Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

7 Cách Trừ Phiền Não - Kinh Tất Cả Các Lậu Hoặc 3

2026-03-03 00:53:48
Kinh Nikāya Giảng Giải

7 CÁCH TRỪ PHIỀN NÃO

KINH TẤT CẢ LẬU HOẶC 3

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Lậu hoặc do kham nhẫn được đoạn trừ PAGEREF _Toc83199629 \h 1

II.Lậu hoặc do tránh né được đoạn trừ PAGEREF _Toc83199630 \h 8

III.Lậu hoặc do trừ diệt được đoạn trừ PAGEREF _Toc83199631 \h 11

Lậu hoặc do kham nhẫn được đoạn trừ

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ?

Này các Tỳ-kheo, ở đây, có Tỳ-kheo như lý giác sát, kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát; kham nhẫn những cách nói mạ lị phỉ báng. Vị ấy có tánh kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người. Này các Tỳ-kheo, nếu vị ấy không kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỳ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ". (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Kham nhẫn là chịu khó, nhẫn nại, kham khổ, chịu đựng, ở đây nghĩa là phải do sự nhẫn nại, chịu khó mới đoạn trừ được tham sân si, phiền não, lậu hoặc. Đức Phật nói Như lý giác sát, từ này chúng ta sẽ gặp từ đầu cho đến cuối bài kinh, nghĩa là tỉnh giác và quán sát một cách đúng với sự thật của vấn đề đó, của pháp đó. Trong sự tu này khi thực tập quán chiếu chúng ta sẽ thấy không phải cái nào cũng giống nhau mà tùy từng trường hợp chúng ta phải quán sát đúng với sự thật của pháp. Ví dụ, pháp đó cần sự kham nhẫn, cần chịu khó nhưng chúng ta lại tránh né thì không đúng.

Trong sự kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát có các vị cao Tăng tu trên núi tuyết, thậm chí có những vị tu theo khổ hạnh mà không có y phục mặc dù ngoài trời âm mấy chục độ. Còn bây giờ mình chỉ nóng một chút đã "học không vô vì nóng quá, mệt", như vậy là không kham nhẫn. Hoặc mệt chút là không muốn ngồi thiền, buồn ngủ thì cứ ngủ, đó là không có sự nhẫn nại, chịu đựng. Chúng ta chiều theo cảm xúc nên muốn ngủ là ngủ, muốn ăn là ăn nên không giữ giới được. Không ăn chiều là giới của Sa-di, chúng ta đa số ăn chiều do còn làm việc, nhưng buổi chiều dùng bữa đơn sơ thì được chứ tối còn ăn thêm mì gói thì là quá rồi.

Vì thế trong sự tu phải có sự chịu đựng chứ không phải muốn là làm, thích là hành động, đó là làm theo dục, theo tham, theo ái. Cái nào muốn nhưng là thiện pháp thì mới làm, còn muốn mà ác bất thiện pháp thì cần nhiếp phục cảm thọ, cảm giác đó. Chứ không phải "đói thì ăn, mệt thì ngủ", học theo câu này mà không hiểu đúng sẽ đưa mình đến buông lung phóng dật. Phải xem vị nói câu này là ai, nói trong trường hợp nào chứ không phải mình lấy câu này ra để mặc tình ăn rồi ngủ. Ví dụ, ngồi thiền đau chân rồi mình buông chân ra "đau quá ngồi không được", đó là mình không kham nhẫn, không chịu khó, không rèn luyện bản thân, ngồi yên mà ngồi không được thì làm sao nhiếp phục được tâm? Cái thân có hình tướng, có sắc tướng, nhìn thấy được, cầm nắm được mà còn không làm chủ được trong một giờ ngồi thiền thì cái tâm sanh diệt chớp nhoáng làm sao mình nắm bắt, nhiếp phục được? Vì tâm luôn hoảng hốt dao động theo các dục quay cuồng.

"Khó nắm giữ, khinh động,

Theo các dục quay cuồng.

Lành thay, điều phục tâm;

Tâm điều, an lạc đến".

