Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Đâu Là Chánh Pháp Tối Thượng

2026-03-03 00:53:46
ĐÂU LÀ CHÁNH PHÁP TỐI THƯỢNG

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tha thiết cầu Pháp PAGEREF _Toc68855994 \h 1

II. Bản ngã PAGEREF _Toc68855995 \h 2

III. Năm triền cái PAGEREF _Toc68855996 \h 3

IV. Niệm tử PAGEREF _Toc68855997 \h 4

V. Kinh bệnh PAGEREF _Toc68855998 \h 5

VI. Tứ Niệm Xứ PAGEREF _Toc68855999 \h 9

VII. Tứ Thánh Đế và Tứ Niệm Xứ PAGEREF _Toc68856000 \h 11

I. Tha thiết cầu Pháp

Đại chúng chắp tay hướng tâm về Đức Thế Tôn. Một lòng thành kính hướng tới Đức Thế Tôn, đã đem lại giáo pháp vô thượng cho chúng sanh trong cuộc đời này.

Trong sự tu học hiện tại của chúng ta, duy nhất chỉ có giáo pháp mới cứu mình. Minh Thành rất mừng huynh đệ biết tôn trọng, quý kính giáo pháp, nhưng chưa dừng lại ở đây, phải làm cho tâm mình tăng trưởng, phát triển rộng lớn hơn nữa đối với Chánh Pháp, mình phải có tâm dù cho phải hy sinh thân mạng để được nghe pháp mình cũng chấp nhận, dù cho phải băng qua lửa đỏ để mình được Chánh Pháp mình cũng hy sinh, dù cho mất thân mạng để cầu được diệu pháp mình cũng cam tâm tình nguyện, phải có tinh thần đó, phải có thái độ tu học như vậy thì mình mới thành tựu được pháp.

Hiện tại rất ít người biết được giá trị thật sự của giáo pháp, rất ít, cho nên đó là một điều xót xa, cũng là điều làm cho diệu pháp không còn tồn tại, hoặc nó phai mờ thậm chí nó mai một trong gần đây. Khi mình chưa đoạn tận tham, đoạn tận sân, đoạn tận si giống như mình đang đưa đám tang của mẹ mình, khi mình đưa đám tang của mẹ rất buồn. Tất cả nằm trong sắc uẩn vô thường, trong cái thọ tưởng hành thức, ngũ uẩn vận hành. Người xưa nói việc lớn chưa sáng giống như đưa đám tang của mẹ, trong lòng mình luôn luôn khắc khoải suy tư, nỗ lực, gắng sức, không dễ dui, không lơ là, tại vì vô thường, bất chợt, bất thình lình.

Trước khi người ta chết, hoặc trước khi bị tai nạn, người ta đâu có biết, hỏa tai đâu báo trước sẽ đến, thiên tai đâu báo trước, gió lốc sống thần, động đất nó không báo, tai nạn giao thông, trước đó không nói trước nó sẽ đến. Cho nên làm sao mình nuôi được tinh thần khắc khoải lo lắng và sợ hãi trong cuộc đời vô thường ảo mộng biến đổi, vô chừng, bất định này. Cuộc sống này là cuộc sống bất ổn, bất an, bất toàn, bất toại nguyện, đừng vì những cái vui nhỏ mong manh, mà lãng quên bổn phận nhất là người xuất gia, đặt cái đó lên hàng đầu, lúc nào cũng thao thức, lúc nào cũng khắc khoải, lúc nào cũng chiêm nghiệm, suy tư, thiền định, thiền quán, có cơ hội được học pháp, được thực tập, năng nỗ, tinh tấn, tha thiết, cung kính, tôn trọng, cần cầu, đó là thái độ của người tu học chân chánh.

Tại khắp tam giới này, ngoài Chánh Pháp ra, không có cái gì, Chánh Pháp mới là tối thượng và người đem lại Chánh Pháp cho mình, phải quý trọng còn hơn cả cha mẹ, những điều kiện để cho mình thực tập Chánh Pháp đó, ngàn năm vạn kiếp mới có cơ hội. Cho nên dù cho chết cũng không bỏ qua sự tu, sự học, sự nghe pháp, không vì bất cứ một lý do gì mà sao nhãng, sự pháp học, pháp hành. Không còn gì cuộc đời vô thường này, mình có thể bỏ ăn, bỏ ngủ, bỏ làm, thậm chí bỏ mạng, để mình được pháp, đó là người tu học chân chán. Rất xót xa, trong thời đại hiện nay, ít người biết đến được giá trị của Chánh Pháp vô thượng, mình biết rồi mình có cung kính, có tôn trọng, có quý nhưng không phải như vậy là đủ, mình phải phát huy tâm tôn trọng, quý kính, cầu học đó cho tới mức cùng cực, chứ không hài lòng bằng lòng chấp nhận với hiện tại, vì hiện tại mình vẫn đang còn trong tham, sân, si, bản ngã, dễ duôi, phóng túng, phóng dật.

