Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tổng cương lĩnh pháp hành

2026-03-03 00:53:48
TỔNG CƯƠNG LĨNH PHÁP HÀNH

-Thích Minh Thành-

Mục Lục

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tàm và quý PAGEREF _Toc60647324 \h 1

II. Trong sạch PAGEREF _Toc60647325 \h 2

III. Các tầng thiền PAGEREF _Toc60647326 \h 3

IV. Quán chiếu sắc uẩn 1 PAGEREF _Toc60647327 \h 4

V. Quán cảm thọ PAGEREF _Toc60647328 \h 5

VI. Quán chiếu sắc uẩn 2 PAGEREF _Toc60647329 \h 8

VII. Tưởng uẩn PAGEREF _Toc60647330 \h 9

VIII. Hành uẩn PAGEREF _Toc60647331 \h 10

IX. Thức uẩn PAGEREF _Toc60647332 \h 14

X. Phát biểu của học viên: PAGEREF _Toc60647333 \h 15

I. Tàm và quý

Đại chúng có muốn hỏi điều gì không? Có muốn hỏi gì trong bài thi không vì chúng ta chỉ thi một bài kinh đó và ứng dụng trong đời sống thực tế, đó là đề luôn. Những pháp nào tác thành Sa môn, gồm có mấy pháp, mình kể ra rồi ứng dụng vào đời sống thực tế. Vì thi không quan trọng mà học mới quan trọng, thi có một ngày còn học là mãi mãi, nhưng hôm nay là buổi học cuối cùng, ai có nghi vấn cứ hỏi, trong tu học hay trong bài. Minh Thành đã nói đề thi cho đại chúng, những pháp tác thành Sa môn và ứng dụng vào đời sống thực tế tu tập hằng ngày của mình, vì bài này chúng ta đã học rất kĩ, tới bảy tám buổi.

Đầu tiên là thành tựu hạnh tàm và quý, pháp tác thành Sa môn, tức là làm nên một người tu đúng chất, đúng nghĩa. Tàm là xấu hổ, hổ thẹn, quý là sợ hãi, xấu hổ đối với các ác bất thiện pháp, những tội lỗi, khuyết điểm, tập khí, nghiệp của mình, mình sợ hãi những quả báo, ác nghiệp, lỗi lầm đưa đến đời sống đau khổ trong tương lai, đó là yếu tố đầu tiên của người tu sĩ, xấu hổ và sợ hãi.

Chúng ta thấy một người thường an trú trong tâm xấu hổ và sợ hãi thì người này có vênh váo, ta đây, hơn thua không? Lúc nào cũng nhìn thấy xấu hổ quá, trong tâm mình còn đầy rẫy tham muốn, nóng giận, tâm mình còn sân si, nhìn thấy như vậy thì mình xấu hổ, mình lo lắng, sợ hãi để dẹp hết những thứ đó. Nên những người trú trong hạnh tàm và quý này rất dễ thương, hiền lành, khiêm hạ, đi đâu cũng cúi mặt xuống thôi, vì thấy mình còn dở, thấy mình còn sai, thấy mình có tội, còn tham, còn dục, còn ái, còn bản ngã, còn hơn thua, còn sân hận, ta đây, còn nhiều thứ khác nên thấy vậy mình xấu hổ quá, mình lo lắng và sợ hãi, làm sao để mình dẹp hết những thứ đó.

Chúng ta thấy chỉ trú trong hai hạnh này và thường thực tập cũng là một người tu rất chân chánh, nên chúng ta nhớ Ngài Ấn Quang đặt pháp hiệu là Thường Tàm Quý Tăng – người luôn luôn có tâm trú trong sự xấu hổ và sợ hãi, được người đời tôn xưng là bậc Tổ. Đối với mình mới tu thì có trú trong hai hạnh này không? Mình không có pháp học, pháp hành. Nên hai chữ này rất quan trọng, hết sức quan trọng, vì là chất của người xuất gia.

Ví dụ mình đang trú trong xấu hổ và sợ hãi thì có một người lầm lỗi thì mình có sân hận họ nhiều không hay chỉ trích họ nhiều không? Mà phải tự nhủ rằng “Mình cũng có lỗi, người ta cũng có lỗi, nên thông cảm cho nhau, tha thứ cho nhau!” Nên trú trong hạnh tàm quý này rất hay, rất tuyệt vời, trong chúng rất an ổn, hài hòa, không gây gổ, chống đối, ai cũng lo nhìn với tâm mình, nhìn vào chỗ dở của mình, thấy xấu hổ, lo điều chỉnh mình và không lo soi mói người ta làm chi.

