Quán Chiếu Tứ Đại (Phần Cuối) - Tẩy Sạch Tâm Bằng Trí tuệ
Kinh NIKĀYA Giảng Giải - Quán Chiếu Tứ Đại (Phần Cuối) - Tẩy Sạch Tâm Bằng Trí tuệ
Thích Minh Thành
Kính thưa đại chúng, Như lý tác ý rất quan trọng trong sự thực tập, hướng dẫn và huấn luyện tâm. Trong mấy phút chúng ta vừa ngồi tỉnh tâm Minh Thành có cảm thọ rất hạnh phúc, an lạc, thấm nhuần từ đỉnh đầu đến gót chân, cái hoan hỉ đó trải rộng toàn trường học và hơn thế nữa, cho nên Đức Phật nói trong các Pháp thì Như lý tác ý dẫn đầu, Như lý tác ý là đặt tâm đúng hướng, muốn hoan hỉ là hoan hỉ, muốn yên định là yên định, muốn khởi tâm từ bi tình thương thì nó khởi tâm từ bi, đó là người khéo biết huấn luyện tâm, đây là điều rất quan trọng trong thiền định chứ đừng nghĩ thiền định là ngồi thở vào thở ra cho tâm yên định, đó chỉ là một phần nhỏ trong thiền chỉ. Trong tạng kinh Nikāya dạy chúng ta rất nhiều phương pháp tuệ quán, trong đó phương pháp quan trọng nhất là Như lý tác ý, tức là làm tâm mình khởi lên theo ý mình muốn, chỗ này rất tế nhị sâu sắc và có thực tập mới thấy được giá trị của Như lý tác ý, làm đúng theo Pháp này sẽ có sự lợi lạc kì diệu.
Người tu với người tu gặp nhau ngoài nói Pháp ra thì không có gì để nói nữa. Vì sao tu hoài không thành tựu chánh định? Vì chánh định trong đạo Phật phải chuẩn bị bảy bước trước đó trong Bát Chánh Đạo, còn vừa vào đã muốn chánh định, không đi theo trình tự nên không đạt được kết quả mong muốn, vì thế Như lý tác ý là hướng tâm theo như mình muốn. Ví dụ khi ngồi mà thấy có cảm giác buồn chán, bây giờ phải nhận biết cảm giác buồn đang có mặt, sau đó tách mình ra khỏi cảm giác đó, không nhập chung với nó "Ta thấy ngươi rồi, đừng xâm chiếm, chế ngự ta. Ngươi chỉ là một cảm giác thôi, đi chỗ khác chơi đi, tới giờ ta đọc kinh, ngồi thiền rồi", đó gọi là giải thoát khỏi cảm giác buồn chán. Giải thoát ngay trong cảm giác, nó muốn nhận chìm nhưng mình vượt thoát khỏi nó. Phải nhận biết khi có cảm giác tham dục khởi lên rồi la mắng, quở trách, sau đó tách mình ra khỏi nó hoặc dùng pháp quán theo kinh Tứ Niệm Xứ, quán như vậy làm cho cảm giác dục tham tan từ từ và lắng dịu, đối với cảm giác sân cũng vậy. Đầu tiên là phát giác ra đang có cảm giác gì: Dục, tham, sân, bản ngã, cảm giác hất mặt, vênh váo lên, ý hành hoạt động "sao dám đối xử với tôi như thế", phải nhận ra đây là tiếng nói của bản ngã, nếu thấy có cái tôi, có người đó nói như vậy với mình, có sự đối xử như thế là lúc đó mình không thấy năm uẩn, nếu thấy năm uẩn thì không có cái tôi, tôi là năm uẩn, người đó cũng là năm uẩn thì ai là tôi, ai là của tôi, ai đối xử tệ với tôi? Lúc mình thấy có một cái tôi ở đây, có một cái tôi ở kia và có sự đối xử như thế thì lúc đó mình đang vô minh, không thấy rõ Pháp. Mình phải thấy đây là năm uẩn, một mớ cảm giác, tư tưởng, nói thầm trong tâm, như vậy bằng trí sáng tỏ, chánh niệm tỉnh giác thường trực để nhìn thấy năm uẩn, thường nhìn lại năm uẩn sẽ tách ra khỏi nó còn không thấy, không biết thì gắn chặt như keo với sơn, chấp thủ, bám chặt vào nó rồi cuối cùng lấy nó làm mình, chính chỗ nhận nó là mình thì đây là nguyên nhân của khổ đau và hệ lụy, đây là Tập Đế, thấy được là Khổ - Tập Thánh Trí, thấy được là bắt đầu thành tựu trí huệ của bậc Thánh, vì đó là nguyên nhân thật sự của khổ đau chứ không phải mê tiền tài, vật chất mới là mê, cái đó chỉ là một phần nhỏ của sắc uẩn, mình chưa thấy được cái sâu xa của thọ; tưởng; hành; thức. Mình không phải chỉ ham muốn, tìm kiếm món đồ hay con người đó mà những thứ này đem lại cảm giác khoan khoái, thích thú, sung sướng cho mình. Căn nhà, chiếc xe, con người đó đem lại cho mình một cảm giác mà mình thích cảm giác đó, mình ái, yêu và bám chặt vào đó cho nên xúc sanh ra thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ. Từ đây là nguyên nhân của tất cả khổ uẩn tập khởi.
Này Ràhula, phàm có nội địa giới gì, phàm có ngoại địa giới gì, đều là địa giới này. Cần phải như thật thấy địa giới ấy với chánh trí tuệ rằng: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi". Do thấy như thật (địa giới) này với chánh trí tuệ, vị ấy nhàm chán địa giới. Với trí tuệ, vị ấy tẩy sạch tâm.
Này Ràhula, phàm có nội thủy giới gì, phàm có ngoại thủy giới gì, đều là thủy giới này...., phàm có nội hỏa giới gì, phàm có ngoại hỏa giới gì, đều là hỏa giới này...., phàm có nội phong giới gì, phàm có ngoại phong giới gì, đều là phong giới này. Cần phải như thật thấy phong giới ấy với chánh trí tuệ rằng: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi". Do thấy như thật (phong giới) này với chánh trí tuệ, vị ấy nhàm chán phong giới. Với trí tuệ, vị ấy tẩy sạch tâm. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XVIII. Phẩm Tư Tâm Sở, (VII) Rahula)
Đây là trí huệ tối thượng thừa của Phật giáo, không có trí huệ nào thâm sâu mà trực tiếp giống vậy, ngay cả những tông phái về sau vẫn chưa bằng một phần nhỏ của trí huệ năm uẩn vì năm uẩn tóm thâu toàn bộ.
