Tỳ Kheo Thời Đức Phật 6 - La Hán Nông Dân - Thiền Quán Hiểu & Thương
Kinh Nikāya Giảng Giải
Tỳ Kheo Thời Đức Phật 6
La Hán Nông Dân
Thiền Quán Hiểu & Thương
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vị La Hán nông dân PAGEREF _Toc204010407 \h 1
II. Vị La Hán Sangmoda PAGEREF _Toc204010408 \h 7
III. Trình pháp PAGEREF _Toc204010409 \h 11
I. Vị La Hán nông dân
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, sáng nay chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm về cuộc đời của chư vị Tỳ-kheo thời Đức Phật.
"Ngài sanh ở tại một làng nhỏ, gần Sàvatthi, trong một gia đình nghèo khó. Lớn lên, ngài tự nuôi sống giữa đồng ruộng, với cái liềm, cái cuốc và cái cày" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIII). Sumangala (Thera. 7))
Khi nói đến đây thì mình phải đặt bản thân vào đời sống của những người bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Ngày xưa con ở chùa sư phụ dưới quê thì xung quanh là đồng ruộng, chùa sư phụ cũng đi làm ruộng, tay chân của thầy chai sần hết, móng chân dính phèn rất thô, to, bự, cứng, tay cũng vậy. Sư phụ đi làm bất kể ngày đêm, cách đây ba mươi năm thì kinh tế cũng còn khó khăn mà chùa thì ở trong sâu, nhà con thì ở chợ, sau này dời về không phải chợ nhưng thời gian sau cái chợ dời về ngay trước nhà nữa. Tuy vậy con đi tu thì đi vào vùng sâu, vùng quê, lội sình bùn trơn trợt, đầu tiên con vào chùa vẽ những bức tranh cuộc đời Đức Phật, từ nhỏ con có năng khiếu vẽ, đặc biệt là vẽ Phật, từ lúc mười tuổi đã vẽ Phật cho người ta thờ. Khi vào chùa thì con được bà cụ ở sát bên nhà là mẹ của sư phụ chỉ dẫn vào, cũng không biết Phật pháp gì hết, hồi nhỏ chỉ đọc mấy cuốn sư vải bán khoái, cụ Thanh Sĩ khuyến tu, thất ngôn tứ tuyệt hoặc là thơ lục bát.
Bây giờ ông Năm đó vẫn còn sống, ông đã chín mươi tuổi rồi, ông cũng ở gần chùa nên ông thường tới phụ với sư phụ con. Da dẻ ông đen đúa, xấu xí, một người nông dân chân lấm tay bùn, xung quanh có những ông cụ già bảy mươi tuổi vẫn không biết Sài Gòn là gì, "thầy ơi đâu có tiền mà đi Sài Gòn". Hôm đó một giờ rưỡi khuya sư phụ gõ cửa kêu làm con giật mình không biết có chuyện gì, sư phụ kêu con đi theo thầy để chỉ cho biết, con đi ra thì té ạch ạch vì đi trên bờ đê bị xì nước nên nước tràn vào, những cái lỗ đó có khi mình cho nước vô, có khi mình bít lại. Cái đêm đó là một lần duy nhất con đi ra ruộng làm lúc một giờ khuya nên nhớ mãi không quên, con đi nhét những cái bọng cho nước vô nước ra, lúc về thì lấy chanh chà chân tay mấy lần vì dơ, sình đầy chân vì mình ở chợ, nhìn lại thấy thương thầy vì ngày nào thầy cũng đi làm, còn mình lâu lâu mới đi một lần.
Ấn tượng là vì ra ruộng lúc một hai giờ đêm, mình biết thầy rất cực khổ, vất vả cho nên con ở với sư phụ có ba tháng là con thuộc hết bốn bộ Tỳ Ni, Sa-di, Oai Nghi, Cảnh Sách, thuộc lòng âm nghĩa. Thầy kêu phải ráng học, thầy không cho làm gì hết, thầy kêu học đi, sáu tháng thì con đi lên Sài Gòn, chuyện sau đó thì tính sau. Mình biết rằng những người làm ruộng cực khổ lắm, nhọc nhằn, vất vả lắm, tay lấm chân bùn, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, suốt ngày cặm cụi cái mặt xuống đất, còn cái lưng thì hướng lên trời, hết gieo mạ, cấy mạ, tới làm cỏ, gặt lúa nên cực khổ lắm. Cho nên ngài Sumangala là một nông dân, nói đến đây mình thấy một gia đình nghèo khó, khi ngài lớn lên tự sống giữa đồng ruộng mênh mông, bao la với cái liềm, cái cuốc và cái cày.
"Một hôm vua Pasenadi cúng dường đức Phật với chư Tăng và ngài đi đến, đem theo sữa và bơ cùng với các người làm công khác. Khi thấy các Tăng, Ni được cung kính cúng dường, ngài nghĩ các Tăng, Ni này sống trong các nhà cửa được che kín và mặc các y phục tốt đẹp và ngài xin xuất gia để hưởng những tiện nghi này" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIII). Sumangala (Thera. 7))
Ở đây chỉ nói vắn tắt nên không biết là ngài đem theo sữa bơ có thể là đi cúng, hồi xưa không có cúng tiền chỉ cúng thức ăn thôi cho nên đem lại. Ngài thấy nhà vua còn đi cúng nên mình cũng đi tạo cái phước, lại nhìn xem thấy chư Tăng Ni được người ta cung kính, quý trọng quá vậy, cuộc sống tốt quá nên ngài nghĩ bây giờ mình bỏ cái mảnh ruộng này đi, bỏ cái liềm, cái cuốc, cái cài này để mình đi tu.
"Một Trưởng lão Tăng vì lòng từ chấp nhận ngài được xuất gia, cho ngài một đề tài tu hành và bảo ngài đi vào rừng để tu tập. Nhưng trong hạnh độc cư, ngài cảm thấy buồn bã chán nản và đi về lại làng của mình" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIII). Sumangala (Thera. 7))
Một vị trưởng lão tăng, một thầy lớn thấy ngài như vậy nên thương, tội nghiệp, xót thương cho nên cho ngài đi xuất gia, cho ngài tu một cái đề tài để ngài thiền quán và bảo ngài đi vô rừng để tu tập, nhưng trong hạnh độc cư đó ngài cảm thấy buồn bã, chán nản rồi đi về lại làng của. Chỗ này là cái chỗ là khó, mình thấy vậy đó, mình tưởng đâu vô thất khỏe nha nhưng vô rồi biết, những cái dục lậu nó quậy mình, những hữu lậu, vô mình lậu quậy mình, mình tưởng "sướng quá ha, có người xách cơm cho ăn, tối ngày ở không, không làm gì hết, sướng quá, mấy thầy mấy cô sướng quá" nhưng vô đó rồi biết. Có nhiều người bể thất, mà không phải nhỏ, đó là người lớn, bể thất tức là thí dụ mình dự định là bốn mươi chín ngày, hoặc dự định thời gian ba tháng nhưng mới có hai ba tuần là đi ra thì gọi là bể thất.
