Kinh Nikāya Giảng Giải - Vì Sao Ngài A-Nan Thành Đa Văn Bậc Nhất 1
Kinh Nikāya Giảng Giải
Vì Sao Ngài A-Nan Thành Đa Văn Bậc Nhất 1
Thích Minh Thành
Ngày 19 tháng 04 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Câu hỏi của Ngài Ananda PAGEREF _Toc102546932 \h 1
II. Các pháp cần thông suốt PAGEREF _Toc102546933 \h 3
I. Câu hỏi của Ngài Ananda
Kính thưa Quý Thầy, Cô. Trong buổi vừa rồi, chúng ta ôn nhắc và thực tập về pháp hành của Kinh tạng Nikāya. Hôm nay, chúng ta bước qua một vấn đề có liên hệ đến chương trình đào tạo giảng sư trong tinh thần của Tôn giả Ananda (A-nan), để chúng ta thấy được vì sao Ngài thành tựu Đa văn tối thượng ở trong hàng Thánh chúng. Qua những bài kinh chúng ta được gửi đến.
Từ trong những bản kinh này chúng ta sẽ học được tại sao Tôn giả Ananda trở thành bậc “Đa văn đệ nhất” trong hàng Thánh chúng, liên hệ đến chương trình đào tạo giảng sư của chúng ta rất nhiều, ngài Ananda cũng như ngài Phú Lâu Na.
Kinh Tăng Chi Bộ Tập 3 – Sáu Pháp - Phẩm Dhammika - Ananda:
“Rồi Tôn giả Ananda đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Sàriputta:
- Cho đến như thế nào, thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo nghe pháp trước kia chưa được nghe, với pháp đã được nghe, không đi đến rối loạn, còn đối với các pháp trước kia tâm đã từng cảm xúc, chúng vẫn được hiện hành, và vị ấy biết được điều trước kia chưa biết?
- Tôn giả Ananda là vị nghe nhiều, Tôn giả hãy nói lên!
- Vậy thưa Hiền giả Sàriputta, hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói!
- Thưa vâng, hiền giả.”
Đây là ngài Ananda hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất (Sàriputta). Câu hỏi này với ý là gì? Một vị nghe pháp trước đây chưa được nghe với pháp đã được nghe thì không cho lẫn lộn, rối loạn. Thứ nhất là vị này ưa thích, quý trọng, lắng nghe pháp; với một tâm khác ngưỡng cầu pháp cho nên gọi là “nghe pháp trước kia chưa được nghe”.
Mình thông thường học một thời gian rồi thì tâm bị khựng lại và tự túc, tự mãn không muốn nghe thêm nữa, không muốn học. Cho nên câu hỏi thứ nhất ngài Ananda là “cho đến như thế nào, Tỷ-kheo nghe pháp trước kia chưa được nghe”. Tức là mình làm sao để trở thành người luôn luôn muốn nghe những pháp, nghe và học pháp mới. Những pháp nghe rồi vẫn ghi nhớ không lãng quên, lẫn lộn, rối loạn. Ý văn xưa cổ kính lắm mình phải đọc tới đọc lui để chiêm nghiệm thì mới biết ý nghĩa trong câu hỏi.
Thứ nhất là làm sao để trở thành một người ưa nghe, thích nghe, mong muốn được nghe pháp mới, còn những pháp cũ mình đã nghe rồi thì ghi nhớ, không bị quên mất, lẫn lộn, rối loạn. “Còn đối với các pháp trước kia tâm đã từng cảm xúc, chúng vẫn được hiện hành” là những pháp trước kia tâm đã từng cảm xúc, những cảm xúc, cảm thọ, cảm giác đó vẫn được hiện hành, hiện hữu, vận hành. Như lúc lần đầu tiên mình được nghe về Tứ Thánh Đế, rất xúc động, phấn khởi, thích thú, thậm chí có khi nghe cảm xúc của mình trào dâng lên, rướm nước mắt xúc động nhưng một thời gian, mình nghe, học rồi, biết rồi thì trơ ra. Đó gọi là những pháp trước kia tâm đã từng cảm xúc mà nay không còn hiện hành nữa. Những cảm xúc sâu sắc, rúng động, cảm động, chấn động, kinh cảm, kinh chấn không còn nữa mà trở thành tâm “đơ đơ, trơ trơ”. Chúng ta dễ bị rơi vào trong đây.
“Vị ấy biết được điều trước kia chưa biết” tức là những tri kiến dần dần tăng thượng, phát triển, sâu rộng, lớn mạnh ở trong thấy, biết của bậc Thánh; trong Chánh Tri Kiến, Thánh Tri Kiến của vị đó ngày càng sâu, rộng, cao, lớn, thể nhập, thâm nhập, chứng nhập. Ngài Ananda đặt câu hỏi như vậy, chúng ta thấy đặc biệt không? Ngài Xá-lợi-phất nói Tôn giả Ananda là vị nghe nhiều, tôn giả hãy nói lên. Ngài Ananda hỏi mà ngài Xá-lợi-phất không trả lời, lại mời ngài Ananda trả lời. Ngài là vị nghe nhiều, có một cái “hạnh”, duyên là được Thế Tôn khen ngợi là vị Đa Văn đệ nhất.
Chỗ này, chúng ta học rất là nhiều, không phải ai hỏi gì là mình cũng nói, gặp gì mình cũng nói, hỏi gì mình nói được tới hỏi mà vẫn không nói, mời ngược lại người hỏi đó nói. Chỗ này đặc biệt, chúng ta thấy tâm của những bậc Thánh rất trong sáng, thanh tịnh. Mình chưa hỏi là nhào ra nói, không biết người ta muốn nghe pháp không mà giảng rồi, gặp ai cũng giảng hết. Giảng sư không phải gặp ai cũng giảng, nói cho người muốn nghe, nói cái gì mà người đó cần nghe, muốn nghe, thích nghe, mong được nghe. Và nói ở trường hợp nào, cho nên mỗi vấn đề trong kinh chúng ta cần phải đọc chậm rãi, suy tư và nghiền ngẫm, xuống dưới chúng ta sẽ thấy.
II. Các pháp cần thông suốt
“Tôn giả Sàriputta vâng đáp Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda nói như sau:
- Ở đây, thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo học thông suốt pháp, tức là Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Vô vấn tự thuyết, Như thị thuyết, Bản sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Vị ấy thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt. Vị ấy khiến cho các người khác nói pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt. Vị ấy tụng đọc pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt.”