II. Bản ngã

Thế nào là không phóng dật? Liên tục thiền định, liên tục trong quán chiếu, liên tục trong thực hành, cái đó mới gọi là không buông lung, mình chỉ cần hở chút là buông lung, mình không chấp nhận những cái thường thường, những chút ít của thiện pháp, mình không chấp nhận, không bằng lòng, phải tu tứ chánh cần trong mọi lúc mọi nơi. Không cho phép, không bằng lòng, không chấp nhận tu vậy cũng tạm an ổn, không cho phép, ngày nào mình chưa đoạn tận hết tham sân si, ngày đó mình sống trong tàm quý hổ thẹn nhục nhã.

Hôm qua có một cư sĩ nói lời không tôn trọng, không cung kính với Thầy, lúc đó tâm Thầy khởi lên thấy khó chịu, và nhìn thấy được sự khó chịu này, là bản ngã, là cái tôi, Thầy mới dùng như lý tác ý, Thầy nói đây là chỗ khốn đốn và hoạn nạn của chính mình, bản ngã này là thứ nguy hiểm chết người, hãy tập sống hạ thấp mình xuống, hạ thấp hết mức. Vì mình không có cái gì trong cuộc đời này hết, mình là trống rỗng, trống không, trống trơn, mình là thứ ngũ uẩn ảo mộng, vô ngã, không có sư phụ, trụ trì, quản sự, thầy quản chúng, sư phụ gì ở đây, không có xuất gia cư sĩ gì ở đây, không có trên dưới cao thấp gì ở đây.

Đây là thân trống rỗng của vô thường, trống rỗng, không có gì là ta, không có cái gì là của ta, chính cái ta này khởi lên, cái ta này là một thứ khốn nạn, một thứ khốn khổ, một thứ hoạn nạn, một thứ ác ma, chính cái thứ này nó hủy hoại tâm giải thoát tâm bình an của mình, trong lúc đó cảm giác khó chịu đó tan giống như viên thuốc sủi bọt, đó là trong lúc đang cúng rằm lớn. Lúc cúng xong về phòng Thầy quán chiếu đắp y lạy người cư sĩ mà khinh thường Thầy, lạy xuống, dập đầu lạy chính người đó, cho mình thấy cái tôi, cái ta của mình, cho mình thấy cái tệ của mình.

Cho nên không phải người xuất gia, người tập sự xuất gia, ngay cả những người cư sĩ gần gũi với thầy, thầy cũng mong muốn tất cả các vị sáng tỏa trí huệ, phải dự vào dòng trí huệ. Tất cả những người ân nghĩa với mình, chỉ có trí huệ này mới chấm dứt khổ đau, không đạt trí huệ này, vĩnh viễn ở trong đau khổ, mình cứ bám chặt vô sắc thọ tưởng hành thức, suốt ngày mình cứ tham muốn, nóng giận trong đó, giao động, trạo cử, giải dượi, lờ đờ trong đó, mình lừ đừ, mệt mỏi, biếng nhác trong đó, nghi ngờ đối với giáo pháp, không nỗ lực tu hành.

III. Năm triền cái

Năm sự triền cái sự che đậy tâm đó, đoạn dứt nó luôn luôn nhận thức đoạn tận năm triền cái, coi có tham dục hay không, tham dục nếu có, mình xử lý nó. Xem lúc này mình có sân hận hay không, nếu mình không nhận diện, làm sao mình hóa giải được, nếu có mình phải nhận diện nó, rồi như lý tác ý, quán chiếu nó. Xem lúc này mình có trạo cử, dao động thân tâm hay không, mình có lăng xăng hay không, mình có giải dượi, lười biếng, giãi đãi, thụ động, trì trệ xuống. Xem tâm thức của mình có như vậy hay không. Xem lúc này mình có sáng tỏa đối với pháp hay không, sáng tỏa với trí ngũ uẩn, sáng tỏa đối với ba pháp, sáng tỏa đối với tất cả pháp tự thân tự tâm của mình đối với Tứ Niệm Xứ, có sáng tỏa với thân hành niệm hay không?

