Xuất Gia Tâm Niệm - Linh Quy Cảnh Sách
XUẤT GIA TÂM NIỆM
LINH QUY CẢNH SÁCH
Thích Minh Thành
Kính thưa đại chúng, chúng ta vừa hoàn thành thêm một tuổi đạo, gọi là hạ lạp hoặc tuổi hạ. Minh Thành chúc mừng các thầy lớn mạnh trong pháp và luật của Đức Thế Tôn sau ba tháng An Cư. Chúng ta làm sao trong ba tháng phải có chân đứng trong pháp và luật, thật sự để làm được điều này rất khó đối với người xuất gia. Chúng ta phải có sự băn khoăn, lo lắng, ưu tư, khắc khoải trong lòng để làm sao mình có thể tăng trưởng, phát triển, hướng thượng trong pháp và luật. Nếu mình không có ưu tư, không có khắc khoải, không ray rứt, thao thức, nhiệt tâm tinh cần thì sự tu học sẽ dậm chân tại chỗ chứ chưa nói đến việc lùi lại, rơi xuống, trong kinh dùng từ thối đọa. Chúng ta phải có rất nhiều sự ưu tư trong sự tu học, phải có rất nhiều sự ưu tư và lo lắng, đại đa số mà thường là phần lớn chúng sanh sống trong vô minh, tham ái, chấp thủ, buông lung phóng dật, ngay cả người xuất gia nếu không có sự thấy biết chính xác, không có sự tinh cần tinh tấn thì vẫn ở trong trạng thái của buông lung phóng dật mà không biết. Bất cứ lúc nào tâm không an trú trong Tứ Niệm Xứ đều ở trong buông lung phóng dật, điều này mới được Minh Thành phát hiện sau 30 năm tu học nên rất bất ngờ. Bất cứ khi nào tâm mình không có sự niệm thân (Thân Hành Niệm): Niệm oai nghi, niệm hơi thở, niệm tứ đại, niệm hành động, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn tử thi thì lúc đó đang buông lung phóng dật. Bất cứ lúc nào không an trú trong các cảm thọ, không quán chiếu cảm giác, cảm xúc, không nhìn thấy sự vận hành, sanh khởi, an trú, biến đổi và chấm dứt của các cảm thọ thì lúc đó mình đang buông lung phóng dật. Bất cứ lúc nào mình không thấy được tâm mình đang ở trong trạng thái rộng lớn, nhỏ hẹp, thấp kém hay cao thượng, không thấy tâm đang ở trong trạng thái có tham hay không có tham, có si hay không có si, có sân hay không có sân thì lúc đó mình đang buông lung phóng dật. Bất cứ lúc nào không quán pháp trên pháp, không thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức đang như thế nào, không thấy thất giác chi sanh khởi, có mặt hay không có mặt, không biết trong tâm đang có năm căn, năm lực hay không thì lúc đó mình đang buông lung phóng dật. Đây là sự thật mà sau khi phát hiện Minh Thành rất bàng hoàng, mấy chục năm xuất gia ở trong buông lung phóng dật, vô minh mà không biết. Không phải đợi đến khi cười to nói lớn, đi nhanh, cười giỡn mới gọi là buông lung phóng dật, cái đó chỉ là phàm phu pháp, không phải là pháp của thánh nhân, cái đó người đời nhìn vào cũng biết. Buông lung phóng dật là ngay khi ngồi trên bồ đoàn mà tâm không an trú trong pháp để ngủ gục, tâm đi lang thang, buông thả không thực hành pháp, cái này vẫn gọi là buông lung phóng dật dù cho đang ngồi trên bồ đoàn, chỗ này rất thâm sâu nên mọi người cần chú ý thật kĩ.
Không phải ngồi trên bồ đoàn là tu, là tinh tấn. Vì vậy tu tập từ từ sẽ thấy pháp rất sâu sắc, nói cái thô nhất là việc cười nói, giỡn hớt không có oai nghi, tế hạnh thì đó là không buông lung phóng dật, cái này nói ra ai cũng hiểu nhưng không phải Phật pháp, cái đó người thế gian nhìn cũng biết nên rất bình thường. Tiến lên thêm một chút, có một người rất siêng năng quét sân, nấu nướng, xây dựng… nhưng vẫn buông lung phóng dật. Sao lạ kì vậy? Người đó làm nhưng không thấy ngũ uẩn, làm mà không thấy sự vận hành của tham dục, tham ái, chấp thủ, làm mà cứ chạy theo những cái cảm thọ để khoe khoang, để phát huy cơ sở vật chất, ngã và ngã sở thì vẫn là buông lung phóng dật. Cái pháp bắt đầu đi sâu hơn, những người phục vụ làm này làm kia cho khách, nếu nhìn bằng con mắt thế gian sẽ thấy đó là tốt nhưng đối với pháp nhãn, đạo nhãn, trí nhãn chưa chắc là tốt vì họ làm với động cơ gì? Vì danh lợi, có ta đây, tham ái, chấp thủ trong việc làm không, dù đây là thiện pháp nhưng có liên hệ đến mục đích xuất gia không? Tất cả các bài kinh Đức Phật giảng đều hỏi có liên hệ đến mục đích không? Mà mục đích ở đây chính là yểm ly, ly tham, đoạn diệt, xuất ly, giác ngộ, thắng trí Niết-bàn, tức là phải nhàm chán, ly tham đối với ngũ uẩn mới là liên hệ đến mục đích của người xuất gia. Trong kinh nói ưa thích công chuyện là một trong những pháp thối đọa của Tỳ-kheo chứ không phải nhìn thấy người đó siêng năng là tốt, nếu nhìn bằng con mắt thông thường đó là thiện pháp, là tốt nhưng với con mắt pháp chưa hẳn tốt vì làm như vậy sẽ bỏ phế thiền định, bỏ phế giới đức, bỏ phế thánh trí tuệ, sâu sắc như vậy đó nên Minh Thành muốn đưa những điều cốt lõi cho các huynh đệ để nắm được tinh thần của pháp.
Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là sáu?
Ưa công việc,
Ưa nói chuyện.
Ưa ngủ.
Ưa hội chúng.
Các căn không phòng hộ.
Ăn uống không tiết độ.
Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa. (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (I) Hữu Học)
Bây giờ hay tổ chức cái này cái kia, có đủ các loại hình hoạt động suốt ngày đêm, đứng về phương diện bên ngoài là tốt nhưng phải xem lại bên trong, tâm mình có bị dính mắc tham ái không, nếu có dục tham ái, có sự dính mắc chấp thủ vào đó thì không tốt, hiện tại dịch bệnh tràn lan nên nội bất xuất, ngoại bất nhập thì phải xem tâm mình có thúc giục muốn đi đây đi đó không, phải quán chiếu ngay chỗ này, ở nhà hoài không được đi đâu nên có khó chịu không, nếu khó chịu là có dục ái, hữu lậu trong đó, đây là cơ hội để nhìn lại thân tâm của mình. Bây giờ mình làm việc, đi học, tổ chức các lễ hội, chương trình quen rồi mà giờ không làm thì thấy thiếu thốn, khó chịu nên phải tìm cái này cái kia để làm, trong khi ngồi thiền thì không chịu ngồi, học pháp thì không nghe vô đầu được, đó là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Ngay cả việc tổ chức, làm các thiện sự nhưng nếu không liên hệ đến mục đích thì vẫn không phải là thiện pháp xuất thế mà chỉ là thiện pháp của thế gian, không liên hệ đến Niết-bàn, tức là không liên hệ đến dập tắt dục ái, tham sân si, vô minh và bản ngã. Đại đa số bây giờ lại ưa thích thiện pháp thế gian, nếu không nhìn thấy được ngũ uẩn, không thường soi rọi lại thân thể, cảm giác, nội tâm và những thứ đang sanh khởi, vận hành, xâm chiếm, áp đảo trong ngũ uẩn thì chắc chắn mình sẽ chạy theo bên ngoài, sống với sắc; thanh; hương; vị; xúc bên ngoài, sống với pháp trần; thọ; tưởng; hành bên trong chứ mình không đặt nặng việc sống với pháp, mà pháp là sự ly tham đối với những thứ kể trên, sự quán chiếu để từ bỏ, xả ly, đoạn ly, chấm dứt, thoát ra khỏi những thứ đó là thánh trí huệ. Người nào thường sống với điều này, an trú trong đó, tư duy thường xuyên trong đó thì người đó có chân đứng trong pháp và luật của Như Lai, vì vậy mà sự tu học rất sâu sắc chứ không hề đơn giản như mình vẫn nghĩ. Có một người siêng năng tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền nếu nhìn thông thường là thiện pháp nhưng nhìn sâu vào nữa thì động cơ làm những thứ này vì cái gì? Có liên hệ đến mục đích không? Việc làm thì giống như nhau nhưng cái tâm khi làm hướng về điều gì lại khác hoàn toàn, có những người đi làm từ thiện lại bòn rút tiền từ thiện, hay đi làm từ thiện để đánh bóng tên tuổi, họ có ý khác khi làm từ thiện chứ không hoàn toàn chỉ là giúp người, cũng gọi là giúp nhưng trong cái giúp đó còn có ý khác nữa. Sự tu của mình cũng phải trạch pháp sâu sắc, xem sự thực hành của mình hướng về điều gì? Có cầu danh lợi không hay hướng đến sự ly tham, hướng đến sự thành tựu thánh trí tuệ? Học kinh, học pháp là vì bằng cấp hay học vì sự cầu thánh pháp, thánh trí tuệ? Đây là những cấp độ bắt đầu đi sâu vào pháp, bây giờ giữa thánh trí tuệ, đắc pháp với bằng cấp thì chọn cái nào? Đây là chỗ cần suy xét sâu sắc.
Này các Tỳ-kheo, do đoạn diệt bảy pháp, thành vị Sa-môn ...
Do vất bỏ bảy pháp, thành vị Bà-la-môn ...
Do tiêu diệt bảy pháp, thành vị an lành ...
Do gột sạch bảy pháp, thành vị đã gột sạch ...
Do biết rõ bảy pháp, thành bậc có trí ...
Do phá hoại kẻ thù bảy pháp, thành vị Thánh ...
Do chặn đứng bảy pháp, thành vị A-la-hán.
Thế nào là bảy?
Chặn đứng kiến có thân.
Chặn đứng nghi,
Chặn đứng giới cấm thủ.
Chặn đứng tham.
Chặn đứng sân.
Chặn đứng si.
Chặn đứng mạn.
