Tinh Hoa Pháp Hành Kinh Nikāya 1 - ƯA THÍCH XA LÌA
Tinh Hoa Pháp Hành Kinh Nikāya 1
ƯA THÍCH XA LÌA
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Xót xa kiếp người PAGEREF _Toc112607802 \h 1
II.Trí tuệ về tưởng PAGEREF _Toc112607803 \h 2
III.Trí tuệ về khổ PAGEREF _Toc112607804 \h 6
IV.Sức mạnh của người tu PAGEREF _Toc112607805 \h 8
V.Trình pháp PAGEREF _Toc112607806 \h 11
Xót xa kiếp người
Chúng ta sẽ có thêm một thể loại mới với chủ đề “Tinh Hoa Tạng Kinh Nikāya” – đây gồm những điều sâu sắc, quan trọng, nghĩa lý cốt yếu, mỗi khi Minh Thành đọc và tâm đắc thì sẽ lấy ra chia sẻ. Hôm nay chính thức làm thể loại này để tự mình học, chiêm nghiệm, tu tập, cũng như chia sẻ cho nhiều người khác.
Hôm qua giờ nghỉ trưa tại Trường Cao Trung Phật Học, cũng như tối nay khoảng bốn tiếng đồng hồ học về phần quán chiếu về cảm thọ, trong lòng Minh Thành trào dâng cảm xúc trí tuệ và sự biết ơn, lòng tôn kính vô hạn, không còn có thể dùng lời gì để diễn tả hết được sự tôn kính đối với Đức Thế Tôn. Càng ngày càng hiểu Đức Thế Tôn và càng tôn kính, mình càng thấy được giá trị siêu việt, vượt tầm pháp giới của bậc Thiện Thệ.
Chiều hôm qua Minh Thành thấy cảnh Phật tử bệnh hoạn, bị tham ái chi phối, sáng hôm nay nghe tiếng đám tang lúc 4 giờ khuya. Lúc đó, Minh Thành ngồi thiền, khi nghe tiếng kèn trống của đám tang, tự nhiên phát ra sinh một cảm thọ xót xa rất sâu sắc. Thấy những người nhạc công thổi nhiều bài, Minh Thành tự hỏi không biết người nằm bất động có nghe được không, họ có biết gì không? Họ chết trong sự vô minh và sống trong sự mê mờ, đáng tiếc thay cho kiếp nhân sinh, và cái chết đó sẽ bất chợt đến bên mình, không lâu không xa, bất cứ lúc nào cũng xảy ra. Lúc ngồi thiền trào ra cảm xúc vô hạn, thấy cuộc đời kiếp người sẽ không có ý nghĩa gì hết. Nếu như mình không thấy được Chánh Pháp vô thượng, không đi trên con đường Thánh đạo, Thánh quả này thì không biết là về đâu.
Sau đó, Minh Thành đi kinh hành ngoài lang cang, nhìn thấy nhiều người lo cho đám tang. Minh Thành chiêm nghiệm rằng người nằm bất động đó đang ở trong sự không thấy không biết và những người chạy vòng vòng cũng đang ở trong sự vô tri, mê muội. Thậm chí những người hướng dẫn như thầy tụng, thầy cúng đến tụng, cầu cho người chết được siêu thăng, thì những người thầy đó cũng ở trong sự không thấy, không hiểu về pháp. Trong kinh Đức Phật nói như vậy là người mù này dẫn một mù rồi dắt nhau đi xuống hố sâu.
Nghe nhạc đám tang Minh Thành có cảm xúc xót xa cho một kiếp người. Một kiếp người chẳng là gì hết, nếu thấy ra được điều này thì ta sẽ có niềm an lạc kỳ diệu, nhẹ nhàng. Thế nhưng hàng ngày mình sống trong sự không thấy, không biết, không rõ được các pháp vận hành trong thân của mình, của người và của mọi sự vật xung quanh. Khi bước vào trí tuệ mà Đức Phật chứng ngộ, trí tuệ này mở ra cho chúng ta sự thấy biết vượt tầm pháp giới, sự thấy biết xuyên thủng hết tất cả sắc tướng, thấu triệt hết tất cả cảm giác suy tư và nhận thức. Tuy rằng chưa vượt ra hết nhưng ít nhất mình thấy, mình biết, đây là điều quan trọng. Thật sư, không thể dùng lời nào diễn tả nổi sự vi diệu của giáo pháp.
Trí tuệ về tưởng
Bài kinh “Một pháp môn quyết trạch” trong Tăng Chi Bộ tập III là bài kinh rất quan trọng, ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu phần tinh hoa.
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các tưởng, cần phải biết duyên khởi các tưởng, cần phải biết các tưởng sai biệt, cần phải biết các tưởng dị thục, cần phải biết các tưởng đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các tưởng đoạn diệt. Do duyên gì đã được nói như vậy?
Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng này: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 6. Chương Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Khi ngồi lại, hình bóng của những gì từng tiếp xúc, từng cảm nhận, từng thấy, từng nghe sẽ hiện khởi trong nội tâm của chúng ta – những điều đó là tưởng. Những điều đã thấy, đã nghe, đã ngửi, đã nếm, tiếp xúc và nhận thức còn lại những hình bóng hiện khởi bên trong tâm, đó là các tưởng. Chúng ta phải biết, phải nhận rõ, phải liễu tri, thắng tri, tuệ tri phải biết bằng trí tuệ, phải biết đó là các tưởng. Sự biết này đem lại lợi lạc lớn, lợi ích lớn, trí tuệ lớn cho chúng ta.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng sanh khởi?
Này các Tỷ-kheo, xúc là các tưởng sanh khởi.
Do tiếp xúc thì các tưởng sẽ sanh khởi trong nội tâm của mình, nếu không tiếp xúc thì các tưởng không sanh khởi. Hôm qua ở lớp cao đẳng Ni, có mấy vị hỏi:“khi ngồi thiền mà cứ suy nghĩ thì phải làm sao để giảm bớt và dừng lại suy nghĩ”. Sau đó, Minh Thành hỏi tại sao suy nghĩ sanh khởi thì các huynh đệ không ai biết. Cho nên phải học để biết được căn nguyên rằng: xúc tập khởi nên hành tập khởi – sự tiếp xúc làm phát khởi lên suy nghĩ, phát khởi lên cảm giác, phát khởi lên những suy tưởng. Thành ra phải biết sự sanh khởi của tưởng là xúc, khi tiếp xúc là các tưởng sanh khởi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng sai biệt?
Này các Tỷ-kheo, các tưởng trong các sắc là khác, các tưởng trong các tiếng là khác, các tưởng trong các hương là khác, các tưởng trong các vị là khác, các tưởng trong các xúc là khác, các tưởng trong các pháp là khác. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các tưởng sai biệt.
Khi tưởng về các sắc thì đó là khác, khi tưởng về các tiếng hay mùi, vị thì khác, hoặc tưởng về sự tiếp xúc, về các pháp thì khác. Đó là sự sai biệt, sự khác nhau của các tưởng và các hình bóng trong nội tâm của mình.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng dị thục?
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng các tưởng là kết quả của thói quen, khi nào người ta biết sự vật như thế nào, như thế nào, người ta nói sự vật ấy như sau, như sau: “Tôi tưởng như vậy”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các tưởng dị thục.
“Dị” là biến dị, biến đổi; “thục” là chín muồi.
Câu này rất quan trọng:“Như vậy, Ta tuyên bố rằng các tưởng là kết quả của thói quen”. Như những người nghiện thuốc là họ luôn tưởng về điếu thuốc, hay người nghiện rượu thì họ cũng tưởng về rượu, không phải chỉ tưởng về sắc, mà còn tưởng về hương, vị, tưởng chai rượu ra sao, mùi thơm của chai rượu ra sao, và khi nhấp vào lưỡi tạo ra sự tiếp xúc, lúc đó cảm giác như thế nào? Các tưởng đó là kết quả của thói quen. Trí tuệ sâu sắc mới nhìn ra được những điều này, chứ không phải đơn giản mà thấy được.
Đức Phật nói “Các tưởng là kết quả của thói quen” – những hình bóng thường xuyên xuất hiện trong tâm của mình là kết quả từ lúc đầu mình tập, mà tập ở đây chính là xúc – xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Các pháp Đức Phật dạy trong tạng kinh hầu hết là những pháp mà Đức Phật thấy biết bằng trí huệ, như thật tri kiến, thấy biết như thật, dù một tỷ năm sau vẫn như vậy. Nếu chịu khó thực tập, nhận diện từ từ để nhìn thấy được các pháp thì mình sẽ thành tựu trí huệ về pháp đó.
“Xúc tập khởi nên tưởng tập khởi”, tuy mình đọc thuộc lòng nhưng thật sự mình không thấy, không biết, không nhận ra được nó là như thế nào. Nhưng khi gặp chuyện, khi tiếp xúc, khi ngồi thiền thì chúng ta mới có sự để ý lại. Điều quan trọng là không thể không ngồi thiền, vì ngồi thiền sẽ có sự yên định từ từ, dù ngồi thiền có động đi nữa thì cũng sẽ có những giây phút yên định để mình nhận diện các pháp. Khi nhận diện thì các pháp sẽ hiện rõ ra hết trong lúc ngồi thiền, lúc đó mình sẽ thành tựu trí huệ, tức là thấy biết các pháp tự thân, trong tự tâm của mình. Mặt khác, dù cho có học thuộc lòng, tụng hàng ngày nhưng mình không thấy là không thành tựu trí huệ. Chẳng hạn tụng “chiếu kiến ngũ uẩn giai không” hằng ngày nhưng vẫn không thấy được năm uẩn. Cho nên khi có tu, có cơ hội thực tập, có thấy, có biết thì sẽ rất khác so với ngày trước mình không thấy không biết, chỉ được xem lý thuyết mà lý thuyết cũng không đúng.
Cho nên, điều quan trọng là thực tập nhìn ra, nhận diện ra, điểm mặt các pháp ngay trong tự thân, tự tâm của mình mà mình không thấy không biết. Ví dụ, khi thấy về tưởng, thấy về hành – những suy nghĩ, thấy về những cảm giác, thấy về nhận thức cũng là lúc thành tựu trí huệ về sự thấy biết trong một khía cạnh. Sự thấy biết đó là sự thành tựu trí về pháp đó. Thành ra sự tu tập này bao gồm rất nhiều trí tuệ. Ví dụ, khi nghe pháp xong rồi, khi về mình nhìn từ từ, lúc ngồi thiền thì mình nhìn ra, lúc hiện khởi trong nội tâm thì mình quán chiếu, đó là thiền quán, thiền tuệ – để tâm yên tịnh rồi thấy rõ, biết rõ bằng trí tuệ.