(Kinh Pháp cú 03 – phẩm Tâm, kệ 35)

Hoảng hốt là đột ngột, bất thình lình, bất chợt tâm nổi loạn, dao động theo các dục, các sự tham muốn rồi quay cuồng, điên đảo trong đó. Nếu không có sức chịu đựng thì làm sao "kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát; kham nhẫn những cách nói mạ lị phỉ báng" – đây là những thứ ngoài thân.

"Vị ấy có tánh kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người". (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Trong kinh ghi lại nếu có những vị Tỳ-kheo sắp mạng chung thì Đức Thế Tôn và các bậc Thánh chúng sẽ đến thăm hỏi vị thầy ấy có kham nhẫn được không, thường thì các vị sẽ trả lời không thể kham nhẫn được sự đau khổ, thống khổ quằn quại, như người lực sĩ cầm sợi dây da siết chặt vào da thịt, từ thịt vào xương tủy, vị ấy đau đớn như vậy.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, một lực sĩ lấy dây ngựa cứng chắc, vấn xung quanh cổ chân và siết chặt lại. Dây ấy cắt đứt da ngoài, cắt đứt da trong. Sau khi cắt đứt da trong, chúng cắt đứt thịt. Sau khi cắt đứt thịt, chúng cắt đứt dây gân. Sau khi cắt đứt dây gân, chúng cắt đứt xương. Sau khi cắt đứt xương, chúng chạm tới tủy và đứng lại". (Tương Ưng Bộ, tập II – Thiên Nhân Duyên, chương VI. Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, III. Phẩm Thứ Ba, IX. Dây)

Hoặc là giống như người lực sĩ siết chặt sợi dây quanh đầu rất đau đớn.

"Lúc bấy giờ, Tôn giả Channa bị bệnh, đau đớn, bị trọng bệnh.

Rồi Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahà Cunda đi đến Tôn giả Channa, sau khi đến ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

Sau khi ngồi, Tôn giả Sàriputta nói với Tôn giả Channa:

-- Này Hiền giả Channa, Hiền giả có kham nhẫn được chăng? Có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không phải tăng trưởng?

-- Thưa Hiền giả Sàriputta tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng. Mãnh liệt là các khổ thọ tôi cảm giác! Chúng tăng trưởng, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không phải giảm thiểu.

Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ chém đầu một người khác với một thanh kiếm sắc. Cũng vậy, này Hiền giả, những ngọn gió kinh khủng thổi lên đau nhói trong đầu tôi. Thưa Hiền giả, tôi không có thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng... không phải giảm thiểu.

Này Hiền giả, ví như một người lực sĩ lấy một dây nịt bằng da cứng quấn tròn quanh đầu rồi xiết mạnh. Cũng vậy, này Hiền giả, tôi cảm thấy đau đầu một cách kinh khủng. Này Hiền giả, tôi không thể kham nhẫn, không có thể chịu đựng... không phải giảm thiểu". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, IV. Channa)

Nếu bây giờ mình không tập nhiếp phục những cảm thọ nóng, lạnh, đói, khát, không nhiếp phục các cảm thọ nên thấy gián, kiến, chuột… con gì cũng sợ, không quán chiếu tính chất vô thường, vô ngã, không chịu đựng được thì làm sao tu được? Trong kinh Đức Phật nói trước hết, các đệ tử của Ngài ngủ đến Mặt Trời mọc, nằm trong gường ấm êm, ăn ngon… vì không thể chịu đựng, không thể kham nhẫn, không nhẫn nại, không chịu khó nhiếp phục các cảm thọ.

"Có năm sợ hãi về tương lai này, hiện chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai, các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận những sợ hãi ấy.