Vô đó nó quậy mình tại vì khi vô đó mình không còn ở đối duyên xúc cảnh ở bên ngoài, mình chỉ đối duyên với tâm mình thì lúc đó có cái gì trong tâm trào ra hết, bao nhiêu những hình bóng, bao nhiêu những cảm giác, bao nhiêu những suy nghĩ nó ám ảnh trong mình, những bộ phim chiếu lại hoài mà mình ngồi thiền đối diện vô trong đó. Không lẽ ngủ hoài? Vô cho ngủ dữ lắm một hai ngày rồi cái mặt sưng ra rồi cũng chán ngủ, bắt đầu tu thì lúc này bắt đầu nó trào ra. Đối diện với chí mình là cái khó nhất, đi ra làm này, làm kia, làm nọ suốt ngày vậy chứ dễ, mệt vô than "Tôi làm mệt quá", bận rộn vậy mà khoái, thích, thấy công chuyện nhìn giống như cá gặp nước, chim sổ lồng vậy đó, vui lắm, khoái lắm, thích lắm. Có một số vị mới tu xin con nhập thất, con nói khoan, biết cái gì đâu mà nhập thất, pháp hành phải nắm cho vững, có sự nhiếp phục tương đối thì Khi vào trong đó thì tất cả những hình bóng của quá khứ như một cái tập phim hiển hiện lại, bao nhiêu những cái cảm xúc, cảm giác, cảm thọ, bao nhiêu những cái suy nghĩ, nghĩ tưởng mà nó tích tụ mấy chục năm, những cái gì mà nó đậm nhất, nó ấn tượng nhất, cái nghiệp lực mạnh nhất, những cái tập khí bùng lên, nó bốc lên quậy mình.
Như vậy ngài đi vô trong rừng thì thấy ngán quá, chán quá, buồn bã, chán nản nên quay về làng mình, trở về làng mình.
"Khi về, ngài thấy các dân quê cày bừa với áo quần nhớp nhúa, đầy bụi bặm và bị nóng bức. Thấy vậy, ngài trở lại tu tập, đi đến dưới gốc cây, tu tập thiền định, sống cô độc, phát triển thiền quán. Cuối cùng, ngài chứng được quả A-la-hán." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIII). Sumangala (Thera. 7))
Ở Ấn Độ nóng khủng khiếp, kinh hoàng lắm, bốn mươi mấy, năm chục độ là bình thường, giống như lửa thêu, lửa cháy, lửa đốt, rồi quần áo thì sình bùng, nhơ nhớp, đầy bụi bặm rồi nóng bức như vậy, nhìn thấy cái liềm, cái cuốc, cái cày nữa chắc chết rồi, ngán quá, ớn quá, thôi về tu, trở vô rừng lại. Nhiều khi có mấy chú thối thất, thối đọa, hoàn tục, không dám điện thoại con khi nói chuyện, con nói không sao đâu, nghiệp mình thì mình chịu nhưng mà nhớ quay lại nha, tranh thủ mau mau, hồi xưa có những vị Tăng đi ra đời rồi quay vô lại sáu bảy lần, cuối cùng cũng chứng thánh quả. Đức Phật tuyệt vời lắm, con nói là thấy vậy đó chứ vài tháng, một năm là con cũng chán, con không chán thì người ta cũng chán con trước, lúc đó nhớ sư phụ và tất cả quý thầy cô dang cánh tay rộng quay về, đừng đi luôn là được, miễn sao mình đừng có mất cái ý chí giác ngộ, tức là cái bồ đề tâm của mình phải nhất định tiến về phía trước, dù cho có gục ngã xuống rồi cũng bò lên, bò không được thì lết cũng phải tiến về phía trước, đừng có quay trở lại mà phải tiến về phía trước, dầu có té, dầu có bị thương, dầu có bò lết cũng phải tiến lên rồi mình cũng sẽ tới, có thể chậm hơn người ta chút thôi nhưng cũng tới.
Phải bám cho chặt, nắm cho chắc, giữ cho vững, bất lay động, bất thối chuyển bất thối lui, bất cứ chuyện gì xảy ra mình cũng nắm vững cái pháp "bây giờ tôi chết tôi cũng nói ngũ uẩn là khổ chứ tôi không nói ngũ uẩn là sướng", "tôi chết thì tôi cũng nói dục là hố than hừng", "tôi chết thì tôi cũng nói cái bản ngã này là rắn độc chứ tôi không nói khác", cứ giữ vững cái đó rồi mình cứ tiến tới, mình lết, mình trường tới, rồi mình bò tới rồi mình cũng phải đi tới, rồi mình cũng phải tới chỗ chứ không thể không tới. Thành ra ngài thấy quay trở lại cái cảnh bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, rồi nắng bốn mươi, năm mươi độ C, đầu bù tóc rối, mồ hôi nhễ nhại, quần áo lem luốc như vậy rồi làm sao, chắc chết thôi, bây giờ chán quá rồi nên quay về rừng tu.
Ở đây cũng có mấy người xuống núi thăm nhà, dự định về hai tuần nhưng mới một tuần đã quay về núi, về bị lửa táp, cháy xém mình cho nên chạy lẹ lẹ chứ nếu không là cháy. Lúc xưa con đi tu là không có về nhà, chuyện gì cực kỳ quan trọng lắm, cần thiết lắm mới về vì đó là nhà lửa, mình quay lại là quay về chỗ hỏa hoạn, chỗ hầm lửa, hố than, hừng, mà nhà biết tu còn đỡ, nhà không biết tu về còn mệt nữa, bao nhiêu cái thứ trong đó cho nên khi về ngài thấy dân quê cày bừa quần áo nhơ nhớp, đầy bụi bặm, bị nóng bức, thấy vậy ngài mới trở lại tu tập, đi đến dưới gốc cây tu tập thiền định, sống cô độc, triển khai thiền quán. Chắc là ngài quán mấy cái cảnh khổ ngài đã thấy, ngài đã chứng kiến, ngài đã từng trải qua cộng với cái đề mục mà bậc trưởng lão, sư phụ ngài cho thì ngay chỗ đó cuối cùng, cái chữ cuối cùng là từ đó phải trải qua biết bao nhiêu những sự chiến đấu bên trong, bên ngoài, những cái dục, những cái ái, những cái tham ở bên trong, cuối cùng chứng quả A-la-hán. Tới đây là xong rồi, khổ một lần nhưng được an lạc vĩnh hằng.