Khi nào, này Ràhula, Tỳ-kheo đối với bốn giới này, không có tùy quán là tự ngã hay thuộc ngã sở, này Ràhula, vị này được gọi là Tỳ-kheo đã cắt dứt ái, đã giải tỏa các kiết sử, đã chơn chánh minh quán kiêu mạn, đã chấm dứt khổ đau. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XVIII. Phẩm Tư Tâm Sở, (VII) Rahula)
Những câu này phải khắc vào tim, những chữ này tu cả trăm ngàn A-tăng kì kiếp mới có thể nói ra được. Nói rộng ra là tứ đại, rộng nữa là ngũ uẩn tóm thâu tất cả. Đức Phật dạy con cưng của ngài là La-hầu-la phải quán đất, nước, gió, lửa không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Một chú Phật tử hơn 40 tuổi có những người con ở nước ngoài về tổ chức sinh nhật cắt bánh chụp hình cho chú, nửa đêm chú đột quỵ qua đời, thì tứ đại đó có phải không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi không? Mình nói trên mặt mình có lỗ mũi thì mũi đó của mình nhưng khi sổ mũi chảy ra nước mũi thì nước đó là của ai? Của mình thì lấy lại dùng, trên thân mình thì mình nói là của mình nhưng khi vào toilet thải ra thì những thứ đó của ai? Minh Thành đọc tin tức mà thấy xót xa, ba của đứa bé đó ngoại tình rồi ghen tuông xảy ra, bị tạt A-xít nhưng lại trúng đứa nhỏ, bây giờ đứa trẻ đó như dị nhân chứ không phải con người, thân thể bị hủy hoại hơn 90%, mù hai con mắt, đứa bé này muốn xin cặp mắt của một tử tù giết người, bị tử hình nên người này hiến tạng cho y học, bà nội đứa bé muốn xin cặp mắt cho đứa cháu bị tạt A-xít, nhưng người ta trả lời không được vì làm vậy là trái luật. Khi thi hành án tử là chích thuốc độc mà chích thuốc độc vào người thì nội tạng ngấm chất độc làm sao lấy tạng được, phải lấy trước khi chích thuốc nhưng làm vậy thì phạm luật nên cuối cùng không thể. Người này chỉ mới 18 tuổi mà giết năm mạng người trong một gia đình, chỉ vì chủ la mắng nên tức giận giết vợ chồng và ba đứa con của người chủ, làm chấn động mọi người. Cảm giác sân hận chỉ là thọ uẩn nhưng người này không biết, để toàn bộ cái sân hận chi phối trong cảm giác, trong cái tưởng chỉ suy nghĩ làm sao để trả thù cho hả giận, ý hành trong tâm chỉ nói như vậy, cái thức chỉ biết có bao nhiêu đó. Như vậy cả thọ; tưởng; hành; thức đều sân rồi hoành hành trong tâm, cuối cùng bùng nổ rồi gây đau khổ triền miên, cha mẹ của kẻ tử tù quằn quại trong đau khổ, không ngờ con mình lại làm ra chuyện tày trời như vậy. Cho nên không biết Phật Pháp, không biết quán chiếu cảm giác thì nó sẽ nhận chìm chúng sanh, nhận chìm thế giới. Trong những vụ án khởi lòng dục thế là hãm hiếp, lập kế hoạch vừa hãm hiếp vừa giết người, sau đó là tù tội suốt đời thậm chí tử hình, lý do cũng chỉ vì cảm giác, do không biết đó chỉ là thọ uẩn chứ không phải là mình, trong cảm giác đó thúc giục, thúc đẩy vì cái dục quá mãnh liệt, trong đầu lúc đó chỉ hiện lên hình ảnh về dục, hành là những lời nói xung quanh dục, thức chỉ biết bao nhiêu đó, không thoát ra được. Vì thế học trí huệ năm uẩn, trí huệ quán chiếu này mới gọi là Thánh trí, chỉ có nó mới giúp mình ra khỏi năm uẩn còn toàn thể chúng sanh vô văn phàm phu đều không biết năm uẩn, nghĩ rằng năm uẩn là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Minh Thành nhắc tất cả mọi người trong các hoạt động đi, đứng, nằm, ngồi, co duỗi tay chân đều phải thường trực nhìn lại cảm giác của mình, gọi là quán thọ trên thọ, vì cảm giác là nơi chứa đựng tất cả Pháp.
Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).
Tất cả những phiền não gì sanh khởi lên đều trú ẩn và an trú nơi thọ uẩn cho nên nhìn vào thọ uẩn là nhìn vào sào huyệt của tham sân si và bản ngã, nó là hang ổ mà nhìn vào đó để quán chiếu diệt tận là mình diệt đến tận cùng, thành tựu Thánh đạo, Thánh quả, tu cái này là tu Thánh đạo mà thành tựu là thành tựu Thánh quả. Cách tu bây giờ đại đa số là hướng ngoại, cầu xin, lạy lục trong khi Phật dạy phải nhìn lại bản thân để tìm ra nguyên nhân của khổ, vì không biết nguyên nhân làm khổ nên đổ thừa trời Phật, thần thánh, đổ thừa vì người này người kia mà mình khổ, mình không biết nguyên nhân thâm sâu nhất là chấp thủ vào năm uẩn, đây là chỗ tận cùng, là lời nói của bậc Chánh Biến Tri, bậc Vô Thượng Giác, nguyên nhân sâu xa của tất cả khổ đau là do mình bám chặt vào thân này, cho rằng nó là tôi, là của tôi, những vật chất bên ngoài cũng là của tôi. Mình tu để thể nhập cái trí của bậc Thánh là cảm giác không phải là mình, đây là chỗ người bình thường không bao giờ biết được và ngay cả người tu nếu không đi đến cội nguồn cũng không biết được, cứ cho cảm giác là mình. Nếu không thành tựu trí huệ, không thâm nhập trí năm uẩn thì dù cho hình thức là người tu thì vẫn cho cảm giác là tôi, tôi đang có cảm giác vui, đang buồn, như vậy mình nhận cảm giác đó là mình, là của mình, không biết cảm giác do duyên sanh. Do có mắt, có sắc, sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ tạo thành sự tiếp xúc, từ sự tiếp xúc mới tạo ra cảm giác, từ cảm giác mới có ưa thích hay ghét bỏ nhưng ưa thích hay ghét bỏ đều là ái dục, mình ưa thích vì nó hợp ý mình, mình ghét bỏ vì nó không hợp, tất cả đều xuất phát từ ái. Mình không muốn cái này nên cái này mà xuất hiện trước mặt là khó chịu, mình muốn cái kia mà không có được cái kia thì mình khổ. Dù cho được hay không được, vừa ý hay không vừa ý thì động cơ thâm sâu là ái, muốn thỏa mãn cảm giác của mình, toàn bộ cảm giác chi phối cả thế giới. Sau khi thấy như thật với chánh trí huệ nó không phải là mình, thấy rõ cảm giác làm cho mọi người khổ đau, thấy rõ sự suy tưởng là không đúng vì không ai tưởng giống ai dù là cha mẹ, anh chị em ruột, cùng ngồi chung một cảnh nhưng không ai tưởng giống ai vì nó là sanh diệt, là duyên sanh, mình tưởng nó là mình. Do thấy như thật với chánh trí tuệ, vị ấy nhàm chán. Với trí tuệ, vị ấy tẩy sạch tâm. Nhàm chán này không phải là chán nản, chán đời mà do thấy tận cùng bản chất nên không còn ưa thích nữa. Nhìn thấy bao màu sắc rất đẹp, tưởng trong bao sẽ có nhiều đồ quý nhưng lại gần có mùi lạ, nhìn vào thì hoảng hốt, đó là bộ đồ lòng, giòi bọ thôi hối, nhanh lẹ quăng đi. Cái đó là thấy bằng trí huệ như thật một cách chân chánh rồi nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, là Thánh trí Niết-bàn tối thượng thừa, đó mới là trí huệ tột cùng của đạo Phật. Nhìn bên ngoài là sự hào nhoáng nhưng thật chất bên trong là sự hôi thối, gớm ghê, thân này bên ngoài là sạch đẹp, trắng trẻo, thơm tho nhưng bên trong là máu mủ, phèo phổi, tim gan, chất dịch, hằng ngày rỉ chảy ra những chất tanh hôi và những chất này được che giấu kĩ càng, bên ngoài là lớp son phấn, lụa là, gấm vóc phủ lên che hết vô vàn những thứ nhớp nhơ bên trong. Gỡ ra sự che đậy này là kinh hoàng, dù là người đẹp nhất hay xấu nhất thì lột lớp da mặt ra ai thấy cũng bỏ chạy, người trẻ và người già chụp X-quang cũng chỉ hiện ra đầu lâu giống nhau nhưng vì mình bị lớp da này lừa gạt mình, đau đớn và cay đắng ngay đây cho nên trong kinh Thánh Cầu (sự tìm cầu của bậc Thánh) Thế Tôn đã nói:
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Suốt đời đi tìm người này người kia nhưng cũng chỉ là những bộ xương giống nhau, đến khi hiện nguyên hình, lộ ra bản chất thật lại bỏ chạy. Trong Tứ Niệm Xứ, Đức Phật cũng nói thân này bản chất là vậy, không thể vượt qua khỏi bản chất ấy.
Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ).
Những vị bác sĩ giải phẫu cơ thể thường xuyên chẳng lẽ không biết trong cơ thể này là gì sao? Vậy mà người ta vẫn cứ đam mê thân này, tâm tham ái cũng giống nhau, đó là do không hướng đạo theo trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác để thấy bản chất, nếu không những người đó sẽ quán bất tịnh rất thâm sâu, thành tựu trí huệ nhưng hỏi ra nhiều người cũng thất tình, đau khổ vì tình cảm, sầu, bi, khổ, ưu, não rất nhiều. Sáng nay khi đến trường có xe chở hòm đi ngang thì Minh Thành hỏi các chú đi chung xe đó là xe gì, những người đàn ông ngồi trên xe đó ngày nào cũng thấy người chết mà vẫn không thấy vô thường, cười nói vui vẻ bình thường chứ không chiêm nghiệm cuộc đời vô thường, già chết, đau khổ, những người đó nghĩ rằng người khác chết chứ họ biết bao giờ mới chết, chỗ đó là bị vô minh và tham ái che lấp, hai cái này làm mình lặn hụp trong bóng đêm trường dạ.
Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Ta và các ngươi đã ở trong đêm dài trường dạ của bóng đêm, nay ta đã phá tung, diệt tận tất cả, ta đã chấm dứt không còn đi trong luân hồi sanh tử. Còn mình thì vẫn còn trong bóng đêm dài dài vì mình còn cho đây là tôi và của tôi, chỉ cần mất chiếc xe thôi là bao nhiêu năm công phu tu tập cũng theo đó mất luôn, toàn bộ chân tướng đều biểu hiện ra, sự thật về bản chất được phơi này. Có ai tu đến cảnh giới "thân này không phải là tôi thì chiếc xe đó có gì mà của tôi?" chưa? Mình cũng thấy buồn nhưng phải biết xe đó vô thường, có rồi lại mất nên mất thì thôi, có duyên thì sẽ có xe khác đi, lúc đó tâm mới nhẹ nhàng. Còn đằng này bám chặt vào chiếc xe thì những món đồ vật khác cũng bám chặt vào đó, thậm chí còn bám chặt vào tấm thân này hơn thế nữa. Vừa chạm nhẹ vào thân này, vừa va quẹt trầy xước đã nổi nóng sân si lên cho nên tu tập là để tách ra khỏi thân này, nhất là phải nhìn nhận ra cảm giác đang sanh khởi, an trú và chấm dứt như thế nào, thấy được điều này mới là bậc đại trí. Sáng dậy phải xem cảm giác, khi ăn cơm cũng xem lại cảm giác, nhiều đồ ăn thì cảm giác thế nào, ít đồ ăn cảm giác ra sao, khi uống cũng xem lại cảm giác, lúc làm việc nhiều hoặc khi có thị phi, chỉ trích, chê bai, bị góp ý cũng phải nhìn lại cảm giác, mình không biết mình thì mình biết ai?
-- Ở đây, này các Tỳ-kheo, có Tỳ-kheo nói lên chánh trí (annam) như sau: "Ta tuệ tri như vầy:"Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"". (Trung Bộ Kinh, 112. Kinh Sáu Thanh tịnh)
Đây là lời khải hoàn ca của bậc A-la-hán, tức là khi chấm dứt hoàn toàn các phiền não thì các vị sẽ nói lên câu này, tức là câu tuyên bố chánh trí.
Này các Tỳ-kheo, lời nói của vi Tỳ-kheo ấy, không nên tán thán cũng không nên bác bỏ. Không tán thán, không bác bỏ, cần hỏi câu hỏi: "Này Hiền giả, có bốn hình thức tuyên bố này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chân chánh nói lên. Thế nào là bốn?
Cái gì được thấy được nói lên như là được thấy.
Cái gì được nghe được nói lên là được nghe.
Cái gì được cảm giác được nói lên như là cảm giác.
Cái gì được nhận thức được nói lên như là được nhận thức.
Bốn hình thức tuyên bố này, Này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì, đối với bốn hình thức tuyên bố này, Tôn giả có thể nói là tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ?" (Trung Bộ Kinh, 112. Kinh Sáu Thanh tịnh)
Đây là câu hỏi trắc nghiệm để xem vị đó có phải là A-la-hán hay không, vì về sau này cũng có những vị chưa chứng đắc nhưng lầm tưởng cho nên Đức Phật dạy những câu hỏi trắc nghiệm lại vị đó cũng như hàng đệ tử về sau đã thành tựu Thánh quả hay chưa.
Này các Tỳ-kheo, với Tỳ-kheo, các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp (anudhamma) của vị ấy phải như sau:
"Chư Hiền, tôi đã đi đến địa giới như là không phải tự ngã, và (đi đến) tự ngã như là không tùy thuộc địa giới. Ðối với những pháp là những chấp thủ phương tiện tùy thuộc địa giới, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến thủy giới...
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến hỏa giới...
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến phong giới...
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến không giới...
