Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh Hoa Nikaya - Xuất Gia Phản Tỉnh 7

2026-03-03 00:53:46
Tinh Hoa Nikāya

XUẤT GIA PHẢN TỈNH 7

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tri Túc PAGEREF _Toc114060418 \h 1

II. Thí xả PAGEREF _Toc114060419 \h 7

III. Tàm quý PAGEREF _Toc114060420 \h 9

IV. Dè dặt PAGEREF _Toc114060421 \h 16

V. Không dính mắc PAGEREF _Toc114060422 \h 21

I. Tri Túc

Tương Ưng Bộ Kinh (tập 2) Thiên Nhân Duyên, chương năm. Tương Ưng Kassapa (Ca-diếp).

“1) Trú ở Sàvatthi.

2) Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ loại y nào, và tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại y nào; không vì y làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được y, vị này không có dao động. Và nếu được y, vị này dùng y không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.

3) Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kasssapa này, với bất cứ đồ ăn khất thực nào, tán thán hạnh tri túc với bất cứ đồ ăn khất thực nào; không vì đồ ăn khất thực, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được đồ ăn khất thực, vị này không có dao động. Và nếu được đồ ăn khất thực, vị này dùng đồ ăn khất thực ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.

4) Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ loại sàng tọa nào, và tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại sàng tọa nào; và không vì sàng tọa, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được sàng tọa, vị này không có dao động. Và nếu được sàng tọa, vị này dùng sàng tọa ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.

5) Tri túc, này các Tỷ-kheo, là Kassapa này, với bất cứ thuốc men trị bệnh nào. Và vị này tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào; và không vì duyên với thuốc men trị bệnh, làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được thuốc men trị bệnh, vị này không có dao động. Và nếu được thuốc men trị bệnh, vị này dùng thuốc men trị bệnh ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ.

6) Do vậy, này các Tỷ-kheo, hãy học tập như sau: " Chúng tôi sẽ tri túc với bất cứ loại y nào, và chúng tôi sẽ là người tán thán hạnh tri túc với bất cứ loại y nào. Và không vì y, chúng tôi sẽ làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được y, chúng tôi sẽ không dao động. Và nếu được y, chúng tôi sẽ dùng y ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy sự nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ. Chúng tôi sẽ tri túc với bất cứ loại đồ ăn khất thực nào... với bất cứ loại sàng tọa nào... với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào và chúng tôi sẽ là người tán thán sự tri túc với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào. Và không vì thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ không dao động. Và nếu được thuốc men trị bệnh, chúng tôi sẽ dùng thuốc men trị bệnh ấy, không tham lam, không say đắm, không phạm tội, thấy nguy hại, quán xuất ly với trí tuệ. Như vậy, này các Tỷ-kheo, các ông cần phải học tập ".

7) Với Kassapa, này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giáo giới các Ông; hay với người như Kassapa. Và được giáo giới, các Ông cần phải thực hành như vậy.”

(Tương Ưng Bộ kinh tập III – bài kinh Tri Túc)

Đức Phật bảo mấy thầy Tỷ-kheo, ngài Ca-diếp đối với bất cứ loại y nào, ngài luôn luôn biết đủ, bằng lòng, hài lòng, vừa lòng và khen ngợi cái hạnh biết đủ đối với bất cứ loại y nào. Không có vì y mà làm điều bất chánh, bất xứng. Nếu không được y thì ngài không có dao động, mà nếu được y thì ngài dùng y mà không có tham lam, không say đắm, không phạm tội. Thấy nguy hại quán xuất li với trí tuệ.

Mấy câu này hết sức là quan trọng, đây là pháp hành.

Đối với bất cứ loại y nào ngài cũng biết đủ hết.

Mình liên hệ ở nơi cái hạnh của ngài đó, mình học ở trong đời sống mình như thế nào, khi mình được Phật tử người ta cho mình cái y, cái áo hay là khúc vải. Đối với bất cứ loại vải nào mình cũng biết đủ, chứ mình không có so sánh tại sao huynh kia được cái vải tốt, mình được cái vải xấu.

Rồi Đức Phật nói thêm bất cứ đồ ăn khất thực nào ngài cũng biết đủ hết, đối với tất cả các món ăn, thức ăn, thức uống. Không có vì đồ ăn khất thực mà làm điều bất chánh, bất xứng là không xứng đáng. Nếu như không được đồ ăn khất thực thì không bị dao động, tâm không có dao động, nếu được đồ ăn khất thực thì không có tham lam, không say đắm, không phạm tội. Thấy nguy hại quán xuất li với trí tuệ.

Câu này nó thâm sâu lắm, mình phải quán chiếu.

Đối với bất cứ loại giường ghế nào cũng biết đủ.

Đối với bất cứ loại thuốc men trị bệnh nào cũng vậy.

Thành ra ở đây mình mới thấy được tứ sự của cái dường đó. Mình thường quen là tứ sự cúng dường. Tứ sự là bốn thứ. Mà mình thường được nhận lãnh phật tử cúng dường. Tức là ăn, mặc, giường và thuốc men trị bệnh. Vì sao đối với thuốc men cũng là biết đủ.

Khi mình nhận thuốc khi bị bệnh cũng phải chánh niệm tỉnh giác. Chứ không phải bệnh rồi là lúc đó nói không có tu là không phải. Nếu mà không có được thuốc thì tâm cũng không có giao động. Nếu được thuốc tốt, thuốc quý cũng không có tham lam, cũng không có mê đắm.

Ví dụ: Giờ mình bệnh thì phật tử biết, nấu cái này nấu cái kia lên cho.

Nhiều khi mình nghĩ giờ mình bệnh thì đem đồ ăn, thức uống hay là thuốc là chuyện bình thường. Lúc đó mình không có quan thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán pháp trong pháp thì cái này có nhiều chuyện lắm.

Ngày xưa có một thầy đó nổi tiếng lắm, đức hạnh mà có những năng lực đặc biệt ở trên núi cao một mình. Có cô phật tử này đi đến, tới lui thường thường rồi khi thầy này bệnh thì nữa đêm cô này cạo gió cho thầy. Cạo gió một thời gian là thầy này hoàn tục.

Là không tham lam, không say đắm, không phạm tội đối với thuốc men. Thấy nguy hại là quán xuất li với trí tuệ.

Đừng nói chuyện tăng, ni cũng vậy thôi. Ni rồi có phật tử nam tội nghiệp sư cô, thấy thương sư cô, thấy quý sư cô giống hệt nhau hết. Thành ra mình mới thấy được nhưng cái này, có dẫn chứng lời kinh để mình thấy được đức hạnh của ngài Ca-díp, ngài tu như thế nào.

Dù cho mình được bất cứ loại y nào, bất cứ loại vải nào, loại áo nào, loại khăn nào, loại nón nào. Tại hồi xưa ở Ấn Độ không có cái đó nhưng giờ có cái đó. Cái nón, cái khăn, cái áo lạnh, cái áo thun, bộ đồ rồi cái hậu, rồi cái y, rồi cái vớ, tất cả mọi cái đó phải biết đủ. Phải nhìn thấy mục đích, công năng, tác dụng của những thứ đó là gì. Chỉ là che đậy cái thân thể cho nó khỏi nắng táp mưa xa. Chỉ là che đậy sự xấu hổ, mục đích của nó chỉ vậy thôi. Cái áo ấm để ngăn cái lạnh. Tất cả những loại y phục đều phải sử dụng bằng mục đích là che đậy, giữ ấm. Ngoài ra không có gì khác hết. Nhưng mà những thứ này là thứ phụp vụ cho li tham, phụp vụ cho xuất li, phụp vụ cho thánh đạo, thánh trí. Đó là người trí sử dụng tứ sự cúng dường. Và nếu như mình có nhiều thì mình phải thí xả, không chất chứa, không tích luỹ. Tại sao vậy? Tại mình học trí năm uẩn rồi. Tổn giảm chứ không cho tăng trưởng, xả li chứ không cho tích chứa, từ bỏ chứ không để cho nó chấp thủ đối với sắc uẩn, sắc pháp.

Đó là tất cả y phục, bây giờ là tất cả sàn toạ, ở đây mình nói rộng ra là giường ốc luôn đó.

Con có đi đến một ngôi chùa thầy trụ trì cũng là huynh đệ thôi, lứa ngang nhau. Thầy vô thầy nhìn đi, bộ ghế này chỉ có hai bộ thôi, một bộ là của vị nào đó lớn lắm, bộ thứ hai ở đây. Thì con ngồi con không có nói gì hết. Mà trong lòng con xót xa lắm, nó không phải là cái tâm của người tu. Biết đủ đối với tất cả bàn ghế, giường, phòng ốc. Không có được nó tâm không dao động, mà nếu được nó, tâm không tham lam. Không có say đắm, không có phạm tội.

Rồi sao nữa? Thấy nguy hại là quán xuất li. Hai câu này tuyệt diệu tối thượng. hai cái này quan trọng lắm, không phải hai cái này không phải người tu.

Thấy cái hiểm hoạ ở trong cái tấm y gấm này, thấy cái tai nạn ở trong khúc vải đẹp này. Thấy cái mầm móng của sa đoạ ở trong chiếc áo đẹp này, dục sanh khởi, tham sanh khởi, ái sanh khởi, sự chấp thủ vào sắc uẩn sanh khởi. Mà như vậy là đau khổ sanh khởi, sầu bi ưu não sanh khởi. Sâu xa không? Thánh tăng là tu vậy đó.