Đây là pháp học và pháp hành của giảng sư đây. Thứ nhất là học thông suốt pháp, tức là 9 thể loại này hay 12 thể loại, 12 phần giáo thực ra đó là Tạng kinh Nikāya. Có khi là thơ, kệ, những bài kinh dài, bài kinh ngắn hay là những lúc không ai hỏi tự Đức Phật nói, những sự khích lệ của Đức Thế Tôn, hay là những lúc Đức Phật nói những pháp hiếm có, chưa từng có của Ngài và các bậc Thánh chúng, hoặc là Đức Phật giảng rộng ra. Thành ra chín thể loại hay 12 phần giáo là Tạng kinh Nikāya.
“Thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt”. Đầu tiên, chúng ta phải học thông suốt pháp, cho nên vấn đề mà chúng ta diễn giảng rất là hay nhưng chúng ta không đi bước một mà đi bước hai là không ổn. Trong những buổi thi diễn giảng, Minh Thành có tham dự chấm thi mấy lần, ở trong 10 người thì có được 1, 2 người dẫn chứng Kinh tạng Nikāya, một số là hoàn toàn không đề cập tới. Thành ra chúng ta nắm vững được trình tự tu học để trở thành một vị Đa văn, pháp sư, giảng sư, nhiếp trì pháp tạng. Đây là những bước trình tự, đầu tiên là phải học thông suốt pháp. Về phần chín hay 12 phần giáo, hay những thể loại đó thì từ điển, trong sách có giải thích, Minh Thành muốn nêu về phần pháp nghĩa là quan trọng.
Đây là nói về phần thể loại, song song trong đó là pháp nghĩa, nói về phương diện pháp nghĩa mà học thông suốt pháp là thông suốt 37 phẩm trợ đạo: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần và Bát thánh đạo. Những giáo pháp này mình phải thông suốt, nhuần nhuyễn, điêu luyện, lão luyện, quán thông mà muốn như vậy, nắm bắt được tất cả những nghĩa thâm sâu ở trong 37 phẩm trợ đạo thì phải từ sự thấu hiểu Ngũ uẩn. Nếu mình không thấu hiểu Ngũ uẩn thì 37 phẩm trợ đạo không có chỗ y cứ, đặt để ở đâu hết.
Ví dụ: Nói về Tứ niệm xứ, đầu tiên là niệm thân, 6 phương diện về thân y cứ vào Sắc uẩn. Không thông hiểu về Sắc uẩn làm sao mình niệm thân. Định nghĩa về sắc; thưa các thầy, các cô, Ngũ Uẩn không nắm được thì tất cả pháp hành, pháp học không thể thiết lập được, không chỗ đứng; 37 phẩm trợ đạo không có chỗ đứng. Chúng ta nhớ kỹ. Cho nên niệm thân là quán niệm về Sắc uẩn. Niệm thọ là quán về Thọ uẩn. Niệm tâm là quán về Tưởng, Hành, Thức. Niệm pháp là niệm Ngũ uẩn, Thất giác chi, Bát chánh đạo, Năm triền cái....
Nói trở lại cho nắm vấn đề, chúng ta phải nắm vững Ngũ uẩn thì sau đó, mình mới nắm vững bước thứ nhất là học thông suốt pháp. Chữ “pháp” tức là Ngũ uẩn. Tại vì Ngũ uẩn là thân tâm, bây giờ mình không thấu suốt thân tâm của mình thì làm sao tu. Cái gì thiền? Ngũ uẩn thiền; cái gì định? Ngũ uẩn định; cái gì động loạn? Ngũ uẩn động loạn; cái gì ô nhiễm? Ngũ uẩn ô nhiễm; cái gì thanh tịnh? Ngũ uẩn thanh tịnh. Ngoài Ngũ uẩn thì không có gì hết. Bây giờ, mình không nắm được Ngũ uẩn thì làm sao thông suốt được pháp, học thông suốt pháp.
Chúng ta nói về Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực. Có phải là từ những cảm giác, nghĩ tưởng của mình mà tu không? Sự nỗ lực đó có phải mình suy nghĩ, tác ý lên không? Cái giải đãi, lười biếng, nhàm chán có phải là cảm giác nghĩ tưởng của mình không? Như vậy, tất cả 37 phẩm trợ đạo là được dựng lập, thực hành từ trong Ngũ uẩn.
Pháp thứ hai, “vị ấy thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt”. Đã được học thông suốt rồi thì mới nói lại pháp đó. Bây giờ, mình chưa thông suốt các pháp mà nói theo tư kiến cá nhân -tức là cái thấy, biết riêng của mình; cái hiểu sơ sài, đơn giản; cái nhìn phiến diện, góc cạnh mà không nhìn thấy được tất cả, toàn diện của pháp. Khi mình nói ra, thấy là đúng nhưng lại trật, sai với Chánh pháp. Hoặc là nói một khía cạnh nhỏ mà không nói được toàn diện của pháp.
Ví dụ mình lên giảng khổ, cứ nói sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, sắc – thọ - tưởng – hành – thức gì cũng khổ nhưng mà phương pháp diệt khổ là cái gì, kêu diệt tham – sân – si mà không thấy tham – sân – si ở đâu, nó vận hành làm sao, dùng gì để trị thì mình không biết để chỉ ra; thì thuyết pháp đó không có đầy đủ. Chúng ta biết được chỗ ở của tham – sân – si chưa? Những cái này mình phải nắm vững, nhuần nhuyễn, lão luyện, điêu luyện, thuần thục, sâu sắc, nằm lòng thì mới hướng dẫn, giảng dạy pháp được.
Tham – sân – si trú ở chỗ nào trên thân?
Nói về trong tâm, Đức Phật nói ở trong lạc thọ có tham tùy miên, trong cảm giác vui sướng luôn luôn mang theo đó là một sự ham muốn – tham tùy miên. Trong khổ thọ, cảm giác bức xúc, khó chịu luôn luôn lúc nào cũng có sân tùy miên. Trong cảm giác bất khổ bất lạc luôn luôn lúc nào cũng có si tùy miên. Ở trong ba thọ có tham – sân – si cư trú, an trú.