Do chặn đứng bảy pháp này, này các Tỳ-kheo, thành vị A-la-hán. (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, IX. Phẩm Các Kinh Không Nhiếp, (I) Sự Phá Hoại)
Kiến có thân tức là thân kiến, kiến là kiếp chấp, có thân là hữu ái. Nói cho dễ hiểu gọi là kiến chấp có thân, nếu không phá được cái nào trong bảy cái trên thì không phải là người tu, phải phá được đôi phần trong bảy pháp này mới được. Thứ nhất phá hoại kiến có thân, kiến này là kiến chấp. Chúng ta học đến năm thứ tư rồi mà vẫn chưa được học Bát Chánh Đạo vì cửa đầu tiên của Bát Chánh Đạo là bậc Tu-đà-hoàn, Dự lưu quả, chỉ vừa thành tựu chánh kiến thôi đã Nhập lưu, vì vậy Bát Chánh Đạo rất khủng khiếp chứ không đơn giản như mình biết Bát Chánh Đạo là chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp…. là coi như xong, chỉ vừa vào cửa chánh kiến đã là thánh quả thứ nhất Dự lưu Tu-đà-hoàn mà cửa thứ nhất chính là phá thân kiến, cho nên chưa thành tựu chánh kiến nên phải học để thành tựu chánh tri kiến. Thế nào gọi là kiến chấp có thân? Cho rằng hình hài này là tôi, những thứ xung quanh là của tôi, con mắt này là của tôi, lỗ tai này là của tôi, mũi là của tôi, miệng, lưỡi, thân này là của tôi, chiếc xe, đồng hồ đó là của tôi, chỗ ở, cái gường, tủ, đồ đạc trong đó là của tôi, cái chùa, tịnh thất, thiền viện này là của tôi… cái này chỉ mới là sắc thủ uẩn, nếu phá được cái này chỉ mới phá được một uẩn thôi. Sự tu học đúng theo Đức Phật rất thâm sâu chứ không đơn giản một ngày lên tụng hai thời là xong, đâu có đơn giản như vậy, tu là tẩy sạch hoàn toàn nhận thức sai lầm về thân, về sắc pháp, sắc uẩn. Minh Thành mời mọi người xem Hiếu Hạnh Của Người Tu-Sự Ra Đi An Lành Của Mẹ 6, con đem cái mâm tro cốt của mẹ ra rồi khóc chấn động thiền đường, khóc không phải vì sự yêu thương thường tình mà còn là vì sự thật chánh quán của sắc uẩn hiện bày một cách quá phũ phàng, hôm đó thành một buổi thiền quán. Tức là hình hài của mẹ mình chỉ còn lại cát bụi, nếu không có tấm hình thì nhìn vào đống cát bụi đó biết ai là ai, không có tấm hình cũng không nói đây là tro cốt của mẹ tôi thì đống tro cốt đó là cái gì, ai biết nó là cái gì? Nó chỉ là cát bụi mà thôi nhưng hôm qua là một con người có tên tuổi, có mặt mũi, có quê hương, còn hôm nay trở thành đống cát bụi. Như vậy cái gì gọi là cái thân thật sự? Chỉ là tứ đại đất; nước; gió; lửa kết hợp lại rồi tan rã ra, cho nên cái nhìn cho rằng mấy chục kí lô thịt này là tôi, là của tôi thì cái nhìn đó là vô minh, từ vô minh đưa đến tham ái và chấp thủ, từ vô minh, tham ái và chấp thủ đưa đến tham sân si, sầu, bi, khổ, ưu, não và nó lẩn quẩn trong đó mãi không đi ra nổi, khi cái thân này tan hoại thì lại chạy đi tìm cái thân khác gọi là kiến có thân. Nó ưa thích việc phải có thân cho nên sau này khi Minh Thành đi sâu vào kinh tạng Nikāya, thực tập quán chiếu cảm thấy rúng động trước hai chữ hữu ái, thật sự rất khủng khiếp, lấy điều này làm thước đo thánh-phàm. Hữu ái là ưu thích sự hiện hữu, cho nên có thực trạng tu để đời sau được cái này, được cái kia để hưởng thụ, đó là tri kiến của phàm phu. Còn tri kiến bậc thánh là chấm dứt hữu ái vì tất cả sự hiện hữu đều là khổ đau, dù cho hiện hữu ở hình thức nào thì cũng là khổ đau, sự hiện hữu đó từ dục và vô minh, từ tham ái, bản ngã, chấp thủ và tham sân si cho nên có sự yêu thích hiện hữu, phá được cái này thì mới Nhập lưu vào thánh quả thứ nhất, đây là chỗ cực kì thâm sâu của giáo pháp, có khi ở suốt đời trong chùa cũng không chạm tới được trí tuệ này: Chấm dứt tất cả hình thức trong ngũ uẩn là trạng thái của Diệt Đế. Đức Phật giảng trong Tương Ưng Bộ, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là khổ, thế nào là nguyên nhân của khổ? Dục, tham, ái đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức là nguyên nhân của khổ.
Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về Khổ, Khổ tập khởi, Khổ đoạn diệt, Con đường đưa đến khổ đoạn diệt. Hãy lắng nghe.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Khổ? Phải trả lời là năm thủ uẩn. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Ðây gọi là Khổ, này các Tỳ-kheo.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Khổ tập khởi? Chính là khát ái này, đưa đến tái sanh... phi hữu ái. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Khổ tập khởi.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Khổ đoạn diệt? Chính là sự ly tham, đoạn diệt không dư tàn khát ái ấy, sự xả ly, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự thoát ly chấp trước. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Khổ đoạn diệt.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Con đường đưa đến khổ đoạn diệt? Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Con đường đưa đến khổ đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I, Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, I. Phẩm Biên, II. Khổ)
Mình còn ưa thích, đam mê, yêu thích trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tức là hữu ái còn ưa thích ngũ uẩn thì còn những cái thân ngũ uẩn tiếp tục. Chỗ này mới trả lời được khi vua Tịnh Phạn nói Thái tử đừng đi tu, ở cung điện làm các việc công đức để hưởng thụ, đi tu làm gì thì Thái tử nói nếu phụ vương cho con đừng già, bệnh, chết, đừng sầu, bi, khổ, ưu, não thì con sẽ ở lại không đi tu. Chính chỗ đừng sanh, già, bệnh, chết tức là muốn đi ra khỏi hữu ái cho nên mình mới thấy sắc ái, hữu ái, vô sắc ái.
Này các Tỳ-kheo, nếu ba pháp không có mặt ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp, Luật được Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Thế nào là ba?
Sanh.
Già.
Chết.
Này các Tỳ-kheo, nếu ba pháp này không hiện hữu ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Vì rằng, này các Tỳ-kheo, ba pháp này có mặt ở đời, do vậy Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, do vậy, Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng được nêu rõ ở đời. (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Ước Nguyện, (VI) (76) Không Thể Tăng Trưởng)
Mình yêu thích trong cái sắc, không đi ra khỏi nó, mình đi tu nhưng đến chùa đẹp thì thích, thấy cảnh đẹp phải chụp lại đăng lên mạng xã hội thì mình bị dính mắc trong sắc, không chứng đạt được cái sắc đó là vô thường, trống rỗng, khổ, vô ngã. Có nói thì chỉ nói trên miệng, trong lý thuyết còn sự thật để thẩm thấu, thấu triệt một cách hoàn toàn chứng nhập thì chưa làm được, cho nên khi vô thường đến thì tự thân mình đau khổ rồi những người thân của mình cũng đau khổ, Minh Thành quán chiếu hằng ngày, hằng giờ sự vô thường, khổ, vô ngã, cái chết nên khi mẹ chết trên tay vẫn không chảy nước mắt, vẫn chánh niệm tỉnh giác hướng dẫn cho mẹ xả ly ngũ uẩn trong giờ phút đó cho đến xong mọi chuyện, đến khi cần cảm thọ bung ra để nhắc nhở Tăng Ni sự hiếu hạnh của người tu là sẽ bung ra, khóc chấn động thiền đường. Sự hiếu hạnh này rất quan trọng vì người tu thường hiểu lầm, đi tu rồi là không còn liên lạc gì nữa với cha mẹ, liên lạc với Phật tử nhiều hơn, nhất là những người cúng dường nhiều hoặc dành nhiều tình cảm, đó là sự bất hiếu. Cho nên Minh Thành khai triển sự hạnh hiếu của người xuất gia đến 10 buổi học cho tất cả Tăng Ni và Phật tử trên Linh Quy để họ nhìn nhận lại cái hiếu hạnh của mình, rà soát, kiểm điểm lại sự tu học trước nay của mình đối với chữ hiếu của người tu, lúc đó tự nhiên có rất nhiều sự thú tội, cha mẹ gọi điện thoại thì viện cớ bận việc không nghe, thậm chí ba của cô này không dám vào chùa thăm vì con đi xuất gia mà chỉ có thể đứng ngoài cửa trông ngóng bóng dáng con rồi khóc, mỗi ngày đều như vậy cho đến khuya, nửa đêm, 2h đêm cha thức dậy lạy, cầu xin cho con tu hành thành tựu rồi nhớ thương cho đến chết. Thật sự rất xúc động, mọi người hãy về nghe, Minh Thành chỉ là người khơi gợi để tất cả Tăng Ni, Phật tử nhìn nhận lại sự hiếu hạnh thật sự của người tu là như thế nào, nó hoàn toàn không giống như mình nghĩ. Có nhiều người nghĩ rằng không về nhà, không liên lạc là tốt nhưng không phải vậy, không về nhà thì làm gì? Không liên lạc điện thoại với cha mẹ nhưng lại liên lạc với ai? Không chia sẻ, nhắc nhở, khuyến tấn cha mẹ tu tập, không có tín – giới – văn – thí. Tại sao đấng sinh thành của mình là những bậc thiêng luân, tức là tình cảm thiêng liêng luân lý đạo đức, đáng lẽ phải được chia sẻ với tất cả những gì tốt nhất của mình tu học được mà mình lại không chia sẻ, không chăm sóc lại đi chăm sóc cho người dưng, thành ra đây là việc mình cần kiểm tra lại kĩ càng, nền tảng không có nên hiểu sai hết. Cho nên người tu không phải là người vô trách nhiệm, không phải là người không có bổn phận, không phải là người vong ơn bội nghĩa, bất nhân bất hiếu. Minh Thành mong rằng đại chúng chịu khó xem hết các tập Sự Ra Đi An Lành Của Mẹ để nhìn nhận lại, còn không khéo cả hai đường đều mất, sự hiếu thảo ngoài đời không còn, hiếu trong đạo cũng không có gì hết.