II. Trong sạch

Thứ hai, Đức Phật dạy mình những ý nghĩ, lời nói, hành động phải trong sạch, minh chánh, cởi mở, không tỳ vết, che giấu, không khen mình chê người, dù cho mình có tu tập được trong sạch nhưng mình vẫn không nên khen mình chê người. Thân, miệng, ý của mình phải trong sạch, không tỳ vết, không che đậy, che giấu, dù cho có làm được như vậy thì không khen mình chê người, chứ đừng nói chi mình làm chưa được, nên mình phải thường kiểm soát trong lời nói, suy nghĩ và hành động của mình.

Chúng ta đã học bài này rất kỹ là trước khi suy nghĩ, trong khi suy nghĩ và sau khi suy nghĩ thì mình phải xét xem đó là thiện hay bất thiện, trước khi nói, trong khi nói và sau khi nói, trước khi làm, trong khi làm và sau khi làm, đó là bài kinh Đức Phật dạy La-hầu-la. Mình phải soi gương, suy xét trong ba nghiệp của mình, làm cho được trong sạch, đừng cho có những suy nghĩ, lời nói hành động ác bất thiện pháp, hại mình hại người, khổ mình khổ người, luôn luôn hướng tới ba nghiệp này để được trong sạch, thanh tịnh. Tuy, giả sử có được vẫn không khen mình chê người, huống chi mình chưa được.

Tiếp theo là sinh mạng, sự nuôi sống, nuôi mạng của mình phải trong sạch, mình không làm những điều phi pháp, những điều sai với giới luật để mình có được tiền của đó, nên nuôi mạng thanh tịnh rất quan trọng, chánh mạng. Tại sao mình lại làm những nghề giống như người đời, dù cho mình đã là người xuất gia rồi, là vì lòng tham, Đức Phật dạy mình là phải nuôi sống một cách trong sạch.

Minh Thành có câu hỏi đến quý Phật tử, trong chùa có chỗ ngủ không? Đồ có mấy bộ có đủ mặc không? Cơm trong chùa cúng có cho ăn không? Vậy giờ mình đi kiếm tiền để làm gì? Vì vậy nên không phù hợp trong bát chánh đạo, nên khi tu không làm nghề của người ở thế gian.

Tiếp theo là phải hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, chú tâm cảnh giác và chánh niệm tỉnh giác, sống hạnh viễn ly – tức chọn chỗ thanh vắng thực hành hạnh viễn ly để gội rửa, trừ diệt, tẩy sạch, từ bỏ năm triền cái và Đức Phật luôn luôn nhắc mình là không khen mình chê người, không dừng lại, ví dụ như mình làm được một hạnh nào hay rồi mình tự mãn với hạnh đó thì mình sẽ không tiến lên thêm nữa. Đức Phật dạy mình là không tự thỏa mãn: “Ta khuyến cáo các ông, khi đang còn trong việc đáng phải làm hơn nữa!” chính vì mình suy nghĩ như vậy thì mình mới hướng thượng, mới tiến lên, tăng trưởng, phát triển trong thiện pháp, còn nếu như mình chỉ nghĩ là “Tôi đã tu được hạnh này hay rồi, tôi tu rất tốt rồi!” rồi mình hài lòng, thỏa mãn trong hạnh nhỏ đó thì sự tu của mình sẽ bị dừng lại, đứng lại và không tiến lên thêm nữa.

Khi làm bài chúng ta trình bày tới đoạn năm triền cái đó, còn phần sau thâm sâu nên chúng ta không cần trình bày, đó là những pháp tác thành Sa-môn. Sau đó là tứ thiền, mình có thể nói một câu gọn, vì những phần trước là những phần quan trọng, chúng ta phải dẫn chứng nguyên văn trong kinh, những lời quan trọng có gạch dưới. Sau đó mình liên hệ với đời sống thực tế ví dụ như tàm quý giúp ích cho mình như thế nào, mình thực hành cho đời sống thường nhật ra sao, tiết độ trong ăn uống hay chánh niệm tỉnh giác mình đã đưa nó vào đời sống sinh hoạt hằng ngày như thế nào, vận dụng pháp, lý thuyết, lời kinh vào trong đời sống thực tế hằng ngày, thường nhật trong thiền môn của chúng ta.

Bây giờ tới phần câu hỏi, có thể hỏi trong bài hay hỏi tới phần tu học. Mình nhớ được thời gian viết thì mình viết thêm, còn nếu không thì chỉ những pháp khi nãy là được.

III. Các tầng thiền

Phật tử thứ nhất:

Kính thưa thầy và đại chúng cho con xin hỏi tam muội là gì ạ?

Sư phụ giảng giải:

Trong kinh Nikāya không dùng từ tam muội mà dùng từ chánh định tức là tứ thiền chúng ta đã học. Nhưng tứ thiền được Chánh Kiến dẫn đường khác với tứ thiền không chánh kiến, chánh kiến là thấy được ngũ uẩn, phá được thân kiến (kiến chấp về thân). Khi đi vào các tầng thiền thì đó là tầng thiền của bậc Thánh, gọi là Thánh chánh định. Chúng ta nhớ sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền chúng ta đã học, khi Đức Phật sử dụng thì thiền này trước khi Đức Phật ra đời đã có, nhưng họ sử dụng không từ Chánh Tri Kiến mà Đức Phật dạy nên thiền này đi vào các cõi sắc giới của Chư Thiên và không đưa đến giải thoát.

