Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 30 - Trình Pháp Thành Thật & Cẩn Thận Khi Tiếp Xúc

2026-03-03 00:53:46
Tinh Hoa Nikāya

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 30

Trình Pháp Thành Thật & Cẩn Thận Khi Tiếp Xúc

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thành thật nhìn nhận mình PAGEREF _Toc204009875 \h 1

II. Trình pháp PAGEREF _Toc204009876 \h 4

II. Cẩn thận khi tiếp xúc PAGEREF _Toc204009877 \h 8

I. Thành thật nhìn nhận mình

Cái mà nhìn nhận lại mình một cách thành thật thấy vậy mà nó không có đơn giản, cái bản chất của cái ngũ uẩn này rất là dối trá và gian xảo, phải nhìn sâu sắc mới hiểu, trong kinh Pháp Cú Đức Phật nói:

"Thành này làm bằng xương,

Quét tô bằng thịt máu,

Ở đây già và chết,

Mạn, lừa đảo chất chứa."

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già, kệ 150)

Lừa đảo, gian trá, xảo quyệt là tánh chất của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, rất là sâu sắc, nếu chúng ta không có nhận diện ngũ uẩn, không có thực tập cái pháp chúng ta sẽ không thấy trong cái suy nghĩ của mình nó rất là xảo quyệt, cái suy nghĩ của mình xảo trá lắm. Không phải là người khác gạt mình tại vì người nào cũng ngũ uẩn, cũng xảo trá hết cho nên làm sao người ta thành thật với mình trừ các cái bậc đã vào Nhập Lưu cho đến A-la-hán thì bắt đầu sống với cái tâm chân thành, chân thật, còn chưa vào bốn đôi tám chúng thì sống với một cái tâm rất là dối gian, xảo quyệt, xảo trá, hư ngụy cho nên trong bài sám hối diệt ngã có câu "ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm". Câu này rất là sâu sắc, chỉ có trí tuệ của bậc thánh mới nhìn thấy được.

Khi có một cái chuyện gì dầu cho là bản thân mình biết thôi chứ đừng nói gì người khác biết thì ở trong tâm mình sẽ tự ngụy biện với nó. Chúng ta có để ý cái này không ạ? Thí dụ như nó sai phạm một điều gì đó thì nó bị tòa án lương tâm trách cứ, tức là tự cái suy nghĩ của mình nó trách mắng chính nó nhưng rồi có một cái suy nghĩ khác ngụy biện, cái này là bắt đầu sâu sắc. Một cái suy nghĩ nó rầy la, quở trách cái sai rồi một cái suy nghĩ nó bào chữa, nó ngụy biện, nó tránh né, nó giấu lỗi lầm, nó che đậy cái lỗi lầm đó. Đó là chính tự thân của nó chứ không có nói người ngoài, chính vì vậy một người có nhiều cái quanh co, họ ngụy biện, họ xảo trá, nếu mà không sửa đổi thì không học đạo được, không học chánh pháp được.

Vì họ rõ ràng lầm lỗi, mình chỉ cho họ thì "đâu có đâu, tại người kia kìa", không phải một lần, nhiều lần như vậy, mà bằng từ tâm, bằng tình thương mình muốn giúp đỡ thì nói ra một câu là họ trả lời lại ba câu thì làm sao hướng dẫn, dạy dỗ được. Những người này không có cơ hội thể nhập vào chánh tri kiến trừ ra họ phải nhiếp phục, chế ngự được cái này, họ phải nhìn nhận thấy được cái này thì mới được, nhận diện ngũ uẩn mới biết chứ còn người không nhận diện ngũ uẩn không có biết, ít biết, khó biết lắm, cho nên trong kinh Thế Tôn nói:

"Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy." (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Thấy biết được ngũ uẩn, thấy biết được sự ngụy biện, quanh co, sự xảo trá, sự lừa đảo của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này ở trong tâm của mình. Chính vì nó ngụy biện. nó quanh co, nó lừa đảo như vậy, nó lạng lách như vậy, nó lắc léo như vậy, nó lươn lẹo như vậy, nó gian trá, nó xảo quyệt như vậy cho nên mình tu không có tiến, hết lỗi lầm này tới lỗi lầm khác, khi mình phạm lỗi lầm thì nghĩ đây là lần cuối cùng, từ nay về sau không bao giờ tái phạm nữa thì vài bữa sau cũng làm nữa. Như thế là nó dung túng cái lỗi lầm đó và cuối cùng mình không thể sửa cái lỗi đó, không thể xóa sạch được cái lỗi lầm đó, tại vì mình không có nhận diện ngũ uẩn nên đâu có biết, mình không thấy được những kẻ thù đó là kẻ thù của mình, nó là cái thứ ác độc ở trong tâm của mình, nó là rắn độc cho nên cần có một sự yên tĩnh, an tịnh để quán chiếu về ngũ uẩn mới được.

