậc Chánh Đẳng Giác, hoặc bậc A-la-hán, hoặc bậc chân nhân, bậc thành tựu, bậc minh kiến, bậc minh nhãn – bậc có con mắt sáng thấy được khổ, nói cho người này nghe về Khổ Thánh Đế. Còn trường hợp đặc biệt là Bích-chi Phật, nghĩa là vị Phật Độc Giác tự mình chứng ngộ, tự nhìn vào tâm quán rồi thành tựu lý duyên khởi. Sau khi nghe hiểu về khổ mới duyên với lòng tin, tức là sanh ra mà không thấy khổ là vô văn phàm phu; còn người sanh ra được gặp Thánh pháp, hiểu được Khổ Thánh Đế rồi phát khởi lòng tin là bậc Đa văn Thánh đệ tử.
Mà muốn thấy được khổ thì trước hết phải thấy ngũ uẩn, cho nên phải nhận diện được ngũ uẩn mới thấy khổ, còn không nhận diện được là không bao giờ thấy khổ. Trước đây, chúng ta học rất nhiều nhưng không thấy ngũ uẩn nên trí tuệ vô thường, khổ, vô ngã chỉ ở ngoài da chứ không đi vào trong xương, trong tủy. Đến khi nhận diện được ngũ uẩn; thấy được những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ, nhận thức suốt ngày tàn phá thân tâm mình thì ta mới thấy chán ngán với nó. Mặc dù nhìn bên ngoài thấy mình ngồi thiền có vẻ uy nghi, thanh thoát, nhẹ nhàng nhưng bên trong tâm lại khổ vô cùng khi thấy được sự vận hành của ngũ uẩn. Có khi chỉ nghe một câu nói là đã muốn gây chuyện; ăn uống mà không đúng ý thì đã khó chịu; đang ngủ mà có người làm ồn thì tâm liền sận giận… Chúng ta phải thấy tất cả đều vận hành trong khổ một cách toàn diện như vậy thì mới tịnh tín bất động với con đường này.
Như vậy, người sanh ra gặp được bậc Chánh Đẳng Giác giống như con rùa mù trăm năm nổi lên gặp được bọng cây nổi đưa nó vào đất liền; cũng giống như một người đứng trên đỉnh núi thả sợi chỉ xuống, một người đứng ở chân núi đang đưa lỗ kim ra, trong khi ở giữa là bão táp phong ba, nhưng sợi chỉ lọt đúng vào lỗ kim. Gặp được bậc A-la-hán, gặp được bậc chân nhân, gặp được bậc thành tựu chánh kiến cũng là nhân duyên vô lượng vô biên kiếp, chỉ có những vị này mới nói cho ta biết “ngũ uẩn này là khổ”, đó chính là sanh duyên khổ.
Sau khi nghe trí về khổ, nhìn lại ngũ uẩn thấy được tính chất vận hành của nó thật sự là như vậy, nhờ đó là xác quyết niềm tin không dao động đối với Chánh Pháp, không thay đổi nữa, như vậy gọi là ‘khổ duyên tín’, nhờ khổ phát khởi được lòng tin.
Sau khi có niềm tin, chúng ta bắt đầu nghe pháp, chiêm nghiệm, tư duy, tác ý, thiền quán, sống với niềm tin đó rồi mình vui sướng, phấn khởi trong pháp thì đó là ‘tín duyên hân hoan’. Hân hoan vì thấy được ngũ uẩn, hân hoan khi thấy được sự vận hành của những cảm thọ, suy nghĩ, nghĩ tưởng, nhận thức, thấy được sự vận hành của dục ái, tham sân, bản ngã, hơn thua. Thấy tâm này chứa đựng những sự xảo quyệt, lọc lừa, mánh khóe, gian trá, ngụy biện, quanh co, che giấu lỗi lầm. Thấy tất cả sự vận hành này đều là sự vận hành của khổ đúng như lời Đức Phật đã tuyên thuyết.
Khi hiểu được pháp, cảm nhận được pháp ở ngay trong thân tâm ngũ uẩn như vậy thì mình mừng rỡ như người mù được sáng mắt, đó chính là ‘hân hoan duyên hỷ’. Sau đó tiếp tục thiền tập, tiếp tục nhận diện ngũ uẩn, tiếp tục tác ý thì dần dần đạt được trạng thái nhẹ nhàng của tâm, sân được giảm thiểu, mềm mỏng, muội lược; bản ngã cũng bắt đầu nhẹ lại, biết cúi đầu nhận lỗi. Tất cả những tập khí nổi loạn, nặng nề lúc xưa bắt đầu nhẹ nhàng, khinh an, đó là ‘hỷ duyên khinh an’.
Từ sự nhẹ nhàng này, tâm dần dần đi đến niềm vui nhè nhẹ, chứ không thô như sự mừng vui lúc mới vừa thấy pháp, niềm vui nhè nhẹ trong cảm thọ này là ‘khinh an duyên lạc’.
Từ niềm vui nhè nhẹ này sẽ dẫn ta đi vào định, tâm được yên, đây gọi là ‘lạc duyên định’. Lúc này ta mới bắt đầu tập trung tất cả tâm ý vào những lời dạy của Đức Phật một cách sâu sắc, chứ không phải định là không suy nghĩ gì nữa, vì nếu không suy nghĩ thì không thể có được tri kiến như thật. Cho nên, cần phải có một sự tác ý, tư duy của thiền quán và tâm yên định của thiền chỉ kết hợp nhau một cách khéo léo, thiện xảo; vừa đủ để định, vừa đủ để có tuệ; từ đó mới nhìn thành tựu tri kiến như thật.