Thấy nguy hại là quán xuất li với trí tuệ với tất cả món ăn, tất cả y áo, tất cả giường chổng, tất cả thuốc men vật dụng. Cho nên nhiều khi bà Diệu Hiền hay chị con đen đồ ăn ngon cho con vào buổi chiều, nhiều khi con rầy. Cái đó không phải thương, cái đó là cái thương của phàm phu. Tại vì đâu có biết. Nhiều khi con nhập thất con chất đồ ăn nhiều vô là con mệt lắm, giờ không ăn là bỏ nó hư, mà ăn là ngồi thiền không được. Rồi bây giờ làm sao? Nhiều bữa đem buổi trưa thôi mà chiều ăn không hết, mà sáng cũng ăn không hết luôn. Thì cái đó là khổ. Người đời thấy cái đó là vui còn người tu thấy cái đó là khổ. Thành ra người tu mới hiểu nhau. Mà đâu phải lúc nào con cung nói. Thành ra để tâm, ưa thích, tham đắm ở trong những vật chất sinh hoạt đời thường, đó là gì? Đó là sự lui sụt, thối thất, thói đoạ của người xuất gia. Cái này tu kĩ lắm.

Một người không tinh vi, không cẩn thận, không sâu sắc, có thể thực tập được mấy cái này không?

Khi mình nhận một cái món ăn, khi mình nhận một cái y áo, khi mình nhận người ta cúng dường một bộ bàn ghế, khi mình nhận người ta đem thuốc bổ, sữa, ngũ cốc. Tất cả những lúc đó mình phải ra soát tâm của mình, có ưa thích cái này không?

Không phải rà soát với món đồ đó không mà rà soát với người mà đưa món đồ đó tới nữa. Tại vì nó sanh ra cái phàm tình, thân với người này hơn với mấy người kia. Người mà lo cho mình nhiều mình có thân hơn không? Mình có thiên vị tình cảm hơn không? Đó là phàm tình.

Như vậy thì được. Người đó có tu học, mình sẵn sàng chia sẽ pháp nhiều hơn những người khác. Tại đương nhiên thân cận thì họ sẽ được nghe nhiều hơn, học được hướng dẫn nhiều hơn, nhưng không quá đà, không có quá trớn. Không có nhận giống anh em, chị em, giống như ba nuôi mẹ nuôi, trong Phật Pháp không có cái đó. Mà người xuất gia bị cái đó rất là nhiều.

Cha mẹ ruột bỏ, phật tử tới lui lo nhiều thì nhận mẹ nuôi của tôi. Cái đó là cực kì sai quấy, có lỗi nặng với cha mẹ của mình. Mà chưa biết họ đến vì mục đích gì? Mình có đủ trí huệ để nhìn cái tâm tư của họ không? Họ đến gì cái gì? Vì pháp hay vì tình cảm hay vì sắc, ái. Hay là vì danh vị, danh vọng cũng có nữa. Có nhiều người thích sư phụ chức lớn, nổi tiếng mà ông nào chức lớn, nổi tiếng là đây sư phụ tôi. Thành ra nó nhiều lắm, cái trí mà soi rọi hết, rà hết tất cả. Như vậy đó nó mới soi rọi lậu quặc, không phải tu là ngơ ngơ, không phải tu là trở thành ngáo ngáo không biết gì hết, đó là không phải.

Ở ngoài nhìn hiền vậy đó, mà ở bên trong là không có kẽ hở, soi thấu tâm can mới được. Phải như vậy mới gọi là pháp nhãn, bậc minh nhãn, kiến đạo.

Tuy rằng là mình chưa có sạch được nhưng những cái gì sanh khởi lên mình phải thấy, phải biết và phải kiểm soát và dè chừng và đề phòng. Thì cái đó mới gọi là đang tu tập thành đạo, còn nếu không là không có thành đạo gì hết, chỉ là kẻ vô văn phàm phu thôi, dù cho hình thức là tu sĩ. Tại vì người này đâu có hướng gì đâu, đâu có hướng đến sự xuất li đâu, đâu có thấy được sự nguy hại đâu. Không quán nguy hại, không quán xuất li với trí tuệ, không thấy nguy hại, không quán xuất li với trí tuệ thì sao gọi là người tu. Nguy hại ở cái gì? Nguy hại ở dục sanh khởi. Nguy hại ở cái gì? Ái sanh khởi. Đối với những món đồ đó.

Nguy hại với cái gì? Nguy hại với tham sanh khởi. Nguy hại đối với cái gì? Bản ngã sanh khởi, ta đây được cung kính, được cúng dường nhiều hơn những người khác, ta đây có phước đức hơn. Mấy người kia không ai cúng hết, ta được cúng nhiều, cái này trong tương ưng lợi đắc cung kính là khiếp đảm lắm, cái này Đức Phật nói mãnh liệt lắm, Đức Phật ví dụ khiếp lắm.

Ngày xưa ví dụ như vậy thì bây giờ mình tác ý mãnh liệt, la mắng đó thì nó cũng tương đương chứ không có khác. Tại vì hồi xưa từ đó là hết cỡ rồi, mà bây giờ phải dùng cái từ nặng hơn. Thành ra mấy cái tác ý của con không phải là quá đâu, nó phải vậy. Đức Phật nói là sao? Con dòi ở trong đống phân thì nó nhìn thấy con dòi bên kia ở đống phân nhỏ hơn hoặc không có phân thì nó chê, ta đây có đống phân bự còn tụi bay là không có. Thì người xuất gia mà tự cho mình có phước đức nhiều, được nhiều người cúng thì cũng giống như con giòi vậy đó. Thành ra Đức Phật dạy sâu sắc lắm, cái này là đức hạnh của thánh tăng.

Thành ra thành trí từ từ cách li phàm tình, không có nghe thánh trí, không có chiêm nghiệm thánh trí, không có tu tập thánh trí, không có phát huy thánh trí, không có sống bằng thánh trí thì cái phàm tình của mình nó không có mòn bớt, nó không có giảm thiểu. Sống toàn bằng phàm tình hết, bằng vô minh và tham ái. Cái gì cũng dính, cái gì cũng mắc, cái gì cũng kẹt, cái gì cũng chấp. Thành ra có khi người ta nghĩ rằng thầy không thương con, là không phải. Thầy thương còn hơn cái con tưởng nữa mà thương bằng thánh trí. Mà con muốn thương theo kiểu phàm tình cơ, thầy mà thương theo kiểu đó là chết thầy. Mình phải hiểu điều đó.

Nếu mà mình thương theo kiểu thông thường, quan tâm theo kiểu thông thường, thân cận ngọt ngào thì chết cả hai, thầy cũng chết mà con cũng chết. Trừ bậc nhị quả với tam quả, hoặc là tứ quả thánh nhân. Tham sân muội lược hoặc đã sạch hết tham sân rồi. Nếu còn là vẫn còn tham sân si, những quả vị thấp. Cho nên tối thiểu là dự lưu thánh quả thì mới thấy biết được cái nào là ái, cái nào là từ, còn không là lẫn lộn hết. Mình tưởng là tự tâm mà không phải, lại là ái. Như câu tuyệt diệu là câu không tham lam, không say đắm, không phạm tội. Dù cho có được cái ngon, cái tốt, cái hay, cái quý. Thấy nguy hại và quán xuất li với trí tuệ. Đọc cái này lại rất là nhiều lần.

Bất cứ cái nào có dục, có tham, có ái đối với cái đó là cái này nguy rồi, cái này tai hại, cái này là hiểm hoạ. Vậy nó mới được an ổn, sống với một cái tâm đó mới được an ổn. Nhìn cái gì cũng thấy nguy hại trong đó hết, đối với ngũ uẩn, lục trần. Tập quán nguy hại. Nhìn cái này đẹp thích, là quán nguy hại. Thích chạy xe xuống núi hoài, đó là nguy hiểm. Thích lại cô bán rau, mà ngồi thiền tự nhiên thấy mặt cô đó cười, là nguy hiểm. Phải nhìn thấy, phải phát hiện ra, phát giác ra được những cái dục, tham, ái trong cảm thọ. Món đồ mình cũng vậy, giường chổng mình cũng vậy, y áo mình cũng vậy. Tập bất cứ lúc nào mình cũng có thể thí xả.

II. Thí xả

Cũng nhờ cái mà con hay thí xả những cái đồ con quý con mới được vô dòng thánh pháp này.

Con kể mấy câu chuyện cho đại chúng nghe.

Có một thầy đó ở thường chiếu, vô phòng trên Bửu Liên mà lúc đó con chưng một cái hạt châu bằng pha lê mà nó trong suốt như vậy, ở dưới là cái bông sen đỡ hạt châu đó, mà chỗ đó là bàn thờ Phật mà. Mà ổng vô nói cho ổng hạt châu đó mà cái đó là mắc tiền và quý. Thì con nói thầy thích thì con cúng dường thầy. Trong bụng mình cũng tiếc mà mình đang tập cái này. Rồi mấy cái đồ người ta cúng dường cho con là sâm và những cái đồ quý thì ông năm với bà năm biết là con để đó con không có sài, con để dành cúng những Hoà Thượng hoặc những vị lớn.

Rồi cái duyên này đặc biệt đây, cái này là nhá một chút xíu thôi giống như trong đêm đen có sấm sét nó xẹt một chút vậy thôi. Cái ông làm tượng Phật cho mình ở đây tặng cho con một tượng Phật Thích Ca Mâu Ni tuyệt diệu lắm, đẹp vô cùng luôn. Con rất là hài lòng, ưng ý. Nhưng mà gặp cô Toàn sắp về Pháp con tặng cô, cái tượng đó là con quý nhất. Trong khi đó là cô giới thiệu pháp mà khi đó con chưa có vô.