Cái điều kiện núi rừng xa vắng để cho mình tu rất là quan trọng, không có viễn ly xứ, thân không viễn ly thì làm sao tâm viễn ly được. Mình sống ở nơi ồn ào, lăng xăng, tất bật, vội vã, suốt ngày bận rộn thì làm gì có thời gian để mình nhìn thấy ngũ uẩn, nếu có nhìn thấy thì cũng nhìn phớt phớt ở ngoài da thôi, nhìn trên cái thô phù thôi, còn những cái vi tế, nhỏ nhiệm sâu sắc, thầm kính ở bên trong làm sao mình thấy được. Mình không thấy được thì cái tâm mình nó qua mặt vù vù, đó gọi là lậu hoặc, tức là nó đi đồ lậu. Chúng ta thấy mấy người đi hàng lậu không? Người ta giấu đồ giỏi không? Rất là điêu luyện, thiện xảo, rất là gian trá, giấu ở những chỗ mình không thể tưởng tượng được, nuốt vô trong bụng, nhét trong mấy cái chỗ kín nhưng người ta vẫn phát hiện ra được, những cái máy cái máy rà, máy chiếu kêu tít tít là phải đứng lại để kiểm tra.

Sự tu của mình cũng giống như vậy, kiểm tra an ninh hàng không mà rà tới rà lui, rà qua rà lại, rà soát cái tâm của mình cho nên cái giờ ngồi thiền là cái giờ mình rà tới rà lui, rà xuôi rà ngược rồi mình nội soi bên trong mình, nội soi hóc kẹt, trong xó, mình lôi hết tất cả rác ra thì như vậy mới đi đến chỗ sạch sẽ hoàn toàn, tức là lậu tận. Còn giờ mình tu mà người ta chỉ lỗi cho mình thì mình sân si lên, mình bản ngã, mình che chắn, bao biện, quanh co thì làm sao tốt, nhận lỗi mình còn không nhận nữa thì làm sao tới cái bước sửa lỗi. Chính vì vậy mà tu hoài cũng vậy, năm năm gặp lại cũng vậy, mười năm gặp lại cũng vậy, mười lăm năm gặp lại cũng vậy, mà hai mươi năm sau gặp lại còn ê chề hơn nữa, thảm hơn nữa. Cái tâm hướng ngoại không thấy mình mà chỉ thấy người ta, thành ra cái sự chân thành, chân thật, thành thật để nhìn lỗi của mình là một sự tu tập không phải dễ dàng nếu như một người không phải chân tu.

Chúng ta về nghe thử cái bài mà con có chia sẻ "Cái lỗi lớn nhất của mình là cái gì", về nghe thử cái bài đó, ai cũng có lỗi chứ không có lỗi thì không có ngồi đây. Thành ra để mình tập lắng nghe, sẵn sàng nghe chỉ lỗi, chỉ dạy cho mình thì cái tâm đó rất là thiết yếu, làm một trong những yếu tố để mình có thể Nhập Lưu thánh quả, không có cái yếu tố này thì không đi vào pháp một cách sâu sắc được. Bất cứ lúc nào mình cũng sẵn sàng cúi đầu và nghe người khác nói lỗi của mình một cách ngọt ngào, hiền thiện, dễ thương khi mình được chỉ dạy thì như vậy mới được cái tâm hiền của bước đầu để đi vào dòng pháp Nikāya. Còn cái này mình còn phẫn nộ, còn sừng sộ, còn hung hăng, còn dao động, còn bạo động thì sao tu được? Chính vì vậy nguyên nhân tại sao vô đạo tràng Nikāya là tám tháng phải tu tập tâm hiền trước, có những người tu vậy chứ cái tâm không có hiền thiện thì những người này rất khó để thể nhập vô pháp.

Có chút gì đó không vừa lòng là cái mặt chầm dầm, chút gì không vừa ý đổi sắc mặt liền, đổi thái độ liền, như vậy làm sao mà tu? Mình đi tu là mình đi cầu pháp hay là mình đi tu để kiếm cái chỗ cho vừa lòng mình? Cũng như hồi nãy đối với một người mà mình thương và đối với một người mình ghét thì mình đi tìm thương ghét chứ không phải tìm pháp, phải không? Bây giờ quý thầy thương con hay là quý thầy ghét con thì đó là chuyện thường tình, nhưng nếu mình trú ở trong cái thương, cái ghét đó thì mình không thấy pháp. Mình phải đi tìm cái pháp của vị thầy đó chứ không phải đi tìm cái thương ghét, người nào đặt tâm vào pháp thì người đó mới thấy pháp, người đó mới lãnh hội được pháp, người đó mới thể nhập được pháp tánh, còn người đi tìm thương ghét là kiếm sư phụ nào thương mình thì mình lại tu thì như vậy mình đi tìm ái chứ đâu phải đi tìm pháp.

Đi đến cái chùa nào thấy chỗ đó ăn ngon quá là đi tìm đồ ăn chứ đâu phải đi cầu đạo, cầu gạo chứ không phải cầu đạo. Đi tới cái chùa nào mà có chức bự, thấy chức lớn, thấy nhiều người được cung kính quá, mình kiếm cái chức thì cái đó đi tìm danh, tìm chức chứ không phải tìm pháp. Một cái người đặt tâm đúng hướng thì người đó mới đâm thủng được cái khối vô minh uẩn to lớn, đặt tâm đúng hướng là đặt cái tâm phá ngã, cái tâm diệt vô minh, cái tâm dứt cái tham ái, chấp thủ thì đó mới đặt tâm đúng hướng, cái tâm đi cầu pháp, đi cầu đạo, đi tìm sự thật, đi tìm một con đường để diệt khổ thì cái tâm đó mới là tâm đúng hướng. Còn giờ mình đặt vô cái thương, cái ghét thì mình đi tìm thương ghét chứ sao tìm pháp được.