Như vậy, nếu quá dao động trong thiền quán cũng không được; hoặc quá im lặng trong thiền chỉ, không nhìn sâu vào các pháp cũng không được. Định, huệ, chỉ, quán cần cân bằng, phù hợp thì tri kiến như thật mới xuất hiện. Giống như mặt nước lặng yên, trong suốt, dưới đáy hồ có gì ta đều nhìn thấy được, cũng vậy, bản chất thật sự của tất cả những lậu hoặc vi tế, nhỏ nhiệm, sâu kín trong những ngõ ngách của tâm sẽ được phơi bày ra trong cái định này, đây gọi là ‘định duyên tri kiến như thật’. Tâm ta lúc này như mặt hồ vừa trong suốt, vừa tĩnh lặng, vừa sáng tỏ, có thể thấy đúng tất cả các pháp đang có mặt. Đây gọi là tri kiến như thật – thấy biết đúng sự thật như nó đang là.
Còn sự tu chúng ta bây giờ mới chỉ đến bước thấy được những tập khí thô bên ngoài, có khi được chỉ dạy còn không chấp nhận. Đến khi nào có được tri kiến như thật, ta mới nhận diện được tất cả những gì sâu kín nhất. Lúc này, mình không chỉ thấy năm tổ hợp của sắc chất, cảm giác, suy nghĩ, hình bóng và nhận thức của tự thân, mà còn thấy năm uẩn của chúng sanh, của thế giới nên càng ngao ngán, chán lìa. Chúng ta giờ đây mới chỉ thấy được một phần bản chất thật của thân tâm này mà còn thấy chán như vậy, nói gì đến việc có thần thông, thấy biết toàn diện mọi khía cạnh, khi đó còn chán ngán đến mức độ nào!
Khi thấy được bản tính dối trá, lọc lừa; thấy được tính chất tan hoại, tí trống rỗng, trống không trong thân tâm này thì trí về đoạn diệt thành tựu. Tức là chấm dứt hoàn toàn, không muốn tái tạo ra những thân hình, đời sống đau khổ đầy tham, sân, si này nữa, đó gọi là đoạn sanh tử, thoát sanh tử, liễu sanh thoát tử, chấm dứt vòng quay của tử sanh, đó chính là Diệt Đế. Lúc này vô minh bị phá sạch, tham ái không còn, đưa đến chấm dứt sự tái tạo ra tham, sân, si, sầu bi, ưu não, chấm dứt sự tái tạo ra đời sống si dại, điên đảo, ngu mê, khổ sầu.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, trên đỉnh núi trời mưa nặng hột và nước chảy theo triền thấp, tràn đầy hang núi, khe núi, thung lũng. Khi các hang núi, khe núi, thung lũng được tràn đầy, thời ao nhỏ được tràn đầy; ao nhỏ được tràn đầy thời ao lớn được tràn đầy; ao lớn tràn đầy thời sông nhỏ được tràn đầy; sông nhỏ được tràn đầy thời sông lớn được tràn đầy; sông lớn được tràn đầy thời biển lớn, đại dương được tràn đầy.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên khổ; khổ duyên tín; tín duyên hân hoan; hân hoan duyên hỷ; hỷ duyên khinh an; khinh an duyên lạc; lạc duyên định; định duyên tri kiến như chân; tri kiến như chân duyên yếm ly; yếm ly duyên ly tham; ly tham duyên giải thoát; giải thoát duyên trí về đoạn diệt.
(trích Tương Ưng Bộ Kinh tập II, bài kinh Duyên)
Như vậy, do đời sống này gặp được trí tuệ về khổ, phát khởi lòng tin bất động đối với Chánh Pháp, từ đó có được sự hân hoan, vui mừng, nhẹ nhàng, an lạc và tâm an tịnh. Từ tâm an định thành tựu cái thấy biết đúng sự thật, sanh ra sự chán lìa, không còn tham muốn, hướng đến giải thoát và thành tựu trí về đoạn diệt. Trí về đoạn diệt là một sự đại viên mãn chứ không phải đoạn diệt là không còn gì nữa. Ví như nước tràn hết tất cả bốn biển thì sự tu hành của chúng ta cũng phải đi đến đó, chấm dứt hoàn toàn dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, chấm dứt hoàn toàn những yếu tố dẫn đến đời sống của tổ hợp khổ đau. Đó là Khổ Diệt Thánh Đế. Vì thế chúng ta cần cảm ơn cái khổ rất nhiều, cảm ơn những người làm cho mình thấy cuộc đời này là khổ nên mình mới có được đầu tròn áo vuông, có tấm y ruộng phước, xả bỏ hồng trần lên non cầu đạo, ngồi nơi đỉnh Linh Quy với mây trắng trăng sao, ngồi ở Cổng Trời nghe chim hót ngắm mây bay, nhìn trúc xây và thấy rõ chân tướng của cuộc đời này.
Vui vẻ ơi!
Vui vẻ ơi!
Hoan hỉ ơi!
Hoan hỉ ơi!
Ta khơi dậy trong ta
Tình thương và niềm vui,
Ta khơi dậy trong ta
Niềm vui và tình thương.
Tình thương sống trong ta,
Niềm vui sống trong ta.
Tình thương có trong ta,
Niềm vui có trong ta.
Ta mở rộng tình thương
Đến các loài hữu tình,
Ta mở rộng niềm vui
Đến các loài chúng sanh.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này,
Tâm vui này tỏa tộng,
Khắp đất trời bao la.
(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)