Để người tu xứng đáng là người tu thì điều đầu tiên là phải phá được thân kiến, Minh Thành rất muốn chia sẻ những điều căn bản đạo đức với đại chúng nhưng có lẽ lớp Ni phù hợp hơn lớp Tăng vì bên Tăng không chú ý lắng nghe, ở trên nói thì ở dưới cũng nói nên không thể chia sẻ hết tấm lòng, mình không còn gặp nhau bao lâu nữa nên tùy duyên, được bao nhiêu hay bấy nhiêu, còn ở lớp Ni trang nghiêm, lắng nghe nên chia sẻ được đầy đủ hơn. Thật sự rất khó nói, người tu bây giờ rất khó nói, vì những điều đạo đức căn bản mà không thành tựu thì không thể đi vào dòng pháp Nikāya, nhất định người đó phải có đạo đức tốt mới vào được còn không sẽ chống đối, vì đi vào dòng pháp này sẽ triệt phá toàn bộ dục, tham, bản ngã của tự thân và mình sẽ không chịu nổi, bị dội ra, chỉ thích tu những pháp ngọt ngào, êm ái, còn dục, còn danh lợi. Còn cái pháp triệt để, trực chỉ đánh phá vào tham sân si, bản ngã sẽ không chịu nổi vì đạo đức căn bản mình không thành tựu, không tôn trọng cung kính, không có hiếu hạnh, tình nghĩa thì mình sẽ không đi lên pháp của hiền thánh. Con người còn làm không được thì làm sao bước lên bậc hiền thánh giả? Tiêu chuẩn làm người không đạt được thì làm sao bước lên bậc hiền, bậc thánh? Tiêu chuẩn làm người là thầy-trò, cha mẹ hiếu thuận, cung kính tôn trọng, nhân nghĩa, đạo đức… những điều này rất quan trọng, còn giờ cái nào cũng chung chung hết thì làm sao đây? Bị hỏng chân từ đầu, nền tảng, nền móng không có, chỉ nói trên trời dưới đất mà làm học trò chưa xong, đạo đức của người con trong gia đình không đầy đủ thì làm sao tu? Rồi còn muốn chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, nói láo thôi, chỉ có sự trống rỗng. Chính chỗ đó làm hư hết đời tu, cho nên sự giáo dục và đào tạo của mình cần phải kiểm tra lại, hỏng hết bao nhiêu thế hệ, vì vậy những điều căn bản là cực kì quan trọng, Minh Thành rất muốn chia sẻ nhưng thấy không được, chỉ có thể nói với những người tha thiết tu học trên Linh Quy, ngoài ra không thể nói được cho ai khác. Vì nói sẽ đụng chạm bản ngã, đụng chạm cái tôi nên không ai muốn nghe, không ai muốn học, chẳng những không tiếp thu mà còn sân hận, chống đối, vậy là phản tác dụng. Cho nên những điều này Minh Thành nói bằng tấm lòng, các huynh đệ phải kiểm tra kĩ những điều này, những sư đệ, học trò sau này của mình phải được dạy thật kĩ về đạo đức, nhân nghĩa, làm con người tốt đã rồi sau đó mới học pháp. Báo chí, các phương tiện truyền thông đã phản ánh rất nhiều về vấn đề người tu, người dân mất tín tâm với Tam Bảo vì người tu bây giờ không lo phá thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham sân si, ngã mạn mà cứ lo hướng ra bên ngoài để làm sao chùa được to đẹp, cảnh cho đẹp để bá tánh thập phương về chiêm bái cho đông rồi cuối cùng trong bên trong thân tâm bị hỏng, không tăng thượng giới đức –thiền định – trí tuệ, không có chất liệu của người xuất gia mà cứ lo hướng ra bên ngoài để phát huy màu sắc, những sự lòe loẹt của hình thức bên ngoài. Lại gần những người này chỉ bốc lên cái mùi của tham sân si, không có hương thơm của giới hạnh – thiền định – trí tuệ, của sự giải thoát mà lại bốc lên mùi danh lợi nồng nặc. Đến chùa chỉ toàn nghe cúng tiền, các công trình trị giá tiền tỉ, Đức Phật có dạy như vậy không? Bây giờ nhìn lại rất xót xa nên phải cẩn thận, mình đi sai đường Phật dạy, trong khi Phật bỏ cung vàng điện ngọc, địa vị, danh lợi vậy mà bây giờ mình chỉ cần vẽ bảng hiệu là trị giá hàng chục tỷ rồi kêu gọi cúng dường xây dựng, nói đến thì bảo là làm vì Tam Bảo, làm vì Phật sự, Phật pháp. Cần xét kĩ lại trong đó có dục, tham, ái trá hình, dẫn mình đi vào ma đạo cho nên cần phải cẩn thận trong sự tu học, làm việc. Trong mùa dịch người dân nghèo khổ vì thất nghiệp, làm không ra tiền, mình nói chùa là cửa từ bi, phải đem pháp, đem tình thương thật sự giúp đỡ cho họ, cưu mang họ trong những lúc khó khổ, còn mình ngồi thiền mà cứ tính toán dự án này, công trình kia thì cái đó có gọi là thiền không? Vậy mà mình không thấy, bị lừa gạt, chỉ có con mắt tròng vàng của Tôn Ngộ Không mới nhìn ra được yêu tinh, mắt thường của Đường Tăng nhìn không thể thấy được, đó là yêu tinh trong tâm mình, nó trá hình, biến hiện ra những hình ảnh hiền từ, mặc lên những chiếc áo của đạo đức nhưng bên trong là dục, tham, ái, là bản ngã, danh lợi. Mình phải nhìn cho sâu sắc, đây gọi là (51: 38) trân phả vạn na, gọi là chánh pháp nhãn, vì vậy mà xin thưa đại chúng là những lời Minh Thành chia sẻ bằng cả trái tim tấm lòng, các thầy ngồi đây không phải học cho tự thân các thầy mà sau này các thầy còn hướng dẫn lại cho đệ tử, những người Phật tử của mình nên những lời này các thầy hãy để ý, nếu không mình sẽ đi sai đường của Đức Phật. Pháp của Đức Phật là yểm ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ, còn giờ mình học cái gì? Tu cái gì? Mình hướng đến điều gì? Trong lòng mình còn đầy tham sân si, dục ái thì làm sao mình độ cho người khác hết tham sân si? Bản ngã của mình cao ngút trời thì mình giúp cho ai có thể hết ngã, diệt ngã? Mình buông lung phóng dật, không phòng hộ, hộ trì, thu nhiếp ba nghiệp sáu căn thì mình dạy ai để được trang nghiêm, thanh tịnh? Có người nhìn thì mình làm dáng, lúc ở một mình thì buông thả, buông lung phóng dật thì làm sao thành tựu giới đức? Cho nên phải chân tu thật học rồi đem điều này đền ơn cho cha mẹ, đem sự tu học cúng dường lên Đức Phật mới gọi là đại cúng dường, Phật không cần mình đem đồ vật chất đầy chánh điện mà Phật cần sự tu học chân chánh và đúng pháp, đó là đại cúng dường cho Đức Phật. Trong ba tháng An Cư này trùng với thời điểm dịch bệnh, nhờ xảy ra những sự kiện như vậy phải cấm túc trên núi tu học, ngoài ra còn có việc đại sự là mẹ mất để mình chiêm nghiệm sâu sắc thế gian vô nghĩa, vô ngã, trống rỗng này, không có gì vững chắc. Các huynh đệ xem lại, khi có người tìm mình thì đó là vì lợi ích, vì có chuyện mới kiếm mình, cần mình, xong rồi thì đường ai nấy đi. Còn người đến để cầu đạo, cầu pháp, cầu giải thoát thật sự rất hiếm hoi, cực kì hiếm, thậm chí là không có. Ngay cả biết là việc đó sai nhưng vì lợi ích không dám buông bỏ, học Phật biết đó là sai nhưng bỏ đi thì mất quyền lợi nên không bỏ được. Cứ như vậy thì Phật pháp từ từ hoại diệt, cứ hỏi ra thì nói phương tiện cho nên học những bài kinh này rất hay, đây là những giây phút để mình trở lại gần hơn với Đức Phật, tuy là chưa làm được nhiều nhưng đây là những giây phút đầy cảm xúc, chấn động để nhớ lại Đức Phật, để mình tiếp xúc được với chánh pháp thật sự của Đức Phật, từ đó tu tập thay đổi từ từ, không phải nghe là thay đổi được liền nhưng phải nghe, phải tiếp xúc. Trong Tăng Chi Bộ kinh, bài kinh Xuất Gia được Đức Phật dạy về mười hai điều tâm niệm của người xuất gia, nghe những lời được Đức Phật nói trong kinh rất xúc động vì nó rất gần gũi, thực tế và cụ thể, không có cái gì xa xôi viễn vong.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau:
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập như khi xuất gia.
Các pháp bất thiện được sanh không có chinh phục tâm và không tồn tại.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô thường.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô ngã.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng bất tịnh.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng nguy hại.
Sau khi biết được thế giới thăng bằng và không thăng bằng, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy.
Sau khi biết được thế giới sanh khởi và đoạn diệt, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy.
Sau khi biết được thế giới tập khởi và chấm dứt, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng đoạn tận.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ly tham.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng đoạn diệt.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập. (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (IX) Xuất Gia)
Ngày đầu tiên các thầy vào lớp không giống như bây giờ, không dám nằm dài ra, người thì ngủ người thì nói chuyện giống như vầy, điều này chứng tỏ sự thối đọa của thiện pháp, Minh Thành lấy điều trước mặt chứng minh cho quý thầy thấy, thấy thì nhói tim nhưng nói làm sao được, bây giờ hồn ai nấy giữ, ai ăn nấy no, ai tu người đó chứng, ai đọa thì người đó ráng chịu, nghe và chấp nhận thì sẽ tốt còn không nghe thì thôi. Cho nên điều đầu tiên trong mười hai điều tâm niệm là tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập như khi xuất gia, mình phải hiểu khi mới xuất gia: Rụt rè, cẩn thận, cung kính, e sợ, lo lắng… Đây mới chính là mười hai điều tâm niệm của Đức Phật được nói đến trong Tăng Chi Bộ kinh. Ngày đầu tiên mình bước vào trường đẹp vô cùng, cung kính trang nghiêm vô cùng, thấy những vị giáo thọ sư là cúi đầu, những vị lên núi tập sự xuất gia được một năm, gặp các thầy là cung kính thì con nói phải rán năm năm sau cũng phải vầy là thành công, chứ đừng có đầu voi đuôi chuột. Trong quyển Xuất Gia Toàn Tập có ghi có thủy có chung, có bắt đầu và phải có kết thúc. Tại sao vợ chồng chung sống không hạnh phúc? Vì có đầu mà không có đuôi, lúc đầu lựa lời nói, lựa từng cử chỉ hành động thể hiện ra bên ngoài đến khi về ở chung thì bao nhiêu tập khí bung ra hết, Đức Phật ví dụ việc tu của mình như người vợ mới về nhà chồng cung kính, sợ hãi, hổ thẹn từ cha chồng, anh chồng cho đến người làm công, lựa từng lời để nói, đến chừng ở một thời gian là chỉ dạy từ cha chồng dài dài xuống dưới "mấy người biết cái gì", người tu cũng y như vậy, lúc mới vào thì cung kính các bậc giáo thọ, trưởng thượng nhưng ở thời gian rồi chỉ thẳng vào các vị A-xà-lê "các người thì biết cái gì".
Ví như, này các Tỳ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng: "Hãy đi đi, các người có biết được gì!".