II. Trình pháp

Thầy có nhận diện được trong một tuần lễ vừa qua cái hành uẩn hoạt động như thế nào? Cái nào nổi trội nhất không?

Sư thầy 1: A-di-đà Phật, kính bạch thượng tọa giáo thọ sư, kính thưa đại chúng. Dạ trong tuần vừa qua thì cái nổi trội nhất, cái làm cho con cảm thấy vui trong lòng, hoan hỉ là lời dạy tuần vừa rồi của thầy, ngay cái chỗ cẩu đầu đao chờ lệnh chém, long đồ đao chờ lệnh chém, hổ đồ đao chờ lệnh chém. Con không biết sao con nhớ cái đó tự nhiên con cảm thấy vui, thấy hoan hỉ, cái đó giống như cái dũng khí của một con người chánh trực, giống như Bao Công đi trừ gian, đi diệt những cái phần xấu ác để tẩy sạch làm cho cái thế gian này đẹp hơn, tươi sáng hơn. Con nhớ lại lời của thầy thì con tưởng tượng giống như thầy là một Bao Thanh Thiên đời thứ chín mươi mấy, truyền nhân của Bao Công. Con cũng khởi lên nhiều suy nghĩ vui nên con cười thầm luôn.

Sư Phụ: Nhưng mà thầy nhớ là chém ở trong tâm mình chứ không phải chém bên ngoài. Nhớ kỹ là chém tham, sân, si, chém bản ngã. Hồi nãy giờ, từ cái buổi học đầu tới giờ thầy có thọ; tưởng; hành như thế nào?

Sư thầy 1: Từ đầu buổi tới giờ thì con nghe thì cảm thấy rất là vui, hoan hỉ, thấy trong lòng nhẹ nhàng, thanh thản lắm, giống y chang nó rơi rụng phiền não. Mình không có tác ý mà tự nhiên nghe là tự nhiên thấy vui, mà cái niềm vui này giống y chang mình càng nghe càng thấy vui, càng thấy phấn khởi, sung sướng, nhẹ nhàng, thư thới và muốn nghe nữa, muốn học pháp nữa. Cái đó là những cái cảm giác, những cái suy nghĩ nãy giờ con xin trình bày.

Sư Phụ: Thầy biết cái niềm vui đó là cái gì không?

Sư thầy 1: Dạ cái niềm vui đó chắc là nó cũng là sâu trong tàn thức là mình cũng đã từng tiếp xúc với nguồn giáo pháp này, giống y chang đánh động lại những cái chủng tử từ quá khứ mình đã từng nghe, từng tu, từng được học rồi. Nghe thấy hân hoan lắm. A-di-đà Phật.

Sư Phụ: Tức là ở trong mình có cái tuệ căn, cái căn bản của cái trí tuệ, cái gốc rễ của cái trí tuệ về cái chánh pháp, nó có nhưng mà nó nằm yên, nó bị lãng quên, bây giờ được khơi gợi trở lại giống như cái này mình đã từng học rồi, mình đã từng hiểu rồi, mình nghe tới đâu mình thấm tới đó, mình nghe tới đâu mình ngấm tới đó, mình nghe tới đâu đã tới đó, sung sướng, hoan hỉ. Cái đó là pháp hỷ thắng mọi hỷ, tức là sự hoan hỉ ở trong cái pháp đó vượt hơn tất cả cái sự hoan hỉ trên đời này, cái sự hân hoan, phấn khởi sẽ biểu lộ qua cái cảm thọ của mình, biểu lộ qua gương mặt, mắt của mình, từ ở trong cái cảm thọ sanh khởi ra. Cho nên để nhìn thân tâm một cách trung thực, chánh trực phải có một sự rất là chân thật, rất là thành thật. Chính vì vậy trong thời Đức Phật các vị Tỳ-kheo gọi nhau là hiền giả, là chư hiền, là bậc hiền trí, các ngài đều là những người rất hiền thiện.

Mình đọc kinh phải để ý, khi các thầy có lỗi được Đức Phật gọi lên hỏi ông có lỗi gì không thì dạ thưa có liền, con có làm vậy. Các vị đó là các cái bậc hiền giả, hiền trí, hiền thiện, rất là chân thật, rất là thành thật, cho nên các ngài đi vào thánh quả, thánh đạo dễ lắm, còn mình bây giờ sư phụ kêu lên chỉ là đổ thừa "tại … tại… tại cái ông kia", nói cà lăm luôn, hoặc là "tại…tại… tại chị kia" hoặc là tại cái gì đó. Mình không có lắng nghe câu chuyện rồi nhìn trở lại tự thân coi sự việc đó có đúng như vậy không rồi từ từ mình phản ứng, cái này nói ra là ngụy biện liền, bao biện liền, bao che liền, quanh co giấu lỗi lầm liền, thì cái này không tu tiến được.