Năm uẩn bao trùm hết trời đất thân tâm. Cho nên lúc đầu thực tập nhận diện chỉ là khái quát, đại cương, khi đã nhận diện phần khái quát, tổng quát, thì bắt đầu sẽ thực tập quán chiếu những chi tiết, tức là bắt đầu nhìn nhiều khía cạnh từng uẩn. Ở đây chúng ta đang nói về tưởng uẩn. Giống như người ta học lái xe. Tập chạy xe đạp thì rất dễ, leo lên xe chỉ có chân đạp, tay thắng, mắt thì nhìn. Khi học lái xe honda thì khác, có thêm phần đề xe, tuy cái chân không đạp, mức độ vẫn động ít lại, mà phải sử dụng nhận thức nhiều. Khi lên xe hơi thì càng ít động hơn, nhưng cần sử dụng những hiểu biết, những sự quán sát. Khi lên đến máy bay thì phải biết hàng trăm, hàng nghìn những thứ điều khiển, nhỏ nhiệm. Cho nên khi phân tích tới tận cùng, phân tích tới những phân tử, nguyên tử nhỏ nhiệm thì đó là việc của các nhà khoa học, người thương hông biết được. Học pháp này cũng vậy, khi trí huệ ngày càng trưởng thành, càng ngày càng phát triển, càng ngày càng thâm sâu, thì lúc đó nhìn pháp dưới nhiều khía cạnh, nhiều phương diện, những điểm vi tế trong vi tế, tinh vi trong tinh vi. Cũng như vừa rồi có đoàn Phật tử, Minh Thành có chia sẻ về quán thân hành niệm, người ta có ý nói niệm Phật thấy đơn giản hơn, còn pháp này khó. Đó là điều đương nhiên vì chạy xe đạp thì dễ hơn chạy xe honda, lái xe hơi, lái máy bay, nhưng tầm lái máy bay thì cơ trưởng phải giỏi. Sự tu học cũng giống như vậy, trí huệ càng thành tựu thì càng nhìn được những nhỏ nhiệm trong các ngóc ngách, trong sự vi tế, sâu sắc, thâm sâu trong các pháp. Có gì vừa máy động, manh nha, rục rịch trong nội tâm là mình thấy được ngay.
“Ta tuyên bố rằng các tưởng là kết quả của thói quen”. Ta thấy rằng, người thầy thuốc đi lên rừng nhìn đâu cũng thấy cây để làm thuốc. Người thợ mộc lên nhìn rừng thì lại chỉ thấy cây để làm gỗ, làm bàn, làm cột. Người bác sĩ về vi trùng học thì nhìn đâu cũng thấy vi trùng, hay các nhà doanh nhân lên núi thì chỉ thấy đất, nghĩ tới phân lô bán nền, làm biệt thự, hay villa. Đó chính là tưởng là kết quả của thói quen. Vì họ suy nghĩ mọi lúc mọi nơi nên thành thói quen, thói quen đó tạo thành các tưởng. Còn mình đi đâu cũng thấy chùa, đất này làm chùa là tốt, mình cũng có tưởng. Mà nếu không có trí huệ, thì mình cũng bị tưởng. Tiếp xúc thường trong những hình ảnh nên cũng bị tưởng. Do đó phải thấu suốt được bản chất của tưởng, thấu suốt được sự sanh khởi, sai biệt và dị thục của tưởng. Điều này là cần thấy, cần biết, cần nhận diện, tu tập và cần quán chiếu.
Đức Phật dạy:
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các nghiệp, cần phải biết duyên khởi các nghiệp, cần phải biết các nghiệp sai biệt, cần phải biết các nghiệp dị thục, cần phải biết các nghiệp đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt. Do duyên gì đã được nói như vậy?
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 6. Chương Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Cần phải biết các nghiệp, các nghiệp sanh khởi, các nghiệp sai biệt, các nghiệp dị thục. Đức Phật tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý. Suy tư là nghiệp, nhưng không phải là mình không suy tư, mà là suy tư cái gì đưa đến chấm dứt suy tư. Suy tư về sự nguy hại của nghiệp, suy tư về vị ngọt của nghiệp, suy tư về sự xuất ly khỏi nghiệp – suy tư như vậy đưa đến sự chấm dứt suy tư. Đây gọi là con đường đạo lộ, thánh đạo, nghiệp diệt đạo.
Qua đó ta thấy rằng trùm hết tất cả pháp hành là Bát Chánh Đạo. Đọc trong quyển Tóm tắt Năm uẩn, chỗ nào diệt đạo chính là tám đúng, tức là Bát Chánh Đạo. Cho nên Bát Chánh Đạo bao trùm hết và Chánh kiến là thấy năm uẩn không phải tôi, không phải của tôi. Cho nên, pháp rõ ràng như chỉ trong lòng bàn tay, chỉ còn thực hành là chính. Thành ra phải nắm vững Bát Chánh Đạo – tổng cương lĩnh toàn bộ giáo pháp, đó là Thánh đạo. Chỗ nào nói bảy trí về sắc, bảy trí về thọ, bảy trí về tưởng, bảy trí về hành, bảy trí về thức, cuối cùng nói đến chỗ diệt đạo, là con đường đưa đến sự chấm dứt, đó tức là Bát Chánh đạo, không có con đường khác, do đó nắm vững. Bát Chánh Đạo là thấy được năm uẩn, tư duy sự xuất ly ra khỏi năm uẩn, nói những lời ra khỏi năm uẩn, giải thoát khỏi năm uẩn. Hành động, nghĩ nhớ, thiền định, quán chiếu như thế nào để thấy sự nguy hại và đi ra khỏi nó, đó là Bát Chánh Đạo. Thể hiện trong đời sống của mình là viễn ly năm uẩn, ly tham đối với năm uẩn, từ bỏ đối với năm uẩn, chấm dứt đối với năm uẩn, đó là đời sống của Thánh đạo, đời sống của Hiền Thánh, đời sống tối thượng trong Tam giới, đời sống đáng chắp tay, đáng cung kính, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Trí tuệ về khổ
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết khổ, cần phải biết khổ sanh khởi, cần phải biết khổ sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ sanh khởi?
Ái, này các Tỷ-kheo, là khổ sanh khởi.
Một chữ “ái’ này đem hết vàng trên trái đất này mua cũng không mua được nếu không có bậc Chánh đẳng giác xuất hiện.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ sai biệt?
Này các Tỷ-kheo có khổ lớn, có khổ nhỏ, có khổ chậm biến, có khổ mau biến. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ sai biệt.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ dị thục?
Này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, ưu sầu, bi thảm, than van, đập ngực, khóc lóc, đi đến bất tỉnh. Do bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, nên đi tìm phía bên ngoài xem có ai biết được một câu, hai câu thần chú đề đoạn diệt khổ này.
Ở thời Đức Phật, Ngài tuyệt đối không sử dụng chú, cũng vậy, trong Tạng Nikāya không có chỗ nào Đức Phật bảo mình thực tập chú.
Ở đây, có người bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc nên đi tìm bên ngoài xem ai có câu thần chú giúp mình đoạn diệt cái khổ thì Đức Phật tuyên bố rằng:
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng khổ đem lại kết quả mê loạn, đem lại kết quả tìm kiếm. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 6. Chương Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Câu này rất sâu xa, khi bị khổ, thì mình bị mê mờ, rối loạn, không còn tỉnh táo. Bậc có niệm định tuệ, nói không có khổ không phải là không bị đau, không bị bệnh, không bị già, mà khổ ở đây là không mê loạn, không mê mờ, không rối loạn. Cho nên, nhìn giống như khổ nhưng không khổ, thân khổ mà tâm không khổ, thân đau mà tâm không đau.
“Ta tuyên bố rằng khổ đem lại kết quả mê loạn”. Những người bị khổ thì bị mê mờ, rối loạn, nhói tim, tan nát cõi lòng, đau đớn không thể chịu nổi khi có người thân mất hay chia ly với người yêu thương hoặc gặp gỡ những người oán hận. Hay tại Indonesia đột ngột bị sóng thần, động đất, chết 384 người, bị thương 500 người, thây người nằm ngổn ngang trên bãi biển, nó đang tiến vào Nhật Bản. Những người gặp cảnh khổ như bão tố, động đất, sóng thần, thiên tai nhân họa thì họ sống trong mê loạn.
“Khổ đem lại kết quả tìm kiếm”. Câu này cần phải chiêm nghiệm thật là sâu xa. Khi khổ, chúng ta cứ phải tìm kiếm hoài, không khi nào dừng lại, trừ khi tìm thấy pháp. Tại vì khổ dị thục liên hệ với khổ sanh khởi, bởi vì ái nên mình tìm kiếm, tìm kiếm là kết quả của khổ. Vì trong tâm không thỏa mãn nên tìm hoài tất cả mọi thứ không khi nào hết. Đối với một người chưa thành tựu Chánh Tri Kiến, thì sự tìm kiếm này không ngừng nghỉ, vì bên trong là sự thúc đẩy của dục, của ái. Khổ có nguyên nhân chính là dục, ái và dục, ái cứ thúc đẩy ta đi kiếm, đi tìm mãi. Điều này rất sâu xa phải thiền quán, phải chiêm nghiệm. Ngoài đời mình cũng đi tìm, xuất gia cũng đi tìm, thậm chí có khi già lớn tuổi cũng chưa hết tìm, ngay cả những người xuất gia cũng muốn tìm thêm. Đó là khổ đem lại kết quả tìm kiếm, gọi là khổ dị thục.
Trong “Kinh Đế Thích Sở Vấn”, Trường Bộ Kinh, tập 2. Vị Đế Thích, vua 33 tầng trời, Đức Thế Tôn gọi là đại đức, vị này có phước đức, công đức rát lớn.
Vị Đế Thích hỏi:
- Bạch Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích?
- Này Thiên chủ, tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích.
- Bạch Thế Tôn, vì sao tất cả Sa môn, Bà la môn, không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích?
- Này Thiên chủ, chỉ những vị Sa môn Bà la môn nào đã giải thoát tham ái, những vị ấy mới đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích . (Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Đế Thích Sở Vấn)
Điều này hết sức thâm sâu. Tu mà khác nhau, không giống nhau là do còn trong ngũ uẩn, còn bị dục ái, vô minh, bản ngã chi phối. Mỗi người có một kiểu dục, ái khác nhau, mình đã biết khi học các sai biệt của nghiệp. Có người nặng về sắc tưởng, nặng về sắc tướng, có người nặng về thọ, có người nặng về tưởng, về suy tư, về hành, có người nặng về thức, thế nên, nếu còn trong ngũ uẩn thì vẫn còn sai biệt. Chỉ những vị tu nào đã giải thoát tham ái, thì những vị ấy đồng một cứu cánh, đồng một phạm hạnh, đồng một an ổn, đồng một mục đích, đây là những bậc A-la-hán hoặc là những bậc Tu-đà-hoàn đang đi trên con đường giải thoát tham ái.