Khi Đức Phật ra đời rồi Ngài giảng về năm uẩn, phá thân kiến vô minh tham ái và chấp thủ trong năm uẩn, từ thấy biết chân chánh đó đi vào thiền định phải trải qua tám bước, bảy bước trước nữa, tức là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh mạng, chánh nghiệp, chánh tinh tấn, chánh niệm rồi đi vào chánh định. Như vậy, muốn đi vào chánh định thì phải sửa soạn bảy bước ở phía trước mới đi vào chánh định, không phải kêu vào ngồi thiền là tự giác vào ngồi thiền, không phải vậy.

Chính vì vậy, chữ chánh định trong đạo Phật là của các bậc từ Thánh quả thứ ba trở lên, tức khi vào chánh kiến là vào sơ quả tu đào hoàn, sau đó là nhị quả, tam quả… nếu viên mãn chánh định là tứ Thánh quả của bậc A-la-hán. Nên chánh định được chánh kiến dẫn dắt khác rất nhiều so với các thiền định cũng là tứ thiền mà đạo khác sử dụng, nên ngày nay gọi là tu thiền, có rất nhiều trường phái, nhưng xét cho đúng lời Đức Phật dạy thì hết sức hiếm hoi, không dám nói là không có, là cực kì hiếm hoi.

IV. Quán chiếu sắc uẩn 1

Tại sao tu thiền của mình hôm nay đa số là thở, phồng xẹp, đi trong oai nghi, niệm oai nghi, niệm hành động, nhưng chúng ta dừng lại ở phần không Quán về Tứ Đại Ba Mươi Hai Thể Trượt và Quán Chín Giai Đoạn Của Tử Thi, chúng ta đã bỏ qua, không dám đụng vào.

Chỉ mới có phần sắc uẩn thôi chúng ta đã không đủ rồi, làm sao chúng ta có thể qua được phần thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn, nên pháp không viên mãn và chính vì do pháp không viên mãn nên thành quả của pháp không đi đến thành quả viên mãn nên rất hiếm có những bậc Thánh tăng giống như thời Đức Phật.

Riêng phần sắc uẩn thì mình phải tu sáu pháp mới có thể giải phá sự chấp thủ trong sắc uẩn và phải đầy đủ sáu khía cạnh này mới phá được sắc thủ uẩn, tâm chấp thủ, cứng chắc, bám sâu trong sắc này cũng phải dùng sáu pháp này mới phá được, dù thiếu một cái cũng không phá được.

Chúng ta thấy rằng thời tu của mình rất đơn giản, lên tụng một bài kinh, niệm mấy câu, thở vô thở ra rồi mình lo công chuyện khác, chứ mình không đầu tư mạnh vô đây để tu tập và chứng ngộ như Đức Phật đã nói, vì nếu tu như Đức Phật nói là không làm gì hết, ngày đêm chỉ nghe pháp và thiền định quán chiếu, đi kinh hành, ngồi thiền, tới giờ ăn thì đem bình bát xuống bếp vì đây không cho khất thực vì sẽ bị bắt, rồi đem bình bát trở về phòng độc cư thiền định, thực tập quán chiếu thì mới chứng nhập, như vậy mới có được những bậc Thánh tăng.

Riêng nói về phần sắc này, thường khi người ta tu chỉ tới “đây”, tứ đại là bốn yếu tố kết thành thân xác này, thường ngày mình không quán chiếu mình toàn ăn đất thôi, dù cho món gì cũng là đất. Khi mình ăn thì luôn chọn những món ngon, món nào mình thích hay giúp đẹp da, bổ thận, nên đều sai hết. Mình đã học bài Tiết độ trong ăn uống rồi, ăn không phải để trang sức, không phải làm đẹp, không phải vui đùa, không phải để thưởng thức, không phải để đam mê, ăn là để duy trì thân này và thành tựu phạm hạnh, đời sống phạm hạnh.

V. Quán cảm thọ

Về phần thọ, phải quán ba cảm thọ, quán chiếu hết sức thâm sâu về ba cảm thọ này, để phá tham, sân, si trong ba cảm thọ này, Quán Ba Mươi Hai Thể Trượt mình nghe tới đã muốn mửa rồi:

“Trong thân này: “Ðây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, niêm dịch, nước ở khớp xương, nước tiểu”

(Kinh Tứ niệm xứ - Quán Thân bất tịnh)

Ngồi đọc tới đâu rồi hiện hình tới đó, thì mới giải phá, tẩy não, não ngu, não mê, não ái, não dục thì phải là cái này, tu cái này.