Sư cô 2: Dạ mô Phật, kính bạch trên thượng tọa cùng đại chúng, bài giảng của thầy hôm nay con tâm đắc là câu mà thầy nói là kiếm tìm người thầy thương mình là mình đi kiếm cái ái, mình đi kiếm cái người mà có chức thì mình kiếm cái sự cầu danh. Con nhớ lại lúc đầu khi con có định hướng xuất gia thì cũng có nhiều vị là hỏi con sao không tu ở chùa này, hoặc tu ở sư này, hoặc là tu ở chỗ sư kia, nói chung là cũng có người hướng dẫn con tới những vị đó nhưng trong tâm con cũng có sự so sánh. Lúc đó con chỉ là cư sĩ nhưng con cũng có sự so sánh những vị đó với nhau và cái vị thầy mà con tìm hình như mọi người không có cùng với xu hướng với những cái thầy, không được lòng nhiều người.

Nhưng qua bài giảng hôm nay thì con thấy rất là vui, nếu như thời điểm đó con đi với người có danh thì con sẽ khác, người thương con lúc đó kêu con đi về vị thầy đó thì con lại khác nữa. Nhưng con lại tìm con đường khó hơn, cái sự đánh đổi của con, những cái bài pháp ngày hôm nay thì con nghĩ là mình đã đi tìm đúng vị thầy của mình, con thấy rất là vui là mình đã đi đúng hướng. Mô Phật.

Sư Phụ: Rất là tốt, rất tốt. Mình có những cái cảm xúc hiền thiện như vậy là rất tốt, tức là mình nghe pháp có cảm xúc, trong cái sự tu học của mình phải để ý cái đặt tâm của mình có đúng hướng hay không, cái này rất quan trọng. Có nhiều người đi tới chỗ đó là tìm cái cảnh đẹp thì đi tìm cảnh đẹp chứ đâu phải tìm pháp, tìm đạo đâu. Có người đi tìm tình cảm, có người lại chỗ đó là người thân thương của mình, hay là danh lợi, mình xác định cho rõ là mình đi tìm cái pháp, cái đó là rất quan trọng. Trong một tuần lễ vừa qua cái suy nghĩ nào nổi cộm nhất và mình quán chiếu nó như thế nào về những cái suy nghĩ đó, đây là cái cơ hội rất là tốt, chúng ta cứ ngồi thụ động để nghe là không có tốt, học không có nhớ, không có khắc ghi sâu. Chúng ta nên làm bài tập, nên cởi mở ở trong cái pháp với nhau.

Sư thầy 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thượng tọa giáo thọ sư, kính bạch trên đại chúng. Hôm bữa thứ hai con có việc của trường là đi thăm thầy giáo thọ, không có học buổi đó nhưng cho con trình bày cái buổi hôm nay. Thực chất ra buổi pháp hôm nay bản thân con cũng cảm nhận cái sự hoan hỉ cũng giống như các vị đã cảm nhận sự chia sẻ của thầy ngày hôm nay, những cái câu hỏi của các vị đồng học ở đây và sự trả lời của thầy con cũng cảm thấy mình cũng có những cái quán chiếu và mình đã thấy một danh vị của một Tỳ-kheo khi được học cái bài pháp hôm nay. Mình đủ năng lực để bán chiếu thế nào là sắc tánh, thế nào là bố ma, mình phải trải những cái phiền não, những cái ngã mạn ở trong con người mình như thế nào.

Từ những sự hướng dẫn của thầy để làm tăng trưởng thêm những cái buổi khi có thời gian mình ngồi lắm động để nhìn nhận ra đâu là cấu uế của tâm, để mình thấy để gội rửa cho bản thân mình ngày một tăng trưởng hơn. Giả dụ như chúng ta có nhận phẩm vật của Đàn-na tín thí chúng ta thấy có lỗi hay không, hoặc là chúng ta chuyển hóa cái phẩm vật đó bằng nhiều hình thức như thế nào để làm lợi ích cho Đàn-na tín thí khi chúng ta chưa có năng lực làm cho Đàn-na tín thí được cái lợi lạc thực sự như thế nào. Trong cái bài buổi học hôm nay bản thân con thấy rất là lợi ích và giá trị để không uổng hoài mong của bản thân mình và của Đàn-na tín thí đã xây dựng cho mình. Nam mô A-di-đà Phật.

Sư Phụ: Mời các vị tiếp theo, chúng ta có thể trình bày nhận diện ngũ uẩn trong một tuần vừa qua hoặc là chúng ta có những câu hỏi gì chưa có rõ thì nêu lên, hoặc là những sự chia sẻ trong cái tu học.

