Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thiền Quán - Sỉ Nhục Thay! Sự Sanh Già Bệnh Chết 6! Kinh Đại Bổn 3 - Trường Bộ

2026-03-03 00:53:46
Nikāya Thiền Quán

Sỉ Nhục Thay! Sự Sanh Già Bệnh Chết 6!

Kinh Đại Bổn 3 - Trường Bộ

Thích Minh Thành

Niệm chúng sanh khổ, quán niệm về nỗi khổ của chúng sanh để mình trải tâm từ. Chúng ta nhìn ra bầu trời và lắng nghe những tiếng tru của những con chó, tiếng gà gáy, tiếng tắc kè kêu, đây là thực tại của thế giới này cũng là thực tại của tâm chúng ta, cái tâm hôn mê, u ám. Tâm thức của chúng sanh còn u ám hơn bầu trời này nữa, cái sự quằn quại, kêu ra rên rỉ là thực trạng của thế giới, là thực trạng của nhân sinh và thực trạng của thân tâm này.

Khi mình thường nhớ mình đang bị vô minh thì lúc đó minh sẽ sanh khởi, mình sẽ cẩn trọng. mình không nhớ mình đang bị vô minh phong tỏa thì mình sẽ không cẩn thận. Mình quên rằng mình đi trong bóng đêm với một ngọn đèn hết sức loe loét, mình không biết rằng ở phía trước mặt mình có nhiều rắn độc, mãnh thú. Vừa rồi ở dưới miền tây một trăm mấy chục người bị rắn độc cắn nhập viện cùng một lúc, mình không biết dưới chân mình có độc xà, sát bên hông mình có vực sâu và con mắt lờ mờ, trời thì tối. Nếu mình nhận thức được điều đó, mình ý thức được điều đó, để tâm vào việc đó mình sẽ không dám lơ đãng, mình sẽ bước rất là thận trọng, mình sẽ nhìn thật là kỹ lưỡng, mình sẽ đi rất là vững chãi vì mình ý thức được sự nguy hiểm phía trước, bên hông, đằng sau.

Mình đã biết được rằng màn đêm với một ánh đèn loe loét, nhỏ bé, không đủ ánh sáng, có thể rất nhiều những sự nguy hiểm đang rình rập, nó sẽ tấn công mình bất cứ lúc nào, một người thường suy nghĩ như vậy người đó sẽ rất cẩn thận, người ta sẽ bước những cái bước rất vững chãi và một người không thấy được điều đó là người này ở trong một cái thọ buông thả, buông lơi, buông lung, buông trôi và cái thọ buông lung này trở thành căn cứ địa của người này, gần như là nó chiếm bảy mươi, tám mươi, chín mươi phần trăm là tại vì người này không ý thức được sự nguy hiểm và tác hại của buông lung phóng dật.

"Không phóng dật, đường sống,

Phóng dật là đường chết.

Không phóng dật, không chết,

Phóng dật như chết rồi"

(Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 21)

Người phóng dật không có khả năng thể nhập pháp và cũng không có quá căng thẳng, căng thẳng thì lo sợ, bất an, tâm bị trạo cử, trạo hối cho nên chánh niệm tỉnh giác mà vẫn nhẹ nhàng, sáng tỏ, đó là một điều khéo dụng tâm của mình Cho nên trong bài kinh Đại Bổn này Đức Phật nhấn mạnh nhiều về sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi và sự lợi ích của Niết-bàn. Thế Tôn giảng dạy, khuyến khích, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỉ với pháp thoại, ngài nêu rõ sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi và sự lợi ích cao thượng của Niết-bàn. Chúng ta luôn luôn học sự nguy hiểm, sự hạ liệt, sự nhiễm ô của các pháp hữu vi là sự lợi ích, hạnh phúc cao thượng của Niết-bàn, chúng ta luôn luôn đưa hai trái này là để so sánh, đối chiếu và lấy hai cái song song cảm thọ hỷ và ưu, hướng thượng.