IV. Niệm tử

Có đang sống với trí tuệ bất tử hay không, hay sống với tâm sanh tử, bao nhiêu người đã chết, bao nhiêu người đang chết và bao nhiêu người sẽ chết trong đó có mình, niệm tử. Nên có nhiều người sợ nói về cái chết, sợ nói về già bệnh, nói mình còn trẻ nói già bệnh làm gì, mình còn sống, nói về cái chết làm gì, người ta không muốn nói về những điều đó. Nếu ai cũng như vậy thì không có Đạo Phật, lúc thái tử Tất-đạt-Đa đi dạo bốn cửa thành lúc đó mười chín tuổi mà Ngài chiêm nghiệm về già bệnh chết. Nếu không chiêm nghiệm sâu sắc, không có suy tư, không có biết “Nhân vô viễn lự, tất hữu cận ưu”, không lo xa sẽ có buồn hận.

Tại sao mình không nhớ mình sẽ già sẽ bệnh và chết, đợi tới lúc đó làm sao còn kịp, nếu mình nhớ vậy hoài, lúc nào mình cũng lo lắng sợ hãi, lo lắng sợ hãi đó là trí huệ, trí huệ này đưa đến viễn ly, đưa tới chán nản xa lìa rời bỏ từ bỏ, đưa đến sự xuất ly, thoát ra. Nếu không có chán nản, lo lắng, sợ hãi thì không nhận diện nó, đâu tìm mọi cách để thoát ra được nó, cho nên sự lo lắng sợ hãi chừng nào là trí huệ. Riêng đối với Minh Thành, không ngày nào không nhớ mình sẽ chết, nên làm cái gì thiện pháp là cố gắng làm, tại vì mình không biết được, lo sợ.

Mình nghĩ tới ngày cha mình chết, mẹ mình chết, các cô mình chết, chú, anh chị mình chết những người thân mình chết, mình chết, mình phải nghĩ không thể không nghĩ được, giờ mình nghĩ, tự nhiên tham sân si của mình sẽ rơi rụng từ từ. Phải nhớ phải niệm tử, niệm tử mỗi ngày, mình phải học pháp, thảo luận về pháp, ngoài im lặng của Bậc Thánh ra thì mình nói pháp, còn những công việc, làm được cái gì thì làm, trong bổn phận. Ngoài cái đó ra, học pháp thực hành pháp, mình không thể ngồi đây đợi chết, mình sống trong tham sân si, sống trong buông lung, phóng dật, trong cái ta đây, dương dương tự đắc, mình sẽ đi vào cõi sanh tử, mình phải thực hành thân hành niệm để mình đi vô cảnh giới của bất tử.

V. Kinh bệnh

Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, tại làng Beluva.

“Hãy đến, này các Tỷ-kheo, hãy an cư vào mùa mưa xung quanh Vesàli, chỗ nào có bạn bè, có người quen biết (sandittham), có người thân thiết (sambhattam). Ở đây, Ta sẽ an cư mùa mưa tại làng Beluva này.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, an cư mùa mưa xung quanh Vesàli, tại chỗ có bạn bè, có người quen biết, có người thân thiết. Còn Thế Tôn thời an cư mùa mưa tại làng Beluva.

Trong khi Thế Tôn an cư mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, những cảm thọ khốc liệt gần như chết tiếp diễn. Ở đây, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, không có than vãn.”

Trong mùa an cư này năm này Đức Thế Tôn tám mươi tuổi, lúc đó một cơn bệnh dữ cảm thọ rất khốc liệt gần như chết, Đức Thế Tôn chánh niệm tỉnh giác không có than vãn

“Rồi Thế Tôn suy nghĩ: "Thật không tương xứng đối với Ta, nếu Ta không báo trước các vị ủng hộ Ta và không từ giã chúng Tỷ-kheo mà nhập Niết-bàn. Vậy Ta hãy tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh này, lưu giữ mạng hành (jìvitasankhàra) và sống". Rồi Thế Tôn với sức tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh ấy, lưu giữ mạng hành và sống.

Rồi Thế Tôn thoát khỏi cơn bệnh; thoát khỏi cơn bệnh không bao lâu, Ngài đi ra khỏi nhà bệnh, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, trong bóng im, sau lưng ngôi nhà.”