Sư thầy 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính lễ thầy giáo thọ cùng đại chúng, trong suốt một tuần qua và nhiều năm qua có một ý niệm đối với con rất là đặc biệt, đã rất lâu rồi con không có nắm tay người phụ nữ cũng rất là nhiều năm rồi và tuần rồi con cũng vô tình. Chúng con có đi tang lễ của một người bạn vì trong cái tình huynh đệ thì người ấy tri ân đến những người bạn đã đến cúng viếng, vô tình con với người ấy bắt tay với nhau cũng tạo cho chúng con có cảm giác vui thích trong đó nhưng mà con thấy cũng rất là giật mình. Cho nên con nghĩ lại lời Phật dạy rằng sự xúc chạm với một người nữ là cảm giác sung sướng đối với một người nam cho nên điều này rất là nguy hiểm, hay là không có gì cuốn hút người nam bằng sắc đẹp của người nữ cho nên lúc bấy giờ thì thấy cũng vui vui, con thì không tác ý thích thú mà thấy vô tình va chạm với nhau tạo ra những cái cảm giác cũng vui vui, thích thích và cũng dễ chịu. Cho nên con thấy đây đúng là một lời dạy của Đức Phật là chúng ta phải phòng hộ để tránh duyên tiếp xúc với cảnh trần làm cho tâm mình tham đắm. Con xin hết ạ.

Sư Phụ: Rất là tốt.

Sư thầy 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thầy giáo thọ cùng đại chúng, trong một tuần vừa qua thì con thấy sự vận hành của tâm con qua một sự việc, đó chính là đọc kinh. Hồi nãy giờ có nghe thầy giảng tự nhiên con ngồi suy nghĩ lại về vấn đề ở chùa đó chính là tụng kinh với đại chúng, con đang suy nghĩ một hồi thì con nghe tiếng chuông đánh thì con giật mình, con ngừng việc suy nghĩ đó. Sự việc đó thì làm cho cảm thọ giật mình thì thấy khó chịu nên con bèn ngồi một chập và suy nghĩ lại cái cảm thọ của con, con tiếp tục suy nghĩ về cái sự việc ở chùa, đó chính là có một hôm quý thầy, quý sư huynh đi cúng hết, chỉ còn con và một con thời kia ở chùa. Đêm đó đúng bảy giờ rồi nhưng chưa có ai xuống để trụ lễ, tụng kinh cùng đại chúng thì có lúc đó con đi xuống và con đánh chuông, con vô tụng kinh.

Đang giữa trường tụng kinh thì thời đó bỗng dưng đánh mỏ mà hình như là đánh để bỏ ghét. Tự nhiên con sanh ra cái lòng tức giận thì con giựt cái mõ đó và con tự đánh luôn, tự đánh tự tụng trước đại chúng. Tụng kinh xong thì con lên con ngồi trên sân thượng uống trà sữa, con ngồi tự suy nghĩ lại "Ủa là như vậy mình làm đã đúng chưa, hành động như vậy đúng chưa, trong khi đó mình đang tụng kinh, thay vì mình giựt mõ thì sao mình không nhất tâm mình tụng cho nó xong thời kinh trong sự hoan hỉ cùng đại chúng mà mình phải tức giận. Lúc đó mình giựt mõ thứ nhất là về vấn đề mình không làm chủ được cảm xúc, mình giật mõ thầy đó thì lúc đó mình không nghĩ rằng thầy đó có vui hay không, mình làm vậy trước đại chúng ổng có sự e thẹn hay không, sự không kính trọng ổng hay không".

Con ngồi con suy nghĩ lại thì thấy trong người con có cảm giác khó chịu quá nên con xuống phòng thầy đó mới nói là "thôi hồi nãy tôi có tức quá, tại vì ông bỏ nhịp không ra nhịp, phách không ra phách nên khó tụng nên lần sau nghe bản thân tôi hoặc là bản thân ông cùng nhau cố gắng để hoàn thiện một thời kinh cùng đại chúng chứ đừng có vì một lỗi lầm gì đó, hay hơn thua gì đó mà mình lại mất đi cái sự tâm thành trong buổi tụng kinh". Nam mô A-di-đà Phật, con xin hết.

II. Cẩn thận khi tiếp xúc

Sư Phụ: Rất là tốt, cho tràng vỗ tay đi. Cái chia sẻ đầu tiên của sư là về cái xúc, xúc này là rất quan trọng, khi tiếp xúc sanh ra cảm giác, sau đó có sự ham muốn, nghiệp. Khi mình tiếp xúc sẽ có cảm giác, sẽ có ham muốn, khi mình tiếp xúc những cái thói quen ở trong con người của mình sẽ sống dậy, nó sẽ nổi dậy và mình có sáu súc, nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc. Mình có sự tiếp xúc của con mắt, tiếp xúc của lỗ tai, tiếp xúc của lỗ mũi, tiếp xúc của cái lưỡi, tiếp xúc của cái thân và mình có tiếp xúc của Ý. Hằng ngày mình đâu có thấy được sáu cái xúc này đâu, vì mình không có học kỹ, mình không có thực tập quán chiếu cho nên khi mình nhìn, hay là mình nghe, hay là mình ngửi, mình nếm, đụng chạm thì lúc đó hoàn toàn mình thấy có một cái tôi sướng, hay là cái tôi khổ.