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có Tỳ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: "Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!". (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (IV) (74) Người Vợ Trẻ)
Cho nên điều đầu tiên của người xuất gia là tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập như khi xuất gia, điều này rất quan trọng. Pháp thứ hai là các pháp bất thiện được sanh không có chinh phục tâm và không tồn tại, các pháp bất thiện sanh ra không chinh phục được mình, không tồn tại trong tâm, như khi sân sanh khởi trong cảm giác được nhìn thấy, nhiếp phục, dùng Như lý tác ý tẩy sạch không để tồn động trong tâm, dục tham ái về người nào hay món đồ nào sanh khởi là phải dùng mọi cách tác động tâm ý để trừ diệt, làm cho sạch sẽ, không tồn tại chinh phục trong tâm, bản ngã và những bất thiện pháp trong tâm sanh khỏi không được để tồn tại. Chỉ riêng điều này thôi mình làm được không? Khi nó sanh khởi lên là bao trùm, chi phối mọi thứ rồi đi theo nó luôn "cái đó nhìn dễ thương quá", nó vào nhà rồi mình cũng không hay biết cho nên sự tu học của mình còn thiếu rất nhiều. Chúng ta thường nghe Tăng hận bất cách túc nghĩa là Tăng (người tu) giận không quá một đêm nhưng đối với Đức Phật khi giận sanh khởi là phải ngay lập tức xóa sạch cái tâm sân hận đó, tẩy sạch tại chỗ. Còn giận cả tuần lễ, cả tháng thì đó là phàm phu, không phải đa văn thánh đệ tử, không phải con của Phật, sống để dạy chết mang theo là vô văn phàm phu, là kẻ ngu si, mê muội, vô minh. Mình đang học thánh pháp nên không được đi theo phàm phu pháp, khi cái tâm ganh tị, đố kị sanh khởi là phải dập tắt nó chứ không được để nó chinh phục, Đức Phật ví dụ chặt nó giống như chặt cây tala không để sanh khởi trở lại trong tương lai thì mới gọi là người chân tu, tức là làm cho nó không có cơ hội sanh khởi trở lại lần thứ hai. Đó là thiền quán của Đức Phật, là pháp tu của Đức Phật, còn đằng này nó sanh khởi là xâm chiếm toàn bộ thân tâm, chi phối mọi thứ vậy mà còn chấp nhận, nuôi dưỡng, phát triển nó, vậy là bại trận nhưng tệ nhất là mình còn không biết là bại trận, đó là đại bại, mình thất bại thì thấy tàm quý, nhục nhã còn đằng này chẳng những không thấy tàm quý, nhục nhã mà còn lấy đó làm vinh hạnh thì thật là tệ hại.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô thường. Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô ngã. Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng bất tịnh. Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng nguy hại. Mọi người phải nhớ chữ thực hành tích tập, chẳng những thực hành mà còn gom góp, chất chứa, tụ tập các tưởng cho dày cứng, lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển quảng đại thành căn cứ địa, thành cỗ xe trong tâm của mình, bất cứ khi nào tiếp xúc với cái gì cũng thấy vô ngã, nhìn cái gì cũng thấy vô thường, gặp cái gì cũng thấy tính chất nguy hiểm và tác hại trong đó. Khi đọc tin tức cướp giật, giết người, ngáo đá… chỉ thấy sự nguy hiểm của dục tham, sự tàn hại của cảm giác, hết sức nguy hiểm cho những cảm giác, hết sức nguy hiểm cho những sân hận này, thật là đau khổ, thật là tai hoạn, ách nạn, khổ nạn cho ta và tất cả hữu tình chúng sanh trong dục, tham, ái, sân si, bản ngã này. Những cái này là ác độc, nguy hiểm, đau khổ… Mình phải tích tập những cái tưởng cho lớn mạnh, kiên cố vững chắc, chính những cái này mới làm mình thoát ra khỏi những sự phù phiếm giả dối, bèo bọt trong cuộc đời vô nghĩa, vô tình này. Huynh đệ thân thích nhau mà lỡ nói một câu chạm tự ái là không nhìn mặt nhau, từ mặt nhau không nói chuyện, thành ra rất đau lòng, sự thật của ngũ uẩn này rất phũ phàng, vợ chồng, anh em yêu nhau rồi cuối cùng lại đưa ra tòa xử nhau, thậm chí đi đến mức vợ chồng phân xác nhau nên đời này là giả dối, trống rỗng, không có gì là thật. Mọi tuồng diễn đều do ngũ uẩn dựng lên, do tham sân si, vô minh và bản ngã dựng lên, không có gì thật trong này mà chỉ là sự trống rỗng. Vị thượng tọa chánh văn phòng cho Minh Thành xem hình một Tăng sinh trường mình mới 27 tuổi mà bị ung thư, mặt mày sáng sủa, hiền lành mà chết rồi. Thật là tội nghiệp! Không phải một người bị như vậy mà vô số người nhưng mình không nhìn thấy, mình nghĩ đó là chuyện của người khác, mình thì vẫn còn lâu lắm, đó là sự vô minh chấp thủ nặng nề. Cho nên tâm chúng ta sẽ thực thành tích tập với tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng nguy hại. Tập nhìn cái gì cũng thấy có sự nguy hiểm và tác hại trong đó, nhìn những cái ác bất thiện pháp rồi phát triển sự quán chiếu nguy hại để mình ghê sợ, viễn ly, xa lìa nó, tập quán cho thâm sâu bốn đề mục này, tư duy, nghiền ngẫm liên tục thì mới phát sanh trí huệ, thể nhập thánh, còn cái phàm tình đã dày đặc vô lượng vô biên kiếp mà mới vào nghe pháp lại đòi hoát nhiên đại ngộ thì làm gì có chuyện này xảy ra. Đức Thế Tôn nói trong kinh Nikāya, trong giáo pháp của ta không có chuyện bất thình lình chứng ngộ mà phải tuần tự, có thứ bậc, có đạo lộ, còn những cái ồ ạt chứng ngộ không phải pháp của Đức Phật.
Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX) A-Tu-La Pahàràda)
Pháp của Đức Phật phải có sự tuần tự phá các lậu hoặc, tham sân si và bản ngã. Có nhà nào 100 tầng chỉ cần thổi một cái qua buổi sáng là xây xong không? Bất thình lình xây xong ngay lập tức không? Phải xây nền móng vững chắc.
Sau khi biết được thế giới thăng bằng và không thăng bằng, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy. Sau khi biết được thế giới sanh khởi và đoạn diệt, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy. Sau khi biết được thế giới tập khởi và chấm dứt, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy. Tất cả những cái này đều nói lên sự tập khởi và đoạn diệt của ngũ uẩn, từ thế giới tức là ngũ uẩn mà ngũ uẩn tức là thân này. Câu trên nói về sự tập khởi của sắc thân này, của thế giới này và sự đoạn diệt của thế giới, mình phải thấy được duyên sanh và duyên diệt của nó. Chúng ta nhìn thấy Trái Đất to lớn như vậy mà chỉ cần một con virut quét qua, con virut nhỏ đến nỗi mắt thường không nhìn thấy được nó là toàn bộ dân chúng khốn khổ, tính đến hôm nay thế giới có 29 triệu ca nhiễm Covid-19, gần 1 triệu người tử vong, đây là những con số được báo cáo, người ta ước tính số người chết vì đại dịch Covid-19 không được báo cáo có thể còn cao hơn nữa. Ngay tại California, San Francisco, San Jose (USA) bị cháy rừng, người dân ở đó nghĩ mình đang ở trên sao Hỏa vì bầu trời đỏ rực một màu đỏ vì lửa. Năm 2020 là năm đại thảm họa trên toàn cầu, động đất, lũ lụt, hỏa hoạn, thiên tai, dịch bệnh… để chúng ta nhìn thấy sự thật vậy mà cũng không thấy, cũng mê muội đi chơi rồi rước dịch bệnh về nước, ở trong nhà chịu không nổi, trong thân tâm thúc giục phải đi ra ngoài để rồi bị lây bệnh. Ở các nước phát triển nếu người dân nghiêm túc thực hiện việc đeo khẩu trang, cách ly tại nhà như Châu Á của mình thì việc lây lan dịch bệnh được giảm bớt rất nhiều nhưng họ không đồng ý, họ muốn tự do, muốn đi thì đi, không ai được ngăn cản nên dịch bệnh lây lan khó kiểm soát, vì thế sự tu học kinh Nikāya là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham thì chấm dứt đau khổ. Đạo lộ rất rõ ràng như vậy mà không chịu tu học thì còn đòi hỏi gì nữa? Tất cả những cái đau khổ của mình đều xuất phát từ sự thúc giục trong nội tâm, nhiếp phục được nó, đoạn tận được nó thì đi đến chỗ diệt khổ. Sự khổ của mình nhiều hay ít, dày hay mỏng, sâu hay cạn, lớn hay nhỏ đều phụ thuộc vào việc nhiếp phục dục tham ở mức độ nào, con người ít tham thì ít khổ, người tu là phải an bần lạc đạo, thiểu dục tri túc chứ tu mà cứ than nghèo khổ, cái này lạ quá, gọi các thầy là khất sĩ, nghĩa là người ăn xin, xuất gia là kẻ không nhà. Mình không học đàng hoàng, không nhận định rõ vị trí của mình nên làm gì có tiền mà nói giàu nghèo ở đây? Dù cho xây một cái chùa trị giá tỉ đồng cũng không phải của riêng ai mà nói chùa này giàu hay nghèo, chùa này thuộc về Đàn-na tín thí vì chính họ góp tiền công đức xây dựng, khi nghe Phật tử nói chùa này giàu hay nghèo thì các thầy trụ trì, các thầy trị sự phải chỉnh sửa lại để các Phật tử hiểu chuyện, chùa này không phải của thầy mà là của thập phương thường trụ, nếu không chỉnh cho họ thì họ hiểu sai rồi mình cũng bị cái sai của họ lôi kéo. Phải nắm vững tinh thần này, chùa này của quý vị, không có khái niệm chùa giàu hay nghèo.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng đoạn tận. Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ly tham. Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng đoạn diệt. Tâm chúng ta chấm dứt những dục, tham, ái trong những cái vô thường, tạm bợ, bất tịnh, giả dối, hư ảo, trống rỗng này. Thân này là trống rỗng, trong đó chỉ có một đống tham sân si, vô minh và bản ngã chứ không có ai trong đó, duyên sanh pháp sanh ra dục, tham, sân si, bản ngã, tranh đấu rồi cuối cùng vào hòm, đời sau lại vào một cái thân, sanh ra cũng lại tham sân si, bản ngã, giành giật, tranh đấu rồi cuối cùng cũng chết, cái vòng lặp lại lẩn quẩn.
Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Không thể nói được chỗ khởi điểm đối với những chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột vì nó vô cùng vô tận. Cứ vô minh, tham ái, chấp thủ, tham sân si không có ngày chấm dứt chỉ trừ khi nào thành tựu tri kiến của bậc thánh (chánh tri kiến), sự thấy biết chân chánh, thánh trí tuệ thì mới có khả năng đi ra khỏi những cái đó, gọi là hướng Dự lưu, tức là người đã bắt đầu muốn đi ra khỏi ngũ uẩn thì người đó là bậc hướng Dự lưu, là thánh quả thứ nhất trong hàng bốn đôi tám chúng. Nhìn thấy sự vô thường, vô nghĩa, trống rỗng, bất tịnh của ngũ uẩn này, đời sống này, của vô minh, tham ái, chấp thủ này nên các ngài phát tâm không ưa thích, không muốn nữa, chỉ nhàm chán, từ bỏ, có tâm xác quyết đi ra khỏi nó là bắt đầu từ hướng Dự lưu cho đến Nhập lưu thánh quả thứ nhất, được liệt vào bốn đôi tám chúng hiền thánh, đó là chân chánh đệ tử của Đức Phật. Đó mới thật sự là đệ tử chân chánh của Đức Phật, còn dù cho hình thức là tu sĩ, có thọ giới, có pháp danh rồi mà vẫn còn thích sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì cũng chưa gọi là đệ tử chân chánh, chưa gọi là thánh đệ tử của Đức Phật. Thánh đệ tử thật sự là phải tham dự vào hàng bốn đôi tám chúng, mà hàng bốn đôi tám chúng là đầu tiên phải thấy năm uẩn, nhàm chán năm uẩn, muốn từ bỏ, chấm dứt và thoát ra khỏi năm uẩn, đó gọi là bốn đôi tám chúng hiền thánh của Phật. Còn ưa thích, đam mê, say đắm, còn bị buột chặt, nắm giữ thì vẫn còn là vô văn phàm phu, chưa được xem là đệ tử thật sự của Đức Phật, còn người nào vẫn còn tóc là cư sĩ nhưng thành tựu được trí huệ này thì người đó vẫn là hàng bốn đôi tám chúng vì cư sĩ có thể chứng đến quả thứ ba là Bất lai quả, vì thế đừng xem thường những vị cư sĩ tu học Nikāya có thể chứng thánh quả cũng đường vội nghĩ thầy nào cũng giỏi, vẫn có khả năng rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cho nên không thể căn cứ vào hình thức để đánh giá việc tu học, hình thức là hình thức còn chất lượng thực sự bên trong mới quan trọng, chất lượng đó lấy việc ly tham, từ bỏ, chấm dứt đối với ngũ uẩn làm thước đo cho chất lượng đó.
Tuyệt diệu là thánh pháp này!