Thường thường con có hai cái nguyện, tuy là chưa làm viên mãn mà cố gắng làm. Thứ nhất là gặp bất cứ ai khổ cũng phải giúp đỡ, dù nhiều hay ít. Mình không có đi tìm mà người họ đến với mình là mình giúp, dù ít hay nhiều. Kẹt cái lúc trong người không có gì hết thì thôi, còn có cho tiền, cho một chút như vậy, chứ mình tu mình có tiền gì đâu.

Cái thứ hai là cho cái đồ mình quý, cái đồ quý giá của mình là đem bố thí, cúng dường.

Còn ngày hôm qua là con nói là tiếc phước đó, đó là cái hạnh quan trọng. Không để cho mình mất phước. Có cái hay nhờ người ta, cái đó cũng mất một chút. Tại vì con hay độc cư, con muốn tránh duyên.

Đó là kể một hai câu chuyện thôi chứ còn nhiều lắm.

Tập thí xả nhưng mà chỗ này nó rất là đặc biệt. Mỗi lần con đi bố thí, cúng dường là người ta cúng lại gấp hai, gấp lần như vậy không. Ngộ vậy đó.

Mình không có ý cúng để người ta cúng lại nhiều, là không có.

Cũng giống như chùa Hoằng Pháp đó, xây chi nhánh hay là cái nhà đa năng gì đó. Con về con thăm thầy trụ trì, thầy nói vậy đó. Thì con cũng nghĩ từ mái chùa này mà mình có cơ hội chia sẽ chánh pháp đến mọi người, từ ngôi chùa này mà mọi người biết mình tuyên giảng giáo pháp. Chứ không có ngôi chùa này thì mình giảng 20 năm cũng không ai biết gì hết. Cũng từ ngôi chùa đó mà phật tử biết rồi mới hỗ trợ thành Linh Quy Pháp Ấn, cho nên con cái nhớ ơn chùa Hoằng Pháp. Dù cho chùa rất là lớn, Phật tử rất là đông so gì mới mình, mình ở cái am tranh đây mà. Nhưng mà con cúng dương năm chục triệu. Con đưa một cục như vậy thầy trụ thì nói thôi, lo xây cất ở trên đó đi. Con nói: Dạ. Con thì chưa xây, chừng nào xây thì tính. Mà ở đây đang xây, cho con tuỷ hỉ chút xíu phước báu, ân đức của sư phụ, của mái chùa này. Cúng như vậy rồi mấy bữa sau người ta cúng lại gấp hai ba lần.

Thành ra mình phải tập thí xả, bố thí, cúng dường, tập cho cái khó cho. Chính vì vậy mà từ cái am tranh là ra cái núi, mà không mong cầu tự động nó ra như vậy. Thành ra tất cả mọi cái trên cuộc đời nó có nhân quả.

Mà cái chỗ này là chỗ rất đặc biệt đây: Có phước mà không tham đắm cái phước, đây mới thành trí huệ.

Không tham lam, không say đắm, không phạm tội. Thấy nguy hại quán xuất li với trí tuệ. Thì cái phước đó tăng trưởng thành vô lậu. Chứ còn mình làm phước mình chấp vô cái phước đó, mình bị say đắm trong cái phước đó. Thì cái phước đó nó thành tai hoạ, nguy hại. Chính vì vậy, mình vẫn làm phước, mình vẫn tích luỹ phước, mình bòn cái phước, mình tạo phước, mình tăng trưởng cái phước. Nhưng những cái phước đó là đầu tư cho trí tuệ, nhàm chán, li tham, xuất li và đoạn diệt. Đây là chỗ thâm sâu của thánh trí. Chứ không phải không làm phước. Nói giờ tôi tu, tôi dứt ngũ uẩn rồi, tôi đâu cần phước nữa đâu, kêu tôi làm phước làm chi. Tôi không có ham phước. Không phải.

Không có phước là mình chướng ngại mình tu không được. Vài bữa là bệnh, vài bữa là gia đình có chuyện, vài bữa là cha mẹ có chuyện bắt phải nuôi, phải lo. Vài bữa bệnh què giò ngồi tu không được, ngồi thiền không được, đi không được. Người thiếu phước vô phước, thì người đó tu không được. Cho nên muốn được ngồi thiền, nghe pháp thông thường phải tích luỹ rất là nhiều phước đức. Chứ đừng nói chi thấy được thánh pháp này, mình phải tích luỹ vô lượng, vô biên phước trí, nhị nghiêm ở trong quá khứ. Chứ không phải chuyện đơn giản.

Mình thấy không? Một người chịu quy y tam bảo thôi là cả một vấn đề rồi đó. Chứ đừng nói chi là một người chịu ở chùa hằng tháng để tu tập, đừng nói chi là tập sự xuất gia, đừng nói chi là xuất gia, đừng nói chi xuất gia là dám bỏ thành thị ở trên núi, đừng nói chi lại gặp được thánh pháp, đừng nói chi là vô cái đòn trời dán, búa bổ đánh phá thẳng vô tham dục, sân si, bản ngã, đập tan hết để từ bỏ ngũ uẩn. Là nó khủng, khủng long.

Mình quán chiếu như vậy để mình thấy không phải chuyện dễ để mình không được xem thường. Không được xem thường những cái phước đức, trí huệ mình đã vun bồi cho đến ngày hôm nay, mình không được xem thường.

Thành ra mình học những cái này hay lắm.

Do vậy này các Tỷ-kheo, Đức Phật nói hãy học tập như sau, chúng ta sẽ tri túc, sẽ biết đủ với bất cứ loại y, đồ ăn, khất thực, giường chổng, phòng ốc, thuốc men. Chúng ta sẽ là người khen ngợi cái hạnh biết đủ. Chúng ta không những là người thực hành cái hạnh biết đủ mà còn khen ngợi người có cái hạnh biết đủ, tán thán cái hạnh biết đủ. Truyền bá cái hạnh biết đủ đối với những người họ muốn tu tập. Khen ngợi, tán thán, khuyến khích, kích lệ, hướng dẫn mọi người tu học cái hạnh biết đủ.

III. Tàm quý

Đó là cái hạnh biết đủ của thánh tăng, giờ tới không biết sợ.

Ngược với không biết sợ, tức là phải biết sợ. Tức là cái hạnh tàm quý đó.

Ngài Xá-lợi-phất sau khi ngài ở một mình, ngài ngồi thiền, ngài mới xả thiền ra, ngài đi qua chỗ ngài Ca-diếp. Qua chào hỏi, thì ngài mới thưa chuyện với ngài Ca-diếp. Ngài mới hỏi Ngài Ca-diếp, được nói rằng không có nhiệt tâm, không có biết sợ thì không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Và có nhiệt tâm, có biết sợ thì có thể giác ngộ, có thể có được Niết-bàn, có thể chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Như vậy thưa ngài Ca-diếp, chứ như thế nào là không có nhiệt tâm, không biết sợ, thì không thể giác ngộ, không thể có Niết-bàn.

Vị Tỷ-kheo suy nghĩ rằng là các cái ác và bất thiện pháp không khởi lên nơi ta. Nếu chúng khởi lên có thể đưa đến bất lợi.

Tức là sao? Nếu mà cái ác, bất thiện pháp, cấu nhiễm khởi lên là làm cho mình bất lợi. Những cái tham, sân, si, bản ngã khởi lên là bất lợi, cái đó là không có lợi ích..

Rồi các cái ác và bất thiện pháp khởi lên nơi ta nếu mà chúng không bị đoạn diệt thì chúng sẽ đưa đến bất lợi.

Ác thì không diệt sẽ đưa đến bất lợi. Thì bây giờ các thiện pháp không khởi lên nơi ta, nếu mà không khởi lên có thể đưa đến bất lợi.

Những thiện pháp không khởi có thể đưa đến bất lợi.

Các thiện pháp khởi lên nơi ta nếu chúng bị đoạn diệt thì có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không có nhiệt tâm.

Giải thích.

Nếu như cái ác khởi lên mà mình không diệt nó thì có lợi hay hại? Có hại. Nếu bây giờ cái thiện mà không sanh khởi, thì lợi hay hại? Đó là hại.

Bây giờ thì mình phải làm sao, mình phải có nhiệt tâm đối với đoạn ác và nhiệt tâm đối với sanh thiện,

Nhiệt tâm là mình phải nỗ lực, phải mạnh mẽ, phải nhiệt huyết để đoạn các cái pháp ác bất thiện pháp trong tâm.

Mình thấy đang có dục khởi, đang có sân khởi mình kệ nó, bỏ qua đi, nghĩ tới nó mất công, kiếm chuyện khác. Như vậy đối với người tu thông thường là được rồi đó, còn người tu chánh pháp thì chưa có được, người đó không có nhiệt tâm.

Đối với tứ sự mình có tâm ham, tâm thích trong đó. Khi đó mình thấy mình có tâm ham thích, ưa khoái trong đó, nhưng mà mình kệ để đại đi, làm biếng không có tác ý, không có quán chiếu, không có tẩy sạch cảm thọ ái thích đó, mình bỏ qua. Cái này mình có nhiều không?