Thí dụ giờ mình đang bước lên cái chiếc xe, Phật tử người ta mời mình đi đám trai Tăng hay là đi cúng cầu, an cầu siêu gì đó, trên chiếc xe đó người ta mở một cái loại nhạc trữ tình mà cái bài đó trúng ngay cái gu mình luôn. Chết rồi, đó là nhĩ xúc, lúc đó mình có thọ do nhĩ xúc sanh, mình chỉ thấy rằng tôi đang sướng, đã, thì như vậy là vô minh rồi, lúc đó mình không có thấy duyên sanh pháp. Do duyên có lỗ tai và các tiếng, khởi lên sự rõ biết các tiếng đó là nhĩ thức, ba pháp này hội tụ thì gọi là nhĩ xúc, sự tiếp xúc của lỗ tai. Khi tiếp xúc rồi nó sanh ra thọ, gọi là thọ do nhĩ xúc sanh, đó là pháp duyên sanh.

Cái tay chạm với cái tay là thân súc, nó cũng sanh ra thọ luôn, thọ do thân xúc sanh, khi thọ rồi nó đưa tới ái. Có ái rồi nó đưa tới cái muốn, nếu như người đó đúng là cố nhân, đời kiếp trước đã từng chung với nhau rồi thì bây giờ là chết liền thôi, ngoài đời thì gọi là tiếng sét ái tình, chỗ này nếu không tác ý là sự thiếu sót, mình phải tác ý la mắng, rầy la, quả trách cái tâm, lúc đó nó bị chìm ngập vô cái cảm giác lạc thọ đó thì nó đâu còn la mắng, rầy la, quở trách nữa. Nó ghê gớm vậy đó, tức là pháp vận hành, đó là duyên sanh, đó là các pháp vận hành đó, cho nên khi gặp lại cố nhân thì cái nghiệp cũ sẽ sống dậy, cho nên sự tiếp xúc này cực kỳ quan trọng trong cái tu kinh pháp Nikāya này, rất là quan trọng. Phải cẩn thận khi tiếp xúc, lúc Đức Phật sắp nhập Niết-bàn thì ngài A-nan hỏi Thế Tôn phải cư xử với phái nữ như thế nào.

"-- Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?

-- Này Ananda, chớ có thấy chúng.

-- Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?

-- Này Ananda, chớ có nói chuyện với chúng.

-- Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải như thế nào?

-- Này Ananda, phải an trú chánh niệm." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Cái đầu tiên là đừng có gặp nữ nhân, mà gặp tức là nhãn xúc, cho nên mình học như vầy cũng là một sự nguy hiểm, thật sự là nguy hiểm. Con nói thật, lửa gần rơm không trầy thì trụa, ông bà xưa mình nói rong đầu cầu mà nhìn lâu cũng đẹp, rong rêu ở đầu cầu nhìn lâu thấy cũng đẹp cho nên cái duyên xúc là hết sức quan trọng. Đầu tiên Thế Tôn kêu đừng có gặp, nếu như bây giờ có trường hợp, có cái nhân duyên chúng con phải gặp thì lúc đó con phải như thế nào, Đức Phật bảo chớ có nói chuyện với họ, bên Ni thì ngược lại thôi, Đức Phật dạy chung chứ không nói cá nhân nào hết. Chúng ta thấy Đức Phật kỹ không? Ngài A-nan hỏi rất kĩ, nếu có trường hợp phải nói chuyện với họ thì phải như thế nào, Đức Phật nói phải an trú chánh niệm, bốn chữ này rất là nhiều ý nghĩa, có nhiều pháp ở trong này lắm. Nãy giờ mình học lúc trước đó là an trú chánh niệm đó mà thường thường là Đức Phật dạy là phải phòng hộ các căn, không có nhìn, đặt niệm ở phía trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác.

Tại vì khi mình nhìn thì con mắt nhãn xúc sẽ nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng, thí dụ giờ mình nhìn một người nhất là khác phái nữa, những đối tượng có thể sanh khởi tham ái, nếu người đó vừa cao vừa trắng, nhiều khi trúng cái gu thích của mình thì mình nhìn là tập tức nắm giữ tướng chung. Tức là người này cao, trắng, thon thả… thì đó là cái tướng chung và tướng riêng là con mắt ra sao, lâu mũi ra sao, cái miệng thế nào, thì đó là nắm giữ tướng chung, tướng riêng. Khi nắm giữ cái tướng đó rồi thì mình thọ cái cảm thọ đó, rồi cái hình ảnh đó mình thâu vô trong tâm và cái suy nghĩ đó mình thích, như vậy thọ; tưởng; hành đi vô ở trong tâm thì trở về nhà sanh ra ý xúc. Nghĩa là mình không có còn gặp người đó nữa nhưng mà cái hình bóng của người đó, cái cảm giác đó, cái suy nghĩ về người đó vẫn còn ngự trị ở trong lòng, có khi nó ở hoài trong đó không đi thì gọi là ý trung nhân. Chết rồi! Trời đất ơi, chết rồi! Chết rồi!