Minh Thành chỉ mới nói một uẩn là sắc uẩn, ngoài ra còn bốn uẩn nữa. Muốn từ bỏ những cảm giác sâu sắc bên trong không phải là chuyện dễ dàng, cảm giác yêu thích, ái, dục trong nội tâm không phải chỉ dùng để nói đối tượng bên ngoài mà tự thể thân mình cũng ái, chỗ ngồi của mình cũng ái.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
1:06:2
https://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu3-22g.htm
LINH QUY CẢNH SÁCH
Thích Minh Thành
Kính thưa đại chúng, chúng ta vừa hoàn thành thêm một tuổi đạo, gọi là hạ lạp hoặc tuổi hạ. Minh Thành chúc mừng các thầy lớn mạnh trong pháp và luật của Đức Thế Tôn sau ba tháng An Cư. Chúng ta làm sao trong ba tháng phải có chân đứng trong pháp và luật, thật sự để làm được điều này rất khó đối với người xuất gia. Chúng ta phải có sự băn khoăn, lo lắng, ưu tư, khắc khoải trong lòng để làm sao mình có thể tăng trưởng, phát triển, hướng thượng trong pháp và luật. Nếu mình không có ưu tư, không có khắc khoải, không ray rứt, thao thức, nhiệt tâm tinh cần thì sự tu học sẽ dậm chân tại chỗ chứ chưa nói đến việc lùi lại, rơi xuống, trong kinh dùng từ thối đọa. Chúng ta phải có rất nhiều sự ưu tư trong sự tu học, phải có rất nhiều sự ưu tư và lo lắng, đại đa số mà thường là phần lớn chúng sanh sống trong vô minh, tham ái, chấp thủ, buông lung phóng dật, ngay cả người xuất gia nếu không có sự thấy biết chính xác, không có sự tinh cần tinh tấn thì vẫn ở trong trạng thái của buông lung phóng dật mà không biết. Bất cứ lúc nào tâm không an trú trong Tứ Niệm Xứ đều ở trong buông lung phóng dật, điều này mới được Minh Thành phát hiện sau 30 năm tu học nên rất bất ngờ. Bất cứ khi nào tâm mình không có sự niệm thân (Thân Hành Niệm): Niệm oai nghi, niệm hơi thở, niệm tứ đại, niệm hành động, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn tử thi thì lúc đó đang buông lung phóng dật. Bất cứ lúc nào không an trú trong các cảm thọ, không quán chiếu cảm giác, cảm xúc, không nhìn thấy sự vận hành, sanh khởi, an trú, biến đổi và chấm dứt của các cảm thọ thì lúc đó mình đang buông lung phóng dật. Bất cứ lúc nào mình không thấy được tâm mình đang ở trong trạng thái rộng lớn, nhỏ hẹp, thấp kém hay cao thượng, không thấy tâm đang ở trong trạng thái có tham hay không có tham, có si hay không có si, có sân hay không có sân thì lúc đó mình đang buông lung phóng dật. Bất cứ lúc nào không quán pháp trên pháp, không thấy sắc; thọ; tưởng; hành; thức đang như thế nào, không thấy thất giác chi sanh khởi, có mặt hay không có mặt, không biết trong tâm đang có năm căn, năm lực hay không thì lúc đó mình đang buông lung phóng dật. Đây là sự thật mà sau khi phát hiện Minh Thành rất bàng hoàng, mấy chục năm xuất gia ở trong buông lung phóng dật, vô minh mà không biết. Không phải đợi đến khi cười to nói lớn, đi nhanh, cười giỡn mới gọi là buông lung phóng dật, cái đó chỉ là phàm phu pháp, không phải là pháp của thánh nhân, cái đó người đời nhìn vào cũng biết. Buông lung phóng dật là ngay khi ngồi trên bồ đoàn mà tâm không an trú trong pháp để ngủ gục, tâm đi lang thang, buông thả không thực hành pháp, cái này vẫn gọi là buông lung phóng dật dù cho đang ngồi trên bồ đoàn, chỗ này rất thâm sâu nên mọi người cần chú ý thật kĩ.
Không phải ngồi trên bồ đoàn là tu, là tinh tấn. Vì vậy tu tập từ từ sẽ thấy pháp rất sâu sắc, nói cái thô nhất là việc cười nói, giỡn hớt không có oai nghi, tế hạnh thì đó là không buông lung phóng dật, cái này nói ra ai cũng hiểu nhưng không phải Phật pháp, cái đó người thế gian nhìn cũng biết nên rất bình thường. Tiến lên thêm một chút, có một người rất siêng năng quét sân, nấu nướng, xây dựng… nhưng vẫn buông lung phóng dật. Sao lạ kì vậy? Người đó làm nhưng không thấy ngũ uẩn, làm mà không thấy sự vận hành của tham dục, tham ái, chấp thủ, làm mà cứ chạy theo những cái cảm thọ để khoe khoang, để phát huy cơ sở vật chất, ngã và ngã sở thì vẫn là buông lung phóng dật. Cái pháp bắt đầu đi sâu hơn, những người phục vụ làm này làm kia cho khách, nếu nhìn bằng con mắt thế gian sẽ thấy đó là tốt nhưng đối với pháp nhãn, đạo nhãn, trí nhãn chưa chắc là tốt vì họ làm với động cơ gì? Vì danh lợi, có ta đây, tham ái, chấp thủ trong việc làm không, dù đây là thiện pháp nhưng có liên hệ đến mục đích xuất gia không? Tất cả các bài kinh Đức Phật giảng đều hỏi có liên hệ đến mục đích không? Mà mục đích ở đây chính là yểm ly, ly tham, đoạn diệt, xuất ly, giác ngộ, thắng trí Niết-bàn, tức là phải nhàm chán, ly tham đối với ngũ uẩn mới là liên hệ đến mục đích của người xuất gia. Trong kinh nói ưa thích công chuyện là một trong những pháp thối đọa của Tỳ-kheo chứ không phải nhìn thấy người đó siêng năng là tốt, nếu nhìn bằng con mắt thông thường đó là thiện pháp, là tốt nhưng với con mắt pháp chưa hẳn tốt vì làm như vậy sẽ bỏ phế thiền định, bỏ phế giới đức, bỏ phế thánh trí tuệ, sâu sắc như vậy đó nên Minh Thành muốn đưa những điều cốt lõi cho các huynh đệ để nắm được tinh thần của pháp.
Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là sáu?
Ưa công việc,
Ưa nói chuyện.
Ưa ngủ.
Ưa hội chúng.
Các căn không phòng hộ.
Ăn uống không tiết độ.
Sáu pháp này, này các Tỳ-kheo, đưa Tỳ-kheo hữu học đến thối đọa. (Tăng Chi Bộ, Chương VI – Sáu Pháp, IV. Phẩm Chư Thiên, (I) Hữu Học)
Bây giờ hay tổ chức cái này cái kia, có đủ các loại hình hoạt động suốt ngày đêm, đứng về phương diện bên ngoài là tốt nhưng phải xem lại bên trong, tâm mình có bị dính mắc tham ái không, nếu có dục tham ái, có sự dính mắc chấp thủ vào đó thì không tốt, hiện tại dịch bệnh tràn lan nên nội bất xuất, ngoại bất nhập thì phải xem tâm mình có thúc giục muốn đi đây đi đó không, phải quán chiếu ngay chỗ này, ở nhà hoài không được đi đâu nên có khó chịu không, nếu khó chịu là có dục ái, hữu lậu trong đó, đây là cơ hội để nhìn lại thân tâm của mình. Bây giờ mình làm việc, đi học, tổ chức các lễ hội, chương trình quen rồi mà giờ không làm thì thấy thiếu thốn, khó chịu nên phải tìm cái này cái kia để làm, trong khi ngồi thiền thì không chịu ngồi, học pháp thì không nghe vô đầu được, đó là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Ngay cả việc tổ chức, làm các thiện sự nhưng nếu không liên hệ đến mục đích thì vẫn không phải là thiện pháp xuất thế mà chỉ là thiện pháp của thế gian, không liên hệ đến Niết-bàn, tức là không liên hệ đến dập tắt dục ái, tham sân si, vô minh và bản ngã. Đại đa số bây giờ lại ưa thích thiện pháp thế gian, nếu không nhìn thấy được ngũ uẩn, không thường soi rọi lại thân thể, cảm giác, nội tâm và những thứ đang sanh khởi, vận hành, xâm chiếm, áp đảo trong ngũ uẩn thì chắc chắn mình sẽ chạy theo bên ngoài, sống với sắc; thanh; hương; vị; xúc bên ngoài, sống với pháp trần; thọ; tưởng; hành bên trong chứ mình không đặt nặng việc sống với pháp, mà pháp là sự ly tham đối với những thứ kể trên, sự quán chiếu để từ bỏ, xả ly, đoạn ly, chấm dứt, thoát ra khỏi những thứ đó là thánh trí huệ. Người nào thường sống với điều này, an trú trong đó, tư duy thường xuyên trong đó thì người đó có chân đứng trong pháp và luật của Như Lai, vì vậy mà sự tu học rất sâu sắc chứ không hề đơn giản như mình vẫn nghĩ. Có một người siêng năng tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền nếu nhìn thông thường là thiện pháp nhưng nhìn sâu vào nữa thì động cơ làm những thứ này vì cái gì? Có liên hệ đến mục đích không? Việc làm thì giống như nhau nhưng cái tâm khi làm hướng về điều gì lại khác hoàn toàn, có những người đi làm từ thiện lại bòn rút tiền từ thiện, hay đi làm từ thiện để đánh bóng tên tuổi, họ có ý khác khi làm từ thiện chứ không hoàn toàn chỉ là giúp người, cũng gọi là giúp nhưng trong cái giúp đó còn có ý khác nữa. Sự tu của mình cũng phải trạch pháp sâu sắc, xem sự thực hành của mình hướng về điều gì? Có cầu danh lợi không hay hướng đến sự ly tham, hướng đến sự thành tựu thánh trí tuệ? Học kinh, học pháp là vì bằng cấp hay học vì sự cầu thánh pháp, thánh trí tuệ? Đây là những cấp độ bắt đầu đi sâu vào pháp, bây giờ giữa thánh trí tuệ, đắc pháp với bằng cấp thì chọn cái nào? Đây là chỗ cần suy xét sâu sắc.
Này các Tỳ-kheo, do đoạn diệt bảy pháp, thành vị Sa-môn ...
Do vất bỏ bảy pháp, thành vị Bà-la-môn ...
Do tiêu diệt bảy pháp, thành vị an lành ...
Do gột sạch bảy pháp, thành vị đã gột sạch ...
Do biết rõ bảy pháp, thành bậc có trí ...
Do phá hoại kẻ thù bảy pháp, thành vị Thánh ...
Do chặn đứng bảy pháp, thành vị A-la-hán.
Thế nào là bảy?
Chặn đứng kiến có thân.
Chặn đứng nghi,
Chặn đứng giới cấm thủ.
Chặn đứng tham.
Chặn đứng sân.
Chặn đứng si.
Chặn đứng mạn.