Này các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo trong tương lai sẽ tham muốn các y tốt đẹp. Do họ tham muốn các y tốt đẹp, họ sẽ từ bỏ các y nhặt nơi đống rác, họ sẽ từ bỏ các khu rừng, các vùng cao nguyên, các trú xứ xa vắng, họ sẽ đi đến các làng, thị trấn, kinh đô vua chúa và sống tại các chỗ ấy. Vì nhân y áo, họ sẽ rơi vào những hành vi tầm cầu không thích hợp.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, những Tỳ-kheo trong tương lai sẽ tham muốn các đồ ăn khất thực ngon lành. Do họ tham muốn các đồ ăn khất thực ngon lành, họ sẽ từ bỏ nếp sống khất thực, từ bỏ các khu rừng, các vùng cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ sẽ đi vào các làng, thị trấn, kinh đô của vua và sinh sống tại đấy, tìm cầu các món ăn thượng vị, như với đầu lưỡi. Do nhân đồ ăn khất thực, họ sẽ rơi vào nhiều hành động tầm cầu không thích hợp.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, những Tỳ-kheo trong tương lai sẽ tham muốn sàng tọa tốt đẹp. Do họ tham muốn các sàng tọa tốt đẹp, họ sẽ từ bỏ nếp sống dưới gốc cây, họ sẽ từ bỏ các khu rừng, các vùng cao nguyên, các trú xứ xa vắng. Họ sẽ đi vào các làng, thị trấn, kinh đô của vua và sinh sống tại đấy. Vì nhân sàng tọa, họ sẽ rơi vào nhiều hành động tầm cầu không thích hợp.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, sẽ có những Tỳ-kheo trong tương lai sẽ sống liên hệ với Tỳ-kheo-ni, các chánh học nữ, các Sa-di-ni. Khi sống liên hệ với Tỳ-kheo-ni, chánh học nữ, Sa-di-ni, này các Tỳ-kheo, được chờ đợi là: Họ sẽ không thích thú sống Phạm hạnh, hay họ sẽ rơi vào một trong những tội lỗi ô nhiễm, sẽ từ bỏ học pháp và trở lui lại đời sống thế tục.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, sẽ có những Tỳ-kheo trong tương lai sống liên hệ với các người có hệ lụy đến khu vườn, với các Sa-di. Khi sống liên hệ với các người có hệ lụy đến khu vườn và với các Sa-di, này các Tỳ-kheo, được chờ đợi là họ sẽ sống và tận hưởng các vật liệu cất chứa, và họ sẽ làm các thô tướng đối với đất đai và đối với các sản phẩm trồng trọt.

Năm sự sợ hãi về tương lai này, này các Tỳ-kheo, hiện nay chưa sanh khởi, nhưng sẽ sanh khởi trong tương lai. Các Thầy cần phải hoàn toàn rõ biết chúng. Sau khi hoàn toàn rõ biết, các Thầy cần phải tinh tấn để đoạn tận những sợ hãi ấy". (Tăng Chi Bộ, chương V - Năm Pháp, VIII. Phẩm Chiến Sĩ, (X) Sự Sợ Hãi Trong Tương Lai (4))

"Kham nhẫn những cách nói mạ lị phỉ báng", người ta hủy nhục, chê bai, khinh thường mình thì phải quán thân mình như Ngài Xá-lợi-phất đã quán tấm thân Ngài như nùi giẻ rách.

"Nguyện tâm luôn trú như giẻ rách

Có gì lên mặt với kiêu căng".

"Ví như, bạch Thế Tôn, một miếng vải lau chùi lau các đồ tịnh, lau các đồ bất tịnh, lau phẩn uế, lau nước tiểu, lau nước miếng, lau mủ, lau máu; tuy vậy miếng vải lau chùi không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như miếng vải lau chùi, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. (Tăng Chi Bộ, chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (I) Sau Khi An Cư)

Phải quán như vậy mới nhiếp phục được bản ngã, cái ta, cái tôi. Nhất là càng tu lâu, nếu không khéo thì cái tôi càng lớn, càng bành trướng, phát triển, quảng đại theo năm tháng, càng nuôi lớn các cảm thọ, các nghĩ tưởng. Vì thế cần kham nhẫn với những lời nói mạ lị phỉ báng. Hãy nhẫn nhục, nhẫn nại, chịu khó, trầm tĩnh, bình tĩnh.