Sức mạnh của người tu
Bài kinh “Sức Mạnh 2”, Tăng Chi Bộ tập 3, Đức Phật hỏi Xá Lợi Phất. Xá Lợi Phất là bậc tướng quân của Chánh Pháp, Ngài nói pháp trước mặt bậc Chánh Đẳng Giác.
Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:
- Này Sàriputta, có bao nhiêu sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc? Thành tựu với những sức mạnh gì, Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: "Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận "?
Tóm lại, câu hỏi ở đây là: Có bao nhiêu sức mạnh của Tỷ-kheo đã chấm dứt hết các lậu hoặc. Và thành tựu sức mạnh gì thì vị đó mới có khả năng đoạn diệt các lậu hoặc? Câu hỏi có hai phần:
Một, phải đầy đủ sức mạnh gì để đoạn diệt được lậu hoặc?
Hai, khi đoạn diệt được lậu hoặc thì có sức mạnh gì?
Đức Thế Tôn hỏi ngài Xá Lợi Phất. Ngài Xá Lợi Phất rống lên tiếng rống của sư tử, những vị này nói thì không sai. Thông thường, những vị hữu học không dám nói, họ chỉ: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là chỗ y cứ, chỗ y chỉ, Thế Tôn dạy thì chúng con sẽ y giáo phụng hành”. Nhưng ở đây, Ngài Xá Lợi Phất trả lời, vì đây là lúc cần nói. Ngài Xá Lợi Phất nói:
“Bạch Thế Tôn có tám sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc.
Phải thành tựu tám sức mạnh này mới đoạn trừ các lậu hoặc, trước cũng như sau.
Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng tất cả các hành là vô thường. Vì rằng, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng tất cả các hành là vô thường. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: "Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận ". (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 8. Chương Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, bài kinh Sức Mạnh 2)
“Khéo thấy như thật với chánh trí huệ rằng tất cả các hành là vô thường”. Thân hành, khẩu hành, ý hành, tất cả hành pháp là vô thường, mà phải khéo thấy bằng trí tuệ, chứ không phải thấy bằng tưởng, thức hay chỉ là nói. Tám sức mạnh này phải có trong một người tu, đâysức mạnh của người xuất gia, đây là lực sĩ trong Chánh Pháp. Các hành là vô thường: ý hành – những suy nghĩ trong nội tâm, khẩu hành – những lời nói nơi miệng, thân hành – những hành động mình làm, phải khéo thấy như thật với chánh trí huệ rằng tất cả là vô thường. Sáu tư, cũng là sáu hành: sắc tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư – suy nghĩ về sắc, suy nghĩ về âm thanh, suy nghĩ về mùi vị, xúc chạm, tất cả nhận thức. Đối với những suy tư đó mình đều thấy rõ các hành là vô thường. Đó là sức mạnh thứ nhất.
Sức mạnh thứ hai: “Khéo thấy như thật với chánh trí huệ rằng tất cả các dục ví như hố than hừng”. Sự tham muốn ví như hố than hừng. Khéo thấy như thật với trí huệ chân chánh rằng tất cả các dục như hố than hừng, đẩy mình xuống và chết trong đó, trong kinh dùng từ chết cho đến gần như chết. Tất cả các dục như hố than hừng, không được đi theo nó.
Sức mạnh thứ ba rất quan trọng, được nói rất kĩ: “Với tâm thuận xuôi về viễn ly, hoan hỷ về xuất ly, thiên về viễn ly, trú ở viễn ly, hoan hỷ về xuất ly, đoạn tận hoàn toàn tất cả pháp có thể làm trú xứ cho lậu hoặc”.
“Tâm thuận xuôi về viễn ly, hoan hỷ về xuất ly” – có được tâm này là sức mạnh của Tỷ-kheo, sức mạnh của bậc xuất gia, sức mạnh của bậc chánh tri kiến, sức mạnh của bậc đoạn tận các lậu hoặc. Tâm phải thuận xuôi về viễn ly, tâm không còn theo chiều ngược với viễn ly, tâm phải xa lìa. Thấy sắc, hương, thanh, vị, xúc, pháp thì tâm mình không thuận xuôi với nó, mà phải thuận xuôi về viễn ly, viễn ly sắc, viễn ly cảm giác, xa lìa cảm giác, xa lìa đối với suy tư và nhận thức. Nhận thức, thấu rõ để xa lìa, tâm thuận xuôi về viễn ly và sự xa lìa. Hoan hỷ về xuất ly, vui trong sự thoát ra chứ không vui vẻ vì sự đi vào. Thành tựu được một phần này, thấp nhất cũng vào Hướng Dự Lưu, còn thành tựu mạnh triệt để là bậc A-la-hán. Nếu thuận xuôi về viễn ly, hoan hỷ về xuất ly, tâm luôn luôn hướng đến sự xa lìa, vui thích trong sự thoát ra thì vị này chắc chắn đi đến tàn diệt năm uẩn, không tích trữ năm uẩn. Năm uẩn bị tàn tạ, bị diệt tận đối với trí huệ của tâm xuất ly này. Tất cả dục, ái, tham, sân, si, bản ngã sẽ từ từ bị viễn ly, xa lìa.
“Thiên về viễn ly, trú ở viễn ly”, thiên là nghiên về, trú là ở trong đó, không những nghiên về mà còn ở trong tâm xa lìa. Khi thấy dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, phiền não, thì mình xa lìa, không ưa thích, không muốn đi vào, mà mình vui thích trong sự ra khỏi gọi là hoan hỷ về sự xuất ly.
“Đoạn tận hoàn toàn tất cả pháp, có thể làm trú xứ cho lậu hoặc”. Đoạn tận hoàn toàn tất cả pháp mà nó có thể làm chỗ ở cho các lậu hoặc, cho các dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Dục lậu là tâm nhiễm trong dục. Hữu lậu là tâm nhiễm trong hữu, ưa thích sự hiện hữu, chữ “hữu” là các cõi, trong đạo có từ “tam hữu” là: cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc. Vô minh lậu là tâm nhiễm trong sự không thấy biết. Cho nên phải “đoạn tận hoàn toàn tất cả pháp, có thể làm trú xứ cho lậu hoặc”, không được làm căn cứ địa, làm trú xứ cho mê lầm. “Đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: "Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận".”
Các sức mạnh tiếp theo:
Lại nữa, bạch Đức Thế Tôn: “Vì rằng, Tỷ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc, bốn Niệm Xứ đã tu tập, được khéo tu tập …
Bốn Như Ý Túc được tu tập, được khéo tu tập …
Năm Căn được tu tập, được khéo tu tập …
Năm Lực được tu tập, được khéo tu tập …
Bảy Giác Chi được tu tập, được khéo tu tập …
Thánh Đạo Tám Ngành được tu tập …
Bạch Thế Tôn đây là sức mạnh của vị tỷ-kheo.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 8. Chương Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, bài kinh Sức Mạnh 2)
Chương 37 Bồ Đề Phần rất hay, đọc mới thấy được Thánh trí viên mãn.
Như vậy, nói gọn, ba sức mạnh nổi cộm là:
Khéo thấy như thật Chánh trí huệ với tất cả các hành là vô thường.
Các dục là hố than hừng.
Tâm thuận xuôi về viễn ly, hoan hỷ về xuất ly.
Ba điểm này là sức mạnh của người tu, là năng lực, hùng lực, đại hùng, đại lực, tinh tấn lực của người xuất giá, là 37 Phẩm Trợ Đạo, những phần đưa đến giác ngộ bồ đề. Những sức mạnh này rất hay và tuyệt vời, học kinh sẽ thấy thích thú, ngồi thiền được êm ái và đối với mọi lòe loẹt thế giới phải tập quán quay lưng lại.
Trình pháp
Thầy Pháp Sơn:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên Sư phụ. Kính thưa thầy Pháp Minh.
Hôm nay, chúng con được lắng nghe trên Sư phụ chia sẻ những tinh hoa về pháp hành trong Kinh Tạng Nikāya. Qua thời pháp được lắng nghe sư phụ chia sẻ, trao truyền từ nơi trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác, trong lòng của con dạt dào lòng biết ơn và tôn kính vô biên nơi Đức Phật, các bậc thiện trí thức đã khai mở cho con cánh cửa tri kiến vô thường.
Con cũng chiêm nghiệm được một điều, qua những lời thầy chỉ dạy, con thấy rằng nếu thật sự người tu không đặt tâm mình vào trong pháp, thì những hoạt động của sanh tử vẫn cứ tiếp nối trong những tập nghiệp, thói quen của mình, tất cả cũng quy về ngũ uẩn. Những điều mà tiếp xúc, hướng về hoạt động của sanh tử, thì ngũ uẩn được nuôi dưỡng, tích tập, tàn trữ cho tương lai, cũng hướng đến sự sanh tử luân hồi. Nếu như sự tiếp xúc hướng đến giải thoát thì sự chấm dứt tàn diệt ngũ uẩn trong tương lai không còn sanh khởi và không mong muốn sự tái sanh.
Con thấy rằng chính yếu là mình muốn tu tập hay không tu tập và mình phải nhìn nhận bản chất thật của kiếp sống sanh tử này, để hướng đến sự nhất cứ nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Nếu không thật sự nhàm chán đối với ngũ uẩn, chắc chắn mình sẽ hướng đến nuôi dưỡng một đời sống tham ái trong hiện tại cho ngũ uẩn này và tiếp nối trong tương lai.
Qua những bài kinh trên sư phụ chia sẻ, sự tiếp xúc – cũng là một trong bốn loại thức ăn thì xúc tập rất quan trọng. Về sự tập khởi của mỗi cảm giác, các tưởng, hình ảnh cũng như mỗi suy nghĩ đều là do nơi xúc, thọ, tưởng hành tập khởi. Hôm nay con được lắng nghe thêm sự chia sẻ từ trên sư phụ về lời dạy của Đức Phật đó là xúc tập khởi dẫn đến tưởng tập khởi, hình thành thói quen trong các tưởng, đó là rất đúng. Do sự tích tập của mình thích điều đó, khi ngồi thiền sanh khởi những hình ảnh, hình bóng trong đời sống khi các giác quan tiếp xúc với các trần bên ngoài. Cũng do mình không biết khéo tiếp xúc với pháp để đưa mình đến nội tâm được vắng lặng, an tịnh.
Con thấy được rằng đối với mọi sự vận hành của pháp, trước tiên phải thấy rõ được nó là cái gì, khái niệm về nó, thấy được sự tập khởi của nó, vì sao nó tập khởi, và sự sai biệt trong các tưởng, các cảm giác, các suy tư, sự dị thục, sự chín muồi, sai khác của quả và con đường đưa đến sự chấm dứt nó. Con đường vi diệu tối thượng, còn gọi là cổ xe tối thượng, hay con đưởng cổ xưa, con đường tám đạo, tám ngành, con thấy không có giáo lý nào viên mãn hơn. Tất cả đều không ra ngoài 37 Phẩm Trợ Đạo, trong đó con đường Bát Chánh đạo là con đường tựu chung tất cả các Phẩm trợ đạo còn lại. Chánh Tri Kiến là điều rất quan trọng, một người không thành tựu Chánh Tri Kiến thì sự học hiểu tu tập của họ đưa đến sự sai lạc, và chắc chắn rằng không có kết quả.