Đến Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi giờ ngồi lại là: phình trương ra, giòi nứt ra, mủ chảy ra, phình lên, giòi ăn, bày ra xương, thịt, mỡ, rã ra từ từ rồi còn lại bộ xương, rồi chỗ kia là xương sọ, chỗ nọ là xương chân, chỗ kia là xương ống chân, xương sườn, xương sống, xương mông. Cứ quán mãi rồi đến lúc tan ra thành cát bụi, thành hư không hết. Và nếu thâm nhập cái đó thì mới phá nổi thân này.

Đó là nói về thân xác, còn về cảm thọ, thấy còn chưa thấy huống chi là quán hay xuất ly thoát ra khỏi nó, có món gì ăn vào rồi đi chơi là thấy mê không? Như lúc đi lên cổng trời thì tê, khoái, phê rồi chụp hình, tạo dáng…Lúc đó thì thọ của mình không thấy, lạc thọ lúc đó là tham, đang đứng như vậy thì mấy người khác lên giành chỗ, chụp rất nhiều mà mình đã đi từ khuya đến khi mình lên thì đẩy mình ra, vô giành làm sân lên. Nên mỗi ngày mình ở trong đây, rồi đều đều lại đơ đơ rồi ngơ ngơ, ngáo ngáo.

Một ngày mình cứ lòng vòng trong đó, mình không biết quán cảm thọ này là vô thường, cảm thọ này là không đáng hoan hỷ, cảm thọ này không nên chấp chước, do mình không quán như vậy. Một cảm thọ mà vui sanh khởi lên rồi sẽ biến đổi, không còn vui hoài, đừng dính mắc với cảm thọ đó, do đang vui, đang cảm giác sung sướng đó mà mình quán chiếu để mình đi ra hết, không ưa, không thích, không khoan khoái, không đắm, không nhiễm, không ra không buồn, không hệ lụy với nó.

Như vậy, cảm giác vui sướng mình còn không thích thì cảm giác gì mà mình thích? Phải thoát ra hết, đừng nên thấy cảm giác sân rồi mình quán cảm giác vui này thì là vô thường, quán cảm giác khổ này là mũi tên, quán cảm giác không vui không khổ này là Đức Phật dạy mình quán khổ luôn và quán cảm giác khổ là mũi tên, quán vẻ không vui không khổ này thì cũng tan hoại, tan rã. Tức là Đức Phật dạy mình phá tất cả những cảm giác bị dính mắc, tham ái, chấp thủ trong đó.

Trong ba cảm giác này, Đức Phật nói tất cả chúng sanh đều bị trói buộc hết, Tức là khi mình trong cảm giác vui thì mình cũng bị trói, khi mình giận quá, tức quá hay ghét quá thì cũng bị trói, hay khi đơ đơ, thường thường, đều đều thì mình có thấy cảm giác an toàn không? Ví dụ như đang ngồi đây thì cảm giác rất an toàn, vì không có nghĩ tới vô thường, sợ ra đường bị xe đụng, đó mới là si. Tất cả đều bị trói buộc, cảm thọ nào cũng bị trói buộc hết. Vì có ta đang vui, ta đang bực bội, ta đang thấy thường thường chứ không có gì đâu, nhưng cái ta vẫn hiện rõ đó, bản ngã vẫn ở đó, nên quán ba cảm thọ này đều là trói buộc hết.

Và tất cả những thứ này là khổ, Đức Phật dạy:

“Này các Tỳ-kheo, phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ.”

(Tương ưng bộ kinh, Tập IV. Thiên sáu xứ, Chương II. Tương ưng thọ, Phần 2. Phẩm Sống một mình – Bài kinh Sống một mình)

Câu nói này là Thánh chuông duy nhất, chỉ có Đức Phật mới có thể nói được câu này, không thể có một người thứ hai trên thế giới này nói. Cảm thọ vui thì sao khổ được mà Đức Phật lại dạy mình quán cảm thọ vui là khổ? Hai người mới gặp lúc đó vui không? Là vui, vậy vắng nhau một ngày là chịu không nổi? Vậy thì tại sao về một nhà, ở chung với nhau rồi thì lúc đó hành tội nhau, hành xác nhau, hành hạ nhau? Như vậy thì cảm giác vui đó đã không còn vui nữa. Khi chạy xe phóng ào ào thấy vui không? Vậy khi “rầm” rồi có vui nữa không? Hút thuốc vui không? Giờ hút áp phiện có còn vui không? Cũng có vị ngọt ở trong đó, có vui sướng trong đó, nhưng hãy nhớ “phàm cái gì trong cảm thọ đều nằm trong đau khổ”.

Minh Thành hỏi quý vị, có phải cái khổ nhất hạnh là từ cái vui nhất hạng mà ra không? Cái gì làm cho mình vui sướng nhất thì cái đó làm mình đau khổ nhất? Hãy xét thử, Phật tử có thể kể một chuyện gì vui nhất thì Minh Thành sẽ nói khổ trong đó cho các vị thấy. Vậy thì trong cảm giác vui có khổ vậy thì trong cảm giác khổ làm sao vui? Phá một cái là vỡ ra hết, đó là Thánh trí huệ của Đức Phật.