Khi cơn bệnh nó đến Đức Phật nghĩ rằng nếu ta không báo trước cho những vị ủng hộ ta và chúng Tỳ-kheo mà ta nhập Niết bàn, như vậy không tương xứng một Bậc Chánh Đẳng Giác, một bậc đại giác ngộ, giờ ra đi mà không báo trước, không nói trước. Nên lúc đó Ngài tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh, lưu giữ mạng hành lại. Vì Bậc Chánh Đẳng Giác thành tựu tứ thần túc là muốn sống chết lúc nào tự tại, muốn sống thì sống, muốn chết chọn cho mình trước ngày giờ năm tháng, thậm chí kéo dài một kiếp trái đất cũng được, nên lúc này Đức Phật nhiếp phục trọng bệnh lưu giữ mạng hạnh.

“Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn kham nhẫn! Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn chịu đựng! Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng. Pháp không được tỏ rõ cho con vì Thế Tôn bị bệnh. Nhưng bạch Thế Tôn, con được chút an ủi rằng Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài không có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.”

Ngài A-nan, con thấy Thế Tôn chịu đựng, đau đớn lắm, gồng lên để chịu đựng, con bây giờ yếu ớt giống như lao sậy, con mờ mịt hết, con không nhìn hướng nào là đông tây nam bắc, lo cho Đức Phật. Bây giờ con không thấy rõ pháp Thế Tôn bị bệnh, pháp con không thấy rõ, nhưng con có chút an ủi rằng Thế Tôn không diệt độ nếu Ngài chưa có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo.

“-- Này Ananda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ananda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo Sư còn nắm tay. Này Ananda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo, hay: Chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này Ananda, Như Lai không có nghĩ rằng: "Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo", hay "Chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta", thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo?

Này Ananda, Ta nay đã già, bậc trưởng thượng, bậc trưởng lão, đã đạt đến đoạn cuối của đời, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thừng chằng chịt. Cũng vậy, thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ dây thừng chằng chịt.”.

Chúng Tỳ-kheo còn mong chờ gì nữa ở nơi ta, ta đã giảng pháp không phân biệt trong ngoài, không phân biệt, đây là đệ tử của tôi xuất gia theo tôi tôi mới dạy hết tấm lòng còn mấy người kia đạo khác tôi dậy ít hơn, Phật không phân biệt nội đạo hay ngoại đạo, đối với một người đạo khác đối với một du sĩ, đối với những triết gia, tất cả những người đến thật sự vì tâm cầu pháp, Đức Phật đều nói hết tấm lòng của Ngài, Ngài không phân biệt trong ngoài, đối với các pháp, Như lai không còn một vị đạo sư nắm tay, những gì Đức Phật thấy biết chứng ngộ về con đường chấm dứt khổ đau, Đức Phật đã trao gởi hết không còn giữ riêng cho mình.

Ai mà nghĩ rằng ta là vị cầm đầu của chúng Tỳ-kheo là vị lãnh đạo, chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của ta, thì người ấy mới có lời di giáo, ta không có nghĩ ta là người lãnh đạo, ta không nghĩ chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của ta, ta không có nghĩ như vậy, thì làm sao ta có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo.

Một Bậc Chánh Đẳng Giác như vậy, một bậc đại đạo sư của Tam giới, Ngài nói Ngài không xem Ngài là Thầy, Ngài là người cầm đầu, Ngài là người lãnh đạo, không có những người kia là những người chịu sự giáo huấn của ta, không có. Đây là nói lên hoàn toàn vô ngã, trí tuệ vô ngã cứu cánh, đây không phải là lúc bình thường mà bệnh nặng sắp sửa ra đi. Giữa cái này mình mới nhìn những cái khác, khác xa, có những vị tu, sau này sắp sửa ra đi, nói hãy gìn giữ giáo pháp của ta và dặn đủ thứ, như mình bây giờ, mình thấy có mình, có cái của mình, có người, có cái của người mình học được. Ta đã già rồi ta đến đoạn cuối của cuộc đời tám mươi tuổi, xe còn chạy được là nhờ những sợi dây chằng chịt, xe chạy tám chục năm riệu rã rồi.

“Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy, thân Như Lai được thoải mái.”.

Đức Phật phải trú trong định nếu không trú trong định là không có được thoải mái, vô tướng tâm định là định mà tâm an trú vào chỗ không có tướng nào, thường thường mình hay nói định không là đây, không đây là vô ngã trống rỗng.

“Vậy này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác.

Và này Ananda, thế nào là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?

Này Ananda, ở đây, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Ananda, như vậy là Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.”