Minh Thành từng chứng kiến sự đức hạnh của cố Hòa thượng Thiện Bình – trưởng ban Phật Giáo quận Bình Thạnh, Minh Thành là y chỉ mấy mươi năm với Ngài. Một lần trên đường Hòa Thượng đi làm việc thì chẳng may gặp tai nạn giao thông và bị đứt lìa ngón chân. Khi Minh Thành vào thăm thấy Hòa Thượng không đổi sắc, vẻ mặt thần thái không thay đổi, đây là tấm gương để học hỏi. Có những người bình thường nói rất hay nhưng đến khi xảy ra chuyện thì chưa biết thế nào, còn những bậc chân tu không nói nhiều nhưng khi đụng chuyện thì thân giáo, sức niệm – định – tuệ của các Ngài mới thể hiện. Minh Thành cũng nghe kể Hòa thượng Thượng Thiện Hạ Nhân đi về chùa ở tỉnh để dự lễ, khi đó Ngài mặc áo giống chú tiểu, Ngài tới chùa vào nửa đêm nhưng không gõ cửa. Sáng sớm người ra quét dọn thì thấy có vị thầy nằm ở ghế đá trước chùa, nhìn lại thấy Hòa Thượng thì hốt hoảng rồi thỉnh Ngài vào. Đó là đức hạnh của các Ngài mà ngay hiện tại mình thấy được chứ đừng nói gì đến các bậc Thánh Tăng thời Đức Phật.

Còn chúng ta hiện tại kham nhẫn như thế nào? Nhiều khi mình đến mà người ta không chào, hoặc xá mà không nhìn thì cũng có phiền não, vậy mà các bậc tôn túc ngồi trên cao nhất nhưng vẫn nằm ở ghế đá như vậy. Có những trường hợp ban cung nghinh khai lễ, bê tích, trống kèn rợp trời nhưng các vị Hòa thượng đi vào im lặng không ai hay biết. Hòa thượng Thượng Trí Hạ Tịnh đi dự đại hội nhưng vẫn mang dép tổ ong cũ. Các Ngài khác ngồi ở dưới nói chuyện rồi mới thỉnh Hòa Thượng thì Hòa thượng nói "sao nãy giờ không nghe ai nói tu gì hết vậy?" thì ở dưới im lặng như tờ. Ngay trong đại hội mà Hòa thượng cảm xúc viết nên bài thơ lưu truyền đến giờ, được ghi trên bảo tháp “Phù Thi” của Ngài.

"Biển khổ mênh mông sóng cuộn trào

Thây trôi theo sóng hướng bờ vào

Có ai níu lấy thây nổi ấy

Sớm muộn cùng thây tắp bờ cao".

(Hòa Thượng Thích Trí Tịnh)

“Phù” là nổi, “thi” là tử thi – Phù Thi nghĩa là cái thây nổi, hay cái xác chết nổi bồng bềnh trên biển khổ. Hòa Thượng Trúc Lâm phát nguyện không thành tựu là không ra khỏi thất, Ngài lên núi Chơn Không để tu hành. Cố Hòa Thượng Thượng Minh Hạ Châu – Huyền Trang của Phật Giáo Việt Nam ta đã âm thầm một mình dịch hết cả đại tạng tiếng Pāli ra tiếng Việt để ngày giờ này chúng ta được cầm trên tay, cả một đời Ngài hi sinh cho Phật Giáo, khi ra đi để lại công trình vô giá Thánh pháp cho chúng sanh, qua đây chúng ta thấy được sự kham nhẫn của Ngài đến mức nào.

Chúng ta hãy xem lại mình đã chịu khó, nhẫn nại được bao nhiêu phần? Vì thế, người tu đòi hỏi phải có nhẫn nại, chịu khó mới nhiếp phục được "những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người". Bản thân Minh Thành cũng có duyên chia sẻ với các huynh đệ ở các trường Phật học nhiều năm, Minh Thành thấy rằng càng về các khóa sau thì tinh thần tu học không mạnh mẽ bằng các khóa trước, đây là chỗ để chúng ta chiêm nghiệm. Hòa thượng Minh Thông nói rằng "không sợ tre tàn măng không mọc mà sợ mọc lên những thứ không phải măng", chúng ta phải suy tư thật sâu sắc đối với những câu nói này.