Bây giờ cái này phải phá tới tấp, liên tục, cẩu đầu đau chờ lệnh, hổ đầu đao trảm hay là long đầu đao chứ không thôi là chết với cái này. Vì cái này mà tóc mọc dài ra, tức là nó ám mảnh ở trong tâm của mình cho nên cái ý xúc này ghê lắm, cái thân, mắt, tai, mũi, lưỡi thấy vậy mà nó chút xíu, đi qua rồi thôi nhưng mà cái ý xúc ở trong ngày hoài, nó không đi. Cho nên mình bị chửi một câu chừng mấy giây thôi, mười giây, hai mươi giây nhưng mà hai mươi năm vẫn còn nhớ câu chửi đó, nó khủng khiếp không, có khi tới chết luôn. Cái pháp tưởng, pháp tư, cái pháp trần ở trong tâm mới khủng khiếp, cái thanh tưởng, thanh tư, những cái cảm thọ đó, những cái hình bóng đó, những cái tiếng chửi đó văng vẳng, cứ nhớ lại là cái tiếng đó cứ dội lại, cứ vang vang trong đầu nên rất nguy hiểm. Mình không phá được cái này thì mình tu không được, mà mình muốn phá được cái ở trong thọ; tưởng; hành này, ở trong cái pháp tưởng, pháp tư, pháp trần này thì mình phải có sự yên tịnh mới nhìn bên trong được, phải có sự độc cư, viễn ly, ở riêng một mình, tức là mình đóng mắt; tai; mũi; lưỡi; thân lại, mình không có tiếp xúc thì mình nhìn vô trong thôi, mình đem hết toàn lực của mình nhìn vào bên trong rồi mình đánh phá trong này thôi.

Các cái vị tu tập thời Đức Phật là như vậy cho nên thành tựu thánh quả rất là nhiều, tại vì cái ngài cắt hết nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ở một mình độc cư thiền định thì năm cái xúc kia là nó đóng rồi, nó viễn ly rồi. Không nhìn thấy sắc đẹp nữa, không có nghe tiếng hay, không có mùi hương hấp dẫn rồi đụng chạm, cảm xúc gì nữa, chỉ một mình nên quay trở vô là đập tan cái pháp trần, pháp tưởng, pháp tư ở trong, đánh diệt tận, quán bất tịnh là diệt luôn, chứng nhập thánh quả luôn. Còn mình bây giờ là thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, làm hết, nó cuồn cuộn như vậy, nó bão tố phong ba, nó vũ bão, nó bão táp như vậy thì làm sao mình thanh lọc cái tâm, nhiếp phục, chế ngự cái tâm cho nên trong cái sự tu là phải cắt duyên xúc này.

Chỉ có cắt duyên xúc mới tu tiến được, chính vì vậy cái sự viễn ly, nhập thất, ở một mình rất là quan trọng nếu một người tha thiết tu hành. Tại lúc đó là mình quay cho vô đối phó với bên trong này thôi, mình dọn rác trong này thôi, mình làm vệ sinh ở trong căn nhà nội tâm của mình thôi. Cái tâm của mình là một cái tâm hướng ngoại, tối ngày nó cứ nhìn hoài, nó nghe rồi nó ngửi, nếm, nó xúc thì nó chạy theo những cái bên ngoài thì tới chừng nào mình làm cho xong công việc đây. Bây giờ với ngay cả đồ chay mình cũng ăn những món ngon thật ngon, mình đi ăn buffet vài chục món ngon thì mình có dục ái, có thích thú, thì đó là sự tiếp xúc cho nên phải giảm bớt những cái đó, nhiếp phục dục tham, chế ngự dục tham, đoạn tận dục tham thì mới tu, còn cứ đi tìm cái ngon, cứ tìm cái đẹp, cứ tìm cái thích, cái khoái thì như vậy đâu có tu. Phải nhiếp phục lần lần, chế ngự lần lần.

Sư thầy 4: Mô phật, con kính bạch thượng tọa giáo thọ sư, chúng ta người tu là phải nhập thất, hoặc là bế quan để cố gắng gạn lọc thân tâm để nhiếp phục chính mình. Hồi xưa con học trung cấp Tây Ninh có một cái thầy giáo thọ có chia sẻ câu chuyện của ông thầy bạn, vị đó rất là quyết tâm tu, quyết tâm để tu để giác ngộ giải thoát thì nhập thất, phát tâm là nhập thất ở ngoài là kêu khóa cửa luôn đi, ở trong chuyên hành trì mà không biết hành trì thế nào, một thời gian sau tự nhiên thấy ở trên nóc nhà là máu, rồi phèo, rồi ruột, tự nhiên điên loạn luôn, rồi đập cửa, rồi đập vách, rồi này kia nhảy ra ngoài điên loạn hết gần cả tháng trời luôn. Sau khi người ta chăm sóc thầy đó trở lại bình thường thì thầy bắt đầu mới chia sẻ lại thấy như vậy nên sợ quá điên loạn luôn, những hiện tượng đó là sao thưa thầy.