"Ðể nói lên sự giải thoát khỏi nỗi khổ cuộc đời, ngài thốt lên bài kệ này:
Khéo thoát! Ôi khéo thoát!
Thật sự ta khéo thoát,
Thoát ba sự cong queo,
Ta thoát cong với liềm,
Ta thoát cột với cày,
Ta thoát cực với cuốc,
Nếu có đây, có đây,
Thật đủ chán, đủ chán,
Hỡi Sumangala!
Hỡi Sumangala!
Hãy thiền, hãy thiền định!
Hỡi Sumangala!
Hãy sống không phóng dật." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIII). Sumangala (Thera. 7))
Ngài là nông dân nên ngài nói chuyện chân chất lắm, bình dị lắm, không có văn chương gì hết, tự khen mình sướng quá, ngươi thiệt là giỏi nha, thiệt là hay, khéo thoát, ôi khéo thoát, thật sự ta khéo thoát, thoát ra một cách hết sức là khéo léo, hết sức là ngoạn mục, hết sức là tuyệt vời cho sự thoát ra này. Thoát khỏi cái gì? Thoát khỏi ba sự cong vẹo, thứ nhất là cái liềm, thứ hai là cái cày, thứ ba là cái cuốc, đó là nói biểu trưng cũng là nói cái nghĩa đen, còn sâu hơn nữa là thoát ra những cái dục ái, tham, sân, si, vô minh trong con người của mình. Đầu tiên đơn giản nhất là thoát khỏi đời sống khổ sở, nhọc nhằn, vất quả, cực nhọc của một người nông dân, người làm ruộng, kế đó là thoát ra được những cái cấu nhiễm của tâm cho nên tự tán thưởng mình "Sao mình giỏi vậy ta, sao chỗ này mình hay quá vậy ta, sao mình thông minh, chỗ này mình thoát ra hay, ngoạn mục vậy, tuyệt vời quá vậy".
Nếu có đây, có đây,
Thật đủ chán, đủ chán
Có đây, có đây có ba cái cong vẹo đó, có liềm, có cày, có cuốc là chán quá chán, sanh ra rồi đi làm vậy đó mà sao mình không chán. Mấy người có tóc này chán chưa? Cứ sáng mở mắt ra, rồi đi làm, rồi ăn, chiều tối về, ngày nào cũng làm hoài vậy đó mà không có chán, rồi cứ tham, sân, si, hơn thua làm hoài. Ngài nói nếu có mấy món đồ cong vẹo đó là chán lắm, ngài là nông dân nên nói đơn giản, chân chất vậy.
Hỡi Sumangala!
Hỡi Sumangala!
Hãy thiền, hãy thiền định!
Hỡi Sumangala!
Hãy sống không phóng dật.
Đây chính là như lý tác ý, tự kêu mình hãy thiền định sống không phóng dật.
Bằng tất cả tấm lòng thành kính chúng con đảnh lễ tôn giả Sumangala.
Bằng tất cả tấm lòng thành kính chúng con đảnh lễ tôn giả Sumangala.
Bằng tất cả tấm lòng thành kính chúng con đảnh lễ tôn giả Sumangala, bậc thấy khổ, diệt khổ, chứng đắc Niết-bàn tối thượng.
Chúng ta học các cái chư vị thánh Tăng để mình thấy được tất cả các ngành nghề trong xã hội, bất cứ là hạng người nào gặp được chánh pháp và nỗ lực hành trì đều có thể thành tựu được. Đó là chỗ đặc biệt của chánh pháp mà Đức Phật nói tất cả dòng sông khi trở về biển chỉ có một vị thôi, đó là vị mặn, giáo pháp của ta chỉ có một vị thôi, là vị giải thoát, là ý nghĩa của câu nói đó.
"Ví như, này Pahàràda, biển lớn chỉ có một vị mặn. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật cũng chỉ có một vị là vị giải thoát" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX). A-Tu-La Pahàràda)
Thành ra tùy nhân, tùy duyên, tùy căn cơ cái nghiệp cũng như sự nỗ lực, tinh cần của các vị đó, nhiều khi người ta không hiểu thì cái này có nhiều khía cạnh để mình nhìn vấn đề trong sự tu lắm. Ngài đâu có cần học nhiều đâu mà tại sao ngài vẫn chứng thánh quả? Tại sao mình học nhiều mà mình không chứng? Mình chưa có nỗ lực tu tập, cái nhân, cái duyên của mình khác, nếu mình nói giống như ngài khỏi học gì hết thì nó là tai họa, hoặc có những người không biết nói rằng ngài đâu có hóa độ ai đâu thì người ta lại nghĩ đây là Tiểu thừa. Cái tâm giải thoát của ngài với cái tâm giải thoát ngài Xá-lợi-phất bằng nhau, không hơn không kém và có rất nhiều vị thánh A-la-hán cũng không có được ghi trong này nữa, chứ không phải là ai cũng được ghi đâu vì có nhiều lắm, vậy thì không được ghi thì mấy ngài đó không phải A-la-hán hay sao.
Cũng như trên báo mình thấy tin tức như vậy thì đâu phải chỉ có bao nhiêu đó đâu, đâu phải trên thế gian này có mấy tờ báo đó đâu, có rất là nhiều trăm ngàn tin nhưng không có ghi, người ta không biết hoặc người ta biết a cũng không có đưa lên. Cũng vậy, cái tâm giải của các vị thánh là như nhau nhưng cái nhân, cái duyên, cái phước, cái đức, cái bồ đề quyến thuộc khác nhau chứ không phải ngài cái tâm nhỏ hẹp không muốn độ chúng sanh, nếu có người nào tới gặp ngài mà có duyên thì ngài sẽ độ nhưng mà nhiều khi tới gặp ngài mà không có duyên ngài cũng không độ được rồi mình nói người đó là Tiểu Thừa, thành ra mình không có hiểu, người sau này không có hiểu.
Mình muốn độ người đó, muốn giúp người đó thứ nhất mình là một người ít nhiều phải thành tựu rồi, còn ở đây là thành tựu tối thượng. Tuy là thành tựu tối thượng như vậy nhưng mà không phải muốn độ ai là độ, các ngài không có muốn nữa, đâu còn dục nữa nên không có muốn, cái người đó muốn cầu pháp, người đó muốn giải thoát thì tới gặp ngài là trúng ngay rồi, trúng tủ rồi, trúng mánh rồi, trúng số độc đắc rồi, trúng pháp rồi, trúng thầy rồi, trúng đạo rồi, đắc đạo chứ đâu phải là ngài có ý a muốn đi độ ai. Các ngài tới đó là cái tâm hoàn toàn tịch tịnh, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không còn muốn gì nữa hết, giống như cái gương trong sáng không có một miếng tì vết, bụi bặm gì hết, người nào đen thì hiện đen, trắng tới hiện trắng, đỏ tới hiện đỏ. Những người này đến mà mong cầu pháp thì lúc đó các ngài bằng tất cả tấm lòng truyền pháp nếu người đó chịu lắng nghe.