Con có nghe bài pháp trên sư phụ chia sẻ tại miền Bắc, thầy có ví dụ nếu mình lấy một cái dùi chuông, đánh vào trong đế chuông, đánh vào bình hoa, thầy hỏi các Phật tử có kêu ra tiếng không? Nó cũng kêu ra tiếng, nhưng tiếng đó không như tiếng mình mong muốn. Nếu như thật sự muốn nghe được tiếng chuông hay thì mình phải đánh vào cái chuông, như vậy mới ra được tiếng chuông. Cũng vậy, mình phải xét lại tâm nguyện của mình là hướng đến cái gì.
Giống như “Kinh Đế Thích Sở Vấn” của Trường Bộ Kinh. Vị Đế Thích hỏi Đức Thế Tôn các vị Sa Môn tu tập trong pháp và luật của Đức Thế Tôn, có phải đều đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích? Đức Phật nói nếu mục đích chấm dứt ái, đoạn tận ái, thì những vị này sẽ có điểm giống nhau về mục đích, về an ổn, cứu cánh, pham hạnh
Cũng như vậy, nếu như người tu mà hướng đến mục đích đoạn tận ái, chấm dứt tái sanh, thì phải có sự nỗ lực trong thực hành pháp để liên hệ đến những điều đó. Chắc chắn rằng thân hành, khẩu hành, ý hành của những vị đã không còn vô minh, tham ái sẽ liên hệ đến mục đích lợi ích đa số, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Chính như vậy mà con nghĩ rằng, mình xem lại những đời sống hàng ngày của mình, có liên hệ với mục đích chưa? Có liên hệ đến sự mong muốn sự chấm dứt luân hồi tái sanh hay không? Con chiêm nghiệm một điều hết sức sâu sắc đó là khi thật sự không thấy như thật về khổ, mà nguyên nhân sự tập khởi khổ là ái, thì mình sẽ sống trong sự mê loạn và tìm kiếm. Con cũng đã chiêm nghiệm rất nhiều trong đời sống của chính mình, khi không nhìn nhận được ngũ uẩn và sự vận hành của nó, mình không thoát ra, không xuất ly được khỏi ngũ uẩn thì mình sẽ bị dục ái, sân hận, si mê của ngũ uẩn chi phối. Cái khổ chính là sự chấp thủ về ngũ uẩn, chắc chắn rằng mình chỉ đi tìm những cái lạc tạm thời để giải quyết những sự khổ này. Nhưng lạc đó cũng lẩn quẩn trong dục, cũng nuôi dưỡng tham ái đối với ngũ uẩn mà thôi. Những lạc mà mình đi tìm kiếm thật sự là lạc của điều kiện, vui của điều kiện, vui rất là mơ hồ, mong manh như một giấc chiêm bao, thật sự không có gì là vĩnh cửu. Con chiêm nghiệm rằng không có cái gì để cho chúng con tìm kiếm và nắm bắt được trong thế giới duyên khởi này. Tất cả các pháp đều là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại.
Bài kinh sau cùng là các sức mạnh mà bậc tướng quân của Chánh Pháp tuyên thuyết về tám sức mạnh của người tu, đi đến đoạn tận các lậu hoặc. Con cảm thấy rất sâu sắc. Cần phải thấy như thật với chánh trí tuệ là tất cả các hành vô thường. Các dục ví như hố than hừng. Phải hướng tâm mình xuôi viễn ly và hoan hỷ trong sự xuất ly. Điều con cảm thấy sâu sắc nhất là đoạn tận các pháp, làm trú xứ cho các lậu hoặc.
Ba pháp này con thấy rất tuyệt diệu, nhất là đoạn tận các pháp làm trú xứ cho các lậu hoặc, nói lên sự nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm trong mọi thời khắc, trong mọi đời sống sinh hoạt đi đứng nằm ngồi hàng ngày, và cả trong tâm niệm của mình. Nếu không thực hành pháp này, khi nói tu tập, nghe pháp, hành thiền, tụng niệm mà không liên hệ đến đoạn tận, những nguyên nhân nuôi dưỡng sanh khởi, làm căn cứ địa cho các lậu hoặc, thì cũng là vô ích.
Con chiêm nghiệm điều này để thấy được rằng, thế nào là các trú xứ, các lậu hoặc? Chính là mình không nuôi dưỡng nó. Trong kinh Đức Phật nói rằng, người mà không có loại trừ dục tầm hại tầm là kẻ biếng nhác và lười biếng trong pháp và luật của Như Lai, chính là liên hệ đến chỗ này. Do mình không có sự hổ thẹn, tàm quý khi ở trên phương diện của người xuất gia, không có liên hệ đến mục đích của Sa Môn hạnh là chấm dứt hoàn toàn các lậu hoặc, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu thì sẽ đưa đến chỗ tái sanh luân hồi.
Và tất cả cũng không ra ngoài 37 Phẩm Trợ Đạo, liên hệ đến Bốn Niệm xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như ý túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác Chi và Bát Chánh đạo. Con thấy được giá trị pháp hành không ra ngoài 37 Phẩm Trợ Đạo, và điều quan trọng hơn hết khi tu tập 37 Phẩm Trợ Đạo là cũng chỉ để thấy được ngũ uẩn, thấy được khổ của sự đưa đến vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn. Sự tập khởi của khổ cũng chính là vô minh và tham ái, cội gốc của khổ là sự chấp thủ, sự vô minh về ngũ uẩn. Sự tập khởi của khổ chính là tham ái đối với ngũ uẩn này. Con đường đưa đến sự chấm dứt ngũ uẩn là con đường Bát Chánh Đạo, cũng là con đường đoạn diệt vô minh và tham ái. Chính là sự thể nghiệm được trạng thái an lạc, vắng lặng, tịnh diệt, Niết-bàn, không còn vô minh, không còn sự khao khát, mong muốn tái tục đối với ngũ uẩn nữa.
Con thấy pháp này nhìn nhận ngũ uẩn thật là vi diệu và trọn vẹn, đòi hỏi ở nơi mình sự nỗ lực tu tập, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, đó là những cảm nhận của con trong thời pháp thoại sáng nay.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thầy Pháp Minh:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con Pháp Minh kính bạch thầy, quý thầy cùng toàn thể đại chúng.
Qua ba bài kinh sáng nay thầy chia sẻ, bản thân cũng chiêm nghiệm nơi chính bản thân mình về sự học hiểu pháp, thực hành pháp. Đúng như lời Đức Phật nói, sự vô minh và tham ái của chúng ta đều bắt nguồn từ nguyên nhân do ái dục, do tham ái, tham ái và ái dục ở đâu? Chính là ngũ uẩn, do sự không hiểu, không thấu đạt sự vận hành ngũ uẩn trong thân tâm, nên chúng ta cứ mãi đi tìm và đầu tư cho năm uẩn.
Nguyên nhân sự hình thành và đầu tư cho năm uẩn do không thấy rõ được bản chất của thân và thân hành là vô thường, là biến hoại, là khổ, tưởng các dục là vui nên chúng ta mãi đi tìm cầu, luôn luông hướng về để làm sao thỏa nãm được dục vọng, thỏa mãn được những suy nghĩ những cảm giác, thỏa mãn được sự hay biết, thỏa mãn được sự xúc chạm, và thỏa mãn cho bản thân. Đó là con đường dẫn đến sanh tử, khổ đau cho tự thân.
Qua những lời chia sẻ của thầy về sự do đâu mà tư tưởng, hành phát sinh chính là do xúc, Đức Phật đã chỉ rõ do sự tập khởi, nên các hành tập khởi. Bằng cách nào chúng ta có thể từ nơi xúc này mà chúng ta đi đến sự giác ngộ, cũng có thể từ nơi xúc có thể dẫn chúng ta đến sanh tử, luân hồi, phiền não và khổ đau. Điều đầu tiên, chúng ta phải nhận biết rằng các pháp thiện và pháp ác, pháp trắng, pháp đen. Và phải thực hành theo lời dạy của Đức Phật. Việc đầu tiên là người tu phải giữ gìn căn bản phạm hạnh, giới luật nghiêm minh, đó là nền tảng để hạn chế các xúc trên thân và khẩu. Khi thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh thì xúc sẽ được thanh tịnh. Xúc thanh tịnh thì các pháp hữu lậu khởi lên trong tâm dần dần lắng dịu. Khi đó chúng ta thực hành pháp, suy nghĩ pháp như thầy chia sẻ lời dạy của Đức Phật, nghiệp của chúng ta do hành thường xuyên sanh khởi, nó tạo nên nghiệp, mà nghiệp tốt, nghiệp xấu cũng do chúng ta tiếp xúc với cảnh tốt hay xấu. Khi tâm chúng ta thuần nhất hướng đến sự yếm ly, sự nhàm chán, thì tất nhiên xúc của chúng ta sẽ hướng đến sự tiếp xúc đưa đến sự viễn ly. Sở dĩ như vậy nên chúng ta phải huân tập, thực hành xúc để không đầu tư cho ngũ uẩn, không đầu tư cho sự vô minh, mà hướng đến từ bỏ, nhàm chán, đoạn diệt đối với xúc, đối với năm uẩn.
Hôm nay con có những tư tưởng, những suy nghĩ rằng sự thực hành của xuất gia và người tu học Phật không nằm ngoài giới – định – tuệ, không nằm ngoài 37 Phẩm Trợ Đạo, Tứ Diệu Đế. Sự tiếp xúc trong giáo pháp, giới luật thường xuyên sẽ là căn bản phạm hạnh, đưa chúng ta tiến đến sự giải thoát thực sự và liễu ngộ các pháp một cách như thật với bản chất của chính nó. Từ đó, chúng ta bước lên thấy được tri kiến như thật trong thân tâm này để thoát khỏi những trói buộc của phiền não, những trói buộc của tham lam, sân hận và si mê.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật./.
ƯA THÍCH XA LÌA
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Xót xa kiếp người PAGEREF _Toc112607802 \h 1
II.Trí tuệ về tưởng PAGEREF _Toc112607803 \h 2
III.Trí tuệ về khổ PAGEREF _Toc112607804 \h 6
IV.Sức mạnh của người tu PAGEREF _Toc112607805 \h 8
V.Trình pháp PAGEREF _Toc112607806 \h 11
Xót xa kiếp người
Chúng ta sẽ có thêm một thể loại mới với chủ đề “Tinh Hoa Tạng Kinh Nikāya” – đây gồm những điều sâu sắc, quan trọng, nghĩa lý cốt yếu, mỗi khi Minh Thành đọc và tâm đắc thì sẽ lấy ra chia sẻ. Hôm nay chính thức làm thể loại này để tự mình học, chiêm nghiệm, tu tập, cũng như chia sẻ cho nhiều người khác.