Do chặn đứng bảy pháp này, này các Tỳ-kheo, thành vị A-la-hán. (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, IX. Phẩm Các Kinh Không Nhiếp, (I) Sự Phá Hoại)
Kiến có thân tức là thân kiến, kiến là kiếp chấp, có thân là hữu ái. Nói cho dễ hiểu gọi là kiến chấp có thân, nếu không phá được cái nào trong bảy cái trên thì không phải là người tu, phải phá được đôi phần trong bảy pháp này mới được. Thứ nhất phá hoại kiến có thân, kiến này là kiến chấp. Chúng ta học đến năm thứ tư rồi mà vẫn chưa được học Bát Chánh Đạo vì cửa đầu tiên của Bát Chánh Đạo là bậc Tu-đà-hoàn, Dự lưu quả, chỉ vừa thành tựu chánh kiến thôi đã Nhập lưu, vì vậy Bát Chánh Đạo rất khủng khiếp chứ không đơn giản như mình biết Bát Chánh Đạo là chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp…. là coi như xong, chỉ vừa vào cửa chánh kiến đã là thánh quả thứ nhất Dự lưu Tu-đà-hoàn mà cửa thứ nhất chính là phá thân kiến, cho nên chưa thành tựu chánh kiến nên phải học để thành tựu chánh tri kiến. Thế nào gọi là kiến chấp có thân? Cho rằng hình hài này là tôi, những thứ xung quanh là của tôi, con mắt này là của tôi, lỗ tai này là của tôi, mũi là của tôi, miệng, lưỡi, thân này là của tôi, chiếc xe, đồng hồ đó là của tôi, chỗ ở, cái gường, tủ, đồ đạc trong đó là của tôi, cái chùa, tịnh thất, thiền viện này là của tôi… cái này chỉ mới là sắc thủ uẩn, nếu phá được cái này chỉ mới phá được một uẩn thôi. Sự tu học đúng theo Đức Phật rất thâm sâu chứ không đơn giản một ngày lên tụng hai thời là xong, đâu có đơn giản như vậy, tu là tẩy sạch hoàn toàn nhận thức sai lầm về thân, về sắc pháp, sắc uẩn. Minh Thành mời mọi người xem Hiếu Hạnh Của Người Tu-Sự Ra Đi An Lành Của Mẹ 6, con đem cái mâm tro cốt của mẹ ra rồi khóc chấn động thiền đường, khóc không phải vì sự yêu thương thường tình mà còn là vì sự thật chánh quán của sắc uẩn hiện bày một cách quá phũ phàng, hôm đó thành một buổi thiền quán. Tức là hình hài của mẹ mình chỉ còn lại cát bụi, nếu không có tấm hình thì nhìn vào đống cát bụi đó biết ai là ai, không có tấm hình cũng không nói đây là tro cốt của mẹ tôi thì đống tro cốt đó là cái gì, ai biết nó là cái gì? Nó chỉ là cát bụi mà thôi nhưng hôm qua là một con người có tên tuổi, có mặt mũi, có quê hương, còn hôm nay trở thành đống cát bụi. Như vậy cái gì gọi là cái thân thật sự? Chỉ là tứ đại đất; nước; gió; lửa kết hợp lại rồi tan rã ra, cho nên cái nhìn cho rằng mấy chục kí lô thịt này là tôi, là của tôi thì cái nhìn đó là vô minh, từ vô minh đưa đến tham ái và chấp thủ, từ vô minh, tham ái và chấp thủ đưa đến tham sân si, sầu, bi, khổ, ưu, não và nó lẩn quẩn trong đó mãi không đi ra nổi, khi cái thân này tan hoại thì lại chạy đi tìm cái thân khác gọi là kiến có thân. Nó ưa thích việc phải có thân cho nên sau này khi Minh Thành đi sâu vào kinh tạng Nikāya, thực tập quán chiếu cảm thấy rúng động trước hai chữ hữu ái, thật sự rất khủng khiếp, lấy điều này làm thước đo thánh-phàm. Hữu ái là ưu thích sự hiện hữu, cho nên có thực trạng tu để đời sau được cái này, được cái kia để hưởng thụ, đó là tri kiến của phàm phu. Còn tri kiến bậc thánh là chấm dứt hữu ái vì tất cả sự hiện hữu đều là khổ đau, dù cho hiện hữu ở hình thức nào thì cũng là khổ đau, sự hiện hữu đó từ dục và vô minh, từ tham ái, bản ngã, chấp thủ và tham sân si cho nên có sự yêu thích hiện hữu, phá được cái này thì mới Nhập lưu vào thánh quả thứ nhất, đây là chỗ cực kì thâm sâu của giáo pháp, có khi ở suốt đời trong chùa cũng không chạm tới được trí tuệ này: Chấm dứt tất cả hình thức trong ngũ uẩn là trạng thái của Diệt Đế. Đức Phật giảng trong Tương Ưng Bộ, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là khổ, thế nào là nguyên nhân của khổ? Dục, tham, ái đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức là nguyên nhân của khổ.
Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về Khổ, Khổ tập khởi, Khổ đoạn diệt, Con đường đưa đến khổ đoạn diệt. Hãy lắng nghe.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Khổ? Phải trả lời là năm thủ uẩn. Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn... thức thủ uẩn. Ðây gọi là Khổ, này các Tỳ-kheo.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Khổ tập khởi? Chính là khát ái này, đưa đến tái sanh... phi hữu ái. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Khổ tập khởi.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Khổ đoạn diệt? Chính là sự ly tham, đoạn diệt không dư tàn khát ái ấy, sự xả ly, sự từ bỏ, sự giải thoát, sự thoát ly chấp trước. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Khổ đoạn diệt.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Con đường đưa đến khổ đoạn diệt? Chính là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến... chánh định. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là Con đường đưa đến khổ đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I, Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, I. Phẩm Biên, II. Khổ)
Mình còn ưa thích, đam mê, yêu thích trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức, tức là hữu ái còn ưa thích ngũ uẩn thì còn những cái thân ngũ uẩn tiếp tục. Chỗ này mới trả lời được khi vua Tịnh Phạn nói Thái tử đừng đi tu, ở cung điện làm các việc công đức để hưởng thụ, đi tu làm gì thì Thái tử nói nếu phụ vương cho con đừng già, bệnh, chết, đừng sầu, bi, khổ, ưu, não thì con sẽ ở lại không đi tu. Chính chỗ đừng sanh, già, bệnh, chết tức là muốn đi ra khỏi hữu ái cho nên mình mới thấy sắc ái, hữu ái, vô sắc ái.
Này các Tỳ-kheo, nếu ba pháp không có mặt ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp, Luật được Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Thế nào là ba?
Sanh.
Già.
Chết.
Này các Tỳ-kheo, nếu ba pháp này không hiện hữu ở đời, thời Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác không xuất hiện ở đời, và Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng không được nêu rõ ở đời. Vì rằng, này các Tỳ-kheo, ba pháp này có mặt ở đời, do vậy Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, do vậy, Pháp, Luật do Như Lai thuyết giảng được nêu rõ ở đời. (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VII. Phẩm Ước Nguyện, (VI) (76) Không Thể Tăng Trưởng)
Mình yêu thích trong cái sắc, không đi ra khỏi nó, mình đi tu nhưng đến chùa đẹp thì thích, thấy cảnh đẹp phải chụp lại đăng lên mạng xã hội thì mình bị dính mắc trong sắc, không chứng đạt được cái sắc đó là vô thường, trống rỗng, khổ, vô ngã. Có nói thì chỉ nói trên miệng, trong lý thuyết còn sự thật để thẩm thấu, thấu triệt một cách hoàn toàn chứng nhập thì chưa làm được, cho nên khi vô thường đến thì tự thân mình đau khổ rồi những người thân của mình cũng đau khổ, Minh Thành quán chiếu hằng ngày, hằng giờ sự vô thường, khổ, vô ngã, cái chết nên khi mẹ chết trên tay vẫn không chảy nước mắt, vẫn chánh niệm tỉnh giác hướng dẫn cho mẹ xả ly ngũ uẩn trong giờ phút đó cho đến xong mọi chuyện, đến khi cần cảm thọ bung ra để nhắc nhở Tăng Ni sự hiếu hạnh của người tu là sẽ bung ra, khóc chấn động thiền đường. Sự hiếu hạnh này rất quan trọng vì người tu thường hiểu lầm, đi tu rồi là không còn liên lạc gì nữa với cha mẹ, liên lạc với Phật tử nhiều hơn, nhất là những người cúng dường nhiều hoặc dành nhiều tình cảm, đó là sự bất hiếu. Cho nên Minh Thành khai triển sự hạnh hiếu của người xuất gia đến 10 buổi học cho tất cả Tăng Ni và Phật tử trên Linh Quy để họ nhìn nhận lại cái hiếu hạnh của mình, rà soát, kiểm điểm lại sự tu học trước nay của mình đối với chữ hiếu của người tu, lúc đó tự nhiên có rất nhiều sự thú tội, cha mẹ gọi điện thoại thì viện cớ bận việc không nghe, thậm chí ba của cô này không dám vào chùa thăm vì con đi xuất gia mà chỉ có thể đứng ngoài cửa trông ngóng bóng dáng con rồi khóc, mỗi ngày đều như vậy cho đến khuya, nửa đêm, 2h đêm cha thức dậy lạy, cầu xin cho con tu hành thành tựu rồi nhớ thương cho đến chết. Thật sự rất xúc động, mọi người hãy về nghe, Minh Thành chỉ là người khơi gợi để tất cả Tăng Ni, Phật tử nhìn nhận lại sự hiếu hạnh thật sự của người tu là như thế nào, nó hoàn toàn không giống như mình nghĩ. Có nhiều người nghĩ rằng không về nhà, không liên lạc là tốt nhưng không phải vậy, không về nhà thì làm gì? Không liên lạc điện thoại với cha mẹ nhưng lại liên lạc với ai? Không chia sẻ, nhắc nhở, khuyến tấn cha mẹ tu tập, không có tín – giới – văn – thí. Tại sao đấng sinh thành của mình là những bậc thiêng luân, tức là tình cảm thiêng liêng luân lý đạo đức, đáng lẽ phải được chia sẻ với tất cả những gì tốt nhất của mình tu học được mà mình lại không chia sẻ, không chăm sóc lại đi chăm sóc cho người dưng, thành ra đây là việc mình cần kiểm tra lại kĩ càng, nền tảng không có nên hiểu sai hết. Cho nên người tu không phải là người vô trách nhiệm, không phải là người không có bổn phận, không phải là người vong ơn bội nghĩa, bất nhân bất hiếu. Minh Thành mong rằng đại chúng chịu khó xem hết các tập Sự Ra Đi An Lành Của Mẹ để nhìn nhận lại, còn không khéo cả hai đường đều mất, sự hiếu thảo ngoài đời không còn, hiếu trong đạo cũng không có gì hết.