Sự chịu khó của người tu rất quan trọng. Những thứ bình thường mà không chịu được, những thứ đơn giản mà không nhiếp phục được thì khi tai nạn xảy ra hoặc khi đối diện sống chết thì mình sẽ không có niệm lực, định lực, đạo lực, và nếu không có những điều này thì mình sẽ đi theo nghiệp lực. Muốn có niệm lực, định lực và đạo lực thì phải thực tập Tứ Niệm Xứ, niệm chính là Tứ Niệm Xứ, là thường nhớ thân – thọ – tâm – pháp. Nghĩa là xem lại thân mình đang ở trong tình trạng như thế nào, các cảm thọ như thế nào, nội tâm có tham sân si không, tâm nhỏ hẹp hay quảng đại, trong tâm có pháp thiện hay bất thiện. Nếu thường thực tập như vậy thì sanh ra những sức mạnh của trí tuệ, còn không có thì nghiệp lực – sức mạnh của thói quen sẽ dẫn mình đi. Khi đó, chúng ta làm theo thói quen, nghĩ theo thói quen, nói theo thói quen, hành xử theo thói quen.

Vì thế, sự nhẫn nại và nhiếp phục rất quan trọng, tất cả là từ chỗ chúng ta biết kham nhẫn, chịu khó. Phải chịu khó nghe pháp, ngồi thiền, tụng đọc kinh tạng, chịu khó ở một mình, tránh dục, tránh sắc, chịu khó nhiếp phục những cảm giác sân hận, bực bội, chịu khó khiêm hạ, nhúng nhường, hạ thấp bản ngã… phải chịu khó thực tập. Mười sáu năm trước Minh Thành bỏ Sài Gòn lên núi ở một mình trong am tranh, lúc đó các cô và mẹ của Minh Thành lên núi khóc rất nhiều vì tự nhiên đang ở Sài Gòn được mọi người thương mến lại bỏ hết lên núi. Khi đó, tối đến Minh Thành phải để cái thau nhôm trên nóc mùng vì dột mỗi khi mưa, phải ngủ chung với chuột, bị chuột cắn rách hết mấy cái đãi, có khi bị cắn luôn cả ngón chân, hết chuột thì đến kiến, đến sâu… Cho nên, nếu chúng ta không chịu khó, nhẫn nại thì sẽ không ở được trong các trú xứ xa vắng.

"-- Tôn giả Gotama, thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu! Thật khó khăn đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời sống độc cư! Con nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỳ-kheo chưa chứng Thiền định.

-- Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, thật sự là vậy. Này Bà-la-môn, thật khó kham nhẫn những trú xứ xa vắng trong rừng núi hoang vu! Thật khó khăn, đời sống viễn ly! Thật khó thưởng thức đời sống độc cư! Ta nghĩ rằng rừng núi làm rối loạn tâm trí vị Tỳ-kheo chưa chứng Thiền định". (Trung Bộ Kinh, 4. Kinh Sợ hãi khiếp đảm)

Trong bài kinh này Đức Phật nói đến sự sợ hãi khi ở trong rừng, có rất nhiều thứ để mình phải kham nhẫn. Chính vì vậy, chúng ta phải chịu khó học, chịu khó thực hành, chịu khó đưa mình vào giới luật, oai nghi, chịu khó hộ trì căn, tiết độ trong ăn uống, chánh niệm tỉnh giác. Mỗi người phải tự mình tu học, thực tế rất khó có người thường xuyên nhắc nhở hoặc khiển trách mình, vì vậy, phải tự mình phải làm thầy cho chính mình.

Lậu hoặc do tránh né được đoạn trừ

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ?