Hay mình có sân với một người nào đó, mình khó chịu với một người nào đó. Biết mình có sân nhưng mà mình bỏ qua. Mình làm biếng tác ý, mình làm biếng quán chiếu tâm từ để giải phá cảm thọ sân, tưởng sân, hành sân, mình cho nó qua. Thì cái đó là không có nhiệt tâm, mà không nhiệt tâm như vậy thì cái ác bất thiện pháp này thì sao? Nó sanh khởi, nó an trú, nó tồn chỉ, nó trở thành hàng tồn kho, ứ đọng. Người này không có nhiệt tâm tu tập. Thấy vấn đề không?

Cái dục, cái tham nó sanh khởi, nó an trú và nó tồn lại ở trong tâm. Cứ một chút, một chút vậy đó lâu ngày nó tồn tại, nó phát triển, nó xâm chiếm rồi nó áp đảo, cuối cùng là thói đoạ. Cho nên ra đời là vậy đó. Hoặc là có xác không có hồn, tu nhưng mà không có nhiệt tâm gì để diệt tham, sân, si, bản, ngã hết.

Thì chính vì những cái nhỏ này khiến người ấy sống lơ thơ, không có mục đích, không có hướng tới mục đích cứu cánh phạm hành. Đó là không nhiệt tâm tu tập, gọi là hạ liệt. Hạ liệt trong pháp và luật.

Cho nên chỗ tu là gì? Chỗ tu của người tinh tấn là gì? Mình nhớ bài kinh Đức Phật nói. Ngài nói: Dù cho người đó đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm mà sanh khởi ác bất thiện pháp, dục tầm, sân tầm, hại tầm sanh khởi thì người này không nỗ lực, tinh tấn đoạn diệt. Thì Đức Phật nói người này là gì? Là dãi đãi, là hạ liệt, là thấp kém trong pháp và luật.

Mà chỉ cái đó chỉ mình biết chứ người khác không có biết. Tại vì cái đó vi tế bên trong người ta không biết. Cái thô người ta mới thấy, cái vi tế đó nếu mình không để ý mình không thấy. Mà người có thực tập trí năm uẩn này mới thấy, nếu mà không nhận diện năm uẩn là không thấy. Mà nhận diện năm uẩn ở cấp độ nào thì thấy lậu quặc ở cấp độ đó. Chứ còn cái phùng mang, trợn mắt, quơ tay, mua chân cái đó là phàm phu, cái đó không cần tu người ta cũng biết cái đó là sân. Cái này là nhìn thấy được các lậu quặc sanh khởi, vận hành, như vậy mới gọi là quán tâm trên tâm, quán thọ trên cảm thọ, mới gọi là quán pháp ở trên pháp chứ.

Chứ hỏi con có thấy gì không? Con không thấy gì hết, cái đó là vô minh, phàm phu chứ không phải thánh nhân.

Thánh tham, sân, si là ai? Là người lậu tận Alahan.

Một người mà nói con không thấy tham, sân, si gì hết trơn, đó là vô minh. Phải không?

Cho nên người tu chân thành, nhiệt tâm là không bỏ qua. Cũng giống như một người canh phòng cửa khẩu, hải quan hay cửa biên giới. Thì không được bỏ trót lọt thành phần nào, người nào đi qua, phải kiểm tra đầy đủ. Kiểm tra coi đi qua có mang đồ lậu không, người này như thế nào, nhập cảnh làm sao. Nếu như người phòng ải, biên cương, biên giới mà để trót lọt cho những người không tốt lọt qua cửa khẩu thì tai hoạ khôn lường, thì người tu cũng giống y chang như vậy.

Cái thứ hai là không biết sợ.

Ngài Xá-lợi-phất hỏi ngài Ca-diếp rằng thế nào là không biết sợ. Thì cũng giống y như vậy thôi, giống y như câu ở trên vậy thôi. Là sao? Là mình phải biết sợ đối với ác pháp.

Các cái ác bất thiện pháp không khơi lên nơi ta, nếu chúng khởi lên, chúng có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không biết sợ.

Các thiện pháp không khởi lên nơi ta, nếu chúng không khởi lên, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không biết sợ.

Các thiện pháp khởi lên nơi ta, nếu chúng bị đoạt diệt, có thể đưa đến bất lợi, vị ấy không biết sợ.

Cái này cũng giống y như trước đây là tứ chánh cần, nhưng mà khai triển rộng và sâu sắc hơn. Tức là sao? Cái thứ nhất mình bám sát vào kinh mình sẽ thấy. Nếu như cái ác khởi lên thì có thể đưa đến bất lợi. Mà vị này không có sợ. Tức là sao? Là canh phòng khi nó chưa khởi.

Câu thứ hai: Nếu như cái ác mà nó không bị đoạn diệt thì có thể đưa đến bất lợi. Tức là hồi nãy chưa khởi mình phải canh chừng trước, còn bây giờ đã khởi mà mình không đoạn diệt nó mà mình không sợ nữa.

Một cái là chưa khởi, một cái là đã sanh khởi, đều không sợ hết.

Cái thứ hai là thiện pháp. Nếu bây giờ nó không khởi lên thì vị này cũng không biết sợ. Tức là thiện pháp không khởi thì ác pháp nó khởi. Cho nên thiện pháp chưa sanh thì phải làm cho nó sanh.

Nếu như thiện pháp bị đoạn diệt thì đưa đến bất lợi mình phải sợ.

Ví dụ: Giấc khuya lúc nào cũng lên tu sớm. 3h45 đánh kẻng rồi là năm phút sau là có mặt. Tự nhiên bữa giờ là đi trễ, thầy đại chúng lên rồi lúc đó mình mới lên. Như vậy thì ác pháp nó sanh, thiện pháp nó bị giảm rồi mà không biết sợ, thấy như vậy bình thường, như vậy thì sao? Có đem đến sự nguy hiểm cho người này không? Người này mất hết nhiệt tình còn không biết sợ, rồi sau này ngủ dưới đó luôn cũng thấy bình thường. Tức là mới đầu thì thấy lên đều, rồi sau là thưa thưa rồi sau đó thì không thấy lên tu luôn, rồi xong xuống núi luôn. Từ cái nhỏ nhỏ tăng trưởng lên, không biết sợ.

Lúc đầu là không nhiệt tâm, kế đó là không biết sợ.

Ở đây mình thấy cái này là tứ chánh cần, khai triển một phương diện rộng cho mình thấy.

Một là thiện pháp chưa sanh, phải làm cho nó sanh. Đã sanh thì phải làm cho nó tăng trưởng.

Ác pháp mà nó sanh rồi thì mình phải làm cho nó đoạn diệt. Ác pháp chưa sanh thì cho nó đừng sanh khởi.

Thì canh phòng từ cái lúc từ mà nó chưa sanh, và khi nó đã sanh là phải làm cho nó diệt tận. Tức là canh phòng khi nó chưa sanh.

Cũng như mình bây giờ, dịch đang tùm lum, bây giờ mình đã soạn bản thông báo phong toả Linh Quy Pháp Ấn. Mình rào lại, đóng cửa lại. Không đợi đến nó sanh, một người ở đây chết rồi thì còn gì nữa.

Chưa sanh phải biết sợ. Chứ đợi nằm ở đây rồi thì còn viết bảng thông báo gì nữa. Sự tu cũng như vậy, phải chặn trước khi nó khởi.

Giống như cái quán phía bên kia, lúc đầu con không để ý. Lúc đầu con để ý, để ý từ đầu là bây giờ không có hậu quả. Đầu tiên mình thấy, mình nghĩ bình thường thôi không có gì đâu, còn bây giờ nó sanh lên ngoài sức tưởng tượng. Thì phải chặn từ đầu, lúc nó chưa sanh, thấy mầm móng nó là phải chặn ngay lập tức, thì trong tâm mình cũng vậy. Cái ác nó chưa sanh phải đề phòng, lo sợ, coi chừng nó sanh, canh chừng. Nếu lỡ nó sanh rồi thì phải tìm đủ mọi cách để dập tắt nó. Như vậy phải có nhiệt tâm và lo lắng, sợ hãi.

Giờ cái thiện nó chưa sanh thì phải làm cho nó sanh, phải nhiệt tâm làm cho nó sanh. Giống như ngồi thiền, ngồi im re vậy hoài, chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Như vậy là đủ rồi, như vậy là không được. Phải quán bất tịnh, quán chín giai đoạn của một tử thi, quán tứ đại, quán cảnh mình bị trúng nhiễm Corona. Quán như vậy để khỏi dắt xe khỏi xuống núi. Mình quán đang chạy xuống dốc thì giật giật ngã chết ngay tại chỗ vậy đó. Có nghe bài con đọc là diệt tâm hướng ngoại không? Phải quán mạnh như vậy. Như vậy để làm gì? Ác pháp nó sanh rồi là phải diệt, đợi thầy nhắc ba bốn lần, không nhắc nữa là đi xuống núi luôn. Người có trí, người đi trước người ta nhìn thấy, người ta cảnh báo cho mình, mình không nghe. Thì mình đi luôn, mình xem thường, mình coi thường. Hồi xưa mới vô chùa sợ muốn chết, nói một tiếng là quỳ xuống khóc nức nở. Bây giờ ở lâu, nói ba bốn lần cũng như không. Cái đó là ác pháp. Phải lo lắng và sợ hãi, phải nhiệt tình và quyết định từ đây về sau không được tái diễn nữa. Tất cả cái đó là ác bất thiện pháp. Đừng tưởng đi xuống nói là không phải ác pháp. Nhìn kĩ trong cảm giác coi cái gì nó thúc dục đi.