Nói trên thân, biểu hiện qua trên thân khi những tham – sân – si đó phát động, phát khởi, sanh khởi trong con người sẽ biểu hiện qua 3 chỗ. Khi tức giận ở trong lồng ngực nóng lên, phừng phực lên. Khi mình rơi vào trạng thái si, con mắt đơ đơ, lờ mờ ra, biểu hiện nơi con mắt, nhìn vô mắt buồn ngủ, mơ mơ màng màng, không tinh minh, sáng tỏ, tinh anh, trạng thái si biểu hiện nơi con mắt, gương mặt. Chủ yếu là con mắt, gương mặt muốn nhiễu nước ra. Còn chỗ biểu hiện của dục, tham là chỗ phát dục. Khi sanh khởi lên là ba chỗ đó sẽ biến động, động chuyển, biến đổi. Chỗ của dục tham là bộ phận sinh dục, chỗ phát dục, khi dục sanh khởi thì biểu hiện ở chỗ đó. Khi sân sanh khởi thì ở lồng ngực nóng bức, nhiệt não, thiêu đốt. Khi si biểu hiện là ở con mắt mơ mơ màng màng, mở lên không nổi. Đó là tham – sân – si ở trong cảm thọ và biểu hiện ở trên thân mà mình phải nắm vững. Cho nên, bước thứ hai là thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe.
Bước thứ ba là “khiến cho các người khác nói pháp một cách rộng rãi như đã được nghe”. Chẳng những mình nói mà cũng tạo điều kiện, duyên để cho người khác chia sẻ pháp. Cũng như ngài Ananda đến hỏi ngài Xá-lợi-phất, nhưng ngài Xá-lợi-phất lại mời ngài Ananda vì Ngài là chuyên môn, được Đức Thế Tôn khen là Đa văn đệ nhất, cho nên mời Ngài nói về phương diện học pháp này.
Những chỗ mà chúng ta muốn nhắm đến, trọng yếu ở đây là phần sau: “Vị ấy tụng đọc pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt”. Tụng đọc pháp, tụng kinh là học thuộc lòng, mình không học thuộc lòng kinh thì nói một hồi là nói theo tư kiến cá nhân, suy nghĩ riêng của mình, nhận thức ở trong thói quen của chiều hướng tư duy phàm phu của mình, cho nên pháp dần dần bị nhiễu loạn không còn là Chánh pháp nữa. Đức Phật nói pháp ly tham, mình học riết nói nói một hồi phát huy theo chiều tham, cuối cùng Chánh pháp bị nhiễu loạn.
Toàn bộ giáo pháp của Phật nhằm mục đích ly tham đối với Ngũ dục, Ngũ uẩn mà mình học, diễn ra một hồi bỏ kinh, không thuộc lòng, không nhớ kinh, không có y cứ vào kinh. Mình nói một hồi rồi theo tư kiến cá nhân, suy nghĩ, nhận định của mình, rồi trở thành phát huy cái tham, muốn, cái mình yêu, thích, tham, muốn; lấy đó làm công trạng, công tích, công đức, công lao, thành công mà cuối cùng cái đó không phải, mình đi lệch đường của Chánh pháp mà không biết. Cho nên mình phải đọc, tụng pháp.
Bài Căn Bản Trí số 1, số 2 trong “Nghi thức tu học Nikāya” là chúng ta đã nói rất nhiều lần, con mời các Thầy, Cô học thuộc lòng. Không phải chuyện đơn giản, mình nói sai Chánh pháp, làm cho chúng sanh rơi vào tà kiến, chính tự thân mình cũng ở trong tà kiến mà đưa người khác vào trong tà kiến. Đó là một trong 40 pháp sanh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; tự thân mình tà kiến khuyến khích người khác tà kiến, tùy thuận tà kiến, hoan hỷ tán thán tà kiến.
Trong bài kinh 40, trong Nghi thức tu học Nikāya, phần Căn Bản Trí số 2, chúng ta đọc 40 pháp sanh thiên giới và 40 pháp rơi xuống địa ngục. Chúng ta nói đơn giản, toàn bộ giáo pháp của Đức Phật nhằm mục đích là ly tham đối với Sắc, ly tham, yểm ly – tức là chán lìa, viễn ly, xả ly, xuất ly đối với Sắc. Đó là tất cả những gì mà Đức Phật nói, nhằm đưa đến sự rời tham đối với Sắc, chán lìa, xa lìa, lìa bỏ, thoát ra khỏi Sắc. Bây giờ, mình nhìn lại tâm, thân, coi những cái này mình thực hành tới đâu, có thực hành hay không.
Tại sao mình đi đúng hay sai mà không biết, vì mình không có y cứ vào Thánh ngôn lượng – những lời dạy của Đức Thế Tôn. Tại sao không y cứ vào Thánh ngôn lượng, vì mình có thuộc lòng đâu, nhớ mài mại, trong kinh có câu, người xưa có câu... rồi tự mình nói, “có câu”. Thành ra, trong Phật giáo nguyên thủy người ta kỹ, có những vị Tam Tạng Pháp sư học thuộc lòng, khắc những bảng kinh lên bia đá thờ trong các bảo tháp.
Ngay vào hôm Minh Thành chấm thi cũng vậy, phổ biến rất rộng, thí sinh lên một hồi là “có câu”, trong kinh nói mà không biết đó là kinh gì, ở đâu. Thành ra, khi mình dẫn chứng nhớ cái này thật kỹ, đây là trong nguyên tắc sư phạm mà cũng là phép tắc để truyền bá Chánh pháp, là nói Tăng Chi Bộ kinh, tập mấy, bài kinh tên gì hoặc Tương Ưng Bộ kinh là Tương Ưng Uẩn hay là Tương Ưng Sáu Xứ, Trung Bộ kinh là bài kinh nào, chứ không phải nói là “có câu”, không được.
Nguyên tắc học cũng như nguyên tắc truyền bá Chánh pháp rất là quan trọng, nếu mình không thuộc thì phải cầm tờ giấy đọc bài kinh đó ra. Đừng khuyến khích mọi người không cầm giấy, hết sức nguy hiểm. Thật ra, cái này thì Minh Thành chỉ góp một vài ý kiến chứ còn nếu mà đào tạo giảng sư thì phải có rất nhiều pháp cần học theo tinh thần của Kinh tạng Nikāya, rất nhiều và rất sâu chứ không phải chỉ căn cứ vài bài giảng trong Phật học phổ thông được. Đó chỉ là mẫu cho mình nghiên cứu một phương diện.
Thưa các Thầy, Cô, lúc mà ngài Đại lão Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Hoa của chúng ta, thời đó cách đây nửa thế kỷ, những bài viết như vậy là tối thượng. Nhưng bây giờ, xã hội khác cách giảng thuyết của mình phải khác, không phải bê y chang như vậy rồi lên mình đọc, theo đó mà không chịu sáng tạo, năng động, suy tư, quán sát, lấy những sự việc thiết thực, hiện tại, thực tế trong đời sống mà cứ bê y nguyên bài trong Phật học phổ thông ra thì như vậy, mình chậm lại hơn nửa thế kỷ.