Này các Tỳ-kheo, ở đây, Tỳ-kheo như lý giác sát tránh né voi dữ, tránh né ngựa dữ, tránh né bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước. Có những chỗ ngồi không xứng đáng ngồi, những trú xứ không nên lai vãng, những bạn bè ác độc mà nếu giao du thì bị các vị đồng phạm hạnh có trí nghi ngờ, khinh thường; vị ấy như lý giác sát tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không nên lai vãng ấy và các bạn độc ác ấy. Này các Tỳ-kheo, nếu vị ấy không tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỳ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ". (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Đây là cách đoạn trừ các lậu hoặc, phiền não phải do tránh né, tức là không phải cái nào mình cũng đối diện. Tránh né "bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước". Gặp những con thú dữ phải tránh đi, gặp những chỗ nguy hiểm cũng phải tránh, có những chỗ ngồi, trú xứ không nên lai vãng. Người tu không phải muốn ngồi chỗ nào là ngồi, ngoài đời có câu "ăn coi nồi, ngồi coi hướng" chính là đây nhưng đó là ở ngoài đời, còn người tu phải khó hơn nữa. Khi người ta nhìn mình thì người ta không nhìn theo cá nhân mà người ta nhìn "đây là thầy chùa" hoặc "đây là sư cô", người ta nói chung hết chứ không biết mình là ai và cái chung đó đại diện cho Tăng đoàn, Tăng bảo, đoàn thể của người xuất gia. Vì thế, khi ra đường chúng ta giữ hình ảnh cho chính mình cũng là giữ hình ảnh cho Tăng đoàn, cho Tăng bảo, không phải muốn đứng đâu là đứng, không phải muốn nói là nói. Khi mình học thì học chung nhưng nếu một thầy một cô đứng nói chuyện với nhau trước cổng thì cũng không được trang nghiêm, những điều này rất vi tế và tự chúng ta phải hiểu.

Những trú xứ không nên lai vãng là những chỗ có sự nghi ngờ không nên đến, mình xuất hiện ở đó dù minh bạch nhưng người ta vẫn nghi ngờ. Hoặc mình thấy một người có gì đó không bình thường thì phải tránh xa, nếu người đó có tham ái, sân hận hoặc có bất thiện pháp thì tránh xa họ. Đức Phật dạy quốc độ nào, thành phố nào, làng mạc nào, món đồ nào, con người nào mà thân cận làm bất thiện pháp sanh khởi thì phải tránh xa, không tiếp xúc. Còn những quốc độ, làng mạc, thành phố, con người nào mà tiếp xúc làm thiện pháp tăng trưởng thì nên thân cận.

"Con người, này chư Hiền, cần phải được tìm hiểu trên hai phương diện: cần phải thân cận hay không cần phải thân cận được nói đến như vậy. Do duyên gì, được nói đến như vậy?

Ở đây, khi biết được về một người như sau: "Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện bị đoạn giảm. Các vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, không đi đến tu tập viên mãn". Đối với một người như vậy, này chư hiền, bất luận đêm hay ngày, không hỏi gì, cần phải bỏ đi, không được theo người ấy. Ở đây, khi biết được một người như sau: "Người này, nếu ta thân cận, thời các pháp bất thiện giảm thiểu, các pháp thiện tăng trưởng, những vật dụng cần thiết cho đời sống xuất gia mà ta phải có như y áo, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh, những vật dụng ấy có được một cách khó khăn. Và vì mục đích gì ta xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Mục đích của Sa-môn hạnh ấy, đi đến tu tập viên mãn". Này chư Hiền, đối với một người như vậy, sau khi tính toán, cần phải theo người ấy, không được bỏ đi.

Làng, thị trấn, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được tìm đến và không cần được tìm đến đã được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến?

Ở đây, sau khi biết được về làng, thị trấn như sau: "Nếu ta tìm đến làng, thị trấn này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; làng và thị trấn như vậy không nên được tìm đến". Ở đây, sau khi biết được về làng, thị trấn như sau: "Nếu ta tìm đến làng, thị trấn, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; làng, thị trấn như vậy cần được tìm đến".

Quốc độ, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được tìm đến và không cần được tìm đến đã được nói như vậy. Do duyên gì được nói đến?

Ở đây, sau khi biết được về quốc độ như sau: "Nếu ta tìm đến quốc độ này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; quốc độ như vậy không nên được tìm đến". Ở đây, sau khi biết được về quốc độ như sau: "Nếu ta tìm đến quốc độ này, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; quốc độ như vậy nên được tìm đến". (Tăng Chi Bộ, chương IX – Chín Pháp, I. Phẩm Chánh Giác, (VI) Cần Phải Thân Cận)