Như thầy Nghĩa chuẩn bị có trương trình đi xuống Sài Gòn. Con mở bài diệt tâm hướng ngoại, chửi tâm hướng ngoại này là đồ mất dạy. Chửi một trận rồi xong là cắt trương trình về Sài Gòn luôn.

Cái tác ý là nó khủng khiếp lắm, cái đó nó đánh vô để làm cho cái thọ, tưởng, hành dừng lại liền.

Con thấy chuẩn bị là muốn về Sài Gòn mà con thấy chuyện này là có thể ở dưới giúp được. Mà cơ hội tu này là rất là quý, khó có thể có cơ hội tu như vậy.

Giống như hôm bữa sư cô cũng vậy. Chuẩn bị xuống núi, sáng con đánh bài diệt tâm hướng ngoại xong là tính ở lại. Lúc nghe bài này là xúc động, khóc luôn.

Đâu phải con không lo cho đại chúng đâu, đâu phải con ở trong đó con chỉ biết mình con không đâu. Đó là xuất hiện đúng lúc, đúng thời.

Mà con nói một chút thôi, không có nói nhiều.

Con thấy mấy chú ở đây cũng vậy, vô còn thấy bơ phờ hết trơn, mấy lần tác ý đi xuống núi. Con nói vậy là không được, bây giờ con phải có thuốc trị bệnh. Như vậy mà còn không ở là ráng chịu, cái đó là hết thời, hết số rồi.

Thành ra mình phải có nhiệt tâm và biết lo sợ, đây là giải thích chữ nhiệt tâm trong tứ niệm xứ đó. Chứ không phải như mình nghĩ nhiệt tâm là đơn giản đâu.

Mình phải canh chừng cái ác nó sanh, mình thấy nó có cái tầm, hướng hướng về sanh cái ác là mình chặn. Còn sanh rồi là mình dập, dập cho nó banh xác, dập cho nó tan nát. Thì cái đó là người có nhiệt tâm, có lo lắng sợ hãi.

Rồi cái thiện pháp mình thấy nó trơ trơ không sanh thì mình phải làm cho nó sanh. Chứ không thể nào mình tập sự xuất gia mà đi lùi, mới lên thì nhiệt thành tinh tấn lắm, cảm thọ cảm xúc rầm rầm, la khóc hét đồ lên, giờ thì trơ trơ như khúc cây. Vậy là đang đi lùi đó, rồi từ từ đi xuống núi đó, báo trước rồi đó. Càng ngày, càng phải nhiệt tâm lên, tinh tấn lên, càng ngày phải nóng bóng lên đối với thiện pháp.

Con thưa thiệt với quý thầy, người ta đi tu suốt đời chưa từng được một lần nhập thất như quý thầy, phải biết trân trọng nó. Chừng nào nó quá sức cỡ rồi đi ra.

Phải nhiệt tâm và biết lo lắng, sợ hãi. Tu là phải liều mạng, chết bỏ.

Con nhớ hồi đó ngồi thiền ở thiền viện Trúc Lâm năm 1994. Quý thầy ngồi hai tiếng mà nước mắt tràn, mà không gỡ chân là không gỡ. Mỗi ngày là ngồi thiền ba thời, một thời hai tiếng mà mỗi lần lên mặt ông nào ông nấy là như ra trận vậy đó. Lấy dầu rồi xoa, làm dữ dằn lắm. Một ngày ngồi ba thời, mỗi thời hai tiếng, ngồi mà chân bong gân, chân đau. Rồi có nhiều người ngồi đau quá, hai cái chân tự động quạt lên luôn, chân đau quá mà không mở ra, cứ để vậy đó, cái chí người ta tu vậy đó. Như vậy mấy vị đó là mấy vị trụ trì lớn không, trong nước ngoài nước.

Còn giờ mới đau đau, tê tê chút là buông cẳng, buồn ngủ là để cho nó ngủ luôn, không có nhiệt tâm, không chiến đấu gì hết. Tu vậy sao được, tu như vậy thì sao? Nhắm mắt hả họng để cho nó đi tới đâu thì đi à.

Cho nên phải có lo lắng và sợ hãi đối với ác pháp và thiện pháp.

Ở đây ngài Ca-diếp dùng cái từ gì? Nếu mà không có nhiệt tâm, không biết sợ thì không thể có giác ngộ, không thể có Niết-bàn, không thể có chứng đạt vô thượng an ổn khỏi các khổ ách. Nếu mà người không có nhiệt tâm không biết sợ đối với ác bất thiện pháp, cúng như đối với sự không phát triển thiện pháp.

Cho nên đọc cái này chiêm nghiệm mới làm động lực tu học, minh mà buông cái pháp ra là trở về tập khí thôi. Cho nên tại sao con khuyến khích mỗi ngày phải nghe kinh, nghe pháp. Giờ thử buông ra cho làm một ngày rồi vào ngồi thiền là khác liền. Có không? Giờ mình thả ra cho làm một ngày trở vô hỏi ở đây có ngày nào nghĩ, là không có ngày nào nghĩ hết. Ngày nào cũng ăn cơm, ngày nào cũng ngồi thiền, ngày nào cũng nghe pháp hết. Giờ nghĩ để làm gì? Nghĩ bắt đầu là nói chuyện, điện thoại. Có nghe như vậy mới cầm chừng, chứ không nghe là nó bung luôn, nghe như vậy rồi mà nó còn bung hoài đó.

Mà sự nhiệt tâm của mình hay lắm, nó sẽ đột phá những giới hạnh của thân thể, của tâm thức mình. Chặng hạn như mấy bữa con bị ho, do những nhân duyên con cung ráng tiếp những trường hợp không từ chối được, rồi xong là hết bệnh luôn, mà cái đó nhiều lần. Có những trường hợp mình bị mệt mà đặt mình vô trường hợp không thể nào không lên lớp, rồi xong mình lên là lực pháp nó mạnh, rồi nó khoẻ lại không cần uống thuốc. Pháp lực bất tư nghì mà.

Thành ra trong sự tu tập của mình, trong cái pháp sanh ra pháp hỉ, sanh ra pháp lực, sanh ra pháp hùng. Chứ mình đừng suy nghĩ rằng cứ lo sợ hoài, lo hoài là nó yếu hoài. Cứ việc nhiệt tâm tinh cần, dồn sức vô đánh trận, liều mạng. Nghĩ rằng lần ngồi thiền này là lần ngồi cuối cùng là nó tới bến luôn.

IV. Dè dặt

Giờ tới ví dụ mặt trăng.

Hãy giống như mặt trăng, này các Tỷ-kheo, khi đến các gia đình thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt. Luôn luôn là người mới giữa các gia đình. Chớ có đường đột xông sáo.

Thiệt tình, những câu này không dùng lời nào diễn tả nổi. Những câu này khắc vô não, thánh trí.

Đây là nói người xuất gia đi khất thực, hay là mình đi đến nhà phật tử, hay đi ra chợ, hay có duyên gì đó. Thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, chứ mình không có phi như lý tác ý là mình nói bữa giờ ở trong chùa căng thẳng quá, giờ mình cho nó thoải mái đi, đó là phi như lý tác ý. Bắt đầu mình cho phép mình buông lung, cho nên cái tu, cái bí kíp võ công là chỉ có khắc ngay bây giờ thôi chứ không tu nhiều. Ngay lúc đó, nó có ngay lúc đó thôi chứ nó không có năm năm, mười năm, hai chục năm gì hết trơn. Ngay lúc đó, hiện giờ thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt khi đến các gia đình, khi tiếp xúc với phật tử, khi tiếp xúc với phái nữ, khi tiếp xúc với người khác phái. Than phải dè dặt, tâm phải dè dặt. Mấy cái chữ này nó hay.

Cho nên con thấy tạng kinh này là một kho kim cương mà sao mọi người không chịu mở ra, đặng sài. Con có tâm nguyện là con giảng hết tạng kinh này nếu con còn sống. Bây giờ cái này để trong tủ không, không có ai đọc hết, mà có đọc cũng không hiểu nổi được bao nhiêu nữa.

Thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt khi đi đến các gia đình, chớ có đường đột, xông sáo. Nghe cho kĩ nha.

Mấy người mình thân, mình nói năng mình không có chánh niệm, không có quai nghi. Mình nghĩ mấy người này thân thiện với mình, mà chính là những người thân thiện đó là những cái đó mình mới tu, tại những lúc đó mình bung tập khí của mình ra. Mình đi ra ngoài, mình lịch sự với người mình mới gặp, với người khách mà về cha mẹ, anh em, vợ chồng mình bất lịch sự, mình không giữ gìn gì hết. Thì chỗ này, chỗ người thân trong gia đình mình buông lung, phóng giật, sống với tập khí, thói quen. Mình không có dè dặt, thân không dè dặt, tâm không dè dặt mà chính chỗ nào mới sanh ra phiền não, vợ chồng đổ vỡ, cha con mới cự cãi, anh chị em mới bất hoà và huynh đệ với nhau là không nhìn mặt. Ở trong chùa chia năm xẻ bảy, nhóm nhà bếp chia ra hai phe, hay ba phe. Vậy là chết đó, nếu mình có dè dặt là không có chuyện đó xảy ra, mình chánh niệm và tỉnh giác.

Cái dè dặt này hay lắm, đừng có xông sáo đường đột. Cho nên con có những quy tắc sống thiệt sự là hơi khó. Hiểu mới thông cảm được, không thôi nói mình khó. Có những cái nó sai thì mình chịu, còn cái khó đúng là phải chịu mình.