Về phương diện thực tập diễn giảng, giảng thuyết là phải đầu tư rất nhiều. Thứ nhất là phải kết hợp những bài kinh nguyên chất của Đức Phật trong Tạng kinh Nikāya, thứ hai là chúng ta phải nắm bắt được những cái gì đang diễn ra từng ngày, từng giờ của xã hội. Hai cái đó mình kết hợp lại, mình nhìn nhận nó bằng sự thực hành của pháp, trí tuệ, quán chiếu. Chúng ta mới có được những bài giảng, những phương pháp thực hành thiết thực, hiện tại, thực tế, vận dụng, có lợi ích vào trong đời sống ngay tại chỗ. Chứ bây giờ mình bê y như dàn bài sáu, bảy chục năm về trước, không chịu suy tư, sáng tạo, đầu tư thì như vậy mình lùi lại xa lắm. Những bài đó rất là hay nhưng mà một phương diện nào đó cho chúng ta học.
Cho nên cái tiếp theo chúng ta đang học là sau khi mình đọc tụng tức là học thuộc. Con thưa quý Thầy, Cô là ở Linh Quy Pháp Ấn, mỗi buổi sáng có một thời đảnh lễ Pháp bảo, mỗi ngày vào buổi sáng, một tiếng đồng hồ. Mỗi người phải đọc thuộc lòng một câu kinh trong Kinh tạng Nikāya, một câu, nửa bài hoặc một bài, tùy theo người đó muốn đọc bài nào. Tất cả những người lên học là phải thuộc Căn Bản Trí, tối thiểu là số 1 phải học thuộc lòng. Buổi sáng 4 giờ là đọc, tụng đọc pháp tức là phải học thuộc lòng. Học thuộc lòng nhiều khi tụng còn trật chứ đừng nói chi lên mà “có câu”, cổ đức có câu, trong kinh có câu, thành ra phải học thuộc lòng. Mình muốn trở thành một vị giảng sư đúng theo gọi là định nghĩa của Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì tiêu chuẩn hết sức cao cấp.
Nếu các Thầy, Cô muốn học thì con giới thiệu về đọc rất nhiều bài kinh mà Đức Phật định nghĩa một vị pháp sư của Ngài trong Tương Ưng Bộ kinh. Ở trong bảng phân loại Kinh tạng Nikāya, cái App (ứng dụng) mà Linh Quy Pháp Ấn đưa lên thì vô ngay chỗ chuyên đề “Thuyết pháp”, trong đó có rất nhiều bài kinh Đức Phật định nghĩa một vị thuyết pháp như thế nào, thuyết pháp gì và thực hành như thế nào để xứng đáng là một vị pháp sư, giảng sư mà đúng theo Đức Thế Tôn trao cho bằng cấp. Nếu chúng ta có đủ duyên, đợt sau mình còn học thì có thể đào sâu về cái đó. Cái đó sâu sắc lắm, không đơn giản như mình bây giờ suy nghĩ. Tại vì suy nghĩ của mình là suy nghĩ của phàm phu; từ suy nghĩ, lời nói, hành động, chúng ta ở trong vô minh, tham ái, ngã mạn, chấp thủ. Mỗi suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng của mình nằm ở trong vô minh mà không biết, trừ khi nào mình nhận diện được Ngũ uẩn, nhìn ra các lậu hoặc lúc đó mình mới sốc toàn tập. Tất cả mọi suy nghĩ, cảm giác, ý tưởng, nhận thức của mình đều nằm trong vô minh, tham ái và chấp thủ.
Đến khi nào mình nhìn thấy tất cả sắc – thọ - tưởng – hành – thức này là một đống đau khổ to lớn, tất cả trong Ngũ uẩn này đều là dục ái, khát ái, thèm khát, thèm thuồng, thèm muốn, khao khát; và ở trong Ngũ uẩn này chỉ là những tâm thức vô minh, si ám, chấp thủ lúc đó mới bắt đầu.
“Này các Tỷ-kheo, đây là điềm đi trước, đây là tướng báo trước mặt trời sắp mọc, tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đây là điềm đi trước, đây là tướng báo trước sự giác ngộ như thật bốn Thánh đế, tức là chánh tri kiến …”
Kinh Tương Ưng Bộ Tương Ưng Sự Thật - Phẩm Rừng Simsapà –
Ví Dụ Mặt Trời 1
Tướng, điềm báo trước mặt trời mọc là bình minh xuất hiện, cũng vậy, điềm báo trước của một bậc Thánh là sự thành tựu Chánh Tri Kiến. Thành tựu Chánh Tri Kiến là thấy được Ngũ Uẩn này là khổ; thấy được tất cả những thân xác, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là một đống khổ, sự thèm khát, khao khát, khát ái, là luôn luôn ở trong trạng thái thân này thiếu thốn, khát khao, không bao giờ thỏa mãn, thân này là vô chủ, vô ngã, đi đến chỗ hoại diệt. Thấy, biết được như vậy rồi nhìn ra được những cấu uế, lậu hoặc, ô nhiễm ở bên trong này thì mình sốc toàn tập, hỡi ôi, ê chề, chán chê, ngao ngán. Lúc đó, mới bắt đầu nhìn thấy được pháp, mình nhìn mà thấy cái này đẹp quá, thích quá, khoái quá thì còn xa lắm, xa thật là xa. Mình nhìn vào trong sắc – thọ - tưởng – hành – thức còn yêu, thích, khoan, khoái, thèm, muốn, khao, khát, tưởng, mơ, còn mộng tưởng, ảo tưởng, hư tưởng, huyễn tưởng.. thì còn xa lắm, xa thật là xa.
Tại sao đạt được cái đó thì bây giờ mới tiếp theo, làm sao để đạt được như thế.
“Vị ấy với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng.”
Kinh Tăng Chi Bộ Tập 3 – Sáu Pháp - Phẩm Dhammika – Ananda
“Tùy tầm, tùy tứ, tùy quán” ba chữ này quan trọng, đây gọi là Tam Tùy. Thế nào gọi là tùy tầm? Chúng ta mở Căn Bản Trí, định nghĩa niệm Chú tâm cảnh giác. Đức Phật giải thích chữ “Chú tâm cảnh giác”, “Chánh niệm tỉnh giác” như thế nào. Chúng ta xem trang 140, Chánh niệm tỉnh giác số 2:
“Ở đây, này các Tỷ-kheo. Tỷ-kheo rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt, rõ biết khi các tưởng khởi lên, rõ biết khi các tưởng an trú, rõ biết khi các tưởng chấm dứt, rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt. Này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác”.
“Tầm” là gì?