Sư Phụ: Cái người muốn nhập thất, muốn ở một mình, muốn sống viễn ly thì người đó phải nắm được pháp hành. Mình không biết lái xe, mình leo lên xe mình chạy cao tốc mình có tự làm hại mình, hại người khác không? Thành ra trong thời Đức Phật tại thế các vị Tỳ-kheo trước khi mà nhập thất là các vị này đã nghe Đức Phật và đã có cái thấy đúng rồi, đã vậy rồi mà trước khi nhập thất, trước khi độc cư, trước khi viễn ly đều xin Thế Tôn nói pháp vắn tắt cho chúng con để sau khi nghe pháp con sẽ độc cư, thiền định, sống một mình, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, không phóng dật để thực hành cái pháp. Đức Phật nói nhiều khi có mấy câu thôi thì người này lấy cái đề mục đó làm cái định tướng tu tập và chứng quả đắc đạo.

Vì vậy cái người muốn thực hành là người đó phải học được cái pháp này, phải biết được ngũ uẩn, những cái đó chỉ là tưởng uẩn thôi, đằng này không có nắm được pháp, không thấy được con đường đi mà mình chạy ào ào trên cao tốc nữa thì đi tới đâu, cho nên phải thấy đường đi, phải có bản đồ rồi mới đi. Khi chúng ta học ngũ uẩn này rồi chúng ta thấy nó đâu có nhiều đâu, sắc; thọ; tưởng; hành; thức, nhiếp phục, chế ngự dục tham, sân si, vô minh, bản ngã, ngay cái chỗ đó là tu thôi, là dọn rác thôi, quét rác, vệ sinh tâm của mình thôi. Cho nên vấn đề là mình không có nắm được cái pháp hành mà mình đi tu, nhiệt tình mà cộng với ngu si là thành phá hoạ chính mình. Tất cả làm cái gì cũng phải hiểu biết cho nên Đức Phật nói pháp cho người thấy, cho người biết để đoạn tận các lậu hoặc, ta không nói cho người không thấy, ta không có nói cho người không biết, thấy ngũ uẩn, thấy tham, sân, si, dục ái, bản ngã trong ngũ uẩn, nhiếp phục và chế ngự nó bằng nhiều cách, ít nhất là trong cái bài đó là bảy cách đoạn trừ phiền não.

Như vậy là phải biết cách, phải biết cái pháp cho nên trở lại ci vấn đề là chúng ta phải hạn chế cái xúc, điều này rất là quan trọng, hạn chế tiếp xúc những cái duyên nào mà mình thấy, mình nghe, ngửi, nếm, xúc mà nó tăng lên dục ái, ác bất thiện pháp thì phải chế ngự những nguyên nhân nân đó, từ bỏ, cắt đứt. Phải tránh cái duyên xúc vì xúc là sanh thọ; tưởng; hành, xúc là nó sanh dục, xúc là nó sanh nghiệp cho nên cắt bớt cái duyên xúc. Lúc đầu mình thấy bình thường, đâu có gì đâu, nói chuyện có gì đâu nhưng mà Đức Phật dạy đừng có gặp, đừng có nói chuyện, trường hợp phải nói chuyện là phải an trú chánh niệm, phải thu thúc các căn, phòng hộ các căn, bảo vệ các căn chứ không có buông lung phóng dật. Tại vì mình không có ngồi thiền, mình không có nhận diện ngũ uẩn, mình không có quán chiếu cho nên nó tới đâu mình đâu có biết, còn người ngồi thiền thì nó có cái gì là trong tâm thấy được liền, người ta phải xử lý rác ngay lập tức.

Cho nên trong sự tu chúng ta là nghiêm khắc với chính mình, nghiêm túc với chính mình, thành ra chúng ta thấy đó là cái lý do tại sao mà mình tu hành không có thành công, nói từ trong kinh là không có đắc quả. Tại sao trồng cây mà không có trái là điều đó phi lí, bây giờ quá trời cây mà sao không thấy trái, là do trồng không đúng cách, giống không tốt, chăm sóc không có đầy đủ chứ làm gì trồng cây mà lại không có trái, thánh quả tức là hoa trái của sự tập. Tại sao tu quá trời tu mà không có người nào thành công đúng theo Đức Phật? Thứ nhất là chúng ta không có bám sát vô lời dạy nguyên chất của Đức Phật, thứ hai là chúng ta không có một người chỉ cho mình cái pháp hành đúng theo cái đạo lộ của Đức Phật, thứ ba là mình không có nỗ lực, tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh, đem hết tất cả tấm lòng, nghị lực, tâm lực, trí lực, nguyện lực, hạnh lực của mình để mình thực hiện cho bằng được cho nên mình không có cái kết quả đúng như là Đức Phật và các bậc thánh.

Chúng ta quay trở về những lời dạy gốc của Đức Phật là để chúng ta cố gắng tìm lại cái đó, càng gần càng tốt, gần nhất có thể được, ít nhất là cái pháp học của mình phải học đúng chánh pháp và kế đó mình có được những cái sự thực tập, cố gắng hết sức của mình rồi tới đâu thì tới, nhưng phải đúng. Mình đi đúng con đường thì nó phải tới, không sớm thì muộn nhưng chắc chắn nó sẽ tới, thành ra chúng ta để ý thật nhiều về sự thực hành trong lời dạy của Đức Phật.

Tâm thương này tỏ rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm thương này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.