Trong cảm giác vui có khổ, thì trong cảm giác khổ sao có vui, trong cảm giác đều đều là không có mà cảm giác luôn nằm trong sự bất an, tan rã, hủy hoại, hoại diệt, bất trắc, bất thường, bất ổn, hay bất thình lình thì ra đi (chết). Ai có thể tưởng tượng được đâu ai biết trước được, nên cảm giác thường thường này phải quán chiếu nó là vô thường, phải luôn luôn thấy nó là vô thường, cảm giác vui thì phải thấy đó là khổ, vì vui đưa đến khổ, nếu mình không cẩn thận mà Đức Phật đã dạy quán đó giống như mũi tên vây, làm cho mình đau đớn, như là mũi tên bắn vào tim rất đau. Vui luôn có khổ trong đó, ham vui còn khổ vô cùng.

VI. Quán chiếu sắc uẩn 2

Nên Đức Phật dạy quán như vậy để thoát ra các cảm thọ xuất ly, là thoát ra, Đức Phật dạy Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi và Quán Ba Mươi Hai Thể Trượt là để thoát ra luôn. Vì nó không còn say, đắm, khao, khát, ham muốn, dích mắc, chấp thủ trong đây nữa thì mới đi ra khỏi được, thì đó mới gọi là giải thoát. Nếu mình không quán này thì Minh Thành xin thưa là không có cách nào nhàm chán, không tham muốn đối với sắc được, không thể có phương pháp thứ hai, nếu không quán Ba Mươi Hai Thể Trượt, Chín Giai Đoạn Tử Thi và Quán Tứ Đại thì không thể có một cách nào mà nhổ được gốc rễ của sắc thủ uẩn hết. Hôm nay là trao gia tài, Thánh sản (tài sản của bậc Thánh).

Vậy nên làm sao chúng sanh có thể ra khỏi được thân xác này, dù cho thân xác đó là con chó hay con dòi, con gián, con kiến, con muỗi, khi vô thân nào đều chấp đó là nó. Con chó nhìn thấy thân nó đẹp không, nó rất thích thân của nó, ai chạy ngang là nó sủa liền, có thể nhào lại cắn, đó là cảm giác sân hận của nó thì mới đưa vô loài súc sanh. Khi nó vào thân dòi cũng thấy đẹp, con dòi có thể thấy được con dòi kia đẹp nên mới đẻ con với nhau và khi nó ăn thì cũng thấy ngon.

Vậy nên mình thấy là sắc, thủ, uẩn rất khủng khiếp, muôn ngàn vạn trạng thể xác, rơi vào vô minh và tham ái, mà vô minh cũng không biết ngũ uẩn nên yêu thích, say đắm, khao khát, thèm thuồng, dính mắc, trói buộc, chấp thủ, ra không được trong vô lượng vô biên kiếp. Nếu không có Thánh trí huệ của Đức Phật này để phá nó thì vĩnh viễn trên Trái Đất không ai có thể đi ra khỏi, cho tới ngày nay gần mạt pháp rồi thì những con đường này sắp sửa không còn ai biết nữa, đây là ánh sáng lóe lên cuối cùng, sau ba ngàn năm của Đức Phật, những cái này cực kì hiếm có, về giảng giải và tu học.

Tất cả những điều này Đức Phật dạy là y chỉ viễn ly, y chỉ ly tham, nhất hướng nhàm chán, đưa đến đoạn diệt, hướng tới từ bỏ. Vì mình thường quán chiếu những gì thì mình nhìn thấy được tính chất sanh diệt, vô thường, đau khổ của nó, biến hoại, tan nát, hủy hoại của nó thì mình mới nhàm chán, không ham muốn nữa, thì mình mới từ bỏ nó, tức là giải thoát, ra khỏi nó, xuất ly, thoát ra đó. Nên suốt cuộc đời chúng ta không ra khỏi ba chữ này, làm sao đi ra khỏi, suốt ngày đi ra vô vào gương nhìn mặt thì “Coi cũng được!” thì cũng là ở trong chữ này, có cảm giác nào là thích ngay không thôi là sân hay ta đây ngay. Vậy nên sự tu của Phật giáo mình học rồi mới thấy được trí huệ bất khả tư nghị của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không có một người thứ hai.

VII. Tưởng uẩn

Tưởng của Đức Phật dạy thì có sáu tưởng, gồm có sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng, vậy tất cả hình bóng này có làm cho mình khổ không? Ví dụ như một hình bóng làm sao giết được người trong mộng, một bóng đó thôi đã gần chết rồi, có một người đau khổ suốt một đời của họ vì hình bóng của một người, yêu đơn phương, hoặc bị bội bạc, phụ tình hay bị lừa gạt, có vô số kiểu, thì hình bóng của người đó xâm chiếm, ám ảnh. Người này bị hình bóng (tưởng) ám ảnh, giờ người đó giận thì có bị ám ảnh, xâm chiếm không? Hình bóng của người làm cho mình khổ đau, có cả yêu và hận.