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến thức giới như là không phải tự ngã, và (đi đến) tự ngã như là không tùy thuộc thức giới. Ðối với những pháp là những chấp thủ phương tiện tùy thuộc thức giới, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu giới này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ". (Trung Bộ Kinh, 112. Kinh Sáu Thanh tịnh)
Tôi đã đi đến địa giới như là không phải tự ngã nghĩa là tôi thấy rõ đất, nước, gió, lửa, tấm thân mấy chục kí lô này không phải là tôi, không phải của tôi. Những cái từ nơi đất sanh ra không phải là tôi, không phải của tôi, vì thế những tâm cố chấp, thiên chấp tùy miên đi theo miên man đã được đoạn tận, đoạn trừ, dứt bỏ, tôi biết bằng trí huệ rằng tôi đã được giải thoát khỏi những thứ đó, đó là bậc A-la-hán. Cho đến khi nào sự tu tập giới – định – tuệ đi đến mức tất cả mọi thứ trên đời này không còn thứ nào làm cho tâm mình lưu luyến, dính mắc, không có bất kì thứ gì ngay cả tấm thân tứ đại này là mình, là của mình thì lúc đó thành tựu Thánh quả tối cao, gọi là bất động tâm giải thoát của bậc A-la-hán, không còn gì trên đời này làm cho người đó khổ đau, người đó không còn thấy cái gì là mình, là của mình dù cho xác thân này, chỉ thấy nó là pháp duyên sanh và phải thấy bằng trí tuệ (tuệ tri) chứ không phải thấy là nghe người ta nói rồi nói lại hoặc suy nghĩ mà thấy thật sự bằng trí tuệ, giống như thấy bao đồ lòng hôi thối nên mình quăng bỏ thật sự, đối với những bậc trí huệ cũng giống vậy, thật sự thấy nó là ghê gớm, bất tịnh, không đáng giữ gìn. Mình tu là phải hướng tới đó, tuy rằng bây giờ chưa được nhưng phải hướng tới đó và hướng như vậy gọi là hướng Dự Lưu, hướng thánh trí, hướng vào Thánh Pháp lưu (dòng pháp của bậc Thánh). Chỗ hướng này rất quan trọng, còn không khéo trên miệng nói tu nhưng cứ hướng vào ngũ uẩn chứ không muốn hướng ra khỏi nó, muốn cất chùa cho to, muốn có nhiều Phật tử, muốn có tiếng tăm nhiều người biết, rõ ràng là cái tôi to lớn, cái của tôi rất lớn, vậy là không đi theo con đường của Đức Phật. Đức Thế Tôn là Thái Tử nối ngôi vua, có ba tòa lâu đài riêng cho ba mùa nhưng giờ ngài bỏ hết, ở dưới gốc cây, lấy tấm vải trong nghĩa địa làm áo mặc, đó là đời sống viễn ly, ly dục, ly tham, từ bỏ. Còn giờ mình tu thì sao? Lúc ở nhà đi làm thuê làm mướn, ở nhà thuê hoặc căn nhà cũ nát, sau đó vào tu còn thấy mình thấp hèn như còn ngoài đời hay bản ngã tăng lên? Chỗ Minh Thành và chúng Tăng ở rất đơn giản, là nhà mát, gọi văn chương là Vân Thủy Đường, đó là nhà tiền chế lợp bằng tôn, có một vị Tăng lên chỗ Minh Thành ngủ lại đó chỉ được một đêm, sau đó xuống núi vì ban đêm gió thổi tôn đập ngủ không được nhưng Hòa Thượng lớn ở Nam Tông lên lại ngay lúc trời mưa bão, gió thổi tôn đập ầm ầm nhưng sáng ra Hòa Thượng vẫn bình thản, ngài nói lúc xưa còn khổ hơn bây giờ nữa, đó là sự khác nhau khi thâm nhập trí huệ này, đó là đời sống ly tham, thiểu dục tri túc được thể hiện rất rõ, còn mình tu sung sướng quen rồi, cực khổ chịu không được. Khi Minh Thành qua trung tâm thiền quốc tế ở Thái Lan, đi khất thực chung với khoảng bốn mươi vị từ khắp nơi thế giới về tu, một ngày ăn một bữa và sáng phải đi khất thực, đa số là người phương Tây nên họ rất cao lớn, một bước của họ bằng hai bước của mình, chân trần đi khất thực đạp vào sỏi đá rất đau chân. Từ lúc xuất gia đến giờ Minh Thành mới đi khất thực lần đầu tiên, khi mình làm lễ đi khất thực rất khác với đi khất thực thật sự ngoài đường, có những người dân quỳ dưới đất chờ các sư đi qua để cúng dường. Khi đạp lên sỏi đá đau nhói chân và khi đi qua bãi cát êm chân phải xem lại cảm thọ lúc đó có ái, tham, sân không. Nếu đạp vào sỏi đá mình muốn đi nhanh lẹ qua khỏi chỗ đó, hoặc đi vào cát êm ái thì có thích, có ái không. Tu là phải quán chiếu sâu xa như vậy chứ không phải đơn giản như mình nghĩ, phải nhìn thấy cảm giác. Mọi người phải nhớ giáo Pháp của Đức Phật là giáo Pháp ly tham tối thượng trong tất cả các Pháp.
Dầu cho loại pháp nào, này các Tỳ-kheo, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV) (34) Các Lòng Tin)
Bát Chánh Đạo là độc đạo đưa đến sự an ổn và bất tử. Phải nắm vững tinh thần này, nếu không càng tu càng bị dính vào tham ái vẫn không biết, mình nghĩ mình tu bình thường nhưng cực khổ, thiếu thốn chịu không được, ăn phải có mấy món mới được, ngày nào cũng phải tắm còn không tắm chịu không nổi, đi đâu phải chuẩn bị mấy tiếng có khi cả ngày. Tu sĩ khi nói đi là quải đãi để đi thôi, mai đây chết có chuẩn bị kịp không? Diêm Vương đến gõ cửa lại bảo chờ để lấy đồ, viết di chúc hay sao? Minh Thành đã kể có chú đó hôm nay là sinh nhật, đến khuya thì thành "tử nhật", sống chết cách nhau vài tiếng, ra đi không kịp trăn trối. Người tu phải tập chỗ nào cũng sống được, ăn đơn sơ cũng được, ngủ chỗ nào cũng được. Sống cuộc sống đơn giản, thiểu dục tri túc, ít muốn biết đủ cho nên từ đây về sau ở Linh Quy Pháp Ấn làm lễ xuất gia không làm trong thiền đường, chánh điện mà làm ở gốc cây, trong rừng để tưởng nhớ Đức Phật, hình ảnh đó tuyệt đẹp vô cùng. Đức Phật sanh ra dưới gốc cây, thành đạo dưới gốc cây, thuyết Pháp dưới gốc cây, già bệnh dưới gốc cây và nhập Niết-bàn cũng dưới gốc cây, những hình ảnh này tuyệt diệu vô cùng mà tại sao mình không ứng dụng? Đó là hình ảnh chuẩn mực của bậc đại Thánh, của bậc đại đạo sư của chúng ta.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
Thích Minh Thành
Kính thưa đại chúng, Như lý tác ý rất quan trọng trong sự thực tập, hướng dẫn và huấn luyện tâm. Trong mấy phút chúng ta vừa ngồi tỉnh tâm Minh Thành có cảm thọ rất hạnh phúc, an lạc, thấm nhuần từ đỉnh đầu đến gót chân, cái hoan hỉ đó trải rộng toàn trường học và hơn thế nữa, cho nên Đức Phật nói trong các Pháp thì Như lý tác ý dẫn đầu, Như lý tác ý là đặt tâm đúng hướng, muốn hoan hỉ là hoan hỉ, muốn yên định là yên định, muốn khởi tâm từ bi tình thương thì nó khởi tâm từ bi, đó là người khéo biết huấn luyện tâm, đây là điều rất quan trọng trong thiền định chứ đừng nghĩ thiền định là ngồi thở vào thở ra cho tâm yên định, đó chỉ là một phần nhỏ trong thiền chỉ. Trong tạng kinh Nikāya dạy chúng ta rất nhiều phương pháp tuệ quán, trong đó phương pháp quan trọng nhất là Như lý tác ý, tức là làm tâm mình khởi lên theo ý mình muốn, chỗ này rất tế nhị sâu sắc và có thực tập mới thấy được giá trị của Như lý tác ý, làm đúng theo Pháp này sẽ có sự lợi lạc kì diệu.