Để người tu xứng đáng là người tu thì điều đầu tiên là phải phá được thân kiến, Minh Thành rất muốn chia sẻ những điều căn bản đạo đức với đại chúng nhưng có lẽ lớp Ni phù hợp hơn lớp Tăng vì bên Tăng không chú ý lắng nghe, ở trên nói thì ở dưới cũng nói nên không thể chia sẻ hết tấm lòng, mình không còn gặp nhau bao lâu nữa nên tùy duyên, được bao nhiêu hay bấy nhiêu, còn ở lớp Ni trang nghiêm, lắng nghe nên chia sẻ được đầy đủ hơn. Thật sự rất khó nói, người tu bây giờ rất khó nói, vì những điều đạo đức căn bản mà không thành tựu thì không thể đi vào dòng pháp Nikāya, nhất định người đó phải có đạo đức tốt mới vào được còn không sẽ chống đối, vì đi vào dòng pháp này sẽ triệt phá toàn bộ dục, tham, bản ngã của tự thân và mình sẽ không chịu nổi, bị dội ra, chỉ thích tu những pháp ngọt ngào, êm ái, còn dục, còn danh lợi. Còn cái pháp triệt để, trực chỉ đánh phá vào tham sân si, bản ngã sẽ không chịu nổi vì đạo đức căn bản mình không thành tựu, không tôn trọng cung kính, không có hiếu hạnh, tình nghĩa thì mình sẽ không đi lên pháp của hiền thánh. Con người còn làm không được thì làm sao bước lên bậc hiền thánh giả? Tiêu chuẩn làm người không đạt được thì làm sao bước lên bậc hiền, bậc thánh? Tiêu chuẩn làm người là thầy-trò, cha mẹ hiếu thuận, cung kính tôn trọng, nhân nghĩa, đạo đức… những điều này rất quan trọng, còn giờ cái nào cũng chung chung hết thì làm sao đây? Bị hỏng chân từ đầu, nền tảng, nền móng không có, chỉ nói trên trời dưới đất mà làm học trò chưa xong, đạo đức của người con trong gia đình không đầy đủ thì làm sao tu? Rồi còn muốn chúng sanh vô biên thệ nguyện độ, nói láo thôi, chỉ có sự trống rỗng. Chính chỗ đó làm hư hết đời tu, cho nên sự giáo dục và đào tạo của mình cần phải kiểm tra lại, hỏng hết bao nhiêu thế hệ, vì vậy những điều căn bản là cực kì quan trọng, Minh Thành rất muốn chia sẻ nhưng thấy không được, chỉ có thể nói với những người tha thiết tu học trên Linh Quy, ngoài ra không thể nói được cho ai khác. Vì nói sẽ đụng chạm bản ngã, đụng chạm cái tôi nên không ai muốn nghe, không ai muốn học, chẳng những không tiếp thu mà còn sân hận, chống đối, vậy là phản tác dụng. Cho nên những điều này Minh Thành nói bằng tấm lòng, các huynh đệ phải kiểm tra kĩ những điều này, những sư đệ, học trò sau này của mình phải được dạy thật kĩ về đạo đức, nhân nghĩa, làm con người tốt đã rồi sau đó mới học pháp. Báo chí, các phương tiện truyền thông đã phản ánh rất nhiều về vấn đề người tu, người dân mất tín tâm với Tam Bảo vì người tu bây giờ không lo phá thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, tham sân si, ngã mạn mà cứ lo hướng ra bên ngoài để làm sao chùa được to đẹp, cảnh cho đẹp để bá tánh thập phương về chiêm bái cho đông rồi cuối cùng trong bên trong thân tâm bị hỏng, không tăng thượng giới đức –thiền định – trí tuệ, không có chất liệu của người xuất gia mà cứ lo hướng ra bên ngoài để phát huy màu sắc, những sự lòe loẹt của hình thức bên ngoài. Lại gần những người này chỉ bốc lên cái mùi của tham sân si, không có hương thơm của giới hạnh – thiền định – trí tuệ, của sự giải thoát mà lại bốc lên mùi danh lợi nồng nặc. Đến chùa chỉ toàn nghe cúng tiền, các công trình trị giá tiền tỉ, Đức Phật có dạy như vậy không? Bây giờ nhìn lại rất xót xa nên phải cẩn thận, mình đi sai đường Phật dạy, trong khi Phật bỏ cung vàng điện ngọc, địa vị, danh lợi vậy mà bây giờ mình chỉ cần vẽ bảng hiệu là trị giá hàng chục tỷ rồi kêu gọi cúng dường xây dựng, nói đến thì bảo là làm vì Tam Bảo, làm vì Phật sự, Phật pháp. Cần xét kĩ lại trong đó có dục, tham, ái trá hình, dẫn mình đi vào ma đạo cho nên cần phải cẩn thận trong sự tu học, làm việc. Trong mùa dịch người dân nghèo khổ vì thất nghiệp, làm không ra tiền, mình nói chùa là cửa từ bi, phải đem pháp, đem tình thương thật sự giúp đỡ cho họ, cưu mang họ trong những lúc khó khổ, còn mình ngồi thiền mà cứ tính toán dự án này, công trình kia thì cái đó có gọi là thiền không? Vậy mà mình không thấy, bị lừa gạt, chỉ có con mắt tròng vàng của Tôn Ngộ Không mới nhìn ra được yêu tinh, mắt thường của Đường Tăng nhìn không thể thấy được, đó là yêu tinh trong tâm mình, nó trá hình, biến hiện ra những hình ảnh hiền từ, mặc lên những chiếc áo của đạo đức nhưng bên trong là dục, tham, ái, là bản ngã, danh lợi. Mình phải nhìn cho sâu sắc, đây gọi là (51: 38) trân phả vạn na, gọi là chánh pháp nhãn, vì vậy mà xin thưa đại chúng là những lời Minh Thành chia sẻ bằng cả trái tim tấm lòng, các thầy ngồi đây không phải học cho tự thân các thầy mà sau này các thầy còn hướng dẫn lại cho đệ tử, những người Phật tử của mình nên những lời này các thầy hãy để ý, nếu không mình sẽ đi sai đường của Đức Phật. Pháp của Đức Phật là yểm ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ, còn giờ mình học cái gì? Tu cái gì? Mình hướng đến điều gì? Trong lòng mình còn đầy tham sân si, dục ái thì làm sao mình độ cho người khác hết tham sân si? Bản ngã của mình cao ngút trời thì mình giúp cho ai có thể hết ngã, diệt ngã? Mình buông lung phóng dật, không phòng hộ, hộ trì, thu nhiếp ba nghiệp sáu căn thì mình dạy ai để được trang nghiêm, thanh tịnh? Có người nhìn thì mình làm dáng, lúc ở một mình thì buông thả, buông lung phóng dật thì làm sao thành tựu giới đức? Cho nên phải chân tu thật học rồi đem điều này đền ơn cho cha mẹ, đem sự tu học cúng dường lên Đức Phật mới gọi là đại cúng dường, Phật không cần mình đem đồ vật chất đầy chánh điện mà Phật cần sự tu học chân chánh và đúng pháp, đó là đại cúng dường cho Đức Phật. Trong ba tháng An Cư này trùng với thời điểm dịch bệnh, nhờ xảy ra những sự kiện như vậy phải cấm túc trên núi tu học, ngoài ra còn có việc đại sự là mẹ mất để mình chiêm nghiệm sâu sắc thế gian vô nghĩa, vô ngã, trống rỗng này, không có gì vững chắc. Các huynh đệ xem lại, khi có người tìm mình thì đó là vì lợi ích, vì có chuyện mới kiếm mình, cần mình, xong rồi thì đường ai nấy đi. Còn người đến để cầu đạo, cầu pháp, cầu giải thoát thật sự rất hiếm hoi, cực kì hiếm, thậm chí là không có. Ngay cả biết là việc đó sai nhưng vì lợi ích không dám buông bỏ, học Phật biết đó là sai nhưng bỏ đi thì mất quyền lợi nên không bỏ được. Cứ như vậy thì Phật pháp từ từ hoại diệt, cứ hỏi ra thì nói phương tiện cho nên học những bài kinh này rất hay, đây là những giây phút để mình trở lại gần hơn với Đức Phật, tuy là chưa làm được nhiều nhưng đây là những giây phút đầy cảm xúc, chấn động để nhớ lại Đức Phật, để mình tiếp xúc được với chánh pháp thật sự của Đức Phật, từ đó tu tập thay đổi từ từ, không phải nghe là thay đổi được liền nhưng phải nghe, phải tiếp xúc. Trong Tăng Chi Bộ kinh, bài kinh Xuất Gia được Đức Phật dạy về mười hai điều tâm niệm của người xuất gia, nghe những lời được Đức Phật nói trong kinh rất xúc động vì nó rất gần gũi, thực tế và cụ thể, không có cái gì xa xôi viễn vong.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập như sau:
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập như khi xuất gia.
Các pháp bất thiện được sanh không có chinh phục tâm và không tồn tại.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô thường.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô ngã.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng bất tịnh.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng nguy hại.
Sau khi biết được thế giới thăng bằng và không thăng bằng, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy.
Sau khi biết được thế giới sanh khởi và đoạn diệt, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy.
Sau khi biết được thế giới tập khởi và chấm dứt, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng đoạn tận.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ly tham.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng đoạn diệt.
Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy cần phải học tập. (Tăng Chi Bộ, Chương X - Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (IX) Xuất Gia)
Ngày đầu tiên các thầy vào lớp không giống như bây giờ, không dám nằm dài ra, người thì ngủ người thì nói chuyện giống như vầy, điều này chứng tỏ sự thối đọa của thiện pháp, Minh Thành lấy điều trước mặt chứng minh cho quý thầy thấy, thấy thì nhói tim nhưng nói làm sao được, bây giờ hồn ai nấy giữ, ai ăn nấy no, ai tu người đó chứng, ai đọa thì người đó ráng chịu, nghe và chấp nhận thì sẽ tốt còn không nghe thì thôi. Cho nên điều đầu tiên trong mười hai điều tâm niệm là tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập như khi xuất gia, mình phải hiểu khi mới xuất gia: Rụt rè, cẩn thận, cung kính, e sợ, lo lắng… Đây mới chính là mười hai điều tâm niệm của Đức Phật được nói đến trong Tăng Chi Bộ kinh. Ngày đầu tiên mình bước vào trường đẹp vô cùng, cung kính trang nghiêm vô cùng, thấy những vị giáo thọ sư là cúi đầu, những vị lên núi tập sự xuất gia được một năm, gặp các thầy là cung kính thì con nói phải rán năm năm sau cũng phải vầy là thành công, chứ đừng có đầu voi đuôi chuột. Trong quyển Xuất Gia Toàn Tập có ghi có thủy có chung, có bắt đầu và phải có kết thúc. Tại sao vợ chồng chung sống không hạnh phúc? Vì có đầu mà không có đuôi, lúc đầu lựa lời nói, lựa từng cử chỉ hành động thể hiện ra bên ngoài đến khi về ở chung thì bao nhiêu tập khí bung ra hết, Đức Phật ví dụ việc tu của mình như người vợ mới về nhà chồng cung kính, sợ hãi, hổ thẹn từ cha chồng, anh chồng cho đến người làm công, lựa từng lời để nói, đến chừng ở một thời gian là chỉ dạy từ cha chồng dài dài xuống dưới "mấy người biết cái gì", người tu cũng y như vậy, lúc mới vào thì cung kính các bậc giáo thọ, trưởng thượng nhưng ở thời gian rồi chỉ thẳng vào các vị A-xà-lê "các người thì biết cái gì".
Ví như, này các Tỳ-kheo, người vợ trẻ, trong đêm hay ngày, được đưa về nhà chồng, nàng cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt mẹ chồng, cha chồng, trước mặt chồng, cho đến trước mặt các người phục vụ, làm công. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, nàng có thể nói với mẹ chồng, với cha chồng, với chồng: "Hãy đi đi, các người có biết được gì!".