Đức Phật nói cái nào làm cho ác bất thiện pháp sanh khởi thì phải tránh xa, không tiếp xúc, không thân cận; cái nào làm cho thiện pháp sanh, trí huệ sanh, thiền định sanh, giới đức, đạo hạnh sanh thì tiếp xúc. Gần người nào làm cho bản ngã, sân hận, tham lam, tranh đấu, bè nhóm sanh khởi thì từ bỏ, tránh xa. Nếu giao du với bạn bè ác độc sẽ bị các vị đồng phạm hạnh nghi ngờ, khinh thường. Có những người chúng ta qua lại nếu có người thấy sẽ xem thường mình. Nếu mình không biết tránh né thì "các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên", còn nếu biết tránh né thì "các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa". Không biết tránh xa thì những lậu hoặc, tham dục trong tâm sẽ sanh khởi lên thiêu đốt mình. Chỉ cần tiếp xúc với người có dính mắc, tham ái thì tàn hại, nhiệt não sanh khởi làm mình đứng ngồi không yên vì bị hình ảnh đó xâm chiếm, áp đảo trong tâm. Nếu tiếp xúc với người hay sân giận thì các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não sẽ sanh khởi. Vì thế tùy cái mà mình tránh né, tùy cái mình nhẫn nại, có những pháp mình cần tháo gỡ, làm cho cảm thông, thông hiểu với nhau, có những pháp cần sám hối, nhận lỗi, xin lỗi, thậm chí lạy sám hối để phá bỏ bản ngã, gắn kết nhau.

Lậu hoặc do trừ diệt được đoạn trừ

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ?

Này các Tỳ-kheo, ở đây, Tỳ-kheo như lý giác sát không có chấp nhận dục niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (dục niệm ấy); không có chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (sân niệm ấy); không có chấp nhận hại niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (hại niệm ấy); không chấp nhận các ác bất thiện pháp luôn luôn khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (các ác bất thiện pháp ấy). Này các Tỳ-kheo, nếu vị ấy không trừ diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy trừ diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỳ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn diệt". (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc)

Có những thứ cần phải trừ diệt mới đoạn trừ được lậu hoặc, điều này rất sâu sắc. "Như lý giác sát không có chấp nhận dục niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (dục niệm ấy)", đây là cả một sự công phu tu tập. Do nhận diện năm uẩn mới biết trong tâm đang có suy nghĩ, cảm giác, hình bóng của tham dục. Khi đã thấy như vậy thì Như lý giác sát không chấp nhận dục niệm đó, diệt tận, trừ bỏ không cho tồn tại dục niệm đó, đó là pháp lệnh. Phải tẩy sạch, từ bỏ, diệt tận không cho nó tồn tại bằng cách Như lý tác ý, quán chiếu tứ đại, quán chiếu bất tịnh, ba mươi hai thể trược, chín giai đoạn tử thi, quán chiếu sự đau khổ, sự nguy hiểm và tác hại của dục. Đức Phật nói dục là hố than hừng, là kẻ giết người, là rắn độc, là vực sâu… có rất nhiều hình ảnh để mình quán chiếu, quán tưởng. Chúng ta dùng hết những hình ảnh đó để quán sát, tư duy, tác động tâm ý thì chúng ta mới có thể "từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (sân niệm ấy)", còn không thì khởi lên là chúng ta nhập cuộc chung. Đức Phật đã nói chúng sanh bị dục nhiệt não thiêu đốt, bị dục ái nhai nghiến.

"Này Magandiya các chúng sanh, chưa đoạn trừ tham ái đối với các dục, đang bị các dục ái nhai nghiến, đang bị dục nhiệt não thiêu đốt, càng chạy theo dục chừng nào, thời dục ái các chúng sanh ấy càng tăng trưởng, càng bị dục nhiệt não thiêu đốt, và họ chỉ có cảm giác dễ chịu, thỏa thích do duyên năm dục trưởng dưỡng". (Trung Bộ Kinh, 75. Kinh Màgandiya)

Minh Thành nhấn mạnh những từ này để mình sanh khởi những cảm thọ, khi đọc những dòng kinh này phải cảm thấy rùng rợn, ghê sợ, hoảng sợ đối với cái dục này. Chúng ta nhai bánh tráng rộn rạo, ngon lành thì dục ái nhai nghiến mình cũng giống như vậy. Hình ảnh Phật Giáo Tây Tạng vẽ con quỷ há miệng ra trong vòng luân hồi minh họa cho dục ái đang nhai nghiến chúng sanh, nó thể hiện dục ái, tham ái đang nhai hết tất cả chúng sanh hữu tình vạn loại, làm cho điên đảo mọi thứ. Sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái đang nhai nghiến chúng ta, đang đè đầu cưỡi cổ chúng ta, làm chúng ta thân tàn ma dại. Nó đang đốt cháy tâm can làm chúng ta đứng ngồi không yên, trong tâm là một cảm giác thúc giục, tìm kiếm, nghe ngóng, truy tầm, thèm thuồng, suốt ngày cứ mong muốn, suy nghĩ, tìm kiếm không thôi.