Người tu với người tu gặp nhau ngoài nói Pháp ra thì không có gì để nói nữa. Vì sao tu hoài không thành tựu chánh định? Vì chánh định trong đạo Phật phải chuẩn bị bảy bước trước đó trong Bát Chánh Đạo, còn vừa vào đã muốn chánh định, không đi theo trình tự nên không đạt được kết quả mong muốn, vì thế Như lý tác ý là hướng tâm theo như mình muốn. Ví dụ khi ngồi mà thấy có cảm giác buồn chán, bây giờ phải nhận biết cảm giác buồn đang có mặt, sau đó tách mình ra khỏi cảm giác đó, không nhập chung với nó "Ta thấy ngươi rồi, đừng xâm chiếm, chế ngự ta. Ngươi chỉ là một cảm giác thôi, đi chỗ khác chơi đi, tới giờ ta đọc kinh, ngồi thiền rồi", đó gọi là giải thoát khỏi cảm giác buồn chán. Giải thoát ngay trong cảm giác, nó muốn nhận chìm nhưng mình vượt thoát khỏi nó. Phải nhận biết khi có cảm giác tham dục khởi lên rồi la mắng, quở trách, sau đó tách mình ra khỏi nó hoặc dùng pháp quán theo kinh Tứ Niệm Xứ, quán như vậy làm cho cảm giác dục tham tan từ từ và lắng dịu, đối với cảm giác sân cũng vậy. Đầu tiên là phát giác ra đang có cảm giác gì: Dục, tham, sân, bản ngã, cảm giác hất mặt, vênh váo lên, ý hành hoạt động "sao dám đối xử với tôi như thế", phải nhận ra đây là tiếng nói của bản ngã, nếu thấy có cái tôi, có người đó nói như vậy với mình, có sự đối xử như thế là lúc đó mình không thấy năm uẩn, nếu thấy năm uẩn thì không có cái tôi, tôi là năm uẩn, người đó cũng là năm uẩn thì ai là tôi, ai là của tôi, ai đối xử tệ với tôi? Lúc mình thấy có một cái tôi ở đây, có một cái tôi ở kia và có sự đối xử như thế thì lúc đó mình đang vô minh, không thấy rõ Pháp. Mình phải thấy đây là năm uẩn, một mớ cảm giác, tư tưởng, nói thầm trong tâm, như vậy bằng trí sáng tỏ, chánh niệm tỉnh giác thường trực để nhìn thấy năm uẩn, thường nhìn lại năm uẩn sẽ tách ra khỏi nó còn không thấy, không biết thì gắn chặt như keo với sơn, chấp thủ, bám chặt vào nó rồi cuối cùng lấy nó làm mình, chính chỗ nhận nó là mình thì đây là nguyên nhân của khổ đau và hệ lụy, đây là Tập Đế, thấy được là Khổ - Tập Thánh Trí, thấy được là bắt đầu thành tựu trí huệ của bậc Thánh, vì đó là nguyên nhân thật sự của khổ đau chứ không phải mê tiền tài, vật chất mới là mê, cái đó chỉ là một phần nhỏ của sắc uẩn, mình chưa thấy được cái sâu xa của thọ; tưởng; hành; thức. Mình không phải chỉ ham muốn, tìm kiếm món đồ hay con người đó mà những thứ này đem lại cảm giác khoan khoái, thích thú, sung sướng cho mình. Căn nhà, chiếc xe, con người đó đem lại cho mình một cảm giác mà mình thích cảm giác đó, mình ái, yêu và bám chặt vào đó cho nên xúc sanh ra thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ. Từ đây là nguyên nhân của tất cả khổ uẩn tập khởi.
Này Ràhula, phàm có nội địa giới gì, phàm có ngoại địa giới gì, đều là địa giới này. Cần phải như thật thấy địa giới ấy với chánh trí tuệ rằng: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi". Do thấy như thật (địa giới) này với chánh trí tuệ, vị ấy nhàm chán địa giới. Với trí tuệ, vị ấy tẩy sạch tâm.
Này Ràhula, phàm có nội thủy giới gì, phàm có ngoại thủy giới gì, đều là thủy giới này...., phàm có nội hỏa giới gì, phàm có ngoại hỏa giới gì, đều là hỏa giới này...., phàm có nội phong giới gì, phàm có ngoại phong giới gì, đều là phong giới này. Cần phải như thật thấy phong giới ấy với chánh trí tuệ rằng: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi". Do thấy như thật (phong giới) này với chánh trí tuệ, vị ấy nhàm chán phong giới. Với trí tuệ, vị ấy tẩy sạch tâm. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XVIII. Phẩm Tư Tâm Sở, (VII) Rahula)
Đây là trí huệ tối thượng thừa của Phật giáo, không có trí huệ nào thâm sâu mà trực tiếp giống vậy, ngay cả những tông phái về sau vẫn chưa bằng một phần nhỏ của trí huệ năm uẩn vì năm uẩn tóm thâu toàn bộ.