Ngọn đèn Chánh Pháp đó là Tứ Niệm Xứ, quán xét thân tâm đó chính là ngọn đèn đó chính là chỗ nương tựa, đó chính là Chánh Pháp. Xác định rõ Tứ Niệm Xứ là Chánh Pháp

“Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.”.

(Bài kinh Bệnh – Tương Ưng Bộ tập 5)

Như vậy những vị thực hành Tứ Niệm Xứ là những vị tối thượng trong hành Tỳ-kheo của ta nếu những vị ấy thiết tha học hỏi. Mình xem mình đã thiết tha học hỏi chưa? Đủ chưa? Những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Phật, là thực hành Tứ Niệm Xứ, đó là những gì tối thượng là cao tột cao nhất, mình đi tìm rất khó nên hãy tự mình làm ngọn đèn cho chính mình.

VI. Tứ Niệm Xứ

“Nhân duyên ở Sàvatthi.

Rồi Tôn giả Bhadda nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:

-- Do nhân gì, do duyên gì, này Hiền Giả Ananda, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không có tồn tại lâu dài? Do nhân gì, do duyên gì, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài?

-- Lành thay, lành thay, này Hiền giả Bhadda! Hiền thiện thay, này Hiền giả Bhadda, là trí tuệ của Hiền giả! Hiền thiện là biện tài của Hiền giả! Chí thiện là câu hỏi của Hiền giả!....

….”

Ngài A-Nan lập lại câu hỏi đó. Ngài hỏi là do lý do gì mà sao khi Như lai nhập Niết bàn diệu pháp không tồn tại lâu dài. Nguyên do tại sao? Ngài A-nan khen câu hỏi này, Ngài rất biện tài Ngài rất trí huệ, câu hỏi này trí thiện vì câu hỏi này sẽ đem lại lợi ích lâu dài của chúng sanh đời sau, câu hỏi này sẽ đem lại lợi ich lợi lạc cho hiện tại và cho tương lai nhất là cho mình 2.600 năm. Ngài A-nan trả lời.

“-- Thưa vâng, Hiền giả.

-- Do Bốn Niệm Xứ không được tu tập, không được làm cho sung mãn, này Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp không có tồn tại lâu dài. Do Bốn Niệm Xứ được tu tập, được làm cho sung mãn, thưa Hiền giả, khi Như Lai nhập Niết-bàn, Diệu pháp được tồn tại lâu dài.”

(Bài kinh Trú – Tương Ưng Bộ Kinh tập 5)

Mình thấy rõ nguyên do tại sao, Chánh Pháp không tồn tại lâu dài. Bốn Niệm Xứ không được tu tập, không được làm cho sung mãn nên diệu pháp không tồn tại lâu dài, Bốn Niệm Xứ được làm cho xung mãn thì diệu pháp tồn tại lâu dài, xung mãn tròn đầy viên mãn lớn mạnh phát triển vững chắc. Ngày nào còn Tỳ-kheo tu tập Tứ Niệm Xứ ngày đó còn Chánh Pháp, Tứ Niệm Xứ là quán xét tự thân tự tâm của mình, tẩy trừ tham sân si bản ngã, trọng yếu cốt lõi linh hồn của giáo pháp quán xét tự thân tự tâm của mình, mình nhìn lại bây giờ tu tu làm sao? Hiện trạng thực tế bây giờ đang tu cái gì? Nên tại sao mình học tụng Tứ Niệm Xứ, mình giảng Tứ Niệm Xứ, tại sao mình hành trì Tứ Niệm Xứ là như vậy.

--

Mình không học mình không biết đây là lời di giáo sau cùng của Đức Phật. Bài kinh Tổn giảm Tương ưng bộ tập 5. Vì sao giữa pháp bị tổn giảm, tổn là hao mòn, giảm suy giảm kém xuống. Vì sao diệu pháp bị phai mờ không còn mạnh mẽ nữa, bây giờ nó mạnh phát triển theo chiều trên hình thức, trên hình tướng, trên màu sắc bên ngoài.

Cho nên hồi hôm Minh Thành chiêm nghiệm thấy thật sâu xa, nếu Tứ Niệm Xứ của thân hành niệm, niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động người ta thấy được niệm oai nghi, với hành động, càng đi sâu vào không ai thấy, quán ba hai thể trược, người ngồi kế bên người ta không biết, quán tứ đại, người ngồi kế bên không biết, quán tử thi, người kế bên ngồi mình không biết. Trong Tứ Niệm Xứ chỉ có hai ba pháp bên ngoài, sơ cơ nhất, người ta mới thấy được, niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động trong khi còn lại bao nhiêu pháp bên trong không ai thấy đó là vô tướng, chỗ sâu xa thâm thúy ở trong nội tâm, tu chứ không phải hình thức bên ngoài, mình bây giờ trú trọng hình thức bên ngoài, cho nên diệu pháp bị tổn giảm.