Vì mình không thấy được sự nguy hiểm của chúng nó, sự hạ liệt và nhục nhã của ngũ uẩn này, vì mình không thấy được một cái tâm thức đầy nhiễm ô, cấu bẩn, giống như mặt mình dính dơ đầy mà mình không thấy thì mình đâu có chùi rửa, còn người sạch sẽ vừa dính dơ một chút họ phải chạy đi tìm nước, tìm khăn, tìm đồ lau vì họ thấy, họ biết họ là một con người sạch sẽ, không chịu đựng được dơ, còn với một con người không thấy cái mặt mình dính dơ, không biết mình đang bị lấm bùn hoặc là người ở dơ thì người này không có ý muốn mạnh mẽ, nhanh mau, lẹ, quyết liệt trong cái việc rửa chùi, làm sạch. Cái sự quyết liệt, rửa chùi, làm sạch đó là dục như ý túc, là tinh tấn như ý túc, là tâm như ý túc, là để tâm vào cái điều đó, tìm đủ mọi cách là tư duy như ý túc.

Vì người này ý thức được sự nguy hiểm và tác hại, sự đau khổ, sự sỉ nhục, sự hèn hạ của những cái cấu nhiễm bên trong, càng ý thức sâu sắc chừng nào, càng thấy biết đầy đủ chừng nào, càng nhận thức trọn vẹn chừng nào thì cái sự quyết liệt để làm sạch càng được triển khai một cách mạnh mẽ, nỗ lực chừng đó. Tại sao mà mình tu mình không thấy tinh tấn, mình không thấy tiến bộ là tại vì cái nhận thức về nguy hiểm và tác hại của lậu hoặc không có đầy đủ, không có ước muốn sắc bén đó, mình không có cái quyết liệt, cái nỗ lực, dũng khí, hào khí, hùng khí. Khi mình ý thức sâu sắc về cái sự tai họa, nguy hiểm, hạ liệt, sĩ nhục, tồi bại, khổ đau, bất an, khốn nạn thì tự động trong mình sanh ra một sức mạnh cho nên tín sanh ra tấn, khi có lòng tin rồi là tự động sẽ tiến tới, tấn tới, tiến lên.

Như vậy thì nó sẽ luôn nhớ cái điều mà nó phải cần làm, đó là tín, tấn, niệm, khi luôn nhớ cái điều nó cần làm thì nó sẽ tập trung tâm ý, đó là định và khi tập trung tâm ý thì nó sẽ nhìn thấy rõ các pháp diễn ra bên trong, đó là tuệ. Đó là căn cơ, là căn bản, là gốc rễ của một người tu, gọi là năm căn và khi nó có căn cơ, căn bản, gốc rễ thì từ trong cái căn cơ, căn bản, gốc rễ đó phát sinh ra một sức mạnh gọi là năm lực.

Cho nên hằng ngày mình cứ tác ý, một mặt là mình phấn khởi, mình hoan hỉ đối với pháp, một mặt là mình quán về sự nguy hiểm và tác hại, cái sự tồi bại, xấu xa, bẩn thỉu, thấp hèn, ngu si, mê muội, đau khổ, sự hành hạ, sự giam hãm, sự tù đài, sự ác độc, sự ô nhiễm, sự thấp hèn, hạ liệt, mình khai triển thật mạnh về sự nguy hiểm và tác hại của các pháp hữu vi, của cái vô minh, khát ái này. Mình sỉ vã, mình sỉ nhổ, mình sỉ nhục nó thì người đó tự nhiên trong người có một cái đạo lực, nội lực, thần lực, có trí lực, tuệ lực, mãnh hổ lực, sư vương lực, tượng vương lực, đó là sức mạnh khai triển ngũ căn ngũ lực bên trong.

Ngược lại mình không biết tác ý, mình cứ đơ đơ, trơ trơ ra thì bên trong mình không có sức mạnh cho nên vừa chạm nhẹ vào là lá rơi liền, một cơn gió thổi qua là rớt xuống núi liền, vừa chạm một chút là si lên liền, quẹt ngang chút là nổi bản ngã lên liền vì mình không có căn, không có lực, không gốc, không có rễ cho nên mưa nhẹ xuống cũng tróc gốc, gió thổi nhẹ cũng bay luôn như bông gòn, không phải là trụ đá kiên cố chôn sâu là vì mình không có căn, không có lực, không có phát triển ngũ căn ngũ lực, không có phát triển sự nguy hiểm và tác hại kinh khiếp, khủng khiếp, đầy khiếp đảm là sợ hãi đối với dòng luân hồi đầy đắng cay, ác độc, đầy nước mắt, đầy mồ hôi, đầy đau khổ. Chúng ta phải luôn luôn thấy được sự nguy hiểm và triển khai thiền quán, hồi nãy con còn quên sót cái nữa là trong tiếng ho cũng thấy luôn cái khổ của chúng sanh.