Bao nhiêu hình bóng trong tâm về sắc, về âm thanh như lời nói của người đã từ ba tháng trước nhưng giờ ngồi lại vẫn vang lên câu đó, đó là thanh tưởng. Mùi, vị đó đã ăn rồi, giờ nhớ hoài vị đó, đó là vị tưởng. Việc nhớ về những xúc chạm, đụng chạm là xúc tưởng. Những điều này đều ám ảnh, sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng, làm cho mình bị ám ảnh, đảo điên, mất ăn, bỏ ngủ, giận một người thấy khổ không? Ở trong chùa ra vô gặp lại không muốn nhìn, khi gặp lại né chỗ khác. Còn nếu thương thì cứ kiếm chuyện để gần lại, cứ giả vờ. Hình ảnh ghét hay hình ảnh thương ám ảnh trong tâm là cũng khổ, tham hay ham vui cũng khổ vô cùng.

Tưởng nhớ về những cảm giác đã từng trải, đó là pháp tưởng, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đã qua lúc trước lại nhớ lại. Đức Phật đã nói:

“Phàm tưởng gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại... xa hay gần, như vậy là tưởng uẩn.”

(Trung bộ kinh – Bài kinh Đại kinh Mãn nguyệt)

Các tưởng phải quán là vô thường, là khổ, vô ngã, tan nát, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt. Đây là thiền của Phật giáo, chánh định của đạo Phật, trí huệ của đạo Phật, tất cả hình bóng nào hiện khởi trong tâm đều kêu tên, đây là sắc tưởng, đây là những hình bóng vô thường, trống rỗng, không đi theo nó, “Hãy tan biến hoàn toàn khỏi thân tâm ta đi, chấm dứt hoàn toàn, lắng dịu, an tịnh để ta tịch tĩnh an lạc, đừng quậy phá ta nữa mà hãy đi chỗ khác chơi.” Những gì sanh khởi trong tâm mình phải tác ý, tác động tâm ý, đuổi ra như quét rác ra khỏi nhà, không để đó, đó là mình quán chiếu về các tưởng.

VIII. Hành uẩn

Về hành, Đức Phật đã dạy:

“Này các Tỳ-kheo, chúng sanh chết trong suy nghĩ này.”

Trong hành cũng có sáu loại: sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư, tức là sáu suy nghĩ. Tất cả suy nghĩ của mình chỉ gồm sáu nhóm đó và không đi ra khỏi sáu nhóm đó. Là những suy nghĩ về sắc, về âm thanh, tiếng nói, về mùi, vị, sự đụng chạm, về những cảm giác nghĩ tưởng trong tâm. Những suy nghĩ này rất khủng khiếp, ghê gớm, không thể nào nhìn thấy nổi nếu mình không có Thánh trí tuệ, không y theo Chánh Kiến của Đức Phật để nhận diện ngũ uẩn thì mình không thể nhìn ra được suy nghĩ của mình.

Suy nghĩ của mình có thể giết mình, suy nghĩ này rất gian manh, xảo trá, xảo quyệt, tinh ranh, ma mị, quỷ quái. Đừng tưởng mình có thể sống an bình với suy nghĩ của mình, như kẻ thù hại kẻ thù, quan gia hại quan gia, không bằng tâm hướng tà, gây ác cho tự thân.

Tâm hướng tà là những suy nghĩ tà tư duy, suy nghĩ lúc nào cũng “Tôi, của tôi, tự ngã của tôi” là gây ác cho tự thân. Ví dụ đơn giản như chiếc xe ở dưới đã mất rồi, xuống xem thử đã mất tiêu hết rồi, nên mình phải trở về phòng của mình, ngay chỗ cửa phòng, giường mình nằm đổ một đống sơn đỏ thì xem lúc đó thọ, tưởng, hành ra sao? Trong đó có sân, bản ngã, sầu bi, khổ, ưu não, bực bội, bứt rứt, nhiệt não, khó chịu, điều tra không? Và thủ phạm là ai? Vận hành rất khiếp, làm mình mệt, chỉ cần đơn giản là “Không có gì là tôi, của tôi hết!” bình tĩnh, từ từ giải quyết, đều không sao, thì thấy an tịnh, lắng dịu, dễ chịu không?