Khi nào, này Ràhula, Tỳ-kheo đối với bốn giới này, không có tùy quán là tự ngã hay thuộc ngã sở, này Ràhula, vị này được gọi là Tỳ-kheo đã cắt dứt ái, đã giải tỏa các kiết sử, đã chơn chánh minh quán kiêu mạn, đã chấm dứt khổ đau. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, XVIII. Phẩm Tư Tâm Sở, (VII) Rahula)
Những câu này phải khắc vào tim, những chữ này tu cả trăm ngàn A-tăng kì kiếp mới có thể nói ra được. Nói rộng ra là tứ đại, rộng nữa là ngũ uẩn tóm thâu tất cả. Đức Phật dạy con cưng của ngài là La-hầu-la phải quán đất, nước, gió, lửa không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Một chú Phật tử hơn 40 tuổi có những người con ở nước ngoài về tổ chức sinh nhật cắt bánh chụp hình cho chú, nửa đêm chú đột quỵ qua đời, thì tứ đại đó có phải không phải tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi không? Mình nói trên mặt mình có lỗ mũi thì mũi đó của mình nhưng khi sổ mũi chảy ra nước mũi thì nước đó là của ai? Của mình thì lấy lại dùng, trên thân mình thì mình nói là của mình nhưng khi vào toilet thải ra thì những thứ đó của ai? Minh Thành đọc tin tức mà thấy xót xa, ba của đứa bé đó ngoại tình rồi ghen tuông xảy ra, bị tạt A-xít nhưng lại trúng đứa nhỏ, bây giờ đứa trẻ đó như dị nhân chứ không phải con người, thân thể bị hủy hoại hơn 90%, mù hai con mắt, đứa bé này muốn xin cặp mắt của một tử tù giết người, bị tử hình nên người này hiến tạng cho y học, bà nội đứa bé muốn xin cặp mắt cho đứa cháu bị tạt A-xít, nhưng người ta trả lời không được vì làm vậy là trái luật. Khi thi hành án tử là chích thuốc độc mà chích thuốc độc vào người thì nội tạng ngấm chất độc làm sao lấy tạng được, phải lấy trước khi chích thuốc nhưng làm vậy thì phạm luật nên cuối cùng không thể. Người này chỉ mới 18 tuổi mà giết năm mạng người trong một gia đình, chỉ vì chủ la mắng nên tức giận giết vợ chồng và ba đứa con của người chủ, làm chấn động mọi người. Cảm giác sân hận chỉ là thọ uẩn nhưng người này không biết, để toàn bộ cái sân hận chi phối trong cảm giác, trong cái tưởng chỉ suy nghĩ làm sao để trả thù cho hả giận, ý hành trong tâm chỉ nói như vậy, cái thức chỉ biết có bao nhiêu đó. Như vậy cả thọ; tưởng; hành; thức đều sân rồi hoành hành trong tâm, cuối cùng bùng nổ rồi gây đau khổ triền miên, cha mẹ của kẻ tử tù quằn quại trong đau khổ, không ngờ con mình lại làm ra chuyện tày trời như vậy. Cho nên không biết Phật Pháp, không biết quán chiếu cảm giác thì nó sẽ nhận chìm chúng sanh, nhận chìm thế giới. Trong những vụ án khởi lòng dục thế là hãm hiếp, lập kế hoạch vừa hãm hiếp vừa giết người, sau đó là tù tội suốt đời thậm chí tử hình, lý do cũng chỉ vì cảm giác, do không biết đó chỉ là thọ uẩn chứ không phải là mình, trong cảm giác đó thúc giục, thúc đẩy vì cái dục quá mãnh liệt, trong đầu lúc đó chỉ hiện lên hình ảnh về dục, hành là những lời nói xung quanh dục, thức chỉ biết bao nhiêu đó, không thoát ra được. Vì thế học trí huệ năm uẩn, trí huệ quán chiếu này mới gọi là Thánh trí, chỉ có nó mới giúp mình ra khỏi năm uẩn còn toàn thể chúng sanh vô văn phàm phu đều không biết năm uẩn, nghĩ rằng năm uẩn là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Minh Thành nhắc tất cả mọi người trong các hoạt động đi, đứng, nằm, ngồi, co duỗi tay chân đều phải thường trực nhìn lại cảm giác của mình, gọi là quán thọ trên thọ, vì cảm giác là nơi chứa đựng tất cả Pháp.
Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).
Tất cả những phiền não gì sanh khởi lên đều trú ẩn và an trú nơi thọ uẩn cho nên nhìn vào thọ uẩn là nhìn vào sào huyệt của tham sân si và bản ngã, nó là hang ổ mà nhìn vào đó để quán chiếu diệt tận là mình diệt đến tận cùng, thành tựu Thánh đạo, Thánh quả, tu cái này là tu Thánh đạo mà thành tựu là thành tựu Thánh quả. Cách tu bây giờ đại đa số là hướng ngoại, cầu xin, lạy lục trong khi Phật dạy phải nhìn lại bản thân để tìm ra nguyên nhân của khổ, vì không biết nguyên nhân làm khổ nên đổ thừa trời Phật, thần thánh, đổ thừa vì người này người kia mà mình khổ, mình không biết nguyên nhân thâm sâu nhất là chấp thủ vào năm uẩn, đây là chỗ tận cùng, là lời nói của bậc Chánh Biến Tri, bậc Vô Thượng Giác, nguyên nhân sâu xa của tất cả khổ đau là do mình bám chặt vào thân này, cho rằng nó là tôi, là của tôi, những vật chất bên ngoài cũng là của tôi. Mình tu để thể nhập cái trí của bậc Thánh là cảm giác không phải là mình, đây là chỗ người bình thường không bao giờ biết được và ngay cả người tu nếu không đi đến cội nguồn cũng không biết được, cứ cho cảm giác là mình. Nếu không thành tựu trí huệ, không thâm nhập trí năm uẩn thì dù cho hình thức là người tu thì vẫn cho cảm giác là tôi, tôi đang có cảm giác vui, đang buồn, như vậy mình nhận cảm giác đó là mình, là của mình, không biết cảm giác do duyên sanh. Do có mắt, có sắc, sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ tạo thành sự tiếp xúc, từ sự tiếp xúc mới tạo ra cảm giác, từ cảm giác mới có ưa thích hay ghét bỏ nhưng ưa thích hay ghét bỏ đều là ái dục, mình ưa thích vì nó hợp ý mình, mình ghét bỏ vì nó không hợp, tất cả đều xuất phát từ ái. Mình không muốn cái này nên cái này mà xuất hiện trước mặt là khó chịu, mình muốn cái kia mà không có được cái kia thì mình khổ. Dù cho được hay không được, vừa ý hay không vừa ý thì động cơ thâm sâu là ái, muốn thỏa mãn cảm giác của mình, toàn bộ cảm giác chi phối cả thế giới. Sau khi thấy như thật với chánh trí huệ nó không phải là mình, thấy rõ cảm giác làm cho mọi người khổ đau, thấy rõ sự suy tưởng là không đúng vì không ai tưởng giống ai dù là cha mẹ, anh chị em ruột, cùng ngồi chung một cảnh nhưng không ai tưởng giống ai vì nó là sanh diệt, là duyên sanh, mình tưởng nó là mình. Do thấy như thật với chánh trí tuệ, vị ấy nhàm chán. Với trí tuệ, vị ấy tẩy sạch tâm. Nhàm chán này không phải là chán nản, chán đời mà do thấy tận cùng bản chất nên không còn ưa thích nữa. Nhìn thấy bao màu sắc rất đẹp, tưởng trong bao sẽ có nhiều đồ quý nhưng lại gần có mùi lạ, nhìn vào thì hoảng hốt, đó là bộ đồ lòng, giòi bọ thôi hối, nhanh lẹ quăng đi. Cái đó là thấy bằng trí huệ như thật một cách chân chánh rồi nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, là Thánh trí Niết-bàn tối thượng thừa, đó mới là trí huệ tột cùng của đạo Phật. Nhìn bên ngoài là sự hào nhoáng nhưng thật chất bên trong là sự hôi thối, gớm ghê, thân này bên ngoài là sạch đẹp, trắng trẻo, thơm tho nhưng bên trong là máu mủ, phèo phổi, tim gan, chất dịch, hằng ngày rỉ chảy ra những chất tanh hôi và những chất này được che giấu kĩ càng, bên ngoài là lớp son phấn, lụa là, gấm vóc phủ lên che hết vô vàn những thứ nhớp nhơ bên trong. Gỡ ra sự che đậy này là kinh hoàng, dù là người đẹp nhất hay xấu nhất thì lột lớp da mặt ra ai thấy cũng bỏ chạy, người trẻ và người già chụp X-quang cũng chỉ hiện ra đầu lâu giống nhau nhưng vì mình bị lớp da này lừa gạt mình, đau đớn và cay đắng ngay đây cho nên trong kinh Thánh Cầu (sự tìm cầu của bậc Thánh) Thế Tôn đã nói:
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm. (Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)
Suốt đời đi tìm người này người kia nhưng cũng chỉ là những bộ xương giống nhau, đến khi hiện nguyên hình, lộ ra bản chất thật lại bỏ chạy. Trong Tứ Niệm Xứ, Đức Phật cũng nói thân này bản chất là vậy, không thể vượt qua khỏi bản chất ấy.
Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ).
Những vị bác sĩ giải phẫu cơ thể thường xuyên chẳng lẽ không biết trong cơ thể này là gì sao? Vậy mà người ta vẫn cứ đam mê thân này, tâm tham ái cũng giống nhau, đó là do không hướng đạo theo trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác để thấy bản chất, nếu không những người đó sẽ quán bất tịnh rất thâm sâu, thành tựu trí huệ nhưng hỏi ra nhiều người cũng thất tình, đau khổ vì tình cảm, sầu, bi, khổ, ưu, não rất nhiều. Sáng nay khi đến trường có xe chở hòm đi ngang thì Minh Thành hỏi các chú đi chung xe đó là xe gì, những người đàn ông ngồi trên xe đó ngày nào cũng thấy người chết mà vẫn không thấy vô thường, cười nói vui vẻ bình thường chứ không chiêm nghiệm cuộc đời vô thường, già chết, đau khổ, những người đó nghĩ rằng người khác chết chứ họ biết bao giờ mới chết, chỗ đó là bị vô minh và tham ái che lấp, hai cái này làm mình lặn hụp trong bóng đêm trường dạ.
Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Ta và các ngươi đã ở trong đêm dài trường dạ của bóng đêm, nay ta đã phá tung, diệt tận tất cả, ta đã chấm dứt không còn đi trong luân hồi sanh tử. Còn mình thì vẫn còn trong bóng đêm dài dài vì mình còn cho đây là tôi và của tôi, chỉ cần mất chiếc xe thôi là bao nhiêu năm công phu tu tập cũng theo đó mất luôn, toàn bộ chân tướng đều biểu hiện ra, sự thật về bản chất được phơi này. Có ai tu đến cảnh giới "thân này không phải là tôi thì chiếc xe đó có gì mà của tôi?" chưa? Mình cũng thấy buồn nhưng phải biết xe đó vô thường, có rồi lại mất nên mất thì thôi, có duyên thì sẽ có xe khác đi, lúc đó tâm mới nhẹ nhàng. Còn đằng này bám chặt vào chiếc xe thì những món đồ vật khác cũng bám chặt vào đó, thậm chí còn bám chặt vào tấm thân này hơn thế nữa. Vừa chạm nhẹ vào thân này, vừa va quẹt trầy xước đã nổi nóng sân si lên cho nên tu tập là để tách ra khỏi thân này, nhất là phải nhìn nhận ra cảm giác đang sanh khởi, an trú và chấm dứt như thế nào, thấy được điều này mới là bậc đại trí. Sáng dậy phải xem cảm giác, khi ăn cơm cũng xem lại cảm giác, nhiều đồ ăn thì cảm giác thế nào, ít đồ ăn cảm giác ra sao, khi uống cũng xem lại cảm giác, lúc làm việc nhiều hoặc khi có thị phi, chỉ trích, chê bai, bị góp ý cũng phải nhìn lại cảm giác, mình không biết mình thì mình biết ai?
-- Ở đây, này các Tỳ-kheo, có Tỳ-kheo nói lên chánh trí (annam) như sau: "Ta tuệ tri như vầy:"Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"". (Trung Bộ Kinh, 112. Kinh Sáu Thanh tịnh)
Đây là lời khải hoàn ca của bậc A-la-hán, tức là khi chấm dứt hoàn toàn các phiền não thì các vị sẽ nói lên câu này, tức là câu tuyên bố chánh trí.
Này các Tỳ-kheo, lời nói của vi Tỳ-kheo ấy, không nên tán thán cũng không nên bác bỏ. Không tán thán, không bác bỏ, cần hỏi câu hỏi: "Này Hiền giả, có bốn hình thức tuyên bố này được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chân chánh nói lên. Thế nào là bốn?
Cái gì được thấy được nói lên như là được thấy.
Cái gì được nghe được nói lên là được nghe.
Cái gì được cảm giác được nói lên như là cảm giác.
Cái gì được nhận thức được nói lên như là được nhận thức.
Bốn hình thức tuyên bố này, Này Hiền giả, được Thế Tôn, bậc Tri Giả, Kiến Giả, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác chơn chánh nói lên. Nhưng biết cái gì, thấy cái gì, đối với bốn hình thức tuyên bố này, Tôn giả có thể nói là tâm của Tôn giả được giải thoát khỏi các lậu hoặc không có chấp thủ?" (Trung Bộ Kinh, 112. Kinh Sáu Thanh tịnh)
Đây là câu hỏi trắc nghiệm để xem vị đó có phải là A-la-hán hay không, vì về sau này cũng có những vị chưa chứng đắc nhưng lầm tưởng cho nên Đức Phật dạy những câu hỏi trắc nghiệm lại vị đó cũng như hàng đệ tử về sau đã thành tựu Thánh quả hay chưa.
Này các Tỳ-kheo, với Tỳ-kheo, các lậu hoặc đã đoạn tận, tu hành thành mãn, những việc phải làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt mục đích, đã đoạn trừ hữu kiết sử, và đã được giải thoát nhờ chánh trí, câu trả lời tùy pháp (anudhamma) của vị ấy phải như sau:
"Chư Hiền, tôi đã đi đến địa giới như là không phải tự ngã, và (đi đến) tự ngã như là không tùy thuộc địa giới. Ðối với những pháp là những chấp thủ phương tiện tùy thuộc địa giới, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến thủy giới...
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến hỏa giới...
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến phong giới...
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến không giới...
Này chư Hiền, sau khi tôi đã đi đến thức giới như là không phải tự ngã, và (đi đến) tự ngã như là không tùy thuộc thức giới. Ðối với những pháp là những chấp thủ phương tiện tùy thuộc thức giới, là những tâm cố chấp, thiên chấp, tùy miên; đối với những pháp ấy, với sự đoạn tận, đoạn ly, đoạn diệt, đoạn trừ, đoạn xả, tôi tuệ tri tâm tôi được giải thoát.