Con mà nhiều khi trong thất ai mà đường đột vô là con không muốn tiếp. Như bữa mấy sư cô vô là con giật mình vậy đó, lúc đó là con đang mặc áo, vô phải thông báo trước.

Rồi khi mình ở chung với nhau mình không có xông sáo đường đột, mình lại cửa phòng mình phải gõ cửa. Cửa phòng người ta mình mở nhào vô là không được, phải có quy tắc, phải có nề nếp, phải trang nghiêm tôn trọng.

Dù cho mỗi người một cái mành, một cái bình phong nhưng mình muốn qua mình cũng phải xin phép trước. Hay là dãy của mình là dãy tập sự, mình qua dãy mấy thầy mình cũng phải xin phép trước. Chứ không phải mình vô ra tự nhiên, mình vô ra mình không biết ai hết, như vậy là không được. Tất cả cái đó đều là thực tập cái nết hạnh của mình, cái quy nghi của mình.

Thấy không? Giáo sư Nguyễn Khuê đó, mới lên là thầy xưng tôi mà bữa cuối cùng là thầy xưng con mà thầy tám mươi mấy tuổi, thầy là thầy của con mà. Sau khi con chia sẽ thánh trí năm uẩn, mỗi cái thầy làm là chuẩn mực. Khi thầy trình bày là thầy bước ra xá một cái, rồi thầy cầm micro thầy trình bày. Mà người già tám mươi mấy tuổi mà vận chuyển như vậy là khó hay dễ. Giờ người trẻ cầm micro chỉ nói thôi chứ, mà thầy già tám mươi mấy tuổi mà từ bên đó thầy bước qua, thầy xá một cái. Tuy nhiên người lâu lâu tới đây thì khác, còn người ở đây làm vậy thì mất thời gian. Nhưng mà mình phải học mấy cái đó, phải có cái chuẩn mực, tuyệt đối là không có đường đột, xông sáo. Đó là gì? Đó là nét đẹp của người xuất gia.

Cho nên nhiều khi con ở trên rừng một mình. Con ngồi nói chuyện với khác đang vào cái pháp mà đi ngang tự nhiên cái nói xem vô như vậy. Cái đó không được, cái đó là đường đột. Dù cho là ai, mình là người xuất gia mình phải cẩn thận. Mình muốn nói, mình muốn thưa cái gì, mình phải chờ. Mà cái đó là bị nhiều lắm, mà không phải người tập sự, ngay cả người xuất gia cũng vậy, mình ở đây mình học bao nhiêu rồi cũng vậy. Cứ muốn nói là nhào ra nói, không có đường đột như vậy. Mấy cái này là học, học suốt đời. Mình phải tập, tập từ từ.

Mấy cô mà điện giờ tối là con không có bắt, nhắn tin giờ tối là con không trả lời, giờ đó là giờ thiền định. Mình có cái giờ là phải tắt điện thoại, không thể lúc nào cũng mở được. Tất cả mọi cái là phải học hết.

Từ những cái tế hạnh đó, từ từ rồi mới thành cái thánh hạnh.

Đức Phật ví dụ: Này các Tỷ-kheo giống như một người nhìn một cái giếng cũ, hay một sườn dốc núi, hay một cái thác nước. Thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt.

Ba cái ví dụ là cái giếng cũ, hay là sườn núi dốc hay là cái thác nước. Cái giếng cũ là mình chồm chồm lấy nước, mà giếng hồi xưa trơn trợt mình không cẩn thận là lọt xuống đó là đến đó chứ sao, là mình phải cẩn thận. Rồi cái sườn núi dốc, khi mình đi cái dốc đứng, mình đi phải cẩn thận, thân dè dặt, tâm dè dặt, từng bước chậm chậm, đi dữ cái thế. Rồi giống như cái thác, thác nước, lỡ trợ cái chân là toi mạng. Thì Đức Phật dạy mình khi tiếp xúc với cư sĩ, khi tiếp xúc với các gia đình, khi đi ra ngoài là mình giống như chỗ thác nước, đi chỗ dốc đứng hay là mình ở chỗ múc nước, chỗ cái giếng mà trơn trợt, phải cẩn thận như vậy. Nếu mình giữ được giống như lời Đức Phật nói thì ít nhất cũng tu đạo hoàng, thánh giả thứ nhất.

Những cái này là thánh trí của Đức Phật mà Đức Phật sống như vậy, thánh giả sống như vậy, thánh giả sống như vậy, chư Tỷ-kheo thời Đức Phật sống như vậy. Cho nên giới mới thanh tịnh. Mà giới thanh tịnh khi ngồi thiền tâm mới an định, tâm an định rồi là hỉ lạc, khinh an. Rồi sau đó cái tuệ quán khai triển thiện quán, lúc đó là phá lậu quặc, chứng ngộ Niết-bàn, đó là trình tự của tâm. Bây giờ là mình xem thường mấy cái này hết, cho nên là phải tập từ từ. Không có ăn nói, mà la lối lớn tiếng, phải tập từ từ, rồi từ từ sẽ được, rồi nó tuyệt vời lắm.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo hãy giống như mặt trăng khi đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tam phải dè dặt. Phải luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông sáo.

Nhớ ví dụ mà cô dâu mới về nhà chồng, Đức Phật ví dụ.

Người mới lên núi lần đầu tiên, hãy luôn luôn là người mới.

Thầy giáo con là gần ba chục năm. Khi con về thăm gia đình thầy Pháp Nghĩa cũng vậy, khi ba mẹ chú Trí Hoà lên cũng vậy. Mình coi là ba mẹ của đệ tử tôi, mình coi giống như trong nhà, cũng không phải. Phải tôn trọng, phải tạo đủ điều kiện cho họ tiếp nhận đủ thánh pháp. Khi mà thầy lên, giáo sư Nguyễn Khuê lên, tuy là quen ba chục năm nhưng mà con coi như người mới vậy đó. Sự cung kính và tôn trọng phải ngày càng tăng trưởng lên thêm. Mình phải tập như vậy, tập cái là người mới hay lắm, tuyệt vời lắm.

Đức Phật ví dụ: hãy giống như mặt trăng vậy đó. Mặt trăng sáng, tỏ rạng ra.

Khi mình đi đến các gia đình mình phải là mặt trăng. Quán tưởng hình tướng của mặt trăng. Mật tông phải lấy cái này ra làm phép quán đây. Tức là mặt trăng của thiện pháp, mặt trăng của thánh pháp, mặt trăng của tịnh pháp, mặt trăng của đời sống thanh cao, thánh thiện. Không vì danh lợi, địa vị, chức quyền, tình cảm, tài vật mà để cho mình tham lam, tham đắm, dính mắc mà không thấy rõ được sự nguy hại.

Đức Phật mới hỏi rằng: Mấy ông nghĩ như thế nào mới là một Tỷ-kheo xứng đáng đi đến các gia đình khất thực?

Bạch Đức Thế Tôn: Đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa. Lành thay là tốt lắm, hay lắm, Bạch Thế Tôn, ngài hãy nói ý nghĩa lời nói này. Sau khi nghe Chúng con sẽ thọ trì.

Cho nên câu này mình tụng mỗi ngày đó. Tại sao câu này con đưa ra tụng mỗi ngày. Tại khi một vấn đề nào Thế Tôn hỏi mấy ông nghĩ như thế nào. Là không một ai dám trả lời hết. Còn gặp mình, Phật hỏi cái là mình thao thao bất tuyệt, mình thao thao với cái vô minh của mình, với cái bản ngã của mình, với cái lậu quặc của mình, với cái thọ tưởng hành trong si ám của mình.

Những câu hỏi đó là cơ hội để Đức Phật tuyên dương diệu nghĩa. Chính kiểu mà không có tôn này, không biết rằng các pháp lấy Thế Tôn làm gốc rễ, tất cả các pháp lấy Thế Tôn làm bậc lãnh đạo, tất cả mọi sự lấy Thế Tôn làm chỗ nương dựa. Cho nên mình mới suy nghĩ theo cái mê chấp. Cho nên pháp đi vào thời kì mường tượng và hoại diệt.

Nếu như mình tuân thủ theo nguyên tắc này là chánh pháp vẫn còn. Bằng cớ là bây giờ mình đang học.

Mạnh ai cũng chế tác hết, mạnh ai cũng diễn thuật hết, mạnh ai cũng đưa ra những ý tưởng hết thì cuối cùng là xong rồi. Đâu có lấy Thế Tôn làm lãnh đạo đâu, đâu có lấy Thế Tôn làm căn bản, đâu có lấy Thế Tôn làm chỗ y cứ đâu.

Hỏi cái này ai dạy là sư ông con, sư phụ con dạy, cái này tổ nói. Vậy đâu có lấy Thế Tôn làm căn bản, đâu có lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, đâu có lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa đâu. Nhiêu đó là thấy mất gốc rồi, nhiêu đó thôi là nguyên nhân của chánh pháp sụp đổ.

Cho nên các thầy, các cô, đại chúng là phải học thuộc lòng kinh Nikāya, phải học thuộc lòng. Tại vì sao? Mình thấy đó, ngũ uẩn học hoài như vậy, mấy chục năm nay mà không nhìn ra được ngũ uẩn, tại vì mỗi người một định nghĩa mà. Chỉ cần mình trở về định nghĩa trong tạng kinh, thực tập đúng theo như vậy là sáng rực ra. Câu này quan trọng mà mình phải tụng hằng ngày.