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây có Tỳ-kheo, trong đêm hay ngày được xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, cảm thấy hết sức xấu hổ, sợ hãi trước mặt các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, cho đến trước những người làm vườn và những Sa-di. Sau một thời gian, do chung sống, do thân mật, vị ấy có thể nói với sư A-xà-lê, với sư Giáo thọ: "Hãy đi đi, các người có thể biết được gì!". (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, (IV) (74) Người Vợ Trẻ)
Cho nên điều đầu tiên của người xuất gia là tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập như khi xuất gia, điều này rất quan trọng. Pháp thứ hai là các pháp bất thiện được sanh không có chinh phục tâm và không tồn tại, các pháp bất thiện sanh ra không chinh phục được mình, không tồn tại trong tâm, như khi sân sanh khởi trong cảm giác được nhìn thấy, nhiếp phục, dùng Như lý tác ý tẩy sạch không để tồn động trong tâm, dục tham ái về người nào hay món đồ nào sanh khởi là phải dùng mọi cách tác động tâm ý để trừ diệt, làm cho sạch sẽ, không tồn tại chinh phục trong tâm, bản ngã và những bất thiện pháp trong tâm sanh khỏi không được để tồn tại. Chỉ riêng điều này thôi mình làm được không? Khi nó sanh khởi lên là bao trùm, chi phối mọi thứ rồi đi theo nó luôn "cái đó nhìn dễ thương quá", nó vào nhà rồi mình cũng không hay biết cho nên sự tu học của mình còn thiếu rất nhiều. Chúng ta thường nghe Tăng hận bất cách túc nghĩa là Tăng (người tu) giận không quá một đêm nhưng đối với Đức Phật khi giận sanh khởi là phải ngay lập tức xóa sạch cái tâm sân hận đó, tẩy sạch tại chỗ. Còn giận cả tuần lễ, cả tháng thì đó là phàm phu, không phải đa văn thánh đệ tử, không phải con của Phật, sống để dạy chết mang theo là vô văn phàm phu, là kẻ ngu si, mê muội, vô minh. Mình đang học thánh pháp nên không được đi theo phàm phu pháp, khi cái tâm ganh tị, đố kị sanh khởi là phải dập tắt nó chứ không được để nó chinh phục, Đức Phật ví dụ chặt nó giống như chặt cây tala không để sanh khởi trở lại trong tương lai thì mới gọi là người chân tu, tức là làm cho nó không có cơ hội sanh khởi trở lại lần thứ hai. Đó là thiền quán của Đức Phật, là pháp tu của Đức Phật, còn đằng này nó sanh khởi là xâm chiếm toàn bộ thân tâm, chi phối mọi thứ vậy mà còn chấp nhận, nuôi dưỡng, phát triển nó, vậy là bại trận nhưng tệ nhất là mình còn không biết là bại trận, đó là đại bại, mình thất bại thì thấy tàm quý, nhục nhã còn đằng này chẳng những không thấy tàm quý, nhục nhã mà còn lấy đó làm vinh hạnh thì thật là tệ hại.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô thường. Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô ngã. Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng bất tịnh. Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng nguy hại. Mọi người phải nhớ chữ thực hành tích tập, chẳng những thực hành mà còn gom góp, chất chứa, tụ tập các tưởng cho dày cứng, lớn mạnh, tăng trưởng, phát triển quảng đại thành căn cứ địa, thành cỗ xe trong tâm của mình, bất cứ khi nào tiếp xúc với cái gì cũng thấy vô ngã, nhìn cái gì cũng thấy vô thường, gặp cái gì cũng thấy tính chất nguy hiểm và tác hại trong đó. Khi đọc tin tức cướp giật, giết người, ngáo đá… chỉ thấy sự nguy hiểm của dục tham, sự tàn hại của cảm giác, hết sức nguy hiểm cho những cảm giác, hết sức nguy hiểm cho những sân hận này, thật là đau khổ, thật là tai hoạn, ách nạn, khổ nạn cho ta và tất cả hữu tình chúng sanh trong dục, tham, ái, sân si, bản ngã này. Những cái này là ác độc, nguy hiểm, đau khổ… Mình phải tích tập những cái tưởng cho lớn mạnh, kiên cố vững chắc, chính những cái này mới làm mình thoát ra khỏi những sự phù phiếm giả dối, bèo bọt trong cuộc đời vô nghĩa, vô tình này. Huynh đệ thân thích nhau mà lỡ nói một câu chạm tự ái là không nhìn mặt nhau, từ mặt nhau không nói chuyện, thành ra rất đau lòng, sự thật của ngũ uẩn này rất phũ phàng, vợ chồng, anh em yêu nhau rồi cuối cùng lại đưa ra tòa xử nhau, thậm chí đi đến mức vợ chồng phân xác nhau nên đời này là giả dối, trống rỗng, không có gì là thật. Mọi tuồng diễn đều do ngũ uẩn dựng lên, do tham sân si, vô minh và bản ngã dựng lên, không có gì thật trong này mà chỉ là sự trống rỗng. Vị thượng tọa chánh văn phòng cho Minh Thành xem hình một Tăng sinh trường mình mới 27 tuổi mà bị ung thư, mặt mày sáng sủa, hiền lành mà chết rồi. Thật là tội nghiệp! Không phải một người bị như vậy mà vô số người nhưng mình không nhìn thấy, mình nghĩ đó là chuyện của người khác, mình thì vẫn còn lâu lắm, đó là sự vô minh chấp thủ nặng nề. Cho nên tâm chúng ta sẽ thực thành tích tập với tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng nguy hại. Tập nhìn cái gì cũng thấy có sự nguy hiểm và tác hại trong đó, nhìn những cái ác bất thiện pháp rồi phát triển sự quán chiếu nguy hại để mình ghê sợ, viễn ly, xa lìa nó, tập quán cho thâm sâu bốn đề mục này, tư duy, nghiền ngẫm liên tục thì mới phát sanh trí huệ, thể nhập thánh, còn cái phàm tình đã dày đặc vô lượng vô biên kiếp mà mới vào nghe pháp lại đòi hoát nhiên đại ngộ thì làm gì có chuyện này xảy ra. Đức Thế Tôn nói trong kinh Nikāya, trong giáo pháp của ta không có chuyện bất thình lình chứng ngộ mà phải tuần tự, có thứ bậc, có đạo lộ, còn những cái ồ ạt chứng ngộ không phải pháp của Đức Phật.
Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX) A-Tu-La Pahàràda)
Pháp của Đức Phật phải có sự tuần tự phá các lậu hoặc, tham sân si và bản ngã. Có nhà nào 100 tầng chỉ cần thổi một cái qua buổi sáng là xây xong không? Bất thình lình xây xong ngay lập tức không? Phải xây nền móng vững chắc.
Sau khi biết được thế giới thăng bằng và không thăng bằng, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy. Sau khi biết được thế giới sanh khởi và đoạn diệt, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy. Sau khi biết được thế giới tập khởi và chấm dứt, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ấy. Tất cả những cái này đều nói lên sự tập khởi và đoạn diệt của ngũ uẩn, từ thế giới tức là ngũ uẩn mà ngũ uẩn tức là thân này. Câu trên nói về sự tập khởi của sắc thân này, của thế giới này và sự đoạn diệt của thế giới, mình phải thấy được duyên sanh và duyên diệt của nó. Chúng ta nhìn thấy Trái Đất to lớn như vậy mà chỉ cần một con virut quét qua, con virut nhỏ đến nỗi mắt thường không nhìn thấy được nó là toàn bộ dân chúng khốn khổ, tính đến hôm nay thế giới có 29 triệu ca nhiễm Covid-19, gần 1 triệu người tử vong, đây là những con số được báo cáo, người ta ước tính số người chết vì đại dịch Covid-19 không được báo cáo có thể còn cao hơn nữa. Ngay tại California, San Francisco, San Jose (USA) bị cháy rừng, người dân ở đó nghĩ mình đang ở trên sao Hỏa vì bầu trời đỏ rực một màu đỏ vì lửa. Năm 2020 là năm đại thảm họa trên toàn cầu, động đất, lũ lụt, hỏa hoạn, thiên tai, dịch bệnh… để chúng ta nhìn thấy sự thật vậy mà cũng không thấy, cũng mê muội đi chơi rồi rước dịch bệnh về nước, ở trong nhà chịu không nổi, trong thân tâm thúc giục phải đi ra ngoài để rồi bị lây bệnh. Ở các nước phát triển nếu người dân nghiêm túc thực hiện việc đeo khẩu trang, cách ly tại nhà như Châu Á của mình thì việc lây lan dịch bệnh được giảm bớt rất nhiều nhưng họ không đồng ý, họ muốn tự do, muốn đi thì đi, không ai được ngăn cản nên dịch bệnh lây lan khó kiểm soát, vì thế sự tu học kinh Nikāya là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham thì chấm dứt đau khổ. Đạo lộ rất rõ ràng như vậy mà không chịu tu học thì còn đòi hỏi gì nữa? Tất cả những cái đau khổ của mình đều xuất phát từ sự thúc giục trong nội tâm, nhiếp phục được nó, đoạn tận được nó thì đi đến chỗ diệt khổ. Sự khổ của mình nhiều hay ít, dày hay mỏng, sâu hay cạn, lớn hay nhỏ đều phụ thuộc vào việc nhiếp phục dục tham ở mức độ nào, con người ít tham thì ít khổ, người tu là phải an bần lạc đạo, thiểu dục tri túc chứ tu mà cứ than nghèo khổ, cái này lạ quá, gọi các thầy là khất sĩ, nghĩa là người ăn xin, xuất gia là kẻ không nhà. Mình không học đàng hoàng, không nhận định rõ vị trí của mình nên làm gì có tiền mà nói giàu nghèo ở đây? Dù cho xây một cái chùa trị giá tỉ đồng cũng không phải của riêng ai mà nói chùa này giàu hay nghèo, chùa này thuộc về Đàn-na tín thí vì chính họ góp tiền công đức xây dựng, khi nghe Phật tử nói chùa này giàu hay nghèo thì các thầy trụ trì, các thầy trị sự phải chỉnh sửa lại để các Phật tử hiểu chuyện, chùa này không phải của thầy mà là của thập phương thường trụ, nếu không chỉnh cho họ thì họ hiểu sai rồi mình cũng bị cái sai của họ lôi kéo. Phải nắm vững tinh thần này, chùa này của quý vị, không có khái niệm chùa giàu hay nghèo.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng đoạn tận. Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng ly tham. Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng đoạn diệt. Tâm chúng ta chấm dứt những dục, tham, ái trong những cái vô thường, tạm bợ, bất tịnh, giả dối, hư ảo, trống rỗng này. Thân này là trống rỗng, trong đó chỉ có một đống tham sân si, vô minh và bản ngã chứ không có ai trong đó, duyên sanh pháp sanh ra dục, tham, sân si, bản ngã, tranh đấu rồi cuối cùng vào hòm, đời sau lại vào một cái thân, sanh ra cũng lại tham sân si, bản ngã, giành giật, tranh đấu rồi cuối cùng cũng chết, cái vòng lặp lại lẩn quẩn.
Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Không thể nói được chỗ khởi điểm đối với những chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột vì nó vô cùng vô tận. Cứ vô minh, tham ái, chấp thủ, tham sân si không có ngày chấm dứt chỉ trừ khi nào thành tựu tri kiến của bậc thánh (chánh tri kiến), sự thấy biết chân chánh, thánh trí tuệ thì mới có khả năng đi ra khỏi những cái đó, gọi là hướng Dự lưu, tức là người đã bắt đầu muốn đi ra khỏi ngũ uẩn thì người đó là bậc hướng Dự lưu, là thánh quả thứ nhất trong hàng bốn đôi tám chúng. Nhìn thấy sự vô thường, vô nghĩa, trống rỗng, bất tịnh của ngũ uẩn này, đời sống này, của vô minh, tham ái, chấp thủ này nên các ngài phát tâm không ưa thích, không muốn nữa, chỉ nhàm chán, từ bỏ, có tâm xác quyết đi ra khỏi nó là bắt đầu từ hướng Dự lưu cho đến Nhập lưu thánh quả thứ nhất, được liệt vào bốn đôi tám chúng hiền thánh, đó là chân chánh đệ tử của Đức Phật. Đó mới thật sự là đệ tử chân chánh của Đức Phật, còn dù cho hình thức là tu sĩ, có thọ giới, có pháp danh rồi mà vẫn còn thích sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì cũng chưa gọi là đệ tử chân chánh, chưa gọi là thánh đệ tử của Đức Phật. Thánh đệ tử thật sự là phải tham dự vào hàng bốn đôi tám chúng, mà hàng bốn đôi tám chúng là đầu tiên phải thấy năm uẩn, nhàm chán năm uẩn, muốn từ bỏ, chấm dứt và thoát ra khỏi năm uẩn, đó gọi là bốn đôi tám chúng hiền thánh của Phật. Còn ưa thích, đam mê, say đắm, còn bị buột chặt, nắm giữ thì vẫn còn là vô văn phàm phu, chưa được xem là đệ tử thật sự của Đức Phật, còn người nào vẫn còn tóc là cư sĩ nhưng thành tựu được trí huệ này thì người đó vẫn là hàng bốn đôi tám chúng vì cư sĩ có thể chứng đến quả thứ ba là Bất lai quả, vì thế đừng xem thường những vị cư sĩ tu học Nikāya có thể chứng thánh quả cũng đường vội nghĩ thầy nào cũng giỏi, vẫn có khả năng rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cho nên không thể căn cứ vào hình thức để đánh giá việc tu học, hình thức là hình thức còn chất lượng thực sự bên trong mới quan trọng, chất lượng đó lấy việc ly tham, từ bỏ, chấm dứt đối với ngũ uẩn làm thước đo cho chất lượng đó.
Tuyệt diệu là thánh pháp này!
Minh Thành chỉ mới nói một uẩn là sắc uẩn, ngoài ra còn bốn uẩn nữa. Muốn từ bỏ những cảm giác sâu sắc bên trong không phải là chuyện dễ dàng, cảm giác yêu thích, ái, dục trong nội tâm không phải chỉ dùng để nói đối tượng bên ngoài mà tự thể thân mình cũng ái, chỗ ngồi của mình cũng ái.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
1:06:2
https://www.budsas.org/uni/u-kinh-tuongungbo/tu3-22g.htm