Chư Hiền, vì rằng tôi biết như vậy, thấy như vậy, đối với sáu giới này, tôi có thể nói tâm tôi được giải thoát khỏi các lậu hoặc, không có chấp thủ". (Trung Bộ Kinh, 112. Kinh Sáu Thanh tịnh)
Tôi đã đi đến địa giới như là không phải tự ngã nghĩa là tôi thấy rõ đất, nước, gió, lửa, tấm thân mấy chục kí lô này không phải là tôi, không phải của tôi. Những cái từ nơi đất sanh ra không phải là tôi, không phải của tôi, vì thế những tâm cố chấp, thiên chấp tùy miên đi theo miên man đã được đoạn tận, đoạn trừ, dứt bỏ, tôi biết bằng trí huệ rằng tôi đã được giải thoát khỏi những thứ đó, đó là bậc A-la-hán. Cho đến khi nào sự tu tập giới – định – tuệ đi đến mức tất cả mọi thứ trên đời này không còn thứ nào làm cho tâm mình lưu luyến, dính mắc, không có bất kì thứ gì ngay cả tấm thân tứ đại này là mình, là của mình thì lúc đó thành tựu Thánh quả tối cao, gọi là bất động tâm giải thoát của bậc A-la-hán, không còn gì trên đời này làm cho người đó khổ đau, người đó không còn thấy cái gì là mình, là của mình dù cho xác thân này, chỉ thấy nó là pháp duyên sanh và phải thấy bằng trí tuệ (tuệ tri) chứ không phải thấy là nghe người ta nói rồi nói lại hoặc suy nghĩ mà thấy thật sự bằng trí tuệ, giống như thấy bao đồ lòng hôi thối nên mình quăng bỏ thật sự, đối với những bậc trí huệ cũng giống vậy, thật sự thấy nó là ghê gớm, bất tịnh, không đáng giữ gìn. Mình tu là phải hướng tới đó, tuy rằng bây giờ chưa được nhưng phải hướng tới đó và hướng như vậy gọi là hướng Dự Lưu, hướng thánh trí, hướng vào Thánh Pháp lưu (dòng pháp của bậc Thánh). Chỗ hướng này rất quan trọng, còn không khéo trên miệng nói tu nhưng cứ hướng vào ngũ uẩn chứ không muốn hướng ra khỏi nó, muốn cất chùa cho to, muốn có nhiều Phật tử, muốn có tiếng tăm nhiều người biết, rõ ràng là cái tôi to lớn, cái của tôi rất lớn, vậy là không đi theo con đường của Đức Phật. Đức Thế Tôn là Thái Tử nối ngôi vua, có ba tòa lâu đài riêng cho ba mùa nhưng giờ ngài bỏ hết, ở dưới gốc cây, lấy tấm vải trong nghĩa địa làm áo mặc, đó là đời sống viễn ly, ly dục, ly tham, từ bỏ. Còn giờ mình tu thì sao? Lúc ở nhà đi làm thuê làm mướn, ở nhà thuê hoặc căn nhà cũ nát, sau đó vào tu còn thấy mình thấp hèn như còn ngoài đời hay bản ngã tăng lên? Chỗ Minh Thành và chúng Tăng ở rất đơn giản, là nhà mát, gọi văn chương là Vân Thủy Đường, đó là nhà tiền chế lợp bằng tôn, có một vị Tăng lên chỗ Minh Thành ngủ lại đó chỉ được một đêm, sau đó xuống núi vì ban đêm gió thổi tôn đập ngủ không được nhưng Hòa Thượng lớn ở Nam Tông lên lại ngay lúc trời mưa bão, gió thổi tôn đập ầm ầm nhưng sáng ra Hòa Thượng vẫn bình thản, ngài nói lúc xưa còn khổ hơn bây giờ nữa, đó là sự khác nhau khi thâm nhập trí huệ này, đó là đời sống ly tham, thiểu dục tri túc được thể hiện rất rõ, còn mình tu sung sướng quen rồi, cực khổ chịu không được. Khi Minh Thành qua trung tâm thiền quốc tế ở Thái Lan, đi khất thực chung với khoảng bốn mươi vị từ khắp nơi thế giới về tu, một ngày ăn một bữa và sáng phải đi khất thực, đa số là người phương Tây nên họ rất cao lớn, một bước của họ bằng hai bước của mình, chân trần đi khất thực đạp vào sỏi đá rất đau chân. Từ lúc xuất gia đến giờ Minh Thành mới đi khất thực lần đầu tiên, khi mình làm lễ đi khất thực rất khác với đi khất thực thật sự ngoài đường, có những người dân quỳ dưới đất chờ các sư đi qua để cúng dường. Khi đạp lên sỏi đá đau nhói chân và khi đi qua bãi cát êm chân phải xem lại cảm thọ lúc đó có ái, tham, sân không. Nếu đạp vào sỏi đá mình muốn đi nhanh lẹ qua khỏi chỗ đó, hoặc đi vào cát êm ái thì có thích, có ái không. Tu là phải quán chiếu sâu xa như vậy chứ không phải đơn giản như mình nghĩ, phải nhìn thấy cảm giác. Mọi người phải nhớ giáo Pháp của Đức Phật là giáo Pháp ly tham tối thượng trong tất cả các Pháp.
Dầu cho loại pháp nào, này các Tỳ-kheo, hữu vi hay vô vi, ly tham được xem là tối thượng trong tất cả pháp, tức là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự nhiếp phục khát ái, sự nhổ lên tham ái, sự chặt đứt tái sanh, sự đoạn diệt tham ái, sự ly tham đoạn diệt, Niết-bàn. Những ai đặt lòng tin vào pháp ly tham, này các Tỳ-kheo, họ đặt lòng tin vào tối thượng. Với những ai đặt lòng tin vào tối thượng, họ được quả dị thục tối thượng. (Tăng Chi Bộ, Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe, (IV) (34) Các Lòng Tin)
Bát Chánh Đạo là độc đạo đưa đến sự an ổn và bất tử. Phải nắm vững tinh thần này, nếu không càng tu càng bị dính vào tham ái vẫn không biết, mình nghĩ mình tu bình thường nhưng cực khổ, thiếu thốn chịu không được, ăn phải có mấy món mới được, ngày nào cũng phải tắm còn không tắm chịu không nổi, đi đâu phải chuẩn bị mấy tiếng có khi cả ngày. Tu sĩ khi nói đi là quải đãi để đi thôi, mai đây chết có chuẩn bị kịp không? Diêm Vương đến gõ cửa lại bảo chờ để lấy đồ, viết di chúc hay sao? Minh Thành đã kể có chú đó hôm nay là sinh nhật, đến khuya thì thành "tử nhật", sống chết cách nhau vài tiếng, ra đi không kịp trăn trối. Người tu phải tập chỗ nào cũng sống được, ăn đơn sơ cũng được, ngủ chỗ nào cũng được. Sống cuộc sống đơn giản, thiểu dục tri túc, ít muốn biết đủ cho nên từ đây về sau ở Linh Quy Pháp Ấn làm lễ xuất gia không làm trong thiền đường, chánh điện mà làm ở gốc cây, trong rừng để tưởng nhớ Đức Phật, hình ảnh đó tuyệt đẹp vô cùng. Đức Phật sanh ra dưới gốc cây, thành đạo dưới gốc cây, thuyết Pháp dưới gốc cây, già bệnh dưới gốc cây và nhập Niết-bàn cũng dưới gốc cây, những hình ảnh này tuyệt diệu vô cùng mà tại sao mình không ứng dụng? Đó là hình ảnh chuẩn mực của bậc đại Thánh, của bậc đại đạo sư của chúng ta.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.