Mình ngồi như vậy mà trong này đầy ấp khổ đau, ho cũng là một sự sỉ nhục vì mình phải kiềm hãm, mình sợ làm cho đại chúng động niệm, mình lo, mình sợ nhưng mà bây giờ mình không thể không ho. Cái nào mình cũng quán được hết, cái nào cũng làm mình sanh trí tuệ, phát lên sự yểm ly, khởi lên sự nhàm chán đưa đến ly tham, dẫn đến sự từ bỏ, chấm dứt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn. Tất cả là phải quán, phải dẫn tâm mình, phải dắt tâm mình, phải hướng tâm mình, phải đặt tâm mình đúng lúc thì tất cả đều thành pháp. Khi tâm mình trú trong pháp như vậy thì tự động sáu căn của mình nó được thâu nhiếp, được chế ngự, phòng hộ, nó được bảo vệ, nó được tu tập, nó được thu thúc sáu căn, thu thúc thanh tịnh giới.

Tại vì mình không có an trú pháp, mình làm biếng tác ý, mình không chịu triển khai thiền quán trong mọi lúc mọi nơi thì sự tu của mình sẽ giậm chân tại chỗ, ba tháng cũng vậy, sáu tháng sau nhìn cũng vậy, hai năm sau nhìn cũng vậy, năm năm sau cũng vậy, không có sự thay đổi lớn, không có sự đột phá. Cái thọ bên trong là một cái thợ nó đơ đơ, nó trơ trơ, tạt nó không thấm, dội nó không ướt giống như nước đổ lá môn, không có sự thay đổi, không có sự thủ chuyển, các chấp thủ bên trong không có một sự địa chấn, động chấn, kinh chấn. Nếu muốn vậy thì mình phải có một cái sự chủ động, đó gọi là những phương pháp tác chiến, chiến lược, bây giờ pháp có sẵn hết, đường lối đạo lộ là rành rõ, minh minh bạch bạch, tỏ tỏ tường tường, trong trong sáng sáng như mặt trời mặt trăng giữa thiên không, chỉ cần nỗ lực làm mà mình không chịu thì rất uổng.

Mình cứ cho nó qua, rồi cho nó qua, rồi như thế mình cho nó qua và tất cả thiện căn, phước đức, nhân duyên, công đức vi diệu vô lượng vô biên kiếp tích tụ của mình lần lần nó sẽ phai nhòa, nó sẽ biến mất, nó đưa mình đi đến chỗ thối đọa.

"Nhất thất túc, thành thiên cổ hận;

Tái hồi đầu, thị bách niên thân".

Tạm dịch:

Lỡ bước một phen ngàn đời ân hận;

Quay đầu trở lại chín suối ngậm ngùi.

Khi mình muốn quay đầu lúc đó mình đã chết rồi, mình đã nằm trên giường bệnh thở những hơi thở cuối cùng của cuộc đời, không còn có cơ hội quay đầu trở lại nữa, rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Mắt không còn nhìn thấy nữa, đầu óc cũng còn minh mẫn, thân thể không còn làm chủ các căn được nữa, khi còn trẻ mình đã kêu mạn trong tuổi trẻ, khi còn khỏe mình đã kiêu mạn trong sức khỏe, kiêu mạn trong sắc đẹp, kiêu mạn trong tuổi trẻ, kiêu mạn trong sức khỏe. Bất thình lình sức khỏe đó mất, rơi vào cái bệnh nan y, đột ngột tuổi trẻ không còn, bị tai nạn cụt hai cái chân, mất cái đầu do tai nạn giao thông, đột ngột bất ngờ bị té vào nồi nước sôi dung sắc không còn nữa, suốt đời sống trong sự tiếc nuối, oán hận khổ đau. Tất cả các hành là vô thường, câu đó là khủng khiếp lắm, không thể đọc một cách đánh dần như vậy, đọc chữ như vậy được.

Tan nát hết, đổ vỡ hết, sụp đổ hết, diệt tận chỉ trong tích tắc thôi, mới vừa đám hỏi, dự kiến tuần sau là đám cưới, đâu ai ngờ được đống đất kia chôn vùi bao nhiêu niềm ước mơ, bao nhiêu niềm đợi chờ, bao nhiêu những hy vọng, tương lai, tuổi trẻ, tình thân, tình yêu, tình nghĩa, tích tắc vô thường, vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã. Không có một cái gì cho phép chúng ta được hứa hẹn, đợi chờ cho nên làm được cái gì làm ngay bây giờ, làm ngay tại chỗ đó.