Vì Sao Ngài A-Nan Thành Đa Văn Bậc Nhất 1
Thích Minh Thành
Ngày 19 tháng 04 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Câu hỏi của Ngài Ananda PAGEREF _Toc102546932 \h 1
II. Các pháp cần thông suốt PAGEREF _Toc102546933 \h 3
I. Câu hỏi của Ngài Ananda
Kính thưa Quý Thầy, Cô. Trong buổi vừa rồi, chúng ta ôn nhắc và thực tập về pháp hành của Kinh tạng Nikāya. Hôm nay, chúng ta bước qua một vấn đề có liên hệ đến chương trình đào tạo giảng sư trong tinh thần của Tôn giả Ananda (A-nan), để chúng ta thấy được vì sao Ngài thành tựu Đa văn tối thượng ở trong hàng Thánh chúng. Qua những bài kinh chúng ta được gửi đến.
Từ trong những bản kinh này chúng ta sẽ học được tại sao Tôn giả Ananda trở thành bậc “Đa văn đệ nhất” trong hàng Thánh chúng, liên hệ đến chương trình đào tạo giảng sư của chúng ta rất nhiều, ngài Ananda cũng như ngài Phú Lâu Na.
Kinh Tăng Chi Bộ Tập 3 – Sáu Pháp - Phẩm Dhammika - Ananda:
“Rồi Tôn giả Ananda đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda thưa với Tôn giả Sàriputta:
- Cho đến như thế nào, thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo nghe pháp trước kia chưa được nghe, với pháp đã được nghe, không đi đến rối loạn, còn đối với các pháp trước kia tâm đã từng cảm xúc, chúng vẫn được hiện hành, và vị ấy biết được điều trước kia chưa biết?
- Tôn giả Ananda là vị nghe nhiều, Tôn giả hãy nói lên!
- Vậy thưa Hiền giả Sàriputta, hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói!
- Thưa vâng, hiền giả.”
Đây là ngài Ananda hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất (Sàriputta). Câu hỏi này với ý là gì? Một vị nghe pháp trước đây chưa được nghe với pháp đã được nghe thì không cho lẫn lộn, rối loạn. Thứ nhất là vị này ưa thích, quý trọng, lắng nghe pháp; với một tâm khác ngưỡng cầu pháp cho nên gọi là “nghe pháp trước kia chưa được nghe”.
Mình thông thường học một thời gian rồi thì tâm bị khựng lại và tự túc, tự mãn không muốn nghe thêm nữa, không muốn học. Cho nên câu hỏi thứ nhất ngài Ananda là “cho đến như thế nào, Tỷ-kheo nghe pháp trước kia chưa được nghe”. Tức là mình làm sao để trở thành người luôn luôn muốn nghe những pháp, nghe và học pháp mới. Những pháp nghe rồi vẫn ghi nhớ không lãng quên, lẫn lộn, rối loạn. Ý văn xưa cổ kính lắm mình phải đọc tới đọc lui để chiêm nghiệm thì mới biết ý nghĩa trong câu hỏi.
Thứ nhất là làm sao để trở thành một người ưa nghe, thích nghe, mong muốn được nghe pháp mới, còn những pháp cũ mình đã nghe rồi thì ghi nhớ, không bị quên mất, lẫn lộn, rối loạn. “Còn đối với các pháp trước kia tâm đã từng cảm xúc, chúng vẫn được hiện hành” là những pháp trước kia tâm đã từng cảm xúc, những cảm xúc, cảm thọ, cảm giác đó vẫn được hiện hành, hiện hữu, vận hành. Như lúc lần đầu tiên mình được nghe về Tứ Thánh Đế, rất xúc động, phấn khởi, thích thú, thậm chí có khi nghe cảm xúc của mình trào dâng lên, rướm nước mắt xúc động nhưng một thời gian, mình nghe, học rồi, biết rồi thì trơ ra. Đó gọi là những pháp trước kia tâm đã từng cảm xúc mà nay không còn hiện hành nữa. Những cảm xúc sâu sắc, rúng động, cảm động, chấn động, kinh cảm, kinh chấn không còn nữa mà trở thành tâm “đơ đơ, trơ trơ”. Chúng ta dễ bị rơi vào trong đây.
“Vị ấy biết được điều trước kia chưa biết” tức là những tri kiến dần dần tăng thượng, phát triển, sâu rộng, lớn mạnh ở trong thấy, biết của bậc Thánh; trong Chánh Tri Kiến, Thánh Tri Kiến của vị đó ngày càng sâu, rộng, cao, lớn, thể nhập, thâm nhập, chứng nhập. Ngài Ananda đặt câu hỏi như vậy, chúng ta thấy đặc biệt không? Ngài Xá-lợi-phất nói Tôn giả Ananda là vị nghe nhiều, tôn giả hãy nói lên. Ngài Ananda hỏi mà ngài Xá-lợi-phất không trả lời, lại mời ngài Ananda trả lời. Ngài là vị nghe nhiều, có một cái “hạnh”, duyên là được Thế Tôn khen ngợi là vị Đa Văn đệ nhất.
Chỗ này, chúng ta học rất là nhiều, không phải ai hỏi gì là mình cũng nói, gặp gì mình cũng nói, hỏi gì mình nói được tới hỏi mà vẫn không nói, mời ngược lại người hỏi đó nói. Chỗ này đặc biệt, chúng ta thấy tâm của những bậc Thánh rất trong sáng, thanh tịnh. Mình chưa hỏi là nhào ra nói, không biết người ta muốn nghe pháp không mà giảng rồi, gặp ai cũng giảng hết. Giảng sư không phải gặp ai cũng giảng, nói cho người muốn nghe, nói cái gì mà người đó cần nghe, muốn nghe, thích nghe, mong được nghe. Và nói ở trường hợp nào, cho nên mỗi vấn đề trong kinh chúng ta cần phải đọc chậm rãi, suy tư và nghiền ngẫm, xuống dưới chúng ta sẽ thấy.
II. Các pháp cần thông suốt
“Tôn giả Sàriputta vâng đáp Tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda nói như sau:
- Ở đây, thưa Hiền giả Sàriputta, Tỷ-kheo học thông suốt pháp, tức là Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Phúng tụng, Vô vấn tự thuyết, Như thị thuyết, Bản sanh, Vị tằng hữu pháp, Trí giải hay Phương quảng. Vị ấy thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt. Vị ấy khiến cho các người khác nói pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt. Vị ấy tụng đọc pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt.”