Nên vấn đề là mình không biết tu tập tâm, tu tập ý hành là mình khổ. Mình phải hướng suy nghĩ của mình về sự tu tập, về sự vô ngã:

“Này các Tỷ-kheo, phàm có sắc gì, quá khứ, vị lai hay hiện tại, nội hay ngoại... tất cả loại sắc, cần phải như thật quán: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi"”

(Trung bộ kinh – Bài kinh Đại kinh Mãn Nguyệt)

Đó là câu đại thần chú thường suy nghĩ, thường tác ý như vậy:

“Ung nhọt, này các Tỳ kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy. Do vậy, này các Tỳ kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này”

(Kinh Tứ niệm xứ - Bài kinh Một ung nhọt)

Phải thường tác ý như vậy là Chánh Tư Duy, Thánh tư duy, là tuệ lực, là thiền quán. Tác ý như vậy để nhả ra những suy nghĩ đam mê, chấp thủ, ngu si, tham ái, hơn thua, phải thường xuyên nghĩ, tác ý như vậy. Mình phải học kinh thì mới biết mà tác ý, chứ không tác ý bậy, mình không như lý tác ý mà lại phi như lý tác ý.

Phải tác động tâm ý đúng như chân lý, đây gọi là như lý tác ý, giờ mình không như lý tác ý mà lại phi như lý tác ý đưa đến tham, sân, si, mà nếu mình như lý tác ý thì đưa đến ly tham, ly sân, ly si. Nên sự tu của mình là Chánh Tư Duy, tức là phải suy nghĩ đúng để dẹp đi suy nghĩ sai, nếu mình ngồi đó như gốc cây, mình tưởng như đó là thiền là không phải, trí huệ không sanh, vô minh không phá, quan không sanh, minh không sanh, tuệ không sanh, tri kiến không sanh, chỉ ngồi đó rồi lại nhắm mắt thở vô thở ra, thì ngồi ba năm hay tám năm thì được hỏi ngồi có gì không thì chỉ trả lời: “Có thấy gì đâu! Nhắm mắt lại có thấy gì đâu.”

Đó là do mình không biết tác ý, tác động tâm ý mình, quán chiếu nhiều cách, ví dụ như đi đám tang, đưa người mất đến nhà thiêu rồi đem ra hũ tro cốt đi, không phải chỉ như vậy thôi mà phải tác ý, có cơ hội tác ý mạnh vào, tác ý: “Mày nhìn đi, thân mày sau này cũng là một đống cát bụi như vậy, tham dục để làm cái gì, hơn thua sân si để làm gì, hãy buông xả, đồ ngu!” phải tác ý mạnh như vậy, ngồi trên xe cũng nói hoài, tối nói, ngày mai nói, mỗi lần ngồi thiền cũng nói, lấy hình ảnh đó đưa vào trong tâm của mình, hình ảnh đống tro bụi đó giữ vào trong tâm của mình luôn.

Đó là lấy tưởng diệt tưởng, lấy thọ diệt thọ, lấy sắc diệt sắc, lấy hành diệt hành, tức là lấy sự tàn hoại của sắc để phá tươi thắm, mỹ diệu của sắc, lấy cảm thọ nhàm chán để phá đi cảm giác ham mê, yêu thích, tham đắm, trói cột, lấy tưởng của bộ xương, của dòi ăn, phình trương lên, của hòm, lò thiêu, huyệt ở nghĩa địa đem cất vô như là cất giữ kho báu, tài sản, như là cất sổ tiết kiệm, cất vàng thẻ, vàng miếng.

Những hình ảnh của đống tro, của quan tài, hình ảnh của người thân nằm chết trên tay mình, của những người mình từng đến tụng đám, họ nằm bất động như một khúc cây, phải lấy vào làm mình dâng cảm thọ rồi về nhà mình tiếp tục thiền quán, tác ý:

“Không bao lâu thân này,

Sẽ nằm dài trên đất,

Bị vất bỏ, vô thức,

Như khúc cây vô dụng.”

“Không bao lâu thân này,

Sẽ vùi sâu đáy mộ,

Như cây khô khúc gỗ,

Vứt bỏ vì vô tri.”

“Thành này làm bằng xương.

Quét tô bằng thịt máu,

Ở đây già và chết,

Mạn, lừa đảo chất chứa”

“Như trái bầu mùa thu,

Bị vứt bỏ quăng đi.

Nhóm xương trắng bồ câu,

Thấy chúng còn vui gì?”

(Kinh Pháp Cú)

Những bài kinh rất quan trọng, mình phải học, không phải xong là thôi mà phải làm tài liệu, tư liệu để cho mình thiền quán, tác ý, mình càng học nhiều, thuộc nhiều thì khi mình thiền quán, tác ý phong phú đa dạng, nhiều góc độ, nhiều khía cạnh để mình quán. Còn không mình ngồi đó sẽ tưởng về gì? Tưởng theo chiều tham ái, vô minh, không hơn thua chấp ngã, thị phi, người này đúng, người kia sai, hay hay dở, nghĩ để làm gì, nghĩ đó để thêm tham, sân, si, phiền não, bản ngã thì để làm gì? Nên đó gọi là như lý tác ý, rồi mới đưa đến “Không gì là tôi, không gì là của tôi, không gì là tự ngã của tôi”, phải thường tác ý như vậy.