Sau khi nghe Thế Tôn nói, chúng con, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

Đức Phật mới vẫy bàn tay giữ hư không. Này các Tỷ-kheo, bàn tay giữa hư không mà nó không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc. Cũng vậy này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo đi đến các gia đình, tâm không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc. Nghĩ rằng những ai muốn được lợi, hãy được lợi. Những ai muốn công đức, hãy làm công đức. Như minh quan hỉ, thoả mãn khi mình được lợi, hãy hoan hỉ thoả mãn khi người khác được lợi. Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình.

Này các Tỷ-kheo Kassapa, Ca-diếp khi đi đến gia đình, đối với các gia đình, tâm không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc. Nghĩ rằng những muốn được lợi, hãy được lợi. Những ai muốn được công đức, hãy làm công đức. Như mình hoan hỉ, thoả mãn mình được lợi, hãy hoan hỉ, thoả mãn khi người khác được lợi. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình.

Những điều này sau này thiền tông mới học theo những cơ phong của Đức Phật. Từ những bài kinh này mới làm ra những điều về sau, khi học sâu vào kinh chúng ta sẽ thấy rất thú vị, vì tất cả tông phái chỉ mới lấy một phần nhỏ xíu trong đây ra.

V. Không dính mắc

Thì bây giờ hỏi Đức Phật, bạch Đức Thế Tôn người như thế nào mới xứng đáng đi đến các gia đình. Thì Đức Phật đưa bàn tay ngài lên, ngài vẫy trên hư không. Không có bị dính mắc, không có bị nắm lấy, không bị trói buộc, cái bàn tay không.

Tay này không có nắm, tay này không có cầm gì hết, tay này không có bị trói buộc, đây là bàn tay tự do. Như vậy thì sao? Khi đến các gia đình tâm không có bị dính mắc, không bị nắm lấy, không bị trói buộc.

Cứ tới lui hoài cái gia đình cúng dường nhiều, rồi thân coi giống như người trong nhà như vậy. Nhiều khi còn thân hơn cha mẹ, tại cha mẹ lâu không có về còn phật tử này tới lui nhiều nên thân. Như vậy là bị dính mắc rồi, bị trói cột rồi, bị nắm lấy rồi.

Đức Phật nói sao nữa? Cùng vui với cái vui của họ, cùng khổ với cái khổ của họ, liên hệ quá mật thiết đối với gia đình của họ.

Cho nên con thưa thiệt cái này là nguyên tắc một cuộc đời xuất gia của con là con giữ, ai giận thì giận mình chịu. Con không có phật tử thân, thân thiết là con không có. Dù cho cúng bao nhiêu thì cúng, cúng nữa ngọn núi này con cũng vậy. Thì liên hệ với liên lạc là pháp, còn ngoài ra nói chuyện gia đình, khổ gì đó thì con chia sẽ pháp, còn nói chuyện này, chuyện kia con nói con không biết, cái đó con không biết. Giận thì chịu. Chứ một hồi là mình bị nắm lấy rồi sao, hồi mình bị dính mắc rồi sao, hồi mình bị nắm chặt rồi sao.

Cái gì cũng nói chuyện thì có đứa con có đám cưới thầy coi ngày giùm con, thầy coi hai đứa nó được không, thầy có ý khiến nói được mai mốt nó có chuyện thì đổ thừa, còn thầy nói không được thì cũng không được. Sao kì vậy, nói cái nào cũng chết hết trơn, cái đó là cái pháp đi vô mà mình lại đi ra mình nói cái gì.

Ngay cả cha mẹ người thân với con còn đối xử bằng pháp. Con mà thấy ông năm mà có phiền não nhiều là con không có lên nữa, con cách ly mấy ngày vậy đó, để cho ổng soi xét lại. Cái nổi giận đó đúng hay là không.

Ví dụ: Con thấy bà năm mà lơ là con nhắc, có khi là nhắc khéo, có khi lên bài giảng con nhắc. Cũng như con nhắc dụ ở dưới bếp, con không biết có chuyện gì hay không mà con nhắc phòng hờ vậy đó, có thì mình biết.

Mình không để cho nó để mình bị dính mắc, mình bị nắm lấy, mình bị trói buộc, mình bỏ mất sự tu. Mình còn sống được bao lâu nữa.

Thành ra cái báo hiếu của con là thầy Nguyễn Khuê gọi điện cảm ơn mười lăm phút. Mà xưng tán nhiều nhất là cái báo hiếu, đại hiếu với cha mẹ là về cái pháp. Con mong muốn là ông vụ bà cụ là đi vô cái pháp, còn những cái khác là phải có chút đỉnh vậy cho vui thôi, chứ không có là buồn. Nhưng phải biết là cái chánh yếu là cái pháp. Bây giờ còn sống được bao nhiêu, chắc chắn là sống được mấy năm nữa. Sao biết được, tối nay ra đi cũng không biết, tuần sau ra đi cũng không biết, hay tháng sau ra đi mình cũng không biết, năm sau ra đi mình cũng không biết. Nếu mình không có sự chuẩn bị, không có sự tu tập nghe pháp, thường xuyên quán chiếu, thì bất thình lình nó đến thì sao con cứu được, điều đó là không thể. Chỉ có tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, chớ có nương tựa vào việc khác. Lấy chánh pháp làm chỗ nương tựa, lấy chánh pháp làm ngọn đèn. Chánh pháp đó là gì? Là luôn luôn quán chiếu thân tâm, quá chiếu tính nguy hại, tính vô thường, tính vô ngã, tính khổ, tính ta rã bại hoại của thân xác này, của đời sống này. Cái đó mới là ngọn đèn cho chính mình. Đó là gì? Đó mới là sự báo hiếu. Chứ còn không giống như gia đình bình thường. Có thể chị con, anh con, mọi người lên sẽ thấy sao ông thầy ổng lạnh nhạt quá vậy, đó không phải. Đó là lạnh cái đời nhưng mà nồng cái đạo pháp.

Nếu mà cái đời mà nó nồng nhạt thì mình càng buộc ràng thêm nữa. Cho nên cho những cái chỗ, mẹ của thầy trụ trì kêu mấy thầy bằng thằng, là hết sức nguy hiểm. Mà con rất sợ cái đó từ đầu, rất sợ. Tại vì ỉ lại vô con mình trụ trì, họ vô họ bung cái bản ngã của họ ra, họ làm quyền trong chùa là hết sức nguy hiểm. Đó là hại cha mẹ, hại cha mẹ đoạ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chứ không phải là cứu giúp cha mẹ. Chính cái đó là cái sợ nhất, từ đầu đến giờ là ai cũng khen thầy Pháp An và bà Diệu Hiền. Con là có cái vạch hướng đi từ đầu và đặt tâm đúng hướng. Mà cái đó là sự khổ tâm của con là chỉ con biết, còn người nào để ý sâu sắc mới biết, còn người thông thường thì không biết. Ngay cả trong gia đình, có thể nói ủa sao thầy lạnh nhạt quá vậy. Nếu mình lên tu, lên học, lên nghe pháp thì lúc đó nồng nhiệt. Nếu lên mà không tu học mà lên là tình thương, khóc lóc, kể chuyện chồng con này kia thì cái đó là khỏi cần gặp thầy, không gặp.

Mình phải lên mình học pháp, mình cầu pháp, mình tìm phương pháp thì gặp nhau. Ai thấy pháp người đó thấy ta, ai thấy ta người đó thấy pháp. Bây giờ đời sống của con là pháp, người nào muốn cầu pháp, muốn gặp pháp, muốn tu pháp thì lúc đó mới gặp con, còn nếu không gặp pháp thì thôi không gặp vì gặp cũng như không gặp.

Hướng tâm về pháp là gặp, không hướng tâm về pháp dù cho ngồi gần cũng không gặp vì một cái đi vô, một cái đi ra thì sao mà gặp. Mặt quay qua đây, mặt quay qua kia thì sao mà gặp.

Ví dụ: chú Dũng giờ chặt kiếm, cạo đầu, bỏ kết công ăn chuyện làm, giờ lên đây vậy đó. Giờ anh em ruột hay bạn thân thương nhất hồi xưa giờ lại toàn nói tiền bạc, danh lợi, gái ăn chơi vậy giờ chú muốn nghe không? nếu ông nói tu cái gì giờ tôi cũng muốn học thì lúc đó sao? Chịu liền phải không.

Cho nên ai thấy pháp thì người đó thấy ta, ai thấy ta người đó thấy pháp. Ai gần pháp thì người đó gần ta, ai gần ta thì người đó gần pháp. Đó là chỗ tuyệt diệu của người xuất gia đó.

Đừng có để bị dính mắc đối với sự cung kính, đãnh lể, cúng dường, tôn trọng mà thân thiện. Cho nên con thấy trong chúng người này thân người kia, không thân người nọ là con không có vui, đó là cái tâm thiên lệch. Nhóm này hai ba người thân, nhóm kia không thân, cái đó là tâm thế tục, phàm tình, dính mắc nữa đó. Nó không nặng nề gì mà ông này hiền lành, dễ nghe, dễ nói tôi chơi thân, còn ông kia khó nghe là không chơi, lại gần là né tránh, đi kiếm ông kia ví dụ như vậy. Cái đó là không đúng. Phải tập cái tâm rộng mở, nhu hoà, không dính mắc dù cho cái đó là thiện pháp. Không khéo cái tình, đúng sai, hay dở, thân sơ thì nó thành trật. Phải giữ nhau bằng cái pháp hết thì mới an ổn, lợi ích lâu dài. Còn nếu không là mai mốt thế nào cũng có chuyện. Huynh đệ, tỉ muội với nhau cũng y chang như vậy, vì pháp mà đến, vì pháp mà đi, cầu pháp, vì pháp mà tu mà học, tất cả đều đặt cái pháp trên đầu, tất cả là vì pháp hết. Cái này nó mới tuyệt diệu, bữa nay cái pháp này nó diễn bày.