Hôm qua giờ nghỉ trưa tại Trường Cao Trung Phật Học, cũng như tối nay khoảng bốn tiếng đồng hồ học về phần quán chiếu về cảm thọ, trong lòng Minh Thành trào dâng cảm xúc trí tuệ và sự biết ơn, lòng tôn kính vô hạn, không còn có thể dùng lời gì để diễn tả hết được sự tôn kính đối với Đức Thế Tôn. Càng ngày càng hiểu Đức Thế Tôn và càng tôn kính, mình càng thấy được giá trị siêu việt, vượt tầm pháp giới của bậc Thiện Thệ.
Chiều hôm qua Minh Thành thấy cảnh Phật tử bệnh hoạn, bị tham ái chi phối, sáng hôm nay nghe tiếng đám tang lúc 4 giờ khuya. Lúc đó, Minh Thành ngồi thiền, khi nghe tiếng kèn trống của đám tang, tự nhiên phát ra sinh một cảm thọ xót xa rất sâu sắc. Thấy những người nhạc công thổi nhiều bài, Minh Thành tự hỏi không biết người nằm bất động có nghe được không, họ có biết gì không? Họ chết trong sự vô minh và sống trong sự mê mờ, đáng tiếc thay cho kiếp nhân sinh, và cái chết đó sẽ bất chợt đến bên mình, không lâu không xa, bất cứ lúc nào cũng xảy ra. Lúc ngồi thiền trào ra cảm xúc vô hạn, thấy cuộc đời kiếp người sẽ không có ý nghĩa gì hết. Nếu như mình không thấy được Chánh Pháp vô thượng, không đi trên con đường Thánh đạo, Thánh quả này thì không biết là về đâu.
Sau đó, Minh Thành đi kinh hành ngoài lang cang, nhìn thấy nhiều người lo cho đám tang. Minh Thành chiêm nghiệm rằng người nằm bất động đó đang ở trong sự không thấy không biết và những người chạy vòng vòng cũng đang ở trong sự vô tri, mê muội. Thậm chí những người hướng dẫn như thầy tụng, thầy cúng đến tụng, cầu cho người chết được siêu thăng, thì những người thầy đó cũng ở trong sự không thấy, không hiểu về pháp. Trong kinh Đức Phật nói như vậy là người mù này dẫn một mù rồi dắt nhau đi xuống hố sâu.
Nghe nhạc đám tang Minh Thành có cảm xúc xót xa cho một kiếp người. Một kiếp người chẳng là gì hết, nếu thấy ra được điều này thì ta sẽ có niềm an lạc kỳ diệu, nhẹ nhàng. Thế nhưng hàng ngày mình sống trong sự không thấy, không biết, không rõ được các pháp vận hành trong thân của mình, của người và của mọi sự vật xung quanh. Khi bước vào trí tuệ mà Đức Phật chứng ngộ, trí tuệ này mở ra cho chúng ta sự thấy biết vượt tầm pháp giới, sự thấy biết xuyên thủng hết tất cả sắc tướng, thấu triệt hết tất cả cảm giác suy tư và nhận thức. Tuy rằng chưa vượt ra hết nhưng ít nhất mình thấy, mình biết, đây là điều quan trọng. Thật sư, không thể dùng lời nào diễn tả nổi sự vi diệu của giáo pháp.
Trí tuệ về tưởng
Bài kinh “Một pháp môn quyết trạch” trong Tăng Chi Bộ tập III là bài kinh rất quan trọng, ở đây chúng ta chỉ tìm hiểu phần tinh hoa.
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các tưởng, cần phải biết duyên khởi các tưởng, cần phải biết các tưởng sai biệt, cần phải biết các tưởng dị thục, cần phải biết các tưởng đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các tưởng đoạn diệt. Do duyên gì đã được nói như vậy?
Này các Tỷ-kheo, có sáu tưởng này: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 6. Chương Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Khi ngồi lại, hình bóng của những gì từng tiếp xúc, từng cảm nhận, từng thấy, từng nghe sẽ hiện khởi trong nội tâm của chúng ta – những điều đó là tưởng. Những điều đã thấy, đã nghe, đã ngửi, đã nếm, tiếp xúc và nhận thức còn lại những hình bóng hiện khởi bên trong tâm, đó là các tưởng. Chúng ta phải biết, phải nhận rõ, phải liễu tri, thắng tri, tuệ tri phải biết bằng trí tuệ, phải biết đó là các tưởng. Sự biết này đem lại lợi lạc lớn, lợi ích lớn, trí tuệ lớn cho chúng ta.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng sanh khởi?
Này các Tỷ-kheo, xúc là các tưởng sanh khởi.
Do tiếp xúc thì các tưởng sẽ sanh khởi trong nội tâm của mình, nếu không tiếp xúc thì các tưởng không sanh khởi. Hôm qua ở lớp cao đẳng Ni, có mấy vị hỏi:“khi ngồi thiền mà cứ suy nghĩ thì phải làm sao để giảm bớt và dừng lại suy nghĩ”. Sau đó, Minh Thành hỏi tại sao suy nghĩ sanh khởi thì các huynh đệ không ai biết. Cho nên phải học để biết được căn nguyên rằng: xúc tập khởi nên hành tập khởi – sự tiếp xúc làm phát khởi lên suy nghĩ, phát khởi lên cảm giác, phát khởi lên những suy tưởng. Thành ra phải biết sự sanh khởi của tưởng là xúc, khi tiếp xúc là các tưởng sanh khởi.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng sai biệt?
Này các Tỷ-kheo, các tưởng trong các sắc là khác, các tưởng trong các tiếng là khác, các tưởng trong các hương là khác, các tưởng trong các vị là khác, các tưởng trong các xúc là khác, các tưởng trong các pháp là khác. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các tưởng sai biệt.
Khi tưởng về các sắc thì đó là khác, khi tưởng về các tiếng hay mùi, vị thì khác, hoặc tưởng về sự tiếp xúc, về các pháp thì khác. Đó là sự sai biệt, sự khác nhau của các tưởng và các hình bóng trong nội tâm của mình.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các tưởng dị thục?
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng các tưởng là kết quả của thói quen, khi nào người ta biết sự vật như thế nào, như thế nào, người ta nói sự vật ấy như sau, như sau: “Tôi tưởng như vậy”. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các tưởng dị thục.
“Dị” là biến dị, biến đổi; “thục” là chín muồi.
Câu này rất quan trọng:“Như vậy, Ta tuyên bố rằng các tưởng là kết quả của thói quen”. Như những người nghiện thuốc là họ luôn tưởng về điếu thuốc, hay người nghiện rượu thì họ cũng tưởng về rượu, không phải chỉ tưởng về sắc, mà còn tưởng về hương, vị, tưởng chai rượu ra sao, mùi thơm của chai rượu ra sao, và khi nhấp vào lưỡi tạo ra sự tiếp xúc, lúc đó cảm giác như thế nào? Các tưởng đó là kết quả của thói quen. Trí tuệ sâu sắc mới nhìn ra được những điều này, chứ không phải đơn giản mà thấy được.
Đức Phật nói “Các tưởng là kết quả của thói quen” – những hình bóng thường xuyên xuất hiện trong tâm của mình là kết quả từ lúc đầu mình tập, mà tập ở đây chính là xúc – xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Các pháp Đức Phật dạy trong tạng kinh hầu hết là những pháp mà Đức Phật thấy biết bằng trí huệ, như thật tri kiến, thấy biết như thật, dù một tỷ năm sau vẫn như vậy. Nếu chịu khó thực tập, nhận diện từ từ để nhìn thấy được các pháp thì mình sẽ thành tựu trí huệ về pháp đó.
“Xúc tập khởi nên tưởng tập khởi”, tuy mình đọc thuộc lòng nhưng thật sự mình không thấy, không biết, không nhận ra được nó là như thế nào. Nhưng khi gặp chuyện, khi tiếp xúc, khi ngồi thiền thì chúng ta mới có sự để ý lại. Điều quan trọng là không thể không ngồi thiền, vì ngồi thiền sẽ có sự yên định từ từ, dù ngồi thiền có động đi nữa thì cũng sẽ có những giây phút yên định để mình nhận diện các pháp. Khi nhận diện thì các pháp sẽ hiện rõ ra hết trong lúc ngồi thiền, lúc đó mình sẽ thành tựu trí huệ, tức là thấy biết các pháp tự thân, trong tự tâm của mình. Mặt khác, dù cho có học thuộc lòng, tụng hàng ngày nhưng mình không thấy là không thành tựu trí huệ. Chẳng hạn tụng “chiếu kiến ngũ uẩn giai không” hằng ngày nhưng vẫn không thấy được năm uẩn. Cho nên khi có tu, có cơ hội thực tập, có thấy, có biết thì sẽ rất khác so với ngày trước mình không thấy không biết, chỉ được xem lý thuyết mà lý thuyết cũng không đúng.
Cho nên, điều quan trọng là thực tập nhìn ra, nhận diện ra, điểm mặt các pháp ngay trong tự thân, tự tâm của mình mà mình không thấy không biết. Ví dụ, khi thấy về tưởng, thấy về hành – những suy nghĩ, thấy về những cảm giác, thấy về nhận thức cũng là lúc thành tựu trí huệ về sự thấy biết trong một khía cạnh. Sự thấy biết đó là sự thành tựu trí về pháp đó. Thành ra sự tu tập này bao gồm rất nhiều trí tuệ. Ví dụ, khi nghe pháp xong rồi, khi về mình nhìn từ từ, lúc ngồi thiền thì mình nhìn ra, lúc hiện khởi trong nội tâm thì mình quán chiếu, đó là thiền quán, thiền tuệ – để tâm yên tịnh rồi thấy rõ, biết rõ bằng trí tuệ.