Có những bài kinh Đức Phật giải thích rất rõ thế nào là bậc hữu học? bậc hữu học là tu tập Tứ Niệm Xứ được một phần được gọi là bậc hữu học, chưa trọn vẹn, hữu học còn học. Thế nào là vô học, là tu Tứ Niệm Xứ toàn phần, viên mãn thánh A-la-hán quả, như vậy Thánh Đạo Thánh Quả là pháp hành căn cứ trên Tứ Niệm Xứ, căn cứ ở chỗ quán chiếu lại tự thân, tự tâm của mình thọ tưởng hành thức và các pháp phiền não trong nội tâm, phải thấy rõ phải nhận nó được phải nhiếp phục, chuyển hóa đoạn diệt đoạn tận nó.

VII. Tứ Thánh Đế và Tứ Niệm Xứ

Đại Bát Niết Bàn, Trường Bộ Kinh tập 1 (trang 539). Thế Tôn nói các Tỳ-kheo

“Này các Tỳ-kheo chính vì không giác ngộ không thông hiểu bốn thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm”.

Ta và các ông chính vì không có giác ngộ không thông hiểu được bốn thánh đế nên ta và các ông luân chuyển lưu chuyển luân hồi lâu dài. Mình liên hệ Tứ Thánh Đế và Tứ Niệm Xứ có liên hệ nghĩa gì với nhau

Pháp Sơn:

Mối liên hệ bốn thánh đế và Bốn Niệm Xứ. Đức Phật có dạy đối với bốn sự thật là một vị hành giả cần phải quán chiếu đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt của khổ và đây là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ.

Khổ đế chính là sự chấp vào cái năm uẩn này là cội gốc của phiền não và khổ đau. Tập đế là nguyên nhân của khổ chính là sự vô minh và tham ái là nguyên nhân để cho năm uẩn này sinh khởi. Diệt đế là sự chấm dứt khổ đau nghĩa là từ bỏ tẩy trừ vô minh tham ái một cách hoàn toàn không có dư tàn. Đạo đế là con đường đưa đến con đường châm dứt khổ đau. Chính đạo đế này là thực hành Bốn Niệm Xứ vì trong kinh Tứ Niệm Xứ Đức Phật nói đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh diệt trừ khổ ưu, đoạn trừ phiền não, thành tựu chánh trí, chứng ngộ niết bàn đó là Bốn Niệm Xứ.

Như vậy Bốn Niệm Xứ chính là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau đó là sự chấm dứt năm uẩn, Bốn Niệm Xứ là con đường đưa đến sự chấm dứt nguyên nhân của khổ đau đó là vô minh và tham ái. Khi thực hành Bốn Niệm Xứ chấm dứt được nguyên nhân sự chấp thủ năm uẩn này chính là chấm dứt được diệt đế không còn vô minh và tham ái, vô minh tham ái tẩy trừ một cách hoàn toàn đó là Niết bàn, đó là sự liên hệ giữa bốn thánh đế và Bốn Niệm Xứ.

Pháp Từ:

Theo bản thân con học hiểu, trong Tứ Thánh Đế hay còn được gọi là Tứ Diệu Đế, trong phần Đạo Đế Đức Phật có dạy rất rõ trong đó mình phải tu tập phương pháp Bát Chánh Đạo còn gọi là phương pháp tám đúng, phương pháp chân chánh để đoạn tận tham sân si khổ đau không còn sinh tử luân hồi. Đây là con đường độc nhất, vì trong đó Đức Phật có nói phần Chánh Niệm theo sự hiểu của con sự liên hệ Tứ Diệu Đế và Tứ Niệm Xứ, nói ngắn gọn cụ thể nhất, phần chánh niệm của Bát Chánh Đạo có liên hệ tới Tứ Niệm Xứ. Trong Tứ Niệm Xứ Đức Phật giảng dạy rất rộng và rõ. Nếu mình y cứ theo Bát Chánh Đạo nó rất cô động không thể thoát kịp những cái cốt tủy Đức Phật muốn nhắn gởi, nên mình phải cần xoáy khởi vào trong Tứ Niệm Xứ, mình hãy hiểu rõ hơn từng chi tiết Đức Phật muốn nhắn gởi đến mình.