Đầu tiên là phải có nhân duyên lắng nghe, phải chịu nghe, đó là bước đầu tiên rồi kế đó là tư duy, nỗ lực tu tập, chịu sự giáo huấn, rèn luyện, hướng dẫn. Ở trong đây viết đơn giản vậy chứ không có đơn giản, nhiều lắm, phải được sư phụ giảng dạy, chỉ dẫn, hướng dẫn nhiều. Thời đó chưa có văn bản nữa cho nên người ta nói rất là đơn giản để nhớ thôi, như vậy để mình thấy được nhiều phương diện lắm.
II. Vị La Hán Sangmoda
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh thuộc dòng họ Thích-ca, thành Devadahi, trong gia đình vua chúa Thích-ca và được gọi là thanh niên Sangmoda. Nhưng khi còn nhỏ, ngài bị bệnh tê thấp, có khi bước đi như người bị què, vì vậy được tên là Pakkha (vị què quặt) và giữ lại tên ấy." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Bảy, (LXIII). Pakkha (Thera. 10))
Ở trong mình cũng có người bị chân bệnh nên nghe kỹ cái bài này, người ta gọi ngài là cái vị què quặc, đây là cái tên gần gũi, tên thông tục, ví dụ trên mình người ta không gọi là Quán Chiếu Đường mà thường gọi là Cổng Trời, gọi là Cổng Trời lâu ngày nên quen luôn, đến khi gọi là Quán Chiếu Đường lại không biết. Hoặc là cái chùa đó tên hay lắm mà không nhớ, chỉ nhớ chùa bún riêu, bánh canh, bánh xèo, cái tên tục là vậy đó, nhiều khi mình ta kêu tên cúng cơm, ví dụ kêu ông Năm dễ nhớ, còn kêu Hồ Ngọc Long không ai biết hết, nói không ai biết hết, gọi thầy Pháp An nhiều khi ít người biết nhưng mà kêu ông Năm thì biết, đó gọi là tên cúng cơm, tên tục, cái tên mà nó gần gũi, ai cũng nhớ dễ nhớ. Cũng vậy, cái tên của ngài người ta không nhớ, người ta thấy ngài đi khập khiễng thì kêu "què", "chú què" rồi giữ lại cái tên đó luôn.
Bây giờ mình đặt mình vào người què, nhiều khi còn nhỏ xíu con cũng để ý nhìn thấy những cái vị có tật đi khập khiễng, ở núi mình cũng có thì có hai trường hợp, nói gọn hai trường hợp. Một trường hợp người ta tủi hổ lắm, người ta tự ti, người ta mặc cảm, người ta xấu hổ và người ta sẽ né tránh khi có đông người, người ta sẽ không đi trước mặt khi có người nhìn thấy, nhất là đông thì người ta sẽ ngồi một chỗ khuất chờ mấy người đó đi hết người ta mới dám đi, bởi vì khi người ta đi ngang vậy thì những người khác nhìn bằng cái ánh mắt khinh khi, khinh thị, khinh thường hoặc là những người nhìn bằng mắt đáng thương, thương hại, tội nghiệp. Người ta không muốn, ai trên đời này sanh ra cũng muốn mình được bình thường phải không? Đâu muốn mình bất thường nhưng vì cái nghiệp quả rơi vào những cái cảnh như vậy và người ta đau khổ lắm, chính vì vậy mình phải có tình thương đối với người bệnh tật, nghèo khổ, cái này rất quan trọng là cái tâm từ.
Nói ra là trái tim muốn quặn thắt rồi, đau lòng, nhói tim, mình nhìn những người khổ mình thương nhiều, mình nhìn những người tật nguyền phải đặt mình vô đời sống của họ, mình thấy những người bất thường từ thể xác cho đến tâm trạng, tâm lý đúng ra mình phải hiểu, mình thương người ta, mình không có nên đem ra bêu riếu, bêu xấu, khinh khi, như vậy là tổn đức lắm. Người ta sanh ra một con người đã khổ rồi, bây giờ mang lên thêm một cái tật nguyền mà có những người đem những cái tật nguyện của người ta ra bêu riếu, nói xấu, khinh khi, chế giễu, khinh thường, cười chê, sỉ nhục người ta cho nên từ nhỏ khi con còn bảy tám tuổi, nhiều khi đang chơi đùa mà con thấy mấy bà già bảy mươi tuổi mà bưng cái mâm đi bán bánh bò, bánh tiêu, con không có đói bụng nhưng mà cũng ráng chạy lại mua mấy miếng. Hay là con gặp mấy ông cụ già mù bán vé số con cũng không có mong trúng mà con mua mấy tấm có khi cho mà người ta không nhận, người ta nói "tôi đi bán chứ tôi không có đi xin".
Khi người ta nói một cái câu tự trọng mình thấy mình thương, lòng mình quặn thắt cho nên tại sao con làm cái bài "Ta đã về đây" mà có nhiều khí cạnh như vậy tại vì con thật sự thấm thía nỗi khổ của thế gian này, cho nên khi đọc cái bài bậc đạo sư "mỗi người một nỗi khổ" là con không có cầm được, "mỗi loài một niềm đau, xin cùng nhau thấu hiểu những đau khổ trong nhau". Người ta què quặt, người ta bò lết, người ta câm ngọng, đui điếc, mù lòa về thể chất hay là về tinh thần, về những cái khuynh hướng tâm lý, trong tình cảm cũng vậy, người ta có những cái sự lệch lạc hay là thể xác người ta có tật nguyền, hay là tinh thần người ta bị bất ổn thì mình thương lắm vì mình thấy phản chiếu trong đó là những đời sống của mình, mình đã và mình sẽ.
Tại sao mình đem những cái đau khổ của người ta ra mình châm biếm, mình khinh khi, mình hủy nhục, mình cười đùa trên sự đau khổ của người khác. Mình có biết là những người đó họ khổ đến mức độ nào không? Nhiều khi họ muốn kết thúc sự sống, họ không muốn hiện hữu với một cái thân xác như vậy, họ không muốn tồn tại với những cái cảm giác như vậy, họ sẽ đau khổ lắm. Khi có một cái con mắt sáng, có một trái tim lớn, có một tình thương rộng mình mới hiểu được nỗi khổ của chúng sanh, đó cũng là tâm từ, mình sẽ nhìn thấy được khi nỗi khổ của mình, mình thấm thía được, thấm đẫm được, thấm đượm, thấm nhuần, thẩm thấu được rồi mình tập nhìn mình sẽ thấy được tất cả nỗi khổ của chúng sinh.