Năm uẩn bao trùm hết trời đất thân tâm. Cho nên lúc đầu thực tập nhận diện chỉ là khái quát, đại cương, khi đã nhận diện phần khái quát, tổng quát, thì bắt đầu sẽ thực tập quán chiếu những chi tiết, tức là bắt đầu nhìn nhiều khía cạnh từng uẩn. Ở đây chúng ta đang nói về tưởng uẩn. Giống như người ta học lái xe. Tập chạy xe đạp thì rất dễ, leo lên xe chỉ có chân đạp, tay thắng, mắt thì nhìn. Khi học lái xe honda thì khác, có thêm phần đề xe, tuy cái chân không đạp, mức độ vẫn động ít lại, mà phải sử dụng nhận thức nhiều. Khi lên xe hơi thì càng ít động hơn, nhưng cần sử dụng những hiểu biết, những sự quán sát. Khi lên đến máy bay thì phải biết hàng trăm, hàng nghìn những thứ điều khiển, nhỏ nhiệm. Cho nên khi phân tích tới tận cùng, phân tích tới những phân tử, nguyên tử nhỏ nhiệm thì đó là việc của các nhà khoa học, người thương hông biết được. Học pháp này cũng vậy, khi trí huệ ngày càng trưởng thành, càng ngày càng phát triển, càng ngày càng thâm sâu, thì lúc đó nhìn pháp dưới nhiều khía cạnh, nhiều phương diện, những điểm vi tế trong vi tế, tinh vi trong tinh vi. Cũng như vừa rồi có đoàn Phật tử, Minh Thành có chia sẻ về quán thân hành niệm, người ta có ý nói niệm Phật thấy đơn giản hơn, còn pháp này khó. Đó là điều đương nhiên vì chạy xe đạp thì dễ hơn chạy xe honda, lái xe hơi, lái máy bay, nhưng tầm lái máy bay thì cơ trưởng phải giỏi. Sự tu học cũng giống như vậy, trí huệ càng thành tựu thì càng nhìn được những nhỏ nhiệm trong các ngóc ngách, trong sự vi tế, sâu sắc, thâm sâu trong các pháp. Có gì vừa máy động, manh nha, rục rịch trong nội tâm là mình thấy được ngay.
“Ta tuyên bố rằng các tưởng là kết quả của thói quen”. Ta thấy rằng, người thầy thuốc đi lên rừng nhìn đâu cũng thấy cây để làm thuốc. Người thợ mộc lên nhìn rừng thì lại chỉ thấy cây để làm gỗ, làm bàn, làm cột. Người bác sĩ về vi trùng học thì nhìn đâu cũng thấy vi trùng, hay các nhà doanh nhân lên núi thì chỉ thấy đất, nghĩ tới phân lô bán nền, làm biệt thự, hay villa. Đó chính là tưởng là kết quả của thói quen. Vì họ suy nghĩ mọi lúc mọi nơi nên thành thói quen, thói quen đó tạo thành các tưởng. Còn mình đi đâu cũng thấy chùa, đất này làm chùa là tốt, mình cũng có tưởng. Mà nếu không có trí huệ, thì mình cũng bị tưởng. Tiếp xúc thường trong những hình ảnh nên cũng bị tưởng. Do đó phải thấu suốt được bản chất của tưởng, thấu suốt được sự sanh khởi, sai biệt và dị thục của tưởng. Điều này là cần thấy, cần biết, cần nhận diện, tu tập và cần quán chiếu.
Đức Phật dạy:
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết các nghiệp, cần phải biết duyên khởi các nghiệp, cần phải biết các nghiệp sai biệt, cần phải biết các nghiệp dị thục, cần phải biết các nghiệp đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến các nghiệp đoạn diệt. Do duyên gì đã được nói như vậy?
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 6. Chương Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Cần phải biết các nghiệp, các nghiệp sanh khởi, các nghiệp sai biệt, các nghiệp dị thục. Đức Phật tuyên bố rằng suy tư là nghiệp; sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời, về ý. Suy tư là nghiệp, nhưng không phải là mình không suy tư, mà là suy tư cái gì đưa đến chấm dứt suy tư. Suy tư về sự nguy hại của nghiệp, suy tư về vị ngọt của nghiệp, suy tư về sự xuất ly khỏi nghiệp – suy tư như vậy đưa đến sự chấm dứt suy tư. Đây gọi là con đường đạo lộ, thánh đạo, nghiệp diệt đạo.
Qua đó ta thấy rằng trùm hết tất cả pháp hành là Bát Chánh Đạo. Đọc trong quyển Tóm tắt Năm uẩn, chỗ nào diệt đạo chính là tám đúng, tức là Bát Chánh Đạo. Cho nên Bát Chánh Đạo bao trùm hết và Chánh kiến là thấy năm uẩn không phải tôi, không phải của tôi. Cho nên, pháp rõ ràng như chỉ trong lòng bàn tay, chỉ còn thực hành là chính. Thành ra phải nắm vững Bát Chánh Đạo – tổng cương lĩnh toàn bộ giáo pháp, đó là Thánh đạo. Chỗ nào nói bảy trí về sắc, bảy trí về thọ, bảy trí về tưởng, bảy trí về hành, bảy trí về thức, cuối cùng nói đến chỗ diệt đạo, là con đường đưa đến sự chấm dứt, đó tức là Bát Chánh đạo, không có con đường khác, do đó nắm vững. Bát Chánh Đạo là thấy được năm uẩn, tư duy sự xuất ly ra khỏi năm uẩn, nói những lời ra khỏi năm uẩn, giải thoát khỏi năm uẩn. Hành động, nghĩ nhớ, thiền định, quán chiếu như thế nào để thấy sự nguy hại và đi ra khỏi nó, đó là Bát Chánh Đạo. Thể hiện trong đời sống của mình là viễn ly năm uẩn, ly tham đối với năm uẩn, từ bỏ đối với năm uẩn, chấm dứt đối với năm uẩn, đó là đời sống của Thánh đạo, đời sống của Hiền Thánh, đời sống tối thượng trong Tam giới, đời sống đáng chắp tay, đáng cung kính, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Trí tuệ về khổ
Này các Tỷ-kheo, cần phải biết khổ, cần phải biết khổ sanh khởi, cần phải biết khổ sai biệt, cần phải biết khổ dị thục, cần phải biết khổ đoạn diệt, cần phải biết con đường đưa đến khổ đoạn diệt.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ sanh khởi?
Ái, này các Tỷ-kheo, là khổ sanh khởi.
Một chữ “ái’ này đem hết vàng trên trái đất này mua cũng không mua được nếu không có bậc Chánh đẳng giác xuất hiện.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ sai biệt?
Này các Tỷ-kheo có khổ lớn, có khổ nhỏ, có khổ chậm biến, có khổ mau biến. Này các Tỷ-kheo, đây là khổ sai biệt.
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là khổ dị thục?
Này các Tỷ-kheo, ở đây có hạng người bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, ưu sầu, bi thảm, than van, đập ngực, khóc lóc, đi đến bất tỉnh. Do bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc, nên đi tìm phía bên ngoài xem có ai biết được một câu, hai câu thần chú đề đoạn diệt khổ này.
Ở thời Đức Phật, Ngài tuyệt đối không sử dụng chú, cũng vậy, trong Tạng Nikāya không có chỗ nào Đức Phật bảo mình thực tập chú.
Ở đây, có người bị khổ chinh phục, tâm bị trói buộc nên đi tìm bên ngoài xem ai có câu thần chú giúp mình đoạn diệt cái khổ thì Đức Phật tuyên bố rằng:
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng khổ đem lại kết quả mê loạn, đem lại kết quả tìm kiếm. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 6. Chương Sáu Pháp, VI. Đại Phẩm, bài kinh Một Pháp Môn Quyết Trạch)
Câu này rất sâu xa, khi bị khổ, thì mình bị mê mờ, rối loạn, không còn tỉnh táo. Bậc có niệm định tuệ, nói không có khổ không phải là không bị đau, không bị bệnh, không bị già, mà khổ ở đây là không mê loạn, không mê mờ, không rối loạn. Cho nên, nhìn giống như khổ nhưng không khổ, thân khổ mà tâm không khổ, thân đau mà tâm không đau.
“Ta tuyên bố rằng khổ đem lại kết quả mê loạn”. Những người bị khổ thì bị mê mờ, rối loạn, nhói tim, tan nát cõi lòng, đau đớn không thể chịu nổi khi có người thân mất hay chia ly với người yêu thương hoặc gặp gỡ những người oán hận. Hay tại Indonesia đột ngột bị sóng thần, động đất, chết 384 người, bị thương 500 người, thây người nằm ngổn ngang trên bãi biển, nó đang tiến vào Nhật Bản. Những người gặp cảnh khổ như bão tố, động đất, sóng thần, thiên tai nhân họa thì họ sống trong mê loạn.
“Khổ đem lại kết quả tìm kiếm”. Câu này cần phải chiêm nghiệm thật là sâu xa. Khi khổ, chúng ta cứ phải tìm kiếm hoài, không khi nào dừng lại, trừ khi tìm thấy pháp. Tại vì khổ dị thục liên hệ với khổ sanh khởi, bởi vì ái nên mình tìm kiếm, tìm kiếm là kết quả của khổ. Vì trong tâm không thỏa mãn nên tìm hoài tất cả mọi thứ không khi nào hết. Đối với một người chưa thành tựu Chánh Tri Kiến, thì sự tìm kiếm này không ngừng nghỉ, vì bên trong là sự thúc đẩy của dục, của ái. Khổ có nguyên nhân chính là dục, ái và dục, ái cứ thúc đẩy ta đi kiếm, đi tìm mãi. Điều này rất sâu xa phải thiền quán, phải chiêm nghiệm. Ngoài đời mình cũng đi tìm, xuất gia cũng đi tìm, thậm chí có khi già lớn tuổi cũng chưa hết tìm, ngay cả những người xuất gia cũng muốn tìm thêm. Đó là khổ đem lại kết quả tìm kiếm, gọi là khổ dị thục.
Trong “Kinh Đế Thích Sở Vấn”, Trường Bộ Kinh, tập 2. Vị Đế Thích, vua 33 tầng trời, Đức Thế Tôn gọi là đại đức, vị này có phước đức, công đức rát lớn.
Vị Đế Thích hỏi:
- Bạch Thế Tôn, có phải tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn đều đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích?
- Này Thiên chủ, tất cả vị Sa Môn, Bà La Môn không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích.
- Bạch Thế Tôn, vì sao tất cả Sa môn, Bà la môn, không đồng một cứu cánh, không đồng một an ổn, không đồng một phạm hạnh, không đồng một mục đích?
- Này Thiên chủ, chỉ những vị Sa môn Bà la môn nào đã giải thoát tham ái, những vị ấy mới đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích . (Trường Bộ Kinh, 21. Kinh Đế Thích Sở Vấn)
Điều này hết sức thâm sâu. Tu mà khác nhau, không giống nhau là do còn trong ngũ uẩn, còn bị dục ái, vô minh, bản ngã chi phối. Mỗi người có một kiểu dục, ái khác nhau, mình đã biết khi học các sai biệt của nghiệp. Có người nặng về sắc tưởng, nặng về sắc tướng, có người nặng về thọ, có người nặng về tưởng, về suy tư, về hành, có người nặng về thức, thế nên, nếu còn trong ngũ uẩn thì vẫn còn sai biệt. Chỉ những vị tu nào đã giải thoát tham ái, thì những vị ấy đồng một cứu cánh, đồng một phạm hạnh, đồng một an ổn, đồng một mục đích, đây là những bậc A-la-hán hoặc là những bậc Tu-đà-hoàn đang đi trên con đường giải thoát tham ái.