Trong kinh Đức Phật có nói ngoài bát chánh đạo ra con đường độc nhất đưa đến đoạn tận khổ đau, Đức Phật cũng nói trong kinh Tứ Niệm Xứ rằng Tứ Niệm Xứ cũng là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh khỏi sầu não diệt trừ khổ u thành tựu chánh trí chứng ngộ Niết bàn.

Thầy giảng tiếp.

Trong Bát Chánh Đạo Chánh Kiến làm đầu, Chánh Kiến phải thấy được trong sáu phần thân hành niệm, mình phải thấy tứ đại là tứ đại, thân này là ba mươi hai thể trược không phải tôi, không phải của tôi, ngay đó là Chánh Kiến. Thường nhớ thường quán chiếu là Chánh Tư Duy, Chánh Tư Duy là mình thường nhớ ba mươi hai thể trược, nhớ hơi thở vô thường, niệm tứ đại đất nước gió lửa, tuệ tri địa đại là địa đại, nội địa giới ngoại địa giới, thủy hỏa phong, phong thức, sáu giới hay mình nói là tứ đại, mình tu tập phần niệm thân là thành tựu Chánh Kiến Chánh Tư Duy.

Nếu mình nói chuyện, mình chỉ nói về Tứ Niệm Xứ là Chánh Ngữ, trong đời sống những hành động mình luôn luôn có niệm oai nghi niệm hành động chánh Niệm Tỉnh Giác đó là Chánh Nghiệp, sự nuôi sống của mình theo giới luật của phần niệm thân là Chánh Mạng, luôn luôn tinh tấn trong Tứ Niệm Xứ siêng năng nỗ lực Tứ Niệm Xứ đó là Chánh Tinh Tấn, nhớ mãi không quên an trú thân thọ tâm pháp chánh, từ chỗ đó tâm mình đi vào định, Chánh Kiến Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định, Bát Chánh Đạo.

Nếu mình thấy cho rõ, thực tập cho kỹ thì Tứ Niệm Xứ trong đó hòa quyện với nhau nhất quán với nhau chứ không khác, từ nó khác nhưng khi tu tập nó nhất quán thông suốt với nhau. Cho nên có sự liên hệ rất chặt chẽ, nếu mình nói cụ thể rõ ràng mình tu Tứ Niệm Xứ, trong đó có chánh Kiến Chánh Tư Duy, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Định. Cho nên mình muốn tu Tứ Niệm Xứ thành tựu mình phải thấy được bản chất cuộc đời là khổ, mình thấy vui mình không có tu, mình không nỗ lực tinh tấn. Cho nên chính vì không giác ngộ không thông hiểu bốn thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển lâu dài.

“Này các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Ðạo Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.”

Gần đây Minh Thành mới phát hiện ra một điều rất quan trọng, mình lo diệt trừ tham, diệt trừ sân, diệt trừ ngã mạn những cái giống như mình bẻ cành ngắt lá, mà căn cứ địa, tại làm sao nó có ra tham sân si phiền não nhiều. Là tại vì hữu ái nó khao khát, một đời sống tiếp nối của năm uẩn, cái đó mới là gốc rễ mới phát sanh ra tham muốn nóng giận si mê ngã mạn.

Nếu như mình hướng tới mình chấm dứt không còn tham luyến trong thế giới này nữa, không tiếp tục trong vòng luân tử sanh tử này, tự động những tham muốn sân si, phiền não tự nhiên rơi rụng theo cái đó, vì cái đó là nguồn gốc phát sanh ra phiền não, mình muốn tiếp tục, mình muốn có đời sống, mình muốn luân hồi, mình muốn tiếp diễn thân này nữa, sự khao khát, khát ái, hiện hữu, hậu hữu, tức là đời sau, hữu ái yêu thích sự có mặt sự hiện hữu.

Mình thấy mình không bao lâu, mình từ giã cuộc đời, này mình không có tiếp nối cuộc đời vô minh, tham ái, chấp thủ này nữa, mình không phải thành viên trong thế gian, khai tử rồi với tam giới, trong ba cõi, chuẩn bị khai tử, mà những cái đầu tư cho sanh tử mình không còn tiếp tục đầu tư, vì mình đầu tư, mình còn muốn tiếp tục tiếp nối.