Cho nên Đức Phật nói người mà không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc giống như mặt trăng, giống như bàn tay giữa hư không thì người đó là người xứng đáng để đi đến các gia đình. Thì người đó đi đến gia đình suy nghĩ sao? Ai muốn được lợi thì được lợi, ai muốn công đức thì được công đức. Tức là người nào muốn được lợi, họ bố thí, họ cúng dường thì bản thân họ được lợi. Người nào họ bố thí cúng dường thì bản thân họ được công đức.

Là gì? Vì lợi ích cho những gia đình đó, chứ không phải gia đình đó đem lợi ích cho mình. Chỗ này là chỗ thâm sâu. Cho nên đúng ra người phật tử hiểu pháp khá là cúng dường lớn là người đó phải cảm ơn, chứ con không phải cảm ơn. Nhiều khi thầy Pháp An nói người này cúng dường thế này, người kia cúng dường, con bình thường, con giống như không biết vậy đó. Cái đó họ được lợi cho họ. Có những người mình cảm ơn cái bản ngã học lớn lên nữa, học tưởng đâu là mình nhận cái ơn của họ. Đó là không phải. Họ cúng dường là họ được lợi, học cúng dường là họ được công đức. Tức là họ nhờ tam bảo mà họ được lợi, nhờ tam bảo mà họ được công đức. Chứ không phải vì cúng dường nhiều là bắt đầu mình đưa họ lên, đó là mình làm hư họ. Bây giờ phật tử bị hư rất nhiều, cúng một chút là muốn làm quyền. Con mà gặp như vậy con nói khỏi cúng, thôi đừng cúng.

Cô Phật tử lúc đó là cúng phân nữa đất ở đây đó. Lúc đó trước khi cúng con kêu về nhà nói với con ba lần, con kêu về bàn kĩ, giờ muốn cúng dường là phải có điều kiện con mới nhận.

Thứ nhất cúng này không phải cho con mà cúng cho tam bảo, con là người đại diện để nhận.

Thứ hai không được ở trong miếng đất mình cúng, nếu muốn ở tự mua miếng đất chỗ khác, không được ở trong miếng đất ở đây.

Cái thứ ba đã cúng rồi là trong đây chư tăng quyết định toàn quyền để kiến lập đạo tràng tam bảo. Chứ không phải mình ý kiến làm cái này làm cái kia, như vậy là không nhận.

Nói gọn là ba yêu cầu đó chịu thì cúng còn không chịu thì thôi.

Có ai mà ra yêu cầu vậy không. Mà lúc đó cúng ở đây là gần một chục mẫu đó, lúc đó mười năm trước.

Tại vì sao? Tại vì mình nhận cái này là phước báu cho họ. Nhận vô cực chứ đâu có sướng đâu.

Còn người mà nghĩ cúng là cho mình, mình được cái này, cái kia. Cái đó là phàm phu, vô văn phàm phu, không phải đệ tử của Phật.

Người mà nghĩ rằng cái này tôi được, cái này cúng cho tôi, cái này chùa tôi thì người đó không phải đệ tử chính thức của Phật. Đệ tử của Phật không suy nghĩ như vậy.

Thì chỉ có nghĩ như vậy, nói như vậy, làm như vậy mới đưa đến mục đích li tham. Nếu không nghĩ như vậy, không nói như vậy, không làm như vậy thì không hướng đến mục đích li tham. Mà cái đó nó tăng trưởng thêm tham, ngày xưa tôi có một mẫu giờ tôi ba chục mẫu.

Cho nên con nói từ đầu rồi là xác định mục tiêu, kiên trì mục tiêu và nỗ lực đạt đến mục tiêu, không có thay đổi, suốt đời không thay đổi.

Giờ có ai cúng mà yêu cầu vậy không? Lúc đó là chỉ có am tranh thôi chưa có gì hết.

Khoảng 2008, 2009 là con khoảng 32 tuổi. Tại vì mình nghe mấy cái này mới có nói làm ngược đời vậy đó.

Cho nên người đi khất thực nghĩ rằng những ai muốn được lợi thì hãy được lợi, những ai muốn công đức thì hãy làm công đức. Khi mà ôm bình bát đi khất thực, như mình hoan thỉ, thoả mãn khi mình được lợi. Hãy thoả mãn và hoan hỉ khi người khác được lợi.

Khi mình thấy những người khác mà người ta cúng dường cho những huynh đệ của mình, mình hãy tuỷ hỉ, hoan khỉ khi người khác được tôn trọng, cung kính, đãnh lể cúng dường, không có ganh tỵ.

Chẳng hạn như giờ hai thầy ngồi như vậy, bổng nhiên có phật tử họ đến họ quỳ họ lạy thầy Pháp Từ lạy hoài, họ cúng như vậy. Mà thầy Pháp Nghĩa ngồi kế bên không cúng gì hết trơn, không thèm xá nữa. Thì cái đó cũng hơi căng, cái thọ tưởng hành lúc đó cũng hơi căng. Thì ở đây Đức Phật dạy làm sao? Là phải như thế nào? Như mình hoan hỉ, thoả mãn khi mình được lợi, hãy hoan hỉ, thoả mãn khi người khác được lợi. Đó là tuỳ hỉ, vui theo.

Khi đó mình thấy thầy Pháp Từ tu hành tinh tấn, để tâm vô hướng dẫn mọi người, người ta cảm nhận được cái pháp. Cái này là người ta cúng dường cái pháp, không phải cúng dường mấy chục kí thịt đó, mà cúng dường cái pháp, cúng dường pháp bảo. Mình dẹp cái tâm so sanh được và không được, có hay là không, nhiều hay là ít, kính hay không kính. Dẹp rồi mình mới bắt đầu mình phá cái bản ngã bên trong. Con nói ví dụ vậy đó, con nói coi chừng có.

Nó nhỏ lắm, cho nên cái tu của mình nhỏ vậy đó, cho nên cái tu của mình tế nhị vậy đó, chứ đâu phải mình đợi cái gì dữ dằng mới tu đâu. Người ta quỳ, người ta lạy, người ta cúng mà bên đây không có cũng buồn rồi, thấy chưa? Cho nên mình mới thấy những cái này sâu sắc.

Ví Dụ: Mời cô Toàn lên không phải chuyện dễ. Con và cô ngồi đây mà người ta quỳ lạy cô mà người ta khóc lóc, cung kính. Con ngồi kế bên là không dòm, hoặc đứng lên nói chuyện là cô không từ đầu đến cuối. Là mình phải coi cảm thọ của mình, coi cái bản ngã của mình. Những cái đó là những cái hết sức là sâu sắc, nếu mình không phá được cái đó là rất khó tu.

Tại sao mà cô đã đi đến các học viện Phật Giáo lớn nhất của nước Việt Nam, đi đến chùa Hoằng Pháp là đạo tràng vĩ đại nhất. Đi đến chùa Giác Ngộ là chỗ rất tiếng tăm. Đi đến chùa thầy Trí Huệ và rất nhiều chỗ. Mà người ta không phải không biết cái pháp đó hay, mà các bậc thầy đó không lẽ họ không biết. Mà biết rồi là kính nhưng viễn chi, là chào rồi xong. Người ta chịu nổi không? Hạ gục cái bản ngã mình xuống nổi không? Ông thầy trụ trì, ông Thượng Toạ, Ông Giảng Sư ngồi đó để người ta lạy bên đây. Thậm chí là mình phải chịu sai, trật cái kia mới là trúng. Mình phá nổi cái bản ngã của mình không? Chính cái chỗ đó mà cái chỗ quan ải, nếu mình không phá được quan ải này là mình không tiếp nhận được cái pháp.

Chứ đừng nói chi là quỳ lạy vị cư sĩ ở giữa hàng trăm người. Chính những cái cô và con làm có thể bây giờ người ta không chấp nhận nhưng sau này có thể trở thành huyền thoại. Mà chuyện này không phải chuyện dễ. Phá không nổi cái cao thấp, cái sắc tướng, cái địa vị, cái vai vế, cái trên dưới. Đó là cả một cái đột phá lớn, không phải chuyện đơn giản, thấy vậy nhưng không phải chuyện đơn giản.

Cho nên mấy cô mà quỳ, mà lạy cô là một chuyện không phải đơn giản. Là phá cách, xuất cách và núi tu di sụp đổ, chứ không phải chuyện đơn giản. Cỡ này đây mà quỳ lạy cũng cả một vấn đề, là động đất, là địa chấn. Dễ lạy sao? Ông thầy tôi còn không lạy nữa, ông hoà thường tôi cũng không lạy. Nhiều khi có lạy là lạy cho có, vì người ta lạy mình phải lạy, người ta lạy mình không lạy thì kì. Còn cái thật sự để cung kính, đảnh lể thì cả một vấn đề. Phải hạ gục, đo ván, đập vỡ được cái bản ngã. Giai đoạn đầu, giai đoạn thô là không phải chuyện đơn giản.

Sự tu là một công trình phải không? Cả một sự chiến đấu chứ không phải là chuyện đơn giản. Đó là mới nói cái thô nhất ở bên ngoài thôi đó, còn những cái sâu ở bên trong nữa. Trường kì kháng chiến, nội chướng ngoại ma. Chướng ở bên trong còn ma ở bên ngoài.