Sức mạnh của người tu
Bài kinh “Sức Mạnh 2”, Tăng Chi Bộ tập 3, Đức Phật hỏi Xá Lợi Phất. Xá Lợi Phất là bậc tướng quân của Chánh Pháp, Ngài nói pháp trước mặt bậc Chánh Đẳng Giác.
Rồi Tôn giả Sàriputta đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sàriputta đang ngồi xuống một bên:
- Này Sàriputta, có bao nhiêu sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc? Thành tựu với những sức mạnh gì, Tỷ-kheo đã đoạn trừ các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: "Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận "?
Tóm lại, câu hỏi ở đây là: Có bao nhiêu sức mạnh của Tỷ-kheo đã chấm dứt hết các lậu hoặc. Và thành tựu sức mạnh gì thì vị đó mới có khả năng đoạn diệt các lậu hoặc? Câu hỏi có hai phần:
Một, phải đầy đủ sức mạnh gì để đoạn diệt được lậu hoặc?
Hai, khi đoạn diệt được lậu hoặc thì có sức mạnh gì?
Đức Thế Tôn hỏi ngài Xá Lợi Phất. Ngài Xá Lợi Phất rống lên tiếng rống của sư tử, những vị này nói thì không sai. Thông thường, những vị hữu học không dám nói, họ chỉ: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn là chỗ y cứ, chỗ y chỉ, Thế Tôn dạy thì chúng con sẽ y giáo phụng hành”. Nhưng ở đây, Ngài Xá Lợi Phất trả lời, vì đây là lúc cần nói. Ngài Xá Lợi Phất nói:
“Bạch Thế Tôn có tám sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc.
Phải thành tựu tám sức mạnh này mới đoạn trừ các lậu hoặc, trước cũng như sau.
Ở đây, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng tất cả các hành là vô thường. Vì rằng, bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, khéo thấy như thật với chánh trí tuệ rằng tất cả các hành là vô thường. Bạch Thế Tôn, đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: "Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận ". (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 8. Chương Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, bài kinh Sức Mạnh 2)
“Khéo thấy như thật với chánh trí huệ rằng tất cả các hành là vô thường”. Thân hành, khẩu hành, ý hành, tất cả hành pháp là vô thường, mà phải khéo thấy bằng trí tuệ, chứ không phải thấy bằng tưởng, thức hay chỉ là nói. Tám sức mạnh này phải có trong một người tu, đâysức mạnh của người xuất gia, đây là lực sĩ trong Chánh Pháp. Các hành là vô thường: ý hành – những suy nghĩ trong nội tâm, khẩu hành – những lời nói nơi miệng, thân hành – những hành động mình làm, phải khéo thấy như thật với chánh trí huệ rằng tất cả là vô thường. Sáu tư, cũng là sáu hành: sắc tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư – suy nghĩ về sắc, suy nghĩ về âm thanh, suy nghĩ về mùi vị, xúc chạm, tất cả nhận thức. Đối với những suy tư đó mình đều thấy rõ các hành là vô thường. Đó là sức mạnh thứ nhất.
Sức mạnh thứ hai: “Khéo thấy như thật với chánh trí huệ rằng tất cả các dục ví như hố than hừng”. Sự tham muốn ví như hố than hừng. Khéo thấy như thật với trí huệ chân chánh rằng tất cả các dục như hố than hừng, đẩy mình xuống và chết trong đó, trong kinh dùng từ chết cho đến gần như chết. Tất cả các dục như hố than hừng, không được đi theo nó.
Sức mạnh thứ ba rất quan trọng, được nói rất kĩ: “Với tâm thuận xuôi về viễn ly, hoan hỷ về xuất ly, thiên về viễn ly, trú ở viễn ly, hoan hỷ về xuất ly, đoạn tận hoàn toàn tất cả pháp có thể làm trú xứ cho lậu hoặc”.
“Tâm thuận xuôi về viễn ly, hoan hỷ về xuất ly” – có được tâm này là sức mạnh của Tỷ-kheo, sức mạnh của bậc xuất gia, sức mạnh của bậc chánh tri kiến, sức mạnh của bậc đoạn tận các lậu hoặc. Tâm phải thuận xuôi về viễn ly, tâm không còn theo chiều ngược với viễn ly, tâm phải xa lìa. Thấy sắc, hương, thanh, vị, xúc, pháp thì tâm mình không thuận xuôi với nó, mà phải thuận xuôi về viễn ly, viễn ly sắc, viễn ly cảm giác, xa lìa cảm giác, xa lìa đối với suy tư và nhận thức. Nhận thức, thấu rõ để xa lìa, tâm thuận xuôi về viễn ly và sự xa lìa. Hoan hỷ về xuất ly, vui trong sự thoát ra chứ không vui vẻ vì sự đi vào. Thành tựu được một phần này, thấp nhất cũng vào Hướng Dự Lưu, còn thành tựu mạnh triệt để là bậc A-la-hán. Nếu thuận xuôi về viễn ly, hoan hỷ về xuất ly, tâm luôn luôn hướng đến sự xa lìa, vui thích trong sự thoát ra thì vị này chắc chắn đi đến tàn diệt năm uẩn, không tích trữ năm uẩn. Năm uẩn bị tàn tạ, bị diệt tận đối với trí huệ của tâm xuất ly này. Tất cả dục, ái, tham, sân, si, bản ngã sẽ từ từ bị viễn ly, xa lìa.
“Thiên về viễn ly, trú ở viễn ly”, thiên là nghiên về, trú là ở trong đó, không những nghiên về mà còn ở trong tâm xa lìa. Khi thấy dục, ái, tham, sân, si, bản ngã, phiền não, thì mình xa lìa, không ưa thích, không muốn đi vào, mà mình vui thích trong sự ra khỏi gọi là hoan hỷ về sự xuất ly.
“Đoạn tận hoàn toàn tất cả pháp, có thể làm trú xứ cho lậu hoặc”. Đoạn tận hoàn toàn tất cả pháp mà nó có thể làm chỗ ở cho các lậu hoặc, cho các dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Dục lậu là tâm nhiễm trong dục. Hữu lậu là tâm nhiễm trong hữu, ưa thích sự hiện hữu, chữ “hữu” là các cõi, trong đạo có từ “tam hữu” là: cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc. Vô minh lậu là tâm nhiễm trong sự không thấy biết. Cho nên phải “đoạn tận hoàn toàn tất cả pháp, có thể làm trú xứ cho lậu hoặc”, không được làm căn cứ địa, làm trú xứ cho mê lầm. “Đây là sức mạnh của Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc. Do sức mạnh này, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tự nhận mình đã đoạn diệt các lậu hoặc: "Các lậu hoặc đã được ta đoạn tận".”
Các sức mạnh tiếp theo:
Lại nữa, bạch Đức Thế Tôn: “Vì rằng, Tỷ-kheo đã đoạn tận lậu hoặc, bốn Niệm Xứ đã tu tập, được khéo tu tập …
Bốn Như Ý Túc được tu tập, được khéo tu tập …
Năm Căn được tu tập, được khéo tu tập …
Năm Lực được tu tập, được khéo tu tập …
Bảy Giác Chi được tu tập, được khéo tu tập …
Thánh Đạo Tám Ngành được tu tập …
Bạch Thế Tôn đây là sức mạnh của vị tỷ-kheo.” (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 3, 8. Chương Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, bài kinh Sức Mạnh 2)
Chương 37 Bồ Đề Phần rất hay, đọc mới thấy được Thánh trí viên mãn.
Như vậy, nói gọn, ba sức mạnh nổi cộm là:
Khéo thấy như thật Chánh trí huệ với tất cả các hành là vô thường.
Các dục là hố than hừng.
Tâm thuận xuôi về viễn ly, hoan hỷ về xuất ly.
Ba điểm này là sức mạnh của người tu, là năng lực, hùng lực, đại hùng, đại lực, tinh tấn lực của người xuất giá, là 37 Phẩm Trợ Đạo, những phần đưa đến giác ngộ bồ đề. Những sức mạnh này rất hay và tuyệt vời, học kinh sẽ thấy thích thú, ngồi thiền được êm ái và đối với mọi lòe loẹt thế giới phải tập quán quay lưng lại.
Trình pháp
Thầy Pháp Sơn:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên Sư phụ. Kính thưa thầy Pháp Minh.
Hôm nay, chúng con được lắng nghe trên Sư phụ chia sẻ những tinh hoa về pháp hành trong Kinh Tạng Nikāya. Qua thời pháp được lắng nghe sư phụ chia sẻ, trao truyền từ nơi trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác, trong lòng của con dạt dào lòng biết ơn và tôn kính vô biên nơi Đức Phật, các bậc thiện trí thức đã khai mở cho con cánh cửa tri kiến vô thường.
Con cũng chiêm nghiệm được một điều, qua những lời thầy chỉ dạy, con thấy rằng nếu thật sự người tu không đặt tâm mình vào trong pháp, thì những hoạt động của sanh tử vẫn cứ tiếp nối trong những tập nghiệp, thói quen của mình, tất cả cũng quy về ngũ uẩn. Những điều mà tiếp xúc, hướng về hoạt động của sanh tử, thì ngũ uẩn được nuôi dưỡng, tích tập, tàn trữ cho tương lai, cũng hướng đến sự sanh tử luân hồi. Nếu như sự tiếp xúc hướng đến giải thoát thì sự chấm dứt tàn diệt ngũ uẩn trong tương lai không còn sanh khởi và không mong muốn sự tái sanh.
Con thấy rằng chính yếu là mình muốn tu tập hay không tu tập và mình phải nhìn nhận bản chất thật của kiếp sống sanh tử này, để hướng đến sự nhất cứ nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết bàn. Nếu không thật sự nhàm chán đối với ngũ uẩn, chắc chắn mình sẽ hướng đến nuôi dưỡng một đời sống tham ái trong hiện tại cho ngũ uẩn này và tiếp nối trong tương lai.
Qua những bài kinh trên sư phụ chia sẻ, sự tiếp xúc – cũng là một trong bốn loại thức ăn thì xúc tập rất quan trọng. Về sự tập khởi của mỗi cảm giác, các tưởng, hình ảnh cũng như mỗi suy nghĩ đều là do nơi xúc, thọ, tưởng hành tập khởi. Hôm nay con được lắng nghe thêm sự chia sẻ từ trên sư phụ về lời dạy của Đức Phật đó là xúc tập khởi dẫn đến tưởng tập khởi, hình thành thói quen trong các tưởng, đó là rất đúng. Do sự tích tập của mình thích điều đó, khi ngồi thiền sanh khởi những hình ảnh, hình bóng trong đời sống khi các giác quan tiếp xúc với các trần bên ngoài. Cũng do mình không biết khéo tiếp xúc với pháp để đưa mình đến nội tâm được vắng lặng, an tịnh.