Đây là pháp học và pháp hành của giảng sư đây. Thứ nhất là học thông suốt pháp, tức là 9 thể loại này hay 12 thể loại, 12 phần giáo thực ra đó là Tạng kinh Nikāya. Có khi là thơ, kệ, những bài kinh dài, bài kinh ngắn hay là những lúc không ai hỏi tự Đức Phật nói, những sự khích lệ của Đức Thế Tôn, hay là những lúc Đức Phật nói những pháp hiếm có, chưa từng có của Ngài và các bậc Thánh chúng, hoặc là Đức Phật giảng rộng ra. Thành ra chín thể loại hay 12 phần giáo là Tạng kinh Nikāya.
“Thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt”. Đầu tiên, chúng ta phải học thông suốt pháp, cho nên vấn đề mà chúng ta diễn giảng rất là hay nhưng chúng ta không đi bước một mà đi bước hai là không ổn. Trong những buổi thi diễn giảng, Minh Thành có tham dự chấm thi mấy lần, ở trong 10 người thì có được 1, 2 người dẫn chứng Kinh tạng Nikāya, một số là hoàn toàn không đề cập tới. Thành ra chúng ta nắm vững được trình tự tu học để trở thành một vị Đa văn, pháp sư, giảng sư, nhiếp trì pháp tạng. Đây là những bước trình tự, đầu tiên là phải học thông suốt pháp. Về phần chín hay 12 phần giáo, hay những thể loại đó thì từ điển, trong sách có giải thích, Minh Thành muốn nêu về phần pháp nghĩa là quan trọng.
Đây là nói về phần thể loại, song song trong đó là pháp nghĩa, nói về phương diện pháp nghĩa mà học thông suốt pháp là thông suốt 37 phẩm trợ đạo: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần và Bát thánh đạo. Những giáo pháp này mình phải thông suốt, nhuần nhuyễn, điêu luyện, lão luyện, quán thông mà muốn như vậy, nắm bắt được tất cả những nghĩa thâm sâu ở trong 37 phẩm trợ đạo thì phải từ sự thấu hiểu Ngũ uẩn. Nếu mình không thấu hiểu Ngũ uẩn thì 37 phẩm trợ đạo không có chỗ y cứ, đặt để ở đâu hết.
Ví dụ: Nói về Tứ niệm xứ, đầu tiên là niệm thân, 6 phương diện về thân y cứ vào Sắc uẩn. Không thông hiểu về Sắc uẩn làm sao mình niệm thân. Định nghĩa về sắc; thưa các thầy, các cô, Ngũ Uẩn không nắm được thì tất cả pháp hành, pháp học không thể thiết lập được, không chỗ đứng; 37 phẩm trợ đạo không có chỗ đứng. Chúng ta nhớ kỹ. Cho nên niệm thân là quán niệm về Sắc uẩn. Niệm thọ là quán về Thọ uẩn. Niệm tâm là quán về Tưởng, Hành, Thức. Niệm pháp là niệm Ngũ uẩn, Thất giác chi, Bát chánh đạo, Năm triền cái....
Nói trở lại cho nắm vấn đề, chúng ta phải nắm vững Ngũ uẩn thì sau đó, mình mới nắm vững bước thứ nhất là học thông suốt pháp. Chữ “pháp” tức là Ngũ uẩn. Tại vì Ngũ uẩn là thân tâm, bây giờ mình không thấu suốt thân tâm của mình thì làm sao tu. Cái gì thiền? Ngũ uẩn thiền; cái gì định? Ngũ uẩn định; cái gì động loạn? Ngũ uẩn động loạn; cái gì ô nhiễm? Ngũ uẩn ô nhiễm; cái gì thanh tịnh? Ngũ uẩn thanh tịnh. Ngoài Ngũ uẩn thì không có gì hết. Bây giờ, mình không nắm được Ngũ uẩn thì làm sao thông suốt được pháp, học thông suốt pháp.
Chúng ta nói về Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực. Có phải là từ những cảm giác, nghĩ tưởng của mình mà tu không? Sự nỗ lực đó có phải mình suy nghĩ, tác ý lên không? Cái giải đãi, lười biếng, nhàm chán có phải là cảm giác nghĩ tưởng của mình không? Như vậy, tất cả 37 phẩm trợ đạo là được dựng lập, thực hành từ trong Ngũ uẩn.
Pháp thứ hai, “vị ấy thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt”. Đã được học thông suốt rồi thì mới nói lại pháp đó. Bây giờ, mình chưa thông suốt các pháp mà nói theo tư kiến cá nhân -tức là cái thấy, biết riêng của mình; cái hiểu sơ sài, đơn giản; cái nhìn phiến diện, góc cạnh mà không nhìn thấy được tất cả, toàn diện của pháp. Khi mình nói ra, thấy là đúng nhưng lại trật, sai với Chánh pháp. Hoặc là nói một khía cạnh nhỏ mà không nói được toàn diện của pháp.
Ví dụ mình lên giảng khổ, cứ nói sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, sắc – thọ - tưởng – hành – thức gì cũng khổ nhưng mà phương pháp diệt khổ là cái gì, kêu diệt tham – sân – si mà không thấy tham – sân – si ở đâu, nó vận hành làm sao, dùng gì để trị thì mình không biết để chỉ ra; thì thuyết pháp đó không có đầy đủ. Chúng ta biết được chỗ ở của tham – sân – si chưa? Những cái này mình phải nắm vững, nhuần nhuyễn, lão luyện, điêu luyện, thuần thục, sâu sắc, nằm lòng thì mới hướng dẫn, giảng dạy pháp được.
Tham – sân – si trú ở chỗ nào trên thân?
Nói về trong tâm, Đức Phật nói ở trong lạc thọ có tham tùy miên, trong cảm giác vui sướng luôn luôn mang theo đó là một sự ham muốn – tham tùy miên. Trong khổ thọ, cảm giác bức xúc, khó chịu luôn luôn lúc nào cũng có sân tùy miên. Trong cảm giác bất khổ bất lạc luôn luôn lúc nào cũng có si tùy miên. Ở trong ba thọ có tham – sân – si cư trú, an trú.
Nói trên thân, biểu hiện qua trên thân khi những tham – sân – si đó phát động, phát khởi, sanh khởi trong con người sẽ biểu hiện qua 3 chỗ. Khi tức giận ở trong lồng ngực nóng lên, phừng phực lên. Khi mình rơi vào trạng thái si, con mắt đơ đơ, lờ mờ ra, biểu hiện nơi con mắt, nhìn vô mắt buồn ngủ, mơ mơ màng màng, không tinh minh, sáng tỏ, tinh anh, trạng thái si biểu hiện nơi con mắt, gương mặt. Chủ yếu là con mắt, gương mặt muốn nhiễu nước ra. Còn chỗ biểu hiện của dục, tham là chỗ phát dục. Khi sanh khởi lên là ba chỗ đó sẽ biến động, động chuyển, biến đổi. Chỗ của dục tham là bộ phận sinh dục, chỗ phát dục, khi dục sanh khởi thì biểu hiện ở chỗ đó. Khi sân sanh khởi thì ở lồng ngực nóng bức, nhiệt não, thiêu đốt. Khi si biểu hiện là ở con mắt mơ mơ màng màng, mở lên không nổi. Đó là tham – sân – si ở trong cảm thọ và biểu hiện ở trên thân mà mình phải nắm vững. Cho nên, bước thứ hai là thuyết pháp cho các người khác một cách rộng rãi như đã được nghe.