IX. Thức uẩn

Cuối cùng là sáu thức, sáu thức này là duyên sanh, lắp ráp, sự kết hợp sanh diệt, vô thường, tự tin vào cái biết này. Giờ có người đứng trước cổng trường chửi mình thì mình có sân không? Mình không nghe được nên chính vì mình nghe nên xúc mới sanh thọ. Giờ ở quê đang chửi mình ở đó thì mình không sân gì, hoặc ở trời tây có người nhớ mong, thương mình, ví dụ như cô bác chẳng hạn, mà mình không biết gì.

Nên thức này là duyên sanh, là vô thường, nhỏ hẹp, không đáng tin cậy, đừng tin vào việc thấy tai mắt, thấy tai nghe hay cảm nhận của mình, đó chỉ là do nghiệp trong vô minh, tham ái vận hành thôi, nên quán chiếu sự ly tham, từ bỏ, không tham đắm trong nhận thức rõ biết này, đó chỉ là duyên sanh, tạm bợ, vô thường. Ngay cả cái mình thấy, mình nghe cũng đừng vội phán đoán, phán xét mà hãy từ từ quán chiếu, chiêm nghiệm lại. Mình phán đoán vội, kết luận sớm, phản ứng nhanh thì sau này mình hối hận, đau khổ.

Phải quán thức này là người lạ, là mũi tên, là hố than hừng, rắn độc. Nhận thức này đừng tin tưởng vào nó, nếu như biết mà sanh ra tham, sân, si thì đừng biết. Ví dụ mình thấy để rồi mình sân lên, bực bội thì mình quán là: “Thôi mù luôn đi, thấy làm chi, đồ ngu. Tự nhiên nhìn vô để sân si chi vậy, thiêu đốt thân tâm mình vậy?” Hay là mình nghe tiếng thôi rồi mình tưởng mơ rồi cứ nhớ mong thì phải quán: “Ngu vừa thôi!” Mình phải tác ý để lý khai, rời bỏ, không có gì cả “Chỉ là do tiếp xúc nên sanh ra cảm giác thôi chứ không có gì, không có gì thật trong này. Đồ trống rỗng, trống không, không có gì thật trong này. Đừng đam mê dính mắc trong đây, sầu bi, khổ, ưu não, xuất ly, thoát ly, viễn ly, xả ly, đi ra khỏi biến này đi!”

Mình triển tâm mình mình mở cái nhìn ra rộng như bầu trời, trải tâm vô lượng rộng lớn ra, đừng để trong suy nghĩ hình bóng đó hoài, thoát ra, thoát tâm mình ra.

Như vậy hôm nay đã trao gia tài rồi, đầy cả bảng Thánh trí năm uẩn, tu tập sự viễn ly, thoát ly, xuất ly khỏi sầu bi, khổ, ưu não.

X. Phát biểu của học viên:

Kính bạch thầy và toàn thể quý huynh đệ, hôm nay là buổi học cuối cùng của chúng con có thể gặp thầy dưới mái trường Trung cấp Phật học này. Con xin thay mặt toàn thể lớp trung cấp ni khóa 11 phòng 4 thành kính gửi đến thầy lời tri ân sâu sắc, mặc dù thầy ở rất xa, ngồi xe mấy tiếng rất mệt mỏi nhưng thầy vẫn hoan hỷ dành thời gian đến đây truyền dạy kiến thức cho chúng con. Mặc dù trong những buổi học đầu tiên, chúng con rất bỡ ngỡ vì cách dạy và cách truyền đạt của thầy rất khác so với các vị giáo thọ khác nên chúng con cảm thấy rất bỡ ngỡ, xa lạ. Nhưng những buổi học sau này chúng con dần dần cũng tiếp thu được những kiến thức thầy truyền trao. Như trong năm đến mười phút ngồi thiền đầu giờ thầy có dạy chúng con là quan sát và nhận biết ngũ uẩn. Những buổi đầu chúng con cảm thấy rất xa lạ, nhưng qua những tiết học sau chúng con cũng dần dần nhận biết được, dù không thâm sâu, nhưng chúng con nhận biết được thế nào là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Dù chúng con không có thời gian tiếp xúc với thầy nhiều, nhưng mỗi bài học của thầy truyền trao cho chúng con vô cùng quý giá.

Một lần nữa, con xin thành kính tri ân đến thầy và luôn mong thầy có thật nhiều sức khỏe để dẫn dắt chúng con cũng như những lớp đàn em sau này cũng có thể được thầy chỉ dạy những giáo pháp trong kinh tạng mà Đức Phật đã dạy.

Minh Thành xin cám ơn tấm lòng của các ni sinh, cầu chúc cho tất cả quý vị tinh tấn tu học.

Nguyện đem công đức này,

Hướng về khắp tất cả,

Đệ tử và chúng sanh,

Đều trọn thành Phật đạo.