Con thấy được rằng đối với mọi sự vận hành của pháp, trước tiên phải thấy rõ được nó là cái gì, khái niệm về nó, thấy được sự tập khởi của nó, vì sao nó tập khởi, và sự sai biệt trong các tưởng, các cảm giác, các suy tư, sự dị thục, sự chín muồi, sai khác của quả và con đường đưa đến sự chấm dứt nó. Con đường vi diệu tối thượng, còn gọi là cổ xe tối thượng, hay con đưởng cổ xưa, con đường tám đạo, tám ngành, con thấy không có giáo lý nào viên mãn hơn. Tất cả đều không ra ngoài 37 Phẩm Trợ Đạo, trong đó con đường Bát Chánh đạo là con đường tựu chung tất cả các Phẩm trợ đạo còn lại. Chánh Tri Kiến là điều rất quan trọng, một người không thành tựu Chánh Tri Kiến thì sự học hiểu tu tập của họ đưa đến sự sai lạc, và chắc chắn rằng không có kết quả.
Con có nghe bài pháp trên sư phụ chia sẻ tại miền Bắc, thầy có ví dụ nếu mình lấy một cái dùi chuông, đánh vào trong đế chuông, đánh vào bình hoa, thầy hỏi các Phật tử có kêu ra tiếng không? Nó cũng kêu ra tiếng, nhưng tiếng đó không như tiếng mình mong muốn. Nếu như thật sự muốn nghe được tiếng chuông hay thì mình phải đánh vào cái chuông, như vậy mới ra được tiếng chuông. Cũng vậy, mình phải xét lại tâm nguyện của mình là hướng đến cái gì.
Giống như “Kinh Đế Thích Sở Vấn” của Trường Bộ Kinh. Vị Đế Thích hỏi Đức Thế Tôn các vị Sa Môn tu tập trong pháp và luật của Đức Thế Tôn, có phải đều đồng một cứu cánh, đồng một an ổn, đồng một phạm hạnh, đồng một mục đích? Đức Phật nói nếu mục đích chấm dứt ái, đoạn tận ái, thì những vị này sẽ có điểm giống nhau về mục đích, về an ổn, cứu cánh, pham hạnh
Cũng như vậy, nếu như người tu mà hướng đến mục đích đoạn tận ái, chấm dứt tái sanh, thì phải có sự nỗ lực trong thực hành pháp để liên hệ đến những điều đó. Chắc chắn rằng thân hành, khẩu hành, ý hành của những vị đã không còn vô minh, tham ái sẽ liên hệ đến mục đích lợi ích đa số, hạnh phúc, an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Chính như vậy mà con nghĩ rằng, mình xem lại những đời sống hàng ngày của mình, có liên hệ với mục đích chưa? Có liên hệ đến sự mong muốn sự chấm dứt luân hồi tái sanh hay không? Con chiêm nghiệm một điều hết sức sâu sắc đó là khi thật sự không thấy như thật về khổ, mà nguyên nhân sự tập khởi khổ là ái, thì mình sẽ sống trong sự mê loạn và tìm kiếm. Con cũng đã chiêm nghiệm rất nhiều trong đời sống của chính mình, khi không nhìn nhận được ngũ uẩn và sự vận hành của nó, mình không thoát ra, không xuất ly được khỏi ngũ uẩn thì mình sẽ bị dục ái, sân hận, si mê của ngũ uẩn chi phối. Cái khổ chính là sự chấp thủ về ngũ uẩn, chắc chắn rằng mình chỉ đi tìm những cái lạc tạm thời để giải quyết những sự khổ này. Nhưng lạc đó cũng lẩn quẩn trong dục, cũng nuôi dưỡng tham ái đối với ngũ uẩn mà thôi. Những lạc mà mình đi tìm kiếm thật sự là lạc của điều kiện, vui của điều kiện, vui rất là mơ hồ, mong manh như một giấc chiêm bao, thật sự không có gì là vĩnh cửu. Con chiêm nghiệm rằng không có cái gì để cho chúng con tìm kiếm và nắm bắt được trong thế giới duyên khởi này. Tất cả các pháp đều là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại.
Bài kinh sau cùng là các sức mạnh mà bậc tướng quân của Chánh Pháp tuyên thuyết về tám sức mạnh của người tu, đi đến đoạn tận các lậu hoặc. Con cảm thấy rất sâu sắc. Cần phải thấy như thật với chánh trí tuệ là tất cả các hành vô thường. Các dục ví như hố than hừng. Phải hướng tâm mình xuôi viễn ly và hoan hỷ trong sự xuất ly. Điều con cảm thấy sâu sắc nhất là đoạn tận các pháp, làm trú xứ cho các lậu hoặc.
Ba pháp này con thấy rất tuyệt diệu, nhất là đoạn tận các pháp làm trú xứ cho các lậu hoặc, nói lên sự nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm trong mọi thời khắc, trong mọi đời sống sinh hoạt đi đứng nằm ngồi hàng ngày, và cả trong tâm niệm của mình. Nếu không thực hành pháp này, khi nói tu tập, nghe pháp, hành thiền, tụng niệm mà không liên hệ đến đoạn tận, những nguyên nhân nuôi dưỡng sanh khởi, làm căn cứ địa cho các lậu hoặc, thì cũng là vô ích.
Con chiêm nghiệm điều này để thấy được rằng, thế nào là các trú xứ, các lậu hoặc? Chính là mình không nuôi dưỡng nó. Trong kinh Đức Phật nói rằng, người mà không có loại trừ dục tầm hại tầm là kẻ biếng nhác và lười biếng trong pháp và luật của Như Lai, chính là liên hệ đến chỗ này. Do mình không có sự hổ thẹn, tàm quý khi ở trên phương diện của người xuất gia, không có liên hệ đến mục đích của Sa Môn hạnh là chấm dứt hoàn toàn các lậu hoặc, dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu thì sẽ đưa đến chỗ tái sanh luân hồi.
Và tất cả cũng không ra ngoài 37 Phẩm Trợ Đạo, liên hệ đến Bốn Niệm xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Như ý túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Giác Chi và Bát Chánh đạo. Con thấy được giá trị pháp hành không ra ngoài 37 Phẩm Trợ Đạo, và điều quan trọng hơn hết khi tu tập 37 Phẩm Trợ Đạo là cũng chỉ để thấy được ngũ uẩn, thấy được khổ của sự đưa đến vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn. Sự tập khởi của khổ cũng chính là vô minh và tham ái, cội gốc của khổ là sự chấp thủ, sự vô minh về ngũ uẩn. Sự tập khởi của khổ chính là tham ái đối với ngũ uẩn này. Con đường đưa đến sự chấm dứt ngũ uẩn là con đường Bát Chánh Đạo, cũng là con đường đoạn diệt vô minh và tham ái. Chính là sự thể nghiệm được trạng thái an lạc, vắng lặng, tịnh diệt, Niết-bàn, không còn vô minh, không còn sự khao khát, mong muốn tái tục đối với ngũ uẩn nữa.
Con thấy pháp này nhìn nhận ngũ uẩn thật là vi diệu và trọn vẹn, đòi hỏi ở nơi mình sự nỗ lực tu tập, để chứng đạt những gì chưa chứng đạt, chứng đắc những gì chưa chứng đắc, chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ, đó là những cảm nhận của con trong thời pháp thoại sáng nay.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Thầy Pháp Minh:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con Pháp Minh kính bạch thầy, quý thầy cùng toàn thể đại chúng.
Qua ba bài kinh sáng nay thầy chia sẻ, bản thân cũng chiêm nghiệm nơi chính bản thân mình về sự học hiểu pháp, thực hành pháp. Đúng như lời Đức Phật nói, sự vô minh và tham ái của chúng ta đều bắt nguồn từ nguyên nhân do ái dục, do tham ái, tham ái và ái dục ở đâu? Chính là ngũ uẩn, do sự không hiểu, không thấu đạt sự vận hành ngũ uẩn trong thân tâm, nên chúng ta cứ mãi đi tìm và đầu tư cho năm uẩn.
Nguyên nhân sự hình thành và đầu tư cho năm uẩn do không thấy rõ được bản chất của thân và thân hành là vô thường, là biến hoại, là khổ, tưởng các dục là vui nên chúng ta mãi đi tìm cầu, luôn luông hướng về để làm sao thỏa nãm được dục vọng, thỏa mãn được những suy nghĩ những cảm giác, thỏa mãn được sự hay biết, thỏa mãn được sự xúc chạm, và thỏa mãn cho bản thân. Đó là con đường dẫn đến sanh tử, khổ đau cho tự thân.
Qua những lời chia sẻ của thầy về sự do đâu mà tư tưởng, hành phát sinh chính là do xúc, Đức Phật đã chỉ rõ do sự tập khởi, nên các hành tập khởi. Bằng cách nào chúng ta có thể từ nơi xúc này mà chúng ta đi đến sự giác ngộ, cũng có thể từ nơi xúc có thể dẫn chúng ta đến sanh tử, luân hồi, phiền não và khổ đau. Điều đầu tiên, chúng ta phải nhận biết rằng các pháp thiện và pháp ác, pháp trắng, pháp đen. Và phải thực hành theo lời dạy của Đức Phật. Việc đầu tiên là người tu phải giữ gìn căn bản phạm hạnh, giới luật nghiêm minh, đó là nền tảng để hạn chế các xúc trên thân và khẩu. Khi thân thanh tịnh, khẩu thanh tịnh thì xúc sẽ được thanh tịnh. Xúc thanh tịnh thì các pháp hữu lậu khởi lên trong tâm dần dần lắng dịu. Khi đó chúng ta thực hành pháp, suy nghĩ pháp như thầy chia sẻ lời dạy của Đức Phật, nghiệp của chúng ta do hành thường xuyên sanh khởi, nó tạo nên nghiệp, mà nghiệp tốt, nghiệp xấu cũng do chúng ta tiếp xúc với cảnh tốt hay xấu. Khi tâm chúng ta thuần nhất hướng đến sự yếm ly, sự nhàm chán, thì tất nhiên xúc của chúng ta sẽ hướng đến sự tiếp xúc đưa đến sự viễn ly. Sở dĩ như vậy nên chúng ta phải huân tập, thực hành xúc để không đầu tư cho ngũ uẩn, không đầu tư cho sự vô minh, mà hướng đến từ bỏ, nhàm chán, đoạn diệt đối với xúc, đối với năm uẩn.
Hôm nay con có những tư tưởng, những suy nghĩ rằng sự thực hành của xuất gia và người tu học Phật không nằm ngoài giới – định – tuệ, không nằm ngoài 37 Phẩm Trợ Đạo, Tứ Diệu Đế. Sự tiếp xúc trong giáo pháp, giới luật thường xuyên sẽ là căn bản phạm hạnh, đưa chúng ta tiến đến sự giải thoát thực sự và liễu ngộ các pháp một cách như thật với bản chất của chính nó. Từ đó, chúng ta bước lên thấy được tri kiến như thật trong thân tâm này để thoát khỏi những trói buộc của phiền não, những trói buộc của tham lam, sân hận và si mê.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật./.