Ví dụ bác sĩ nói mình bệnh, tuần nữa chết, lúc đó mình đâu còn đầu tư mua thêm đất hay mở thêm công ty, chấm dứt không còn đầu tư cho hiện hữu, cho hữu ái, cho sự tiếp tục tái sanh trong luân hồi. Cái đó phát khởi được tâm đó rồi, các phiền não từ từ giống như con cua, bẻ càng, bẻ riết hết càng, không bò được nữa. Nằm từ từ chết, cái khát ái, tham ái, của hậu hữu một khi phát khởi mạnh mẽ, các phiền não như bẻ càng, từ từ không kẹp, không bò được nữa, tại thấy có mình, thấy còn có tiếp diễn nữa nên mình mới đầu tư.

Chấm dứt, tu là giải thoát luân hồi sanh tử là chỗ đó, muốn thấy được như vậy phải thấy khổ, thấy thánh đế khổ, thân năm uẩn này là nguồn gốc của khổ. Có người đó cầm cây búa đóng đinh, không đóng vào đinh mà đóng vào tay, rất đau, tại sao lại đóng vào tay? Vì đóng không trúng, không sáng suốt, do không trú tâm tỉnh giác nên không đúng, vì có ngón tay nên mới đánh trúng nếu không có ngón tay, nếu không có thân, có thân năm uẩn này, nên tất cả cái khổ này là đều có thân, thân vô thường.

Ví dụ bệnh từ thân, già cũng từ thân già, chết từ thân, khổ về ăn mà thân ăn, ngủ không được cũng mệt, thân ngủ, tất cả những cái đều từ gốc ngũ uẩn. Còn tiếp tục đi trong luân hồi, dù cái thân có đẹp đến độ nào cũng vẫn già, là bệnh chết, vẫn tham ái, chấp thủ, vô minh. Cho nên chỗ rốt ráo Đạo Phật là chấm dứt cái thân trong luân hồi, không tiếp tục tạo ra thân, tiếp tục đó là cái chỗ đặc biệt của Phật Giáo là giải thoát luân hồi sanh tử. Nên Đức Phật nói giải thoát sanh già bệnh chết là không còn luân hồi sanh tử, còn tiếp tục tái tạo ra thân này chắc chắn có khổ, mình tu mình đạt tới chỗ chấm dứt khổ, mà còn tiếp tục tạo ra nguồn của khổ làm sao hết khổ.

Niết bàn là chấm dứt, chấm dứt không phải đoạn diệt mà không tạo ra nguyên nhân của khổ, không còn luyến ái, chấp thủ, trong thân năm uẩn này nữa, giống như nói sanh con khổ quá, không có con nữa, nói có gia đình khổ quá thôi không có gia đình nữa xuất gia đi tu, đây là chỗ thâm sâu không mấy người hiểu nỗi, tâm mình nhìn lại mới thấy được, khổ thánh đế tóm lại năm thủ uẩn là khổ đây là sắc uẩn.

“Chính vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời sống khác nữa.”

Khổ căn gốc rễ của khổ đau được đoạn trừ thì không còn một đời sống khác nữa nhập Niết bàn.

“Này các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ.

Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói thêm:

Ta đã già, dư mạng chẳng còn bao,

Từ biệt các Ngươi, Ta đi một mình.

Tự mình làm sở y cho chính mình,

Hãy tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,

Nhiếp thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.

Ai tinh tấn trong pháp và luật này

Sẽ diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.”

(Kinh Đại Bát Niết Bàn – Trường Bộ Kinh)

Các hành là vô thường phải tinh tấn lên để tự giải thoát, tức là giải thoát cho mình các hành, bao nhiêu mình thấy trước mắt mình hành pháp ở bên ngoài biến đổi mỗi ngày, một năm trên thế giới có bảy triệu người chết vì hút thuốc, mới một thứ bệnh một thứ tai hại, thân hành khẩu hành ý hành hành pháp bên ngoài vô thường hãy tinh tấn lên để tự giải thoát

Ta đã già rồi dư mạng chẳng còn bao, từ biệt mọi người ta đi một mình. Tự mình làm chỗ nương tựa cho chính mình hãy tinh tấn giữ gìn giới luật, nhiếp thúc ý chí và bảo vệ tự tâm, ai tinh tấn trong pháp và luật này sẽ diệt sanh tử chấm dứt khổ đau. Tinh tấn không phóng dật chấm dứt khổ đau, tha thiết cầu pháp, cầu bậc đạo sư, cầu sự tinh cần, hành trì trong Tứ Niệm Xứ.