"Rồi Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo:

- Này các Tỳ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ." (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Đại Bát Niết Bàn, Tụng Phẩm III).

Đọc câu này mình phải nổi gai óc, phải thấm vào gan, vô ruột, vô tim, vô tủy, mình đọc cái câu đó là tay chân mình bủn rủn hết, mình đọc câu đó là toàn thân của mình cảm thọ từ đảnh tóc cho tới gót chân. Phải thấm thía sự sỉ nhục, sự nhục nhã, sự đau khổ, sự ấu trĩ, sự khờ dại, sự khờ ngu của cái tâm thức này, phải nhìn cho ra được và đánh đuổi nó từng giây, chiến đấu với nó từng giờ, lật đổ nó từng ý niệm, mình triệt hạ từng cái cảm thọ, đánh phá trong mỗi hình bóng, tâm thức mình.

Ngày đêm mình phải ưu tư, mình phải trăn trở, mình phải thao thức, khắc khoải, mình trầm tư, mình khổ sầu vì các lậu hoặc, bất thiện pháp, các ác vẫn còn xâm chiếm, cái thọ của mình sẽ lắng xuống trong sự suy tư về các pháp là trầm tư, trầm mặc là cảm thọ của mình lặng lễ, nhẹ nhàng, trầm tư mặc tưởng, có chuyện gì xảy ra cũng từ từ, bình tĩnh suy xét, không vội phản ứng, không vội phán đoán, không vội kết luận, không vội phản kháng mà luôn ở trong một sự trầm mặc, trầm tư, trầm tĩnh và đi đến chỗ trầm lặng, đó là trạng thái tâm của các bậc thánh.

Cho nên ác nhân bị dao động ở trong cái bất thiện và động ở trong cái thiện thành ra thiền nhân là ác nhân, còn thánh nhân tâm bất động giải thoát, bậc cuối cùng thứ tư là tâm bất động giải thoát vì nhìn thấy được sự sỉ nhục tận cùng, sự đau khổ tột độ, sự trống rỗng hoàn toàn của ngũ uẩn và cái tâm hoàn toàn hướng đến sự yểm ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ, đoạn diệt bằng cái thắng trí, trí tuệ thù thắng, tâm đạt được trầm lặng an tịnh rốt ráo, viên mãn hoàn toàn, đây là bậc tâm bất động giải thoát của thánh nhân. Cho nên nếu mình làm thiện nhiều đi nữa mà tâm mình luôn dao động, thân mình luôn dao động thì mình không ra khỏi luân hồi được, dù cho mình có làm bao nhiêu điều thiện mà thân tâm luôn dao động trong đó thì không ra khỏi luân hồi.

Đó là lý do tại sao Thế Tôn được gọi là bậc an tịnh trầm lặng, cho nên khi con thấy chúng ta ngồi yên thanh tịnh là con hạnh phúc, những người về đây cũng đều cảm nhận được điều đó, phải tập cảm thọ này phải là trầm lặng, đừng có giống bạn hàng tôm, bạn hàng cá ngoài chợ.

"Thế Tôn nói với các Tỳ-kheo ấy đang ngồi một bên:

-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có nghĩ chăng, các tiếng náo động ồn ào thật giống như tiếng hàng đánh cá tranh giành cá với nhau?

-- Bạch Thế Tôn, đó là khoảng năm trăm Tỳ-kheo, do Sariputta và Moggallana dẫn đầu, đã đến Catuma để yết kiến Thế Tôn và các Tỳ-kheo mới đến chào đón các vị cựu trú Tỳ-kheo. Trong khi các sàng tọa được sửa soạn và y bát được cất dọn, các tiếng náo động ồn ào khởi lên

-- Hãy đi đi này các Tỳ-kheo, Ta đuổi các Ông. Các Ông chớ có ở gần Ta" (Trung Bộ Kinh, 67. Kinh Càtumà)

Đừng có đốp chát, tất cả ngũ uẩn này phải được trầm lặng, trầm mặc và phải có một sự tu luyện dụng công cho nên chúng ta có những giây phút trầm tư là hay lắm, tuyệt diệu lắm, đó là im lặng của bậc Thánh.

./.