Có những người thấy người ta tật nguyền, mù lòa thì chế giễu, thậm chí họ đạp cho té ngã rồi cười, những người thanh thiếu niên trẻ tuổi đúng là ngu lâu dốt bền, vô minh vững chắc như vậy. Mình thấy khổ, mình thấm khổ, cảm thọ trong người mình sẽ mềm ra, nó nhũng ra, nó chảy ra, nó hòa tan, không còn thấy có mình người nữa mà chỉ thấy những đống khổ đang di động, những đống dục tham, bản ngã hoạt động, nó sâu xé, nó ăn nuốt, nó ganh tỵ, nó đố kỵ, nó hơn thua, không thấy có ai hết. Phải thấm thía, thật là thấm thía, thấm thía, thấm thía cái khổ này, chúng ta mới thấy được hai vị, một vị là làm ruộng, nông dân, một người què như vậy nhìn hết cái nỗi khổ trên thế giới này thì lòng thương của mình rộng bao nhiêu, lớn bao nhiêu, tâm mình phải quảng đại, phải rộng lớn, phải tu cái tâm vô lượng, tâm rộng lớn, tâm như trời với đất.
Cái thái cực thứ hai của người tật nguyền là họ nhiều oán hận, phương diện thứ nhất là họ tự ti, mặc cảm, xấu hổ, nhục nhã và một phương diện thứ hai là họ sẽ oán người hận đời, trách trời, họ buông tay luôn cho rơi tự do trên cuộc đời này, họ bất chấp tất cả tội lỗi, ác nghiệp. Những cái người mà họ khổ đau thường rơi vô hai cái thái cực như vậy, năm giờ mấy sáng con cùng với các thầy, các chú ở trên núi này xuống chùa Bửu Liên đi thiền hành ra bờ sông Thanh Đa, lúc đó con dẫn các vị đi lên cây cầu thì thấy có một người nằm lạnh lẽo, không có chăn đắp, con mới nói với một chú xuất gia rồi lại hỏi thăm, có gì mình cho người ta tiền, vị xuất gia này đi tới thì người này móc con dao ra thì con nói thôi mình đi. Mới gần đây con và chú Trí Nhân buổi sáng sớm đi thiền hành ra sông cũng ngay chỗ đó ở phía dưới, hồi nãy là ở trên cầu, rồi nhìn thấy sạt lở phải căng sợ dây ngang, lòng mình xót xa, trải tình thương đến mọi người. Con mới hỏi một chú ngồi đó uống cafe chỗ này bị sạt lâu chưa thì ông ấy chửi mình, ý nói mấy ông tu sung sướng, biết gì khổ của người ta, con mới trải tâm từ rộng lớn với chú đó, với những người dân đang ngồi đó, với vùng trời đất ở đó.
Nước mắt chảy ngược vào trong, con nói Trí Nhân "Thôi mình đi về, người ta khổ ta nhiều oán hận lắm. Mình phải tập thương, đừng giận họ, đừng trách họ, Họ đang đau khổ lắm". Những người thân thương trong gia đình của mình cũng vậy, cha mẹ, anh em, vợ chồng hay là thầy trò, huynh đệ rất là dễ giận cá chém thớt. Họ đang khổ đau mà ai tới là họ sẽ trút cái đau khổ đó lên đầu người khác, họ bung ra những cái cảm thọ bức xúc, dồn nén, tức tưởi, oán hận, hận thù, hờn trách, oán trách, mình phải hiểu và thương họ thật nhiều. Con bị biết nhiêu người chửi mắng và chính những người mà mình giúp cho họ, lúc đầu con phải tập thương, lần lần tới bây giờ thương bình thường lắm, không còn cố gắng thương nữa, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức với cái tâm từ, nhiều khi mình đem hết cả tấm lòng, cả một sự để tâm từ cái nhỏ nhất giúp cho họ thành đạt, thành tụ, họ quay ngược trở lại chỉa mũi dùi vào mình, họ oán trách, họ hận thù lây lan qua cả cha mẹ mình.
Nhưng con hiểu các vị đó khổ lắm, họ cần tình thương, họ đang đau khổ lắm, họ không nhìn nhận được phương hướng, làm sao mình trách người ta được, mà có ai với ai mà trách ai, làm gì có ai, chỉ có vô minh và tham ái, chỉ có sự vận hành của nghiệp và quả dị thục của nghiệp, làm gì có ai mà trách ai, mà chửi ai, mà hận ai, mà ghét ai.
Khi cái khổ thấm đẫm vào tim, vào tủy, vào não mình, tất cả những hình này sẽ tan biến, tất cả những cái tên sẽ được cục tẩy của chánh khiến xóa nhòa hết trong tâm mình. Không có người, không có tên, danh tướng sẽ được tiêu dung trong cái chánh tri kiến của mình, đầy ấp thân tâm mình là một đống khổ và một tình thương dào dạt, ngập tràn, cùng khắp vô lượng vô biên. Khổ và thương có mặt trong tâm, tồn tại trong tâm, hiện hữu tâm, cái hai chữ, chữ khổ lớn hơn trái đất này và một chữ thương thấm đẫm, thấm thía, thấm nhuần và thấm gội từng lỗ chân lông, từng cọng tóc, từng làn da, thớ thịt, ngấm vào trong xương tuỷ của mình. Đây là khổ, khổ là đây, làm sao mình nở lòng nào trong cái khổ lại tiếp tục làm cho khổ thêm nữa, chỉ có thương, thương và thương.
III. Trình pháp
Mời chư tôn và chư hiền chia sẻ cảm thọ thiền quán
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính đảnh lễ sư phụ, con xin kính đảnh lễ quý Tăng Ni, thầy, sư cô và các bậc hiền trí. Trước sư phụ cho con nói tiếng Anh trước xong rồi con sẽ tự cố gắng thông dịch lại tiếng Việt.
Sư Phụ: Cô nói tiếng Việt luôn đi, ráng nói tiếng Việt luôn đi.
Sư cô 1: Dạ thì theo cái rõ biết của con trong mấy câu chuyện của sư phụ là sư phụ nói người làm cực nhọc xã hội….
Sư Phụ: Con để quý thầy, quý sư cô chia sẻ trước đi rồi con từ từ chia sẻ cũng được, để cho quý chư tôn đức chia sẻ trước.
Sư cô 2: Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-Hán Chánh Đẳng Giác, con xin đem hết đòng thành kính đánh lễ giác linh bậc đạo sư, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ sư phụ bậc ân sư của chúng, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí, con kính bạch sư phụ, con xin kính bạch quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí, con xin phép chia sẻ cảm thọ của con trong buổi sư phụ giảng pháp và thiền quán sáng nay. Khi nghe sư phụ giảng về đức hạnh của hai bậc tôn giả, một bậc sinh ra trong hoàn cảnh nghèo khó, vì nhàm chán cái nghèo khó đã vươn lên để chứng quả A-la-hán và một bậc bị bệnh tật, bị khiếm khuyết để trong lòng con thấy, cảm nhận được sự khổ.