Bước thứ ba là “khiến cho các người khác nói pháp một cách rộng rãi như đã được nghe”. Chẳng những mình nói mà cũng tạo điều kiện, duyên để cho người khác chia sẻ pháp. Cũng như ngài Ananda đến hỏi ngài Xá-lợi-phất, nhưng ngài Xá-lợi-phất lại mời ngài Ananda vì Ngài là chuyên môn, được Đức Thế Tôn khen là Đa văn đệ nhất, cho nên mời Ngài nói về phương diện học pháp này.
Những chỗ mà chúng ta muốn nhắm đến, trọng yếu ở đây là phần sau: “Vị ấy tụng đọc pháp một cách rộng rãi như đã được nghe, như đã được học thông suốt”. Tụng đọc pháp, tụng kinh là học thuộc lòng, mình không học thuộc lòng kinh thì nói một hồi là nói theo tư kiến cá nhân, suy nghĩ riêng của mình, nhận thức ở trong thói quen của chiều hướng tư duy phàm phu của mình, cho nên pháp dần dần bị nhiễu loạn không còn là Chánh pháp nữa. Đức Phật nói pháp ly tham, mình học riết nói nói một hồi phát huy theo chiều tham, cuối cùng Chánh pháp bị nhiễu loạn.
Toàn bộ giáo pháp của Phật nhằm mục đích ly tham đối với Ngũ dục, Ngũ uẩn mà mình học, diễn ra một hồi bỏ kinh, không thuộc lòng, không nhớ kinh, không có y cứ vào kinh. Mình nói một hồi rồi theo tư kiến cá nhân, suy nghĩ, nhận định của mình, rồi trở thành phát huy cái tham, muốn, cái mình yêu, thích, tham, muốn; lấy đó làm công trạng, công tích, công đức, công lao, thành công mà cuối cùng cái đó không phải, mình đi lệch đường của Chánh pháp mà không biết. Cho nên mình phải đọc, tụng pháp.
Bài Căn Bản Trí số 1, số 2 trong “Nghi thức tu học Nikāya” là chúng ta đã nói rất nhiều lần, con mời các Thầy, Cô học thuộc lòng. Không phải chuyện đơn giản, mình nói sai Chánh pháp, làm cho chúng sanh rơi vào tà kiến, chính tự thân mình cũng ở trong tà kiến mà đưa người khác vào trong tà kiến. Đó là một trong 40 pháp sanh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; tự thân mình tà kiến khuyến khích người khác tà kiến, tùy thuận tà kiến, hoan hỷ tán thán tà kiến.
Trong bài kinh 40, trong Nghi thức tu học Nikāya, phần Căn Bản Trí số 2, chúng ta đọc 40 pháp sanh thiên giới và 40 pháp rơi xuống địa ngục. Chúng ta nói đơn giản, toàn bộ giáo pháp của Đức Phật nhằm mục đích là ly tham đối với Sắc, ly tham, yểm ly – tức là chán lìa, viễn ly, xả ly, xuất ly đối với Sắc. Đó là tất cả những gì mà Đức Phật nói, nhằm đưa đến sự rời tham đối với Sắc, chán lìa, xa lìa, lìa bỏ, thoát ra khỏi Sắc. Bây giờ, mình nhìn lại tâm, thân, coi những cái này mình thực hành tới đâu, có thực hành hay không.
Tại sao mình đi đúng hay sai mà không biết, vì mình không có y cứ vào Thánh ngôn lượng – những lời dạy của Đức Thế Tôn. Tại sao không y cứ vào Thánh ngôn lượng, vì mình có thuộc lòng đâu, nhớ mài mại, trong kinh có câu, người xưa có câu... rồi tự mình nói, “có câu”. Thành ra, trong Phật giáo nguyên thủy người ta kỹ, có những vị Tam Tạng Pháp sư học thuộc lòng, khắc những bảng kinh lên bia đá thờ trong các bảo tháp.
Ngay vào hôm Minh Thành chấm thi cũng vậy, phổ biến rất rộng, thí sinh lên một hồi là “có câu”, trong kinh nói mà không biết đó là kinh gì, ở đâu. Thành ra, khi mình dẫn chứng nhớ cái này thật kỹ, đây là trong nguyên tắc sư phạm mà cũng là phép tắc để truyền bá Chánh pháp, là nói Tăng Chi Bộ kinh, tập mấy, bài kinh tên gì hoặc Tương Ưng Bộ kinh là Tương Ưng Uẩn hay là Tương Ưng Sáu Xứ, Trung Bộ kinh là bài kinh nào, chứ không phải nói là “có câu”, không được.
Nguyên tắc học cũng như nguyên tắc truyền bá Chánh pháp rất là quan trọng, nếu mình không thuộc thì phải cầm tờ giấy đọc bài kinh đó ra. Đừng khuyến khích mọi người không cầm giấy, hết sức nguy hiểm. Thật ra, cái này thì Minh Thành chỉ góp một vài ý kiến chứ còn nếu mà đào tạo giảng sư thì phải có rất nhiều pháp cần học theo tinh thần của Kinh tạng Nikāya, rất nhiều và rất sâu chứ không phải chỉ căn cứ vài bài giảng trong Phật học phổ thông được. Đó chỉ là mẫu cho mình nghiên cứu một phương diện.
Thưa các Thầy, Cô, lúc mà ngài Đại lão Hòa Thượng Thượng Thiện Hạ Hoa của chúng ta, thời đó cách đây nửa thế kỷ, những bài viết như vậy là tối thượng. Nhưng bây giờ, xã hội khác cách giảng thuyết của mình phải khác, không phải bê y chang như vậy rồi lên mình đọc, theo đó mà không chịu sáng tạo, năng động, suy tư, quán sát, lấy những sự việc thiết thực, hiện tại, thực tế trong đời sống mà cứ bê y nguyên bài trong Phật học phổ thông ra thì như vậy, mình chậm lại hơn nửa thế kỷ.