"Không có chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (sân niệm ấy)", chúng ta không được chấp nhận cảm giác bực bội sanh khởi lên, Mỗi khi nó sanh khởi phải tác ý cảm giác này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Cảm giác này là hỏa hoạn, là sự thiêu đốt, là nguy hiểm, là kẻ giết người. Chúng ta phải dập tắt, xóa bỏ, diệt tận hoàn toàn không cho nó sanh khởi trở lại trong tương lai, chặt nó như chặt cây tala, đốt nó đổ xuống sông, xuống biển cho gió mười phương tám hướng thổi vào hư không, không còn để lại một chút dư tàn nào. Phải dùng hết tất cả sức mạnh mình đã tu, đã học để chiến đấu với cảm giác sân hận, đó là trí huệ lực của bậc Đa văn Thánh đệ tử, là đại hùng, đại lực của bậc Thích-tử, khất sĩ, xuất sĩ đi theo con đường Vô Thượng Sĩ.

"Không có chấp nhận hại niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (hại niệm ấy)" – những ý niệm làm hại người khác. Chúng ta đừng ngây thơ nghĩ rằng "thưa thầy, con không có hại ai", đừng kết luận sớm, khi tâm sân khởi lên mình nhìn vào những cảm giác, nghĩ tưởng sẽ thấy sân ở trong đó rất nhiều. Những lúc bình thường mình không thấy do nó ngủ ngầm nhưng đến khi bực bội, khó chịu thì lúc đó sanh khởi ra hại tâm. Những người mình không ưa mà họ bị cái gì là mình mừng, thích, vui, những cái đó cần diệt tận, tẩy sạch.

"Này các Tỳ-kheo, nếu vị ấy không trừ diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy trừ diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa", đây là các lậu hoặc phải do trừ diệt mới được đoạn trừ. Chúng ta phải trừ, phải diệt vì kẻ thù thật sự của chúng ta là những cảm giác tham dục, sân hận, vô minh, bản ngã, ta đây, hách dịch… đó là những thứ ác độc hãm hại làm mình đau khổ, phải quyết tâm nỗ lực trừ diệt và phải Như lý giác sát, nhìn thấy nó.

Xuyên suốt trong bài kinh Đức Phật dùng nhiều từ Như lý giác sát, sau đó là Như lý tác ý, đó là pháp hành cho chúng ta thực tập. Chúng ta không được phi Như lý giác sát mà phải tỉnh giác, quán sát một cách đúng như chân lý của pháp đó, của vấn đề đó, của cảm thọ đó. Ví dụ, khi có cảm giác sân phải Như lý giác sát quán sự nguy hiểm tác hại của nó như thế nào; tai họa dẫn đến như thế nào, hậu quả, kết cuộc như thế nào cần được suy nghĩ, tác ý, quán chiếu. Sau khi quán chiếu thì mình thấy "Cái thứ này là thứ ác độc, giết người, phải đánh đuổi nó ra khỏi tâm mình". Cũng như đang ngủ mà giật mình thấy rắn thì phải đuổi nó ra, trừ diệt nó hoàn toàn. Như lý giác sát khi giật mình mở mắt thì thấy và xác định đây là rắn độc, sau khi biết được đây là rắn độc thì mình biết được sự nguy hiểm tác hại của nọc độc và dùng mọi cách đuổi nó ra thì đây là Như lý tác ý.

Chúng ta cần nhiệt tâm, cháy bỏng trong tinh thần học pháp và hành pháp, làm cho bản thân hân hoan, phấn khởi, thích thú trong sự học tu thì người đó tu học mới tiến bộ, ngược lại nói gì cũng trơ ra, lờ đờ thì tu không thể tiến bộ.

./.