Bản thân con cũng sinh ra ở nơi biên địa hạ tiện, nghèo khổ nên con thấm, rất là thấm cái sự khổ, từ nhỏ đến lớn con đã phải trải qua cùng với những hoàn cảnh, những trường hợp mà con gặp thì con thấy rất là khổ. Những em bé còn rất nhỏ đã bị những căn bệnh ung thư quái ác mà các em đó rất là hồn nhiên, ngây thơ, không biết là mạng sống của các em đấy không còn được bao lâu nữa đến các cụ già vô gia cư, sống lang thang ở các thành phố lớn con đã đừng gặp tiếp xúc rất là nhiều. Chia sẻ với hoàn cảnh của các cụ thì khổ, rất khổ, có nhà có cửa, có đầy đủ tài sản nhưng mà vì lòng tham của những người con mà bị đuổi ra đường, tám chín chục tuổi, tóc bạc phơ rồi vẫn phải đi nhặt rác, lượm vê chai bán kiếm đồng tiền mua được miếng ăn, sinh sống cầm cự qua ngày. Những cụ đó thì lâu lâu sẽ có những tin tức họ chết ở bên lề đường.
Thực sự rất là khổ, những thanh tưởng là những lời của những người nghèo khổ đó, sắc tưởng con tưởng đến vùng cao, những nơi mà con được đi thực sự đủ mọi tầng lớp, đủ mọi hoàn cảnh. Những mùa đông lạnh giá ở vùng Tây Bắc rất là lạnh, có khi xuống 0 độ C, người già và trẻ em không chịu được vì lạnh, vì không có đủ áo ấm chăn, lương thực nên họ đã không vượt qua được cái lạnh đó. Trên đường đi chúng con mặc rất là nhiều áo ấm nhưng mà dừng xe lại có những em bé không có một bộ đồ nào ở trên người. Thực sự thấy xót xa, thương cho những hoàn cảnh của họ mà cũng thương cho chính bản thân mình, con cũng rất biết ơn vì con đã được trải qua, được tiếp xúc với những hoàn cảnh khổ tận cùng như thế nên con có ý chí muốn thoát khỏi cái cảnh khổ đó. Trải qua rất nhiều thì đến hiện tại đại con đã được có mặt ở Linh Quy Pháp Ấn này và được tu tập trên con đường thoát khỏi cảnh khổ. Con rất là biết ơn, con xin tri ân trên tất cả. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô Huệ Lý: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ trên giác linh bậc đạo sư, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ, con chân thành đảnh lễ trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng toàn thể chư vị hiền thiện. Con kính bạch trên sư phụ, sáng nay sư phụ cho chúng con thiền quán về hai bậc thánh Tăng, con thấy tấm gương của quý ngài con cũng tự thấy mình thật xấu hổ, quý ngài đã vượt qua những cái khó khăn từ một người nông dân mà trở thành một bậc thánh quả, chứng đạt thánh quả và một ngài tật nguyền nhưng cũng được đạt đến chứng quả. Bản thân con tuy cũng có bệnh nhưng bệnh thì cũng đơn giản mà con chưa cố gắng hết sức mình để lo tu tập, lo bào gọt những cái cấu uế, con cũng tự thấy xấu hổ và con cũng được nghe hai tấm gương của ngài, con cũng có tác ý từ nay mình phải cố gắng vì vô thường không biết đến với mình lúc nào. Nếu mình chưa làm tròn được bổn phận của người tu học thì thật là tàm quý, thật là xấu hổ.
Khi sư phụ cho thiền quán về những góc độ cái khổ của cuộc đời vì vô minh, vì si mê, vì bản ngã, vì cái tâm tự ti, những người sư phụ muốn giúp họ nhưng vì những cái vô minh, ngu si, bản ngã của họ mà họ không nhận được tình thương từ sư phụ, họ không nhận được từ tâm từ sư phụ. Họ phải đau khổ, trên cuộc đời này rất nhiều cái đau khổ, từ bản thân mình ngu si, vô minh, vì hoàn cảnh, vì cuộc sống, vì môi trường tạo ra cho con người rất nhiều cái khổ, bị thiên tai, con đã thẩm thấu được cái khổ đó. Khổ từ bản thân mình quá khổ, sanh ra cũng khổ, lớn lên cũng khổ, già bệnh cũng khổ, có cái thân này, có cái ngũ uẩn này là một khối khổ, mở mắt ra là đã thấy khổ, vì có cái thân này ăn uống cũng khổ, danh vọng cũng khổ. Cái gì cũng khổ, trong cái khổ con nhìn ra được niềm hạnh phúc của mình vì mình được nhìn thấy nó và mình đang trên con đường để lìa bỏ nó. Con rất tri ân trên Đức Phật, con tri ân trên bậc đạo sư, con tri ân trên sư phụ đã dẫn dắt, đã chỉ dạy, vì lòng thương, vì từ tâm dẫn dắt chúng con ra khỏi cái khổ của cuộc đời này, thoát ra khỏi cái ngũ uẩn khổ này. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô Nguyên Tú: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng tất cả đại chúng hiền trí, con xin được chia sẻ cảm thọ của con trong khi sư phụ thiền quán về tâm hiểu và tâm thương trên cuộc đời này. Trong bài thiền quán sư phụ đã đưa ra những sự đau khổ của một người tàn tật, sư phụ dạy chúng con đừng khởi lên những tâm khó chịu với họ hay là khinh khi với họ. Có hai khía cạnh về những người như vậy, khía cạnh đầu tiên chính là người ta mang một tâm xấu hổ, e dè, khía cạnh thứ hai là người ta mang một tâm hờn trách người và mình cũng phải khởi lên tình thương đối với họ bởi vì họ cũng thật sự là đau khổ rất là nhiều, mang một cái thân bị tật nguyền và bên trong chất chứa đầy những cảm thọ đau khổ, mình chỉ còn có tâm thương với họ.
Sau đó sư phụ tiếp tục dẫn dắt chúng con khởi lên những tâm thương đến tất cả mọi người và tất cả những người trong gia đình của mình. Sư phụ nói rằng không có một con người nào cả. chỉ có dục, tham, ái đang vận hành trong đó mà thôi, và tất cả đều mang những nỗi đau khổ, thống khổ. Con từng nhớ sư phụ dạy rằng một con người khi họ hành xử như vậy đó chính là một ngũ uẩn với đầy những tập khí, mình có gì để trách hờn họ đâu, họ cũng đau khổ với những tập khí của họ, sao mình lại khởi lên những tâm khó chịu với họ. Ngay cả khi mình khởi lên những sự khó chịu, hoặc mình có sân hận, hoặc những tập khí của mình sanh khởi mình còn đau khổ với nó, tại sao mình còn lại hờn trách, giận hờn với những tập khí của họ. Họ cũng đang nhiếp phục, họ cũng đang khống chế mà, mình phải khởi tâm thương họ nhiều lên, thương cho sự đau khổ của họ và thương cho sự đau khổ của mình, thương cho mình thật là nhiều và thương cho họ bởi vì họ không thấy được điều đó.