Về phương diện thực tập diễn giảng, giảng thuyết là phải đầu tư rất nhiều. Thứ nhất là phải kết hợp những bài kinh nguyên chất của Đức Phật trong Tạng kinh Nikāya, thứ hai là chúng ta phải nắm bắt được những cái gì đang diễn ra từng ngày, từng giờ của xã hội. Hai cái đó mình kết hợp lại, mình nhìn nhận nó bằng sự thực hành của pháp, trí tuệ, quán chiếu. Chúng ta mới có được những bài giảng, những phương pháp thực hành thiết thực, hiện tại, thực tế, vận dụng, có lợi ích vào trong đời sống ngay tại chỗ. Chứ bây giờ mình bê y như dàn bài sáu, bảy chục năm về trước, không chịu suy tư, sáng tạo, đầu tư thì như vậy mình lùi lại xa lắm. Những bài đó rất là hay nhưng mà một phương diện nào đó cho chúng ta học.
Cho nên cái tiếp theo chúng ta đang học là sau khi mình đọc tụng tức là học thuộc. Con thưa quý Thầy, Cô là ở Linh Quy Pháp Ấn, mỗi buổi sáng có một thời đảnh lễ Pháp bảo, mỗi ngày vào buổi sáng, một tiếng đồng hồ. Mỗi người phải đọc thuộc lòng một câu kinh trong Kinh tạng Nikāya, một câu, nửa bài hoặc một bài, tùy theo người đó muốn đọc bài nào. Tất cả những người lên học là phải thuộc Căn Bản Trí, tối thiểu là số 1 phải học thuộc lòng. Buổi sáng 4 giờ là đọc, tụng đọc pháp tức là phải học thuộc lòng. Học thuộc lòng nhiều khi tụng còn trật chứ đừng nói chi lên mà “có câu”, cổ đức có câu, trong kinh có câu, thành ra phải học thuộc lòng. Mình muốn trở thành một vị giảng sư đúng theo gọi là định nghĩa của Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác thì tiêu chuẩn hết sức cao cấp.
Nếu các Thầy, Cô muốn học thì con giới thiệu về đọc rất nhiều bài kinh mà Đức Phật định nghĩa một vị pháp sư của Ngài trong Tương Ưng Bộ kinh. Ở trong bảng phân loại Kinh tạng Nikāya, cái App (ứng dụng) mà Linh Quy Pháp Ấn đưa lên thì vô ngay chỗ chuyên đề “Thuyết pháp”, trong đó có rất nhiều bài kinh Đức Phật định nghĩa một vị thuyết pháp như thế nào, thuyết pháp gì và thực hành như thế nào để xứng đáng là một vị pháp sư, giảng sư mà đúng theo Đức Thế Tôn trao cho bằng cấp. Nếu chúng ta có đủ duyên, đợt sau mình còn học thì có thể đào sâu về cái đó. Cái đó sâu sắc lắm, không đơn giản như mình bây giờ suy nghĩ. Tại vì suy nghĩ của mình là suy nghĩ của phàm phu; từ suy nghĩ, lời nói, hành động, chúng ta ở trong vô minh, tham ái, ngã mạn, chấp thủ. Mỗi suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng của mình nằm ở trong vô minh mà không biết, trừ khi nào mình nhận diện được Ngũ uẩn, nhìn ra các lậu hoặc lúc đó mình mới sốc toàn tập. Tất cả mọi suy nghĩ, cảm giác, ý tưởng, nhận thức của mình đều nằm trong vô minh, tham ái và chấp thủ.
Đến khi nào mình nhìn thấy tất cả sắc – thọ - tưởng – hành – thức này là một đống đau khổ to lớn, tất cả trong Ngũ uẩn này đều là dục ái, khát ái, thèm khát, thèm thuồng, thèm muốn, khao khát; và ở trong Ngũ uẩn này chỉ là những tâm thức vô minh, si ám, chấp thủ lúc đó mới bắt đầu.
“Này các Tỷ-kheo, đây là điềm đi trước, đây là tướng báo trước mặt trời sắp mọc, tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, đây là điềm đi trước, đây là tướng báo trước sự giác ngộ như thật bốn Thánh đế, tức là chánh tri kiến …”
Kinh Tương Ưng Bộ Tương Ưng Sự Thật - Phẩm Rừng Simsapà –
Ví Dụ Mặt Trời 1
Tướng, điềm báo trước mặt trời mọc là bình minh xuất hiện, cũng vậy, điềm báo trước của một bậc Thánh là sự thành tựu Chánh Tri Kiến. Thành tựu Chánh Tri Kiến là thấy được Ngũ Uẩn này là khổ; thấy được tất cả những thân xác, cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức này là một đống khổ, sự thèm khát, khao khát, khát ái, là luôn luôn ở trong trạng thái thân này thiếu thốn, khát khao, không bao giờ thỏa mãn, thân này là vô chủ, vô ngã, đi đến chỗ hoại diệt. Thấy, biết được như vậy rồi nhìn ra được những cấu uế, lậu hoặc, ô nhiễm ở bên trong này thì mình sốc toàn tập, hỡi ôi, ê chề, chán chê, ngao ngán. Lúc đó, mới bắt đầu nhìn thấy được pháp, mình nhìn mà thấy cái này đẹp quá, thích quá, khoái quá thì còn xa lắm, xa thật là xa. Mình nhìn vào trong sắc – thọ - tưởng – hành – thức còn yêu, thích, khoan, khoái, thèm, muốn, khao, khát, tưởng, mơ, còn mộng tưởng, ảo tưởng, hư tưởng, huyễn tưởng.. thì còn xa lắm, xa thật là xa.
Tại sao đạt được cái đó thì bây giờ mới tiếp theo, làm sao để đạt được như thế.
“Vị ấy với tâm tùy tầm, tùy tứ, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng.”
Kinh Tăng Chi Bộ Tập 3 – Sáu Pháp - Phẩm Dhammika – Ananda
“Tùy tầm, tùy tứ, tùy quán” ba chữ này quan trọng, đây gọi là Tam Tùy. Thế nào gọi là tùy tầm? Chúng ta mở Căn Bản Trí, định nghĩa niệm Chú tâm cảnh giác. Đức Phật giải thích chữ “Chú tâm cảnh giác”, “Chánh niệm tỉnh giác” như thế nào. Chúng ta xem trang 140, Chánh niệm tỉnh giác số 2:
“Ở đây, này các Tỷ-kheo. Tỷ-kheo rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt, rõ biết khi các tưởng khởi lên, rõ biết khi các tưởng an trú, rõ biết khi các tưởng chấm dứt, rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt. Này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm tỉnh giác”.
“Tầm” là gì?