Mình phải khởi lên tình thương như vậy và tình thương của mình thật sự phải là rộng lớn. Khi mình thấy được điều đó mình sẽ thấy được nỗi khổ của từng người và mình hiểu rằng tất cả cũng đều là đau khổ, mình sẽ thật sự thấm được những sự đau khổ này và sự đau khổ đó xuất phát từ một thân ngũ uẩn như thế này. Mình thấm như vậy mỗi ngày, mỗi ngày mình đều thấm như vậy, một ngày nào đó khổ thánh trí sẽ thực sự bừng sáng trong nội tâm của mình và khi mình thấm thía được sự khổ này tình thương của mình sẽ cực kỳ rộng lớn. Nếu như người làm gì có lỗi với mình, nếu như thật sự lúc đó vô minh che mờ, mình có khởi lên sự sân hận với họ mình hãy về tự trách lại mình, thông cảm cho nỗi khổ của họ và thương mình. Tại sao ngày giờ này tu tập còn khởi lên những tâm sân hận đối với người khác? Mình phải thương họ thật nhiều vì mình thấy được những nỗi khổ trong cuộc đời này để cho mình vừa thấm khổ vừa có thể trải được một tình thương rộng lớn.
Khi sư phụ nhắc tới bậc đạo sư trong lòng con là hình ảnh của bậc đạo sư trút những hơi thở cuối cùng để dạy, bậc đạo sư có nói rằng con không muốn nhìn thấy những người yếu đuối trong đạo tràng này, khi con nghe những lời nói của sư phụ nói về bậc đạo sư con cảm nhận được rằng bản thân của con chưa có gặp bậc đạo sư lần nào mà con đã thấy rất là chua xót thì đối với như sư phụ, người đã từng được sự hướng dẫn với bậc đạo sư trong lòng của người sẽ đau xót và quặn thắt tới mức độ nào. Sư phụ nói rằng chừng nào mình tu tập được mình sẽ hiểu được tấm lòng của bậc đạo sư đối với mình cũng như là hiểu được tấm lòng của sư phụ đối với chúng con. Chúng con sẽ cố gắng, cố gắng khởi tình thương đối với tất cả mọi người, cố gắng thấm được khổ, thấy được khổ, cố gắng tu tập để không làm cho sư phụ buồn lòng. Mong sư phụ hãy cố gắng cũng tin tưởng chúng con, chúng con nguyện sẽ thực hành lời dạy mà sư phụ đã truyền trao. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Thiện Huệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con cung kính đảnh lễ trên sư phụ, con kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng toàn thể các bậc hiền trí. Con xin tri ân trên sư phụ đã có buổi thiền quán sáng nay, khi con nghe những lời thiền quán thì trên sư phụ cảm thọ con rất là xúc động, hình bóng trong tâm cứ hiện về một đứa em bé bị bệnh mà con đã chứng kiến nằm trên giường bệnh, cái đầu thì to bằng gấp hai lần cái đầu của những em bé bình thường, cặp mắt thì lồi lên, da xanh nhợt, những cọng gân ở trên mặt nổi đầy lên và em bé đó đã chết trước mặt con. Con thấy mọi sự hiện hữu dù là mang hình tướng gì đi nữa cũng đều nằm trong cái đau khổ, rồi những em bé mới sanh ra ở trong những gia đình giàu có nếu nhìn theo cái trí tuệ thông thường thì cho là sung sướng, hạnh phúc lắm nhưng nếu con nhìn bằng cái thánh trí dù sanh trong gia đình giàu có cũng vẫn là khổ đau. Bởi vì đứa bé đó lớn lên nó sẽ tham dục, nó sẽ sân hận, nó cũng sẽ bản ngã, ta đây, hơn thua, tranh đấu với đời cũng luẩn quẩn, loanh quanh ở trong cái khổ.
Con liên hệ đến vị Tỳ-kheo sanh ra trong gia đình nghèo khổ, làm nông vất vả, con nhớ lại những câu kệ trong chốn thiền môn các thầy hay tụng "thân mặc y phục thường nhớ người may dệt, cơm ngày ba bữa phải nhớ nỗi khổ của nhà nông". Những người nông dân con thấy rất là khổ cực, vất vả, thậm chí họ dành chút ít công sức của họ làm lụm kiếm một ít tiền để dâng lên cúng dường tam bảo, con thấy những cái sự cúng dường như vậy đối với con, con thấy rất là lo lắng, để nhìn lại tự thân mình tu tập như thế nào để cho xứng đáng thọ lãnh những cái lợi vật của Đàn-na tín thí cúng dường. Bởi vì đó là những mồ hôi, là nước mắt của họ thức khuya dậy sớm, chịu nắng chịu mưa.
Bên cạnh đó con nhìn lại hình ảnh của vị Tỳ-kheo mà cái chân bị què quặc, con thấy rằng con rất là sợ nghiệp quả bởi vì dù sanh trong một gia đình nông dân làm ruộng vất vả, hay là có những cái hình hài dị tật, tật nguyền thì con ngồi con tác ý, đó chính là cái nghiệp cũ ở trong quá khứ mà thôi, mình phải lo lắng, sợ hãi cho những nghiệp mới hiện tại qua những cái hành động, lời nói, suy nghĩ của mình để mình tránh rơi vào những cái hoàn cảnh như vậy. Cái thanh tưởng trong con cứ nhớ, vang vang sư phụ hay kể lúc sư phụ còn là Tăng sinh, sư phụ đi học thì thấy có một người tật nguyền ở giữa đường, ở trên tay của họ xăm hai chữ "hận đời", con nhìn lại cuộc đời đâu có gì mà phải hận đời mà đó phải là trách mình, phải hận mình chính hơn.
Tại vì tất cả đó là do nghiệp quả của mình đã làm ra chứ không ai làm hết, có chăng đi nữa đó là những cái hành động, suy nghĩ, lời nói trong quá khứ của họ cho nên bây giờ họ phải lãnh những cái nghiệp quả như vậy. Khi sư phụ nhắc đến những hình ảnh vị Tỳ-kheo chân què quặc con thấy rất là sợ hãi và phải cẩn thận đối với nghiệp quả. Qua bài thiền quán sư phụ sáng nay con cũng có nhìn lại một cái góc độ, khía cạnh về tình thương, tâm từ, luôn luôn mình phải có sự quán đổi vị trí khi thấy nỗi khổ của người, mình phải đặt mình vào mình vào nỗi khổ của người thì lúc đó mình sẽ hiểu và sẽ cảm thông được với họ. Nhìn người mà thương lại chính mình, con nhớ lại những lời mà bậc đạo sư tác ý chỉ dạy trong cái bài tâm từ, con thấy rất là thấm thía và xót xa quá. Bậc đạo sư nói rằng:
Mong tất cả chúng sanh
Thấu hiểu và cảm thông
Những nỗi khổ của nhau
Đừng tạo thêm đau khổ.
Mong tất cả chúng sanh
Thấu hiểu và cảm thông
Những nỗi khổ của nhau
Đừng tạo thêm oan trái.
Đừng tạo thêm đắng cay,
Đừng tạo thêm khổ ải,
Cho kiếp người của nhau.
Cả một chữ khổ bao trùm cả khắp thế giới này, ở ngoài đời tất cả chúng sanh mọi người rất là đau khổ, tất cả cái chung những ngôi chùa, đạo tràng là nơi có thể làm chỗ dựa về mặt tinh thần. Nhưng con nhìn lại nếu chúng ta không hiểu nỗi khổ của nhau, còn tạo thêm những oan trái đau khổ thì chúng sanh không biết sẽ nương tựa vào đâu, họ đi về đâu. Con thấy thực tế nhất hiện giờ đây ngay trong hoàn cảnh này cần nhất tự thân con phải nuôi dưỡng tâm hiền, tâm từ cho thật vững chắc, kiên cố thành cỗ xe, thành căn cứ địa để mình làm chỗ nương tựa cho những ai đau khổ quay về nương tựa ngôi tam bảo, chánh pháp cũng như là chư Tăng và đó là những cảm thọ của con trong khi con nghe sư phụ tác ý thiền quán sáng nay. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Pháp Nghĩa: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cũng các bậc hiền trí. Nhân duyên buổi sáng hôm nay được sư phụ chia sẻ về hai vị A-la-hán trong thời Đức Phật và cũng được sư phụ thiền quán cho chúng con về cảnh khổ của cuộc đời này có liên quan đến vị A-la-hán tên là Pakkha bị khiếm khuyết. Khi được sư phụ chia sẻ có sự liên hệ cảnh khổ của cuộc đời này về những người chúng sanh được sinh ra không được lành lặn, bị khiếm khuyết các chi, khiếm khuyết các căn. Lúc đó con cũng có liên tưởng đến những người thân và những người xung quanh của mình khi họ không được may mắn sinh ra trong cuộc đời này được lành lặn, đúng như lời sư phụ chia sẻ họ có hai tâm thái, một là sẽ bất cần trong cuộc đời này, có thể làm tất cả những gì mà họ muốn trong sự sân giận, sân tức, họ uất hận vì tại sao họ lại trớ trêu thay không được như bao người, phải mang vác một tấm thân đi đứng không được bình thường.
Một tâm thái thứ hai nữa là họ sẽ có một sự ê dề, xấu hổ, tủi hổ, không được bình thường như bao người, lúc nào họ cũng ẩn ở phía sau, không muốn cho ai biết mình là khiếm khuyết. Con có tác ý theo lời của sư phụ "mỗi người một nỗi khổ, mỗi người một niềm đau, xin cùng nhau thấu hiểu những đau khổ trong nhau", hiện tại mình may mắn mang được mang được thân người đầy đủ lành lặn sáu căn, khi mình nhìn những người như vậy mình hãy thông cảm, thương xót cho người rồi cũng thương xót cho mình bởi vì chắc chắn trong vô lượng vô biên kiếp chúng ta cũng đã trải qua một kiếp sống đầy khổ đau, không chỉ là thân bị khiếm khuyết mà cả tâm cũng bị khiếm khuyết
Thân trống rỗng không ai trong đó
Có gì đâu mà ái, dục, sân
Ái dục sân chi thân trống rống
Để rồi không thoát khỏi trầm luân.
Mình đừng nhìn người ta không lành lặn sáu căn mà mình huênh hoang, ta đây, cống cao ngã mạn. Có gì đâu trong cái thân trống rỗng này mà ái, mà dục, mà sân giận, sân tức để rồi một kết cục thật là bi thảm, đó là không thể thoát khỏi cái vòng trầm luân sanh tử này. Con thấy thật là chưa xót cho chính mình bởi vì tâm địa của chính mình còn rất nhiều si mê, hôn ám, cứ chạy theo hướng ngoại ở bên, không quay về nơi tự thân, thương xót người không có nhiều, hãy thương xót chính mình sẽ còn lặn hụp trong sanh tử khổ đau trầm luân dài dài để rồi nước mắt sẽ chẳng cạn dòng bởi vì chúng ta sẽ còn những dòng lệ tuôn rơi trong vô lượng kiếp nữa nếu không có sự sách tấn, nỗ lực chính mình.
Lúc sư phụ tác ý có nhắc đến con chó, trước đó con cũng có tình cờ quay qua con thấy con chó đang ăn một vật gì ở dưới đất, lúc đó con thương xót cho nó nhưng rồi con quay lại thương xót nó chỉ một phần, con thương xót cho mình, con chó nó ăn cái vật bất tịnh không được sạch, mình ăn những vật sạch nhưng rồi không có sự nhìn nhận, các vị chư thiên ở trên cũng nhìn xuống con cũng đang ăn những vật khi qua cái cổ họng này cũng đầy bất tịnh và tanh hôi. Thương xót cái gì con chó mà không thương xót mình, rồi con thầm xin lỗi nó, xin lỗi con chó vì những ngày qua con có những tâm ý không được hiền thiện, không được tâm từ đối với chúng. Khi sư phụ thuyết giảng nó hay sủa bậy, con trải lòng đối với chính nó, con xin lỗi nó rất là nhiều, dường như con chó nó cảm được sự thành tâm xin lỗi của con mà nó chạy qua liếm đầu bàn chân của con, lúc đó nước mắt con tuôn rơi rất là nhiều, dường như con chó cũng cảm nhận được và chấp nhận lời xin lỗi của con.
Nhìn lại trong quảng thời gian vừa qua con cảm thấy mình thật đáng hổ thẹn khi so sánh đối với những bậc hiền trí hay các bậc thánh Tăng, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào các vị vẫn luôn luôn nỗ lực, tinh tấn để mà vượt qua khỏi cái sự khó khăn trong tu học. Con sẽ nỗ lực hết mình, sẽ cố gắng duy trì những thiện pháp mà sư phụ, bậc đạo sư đã chỉ dạy. Con tri ân trên sư phụ đã có một buổi thiền quán chia sẻ đầy ý nghĩa cho con cùng với đại chúng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con kính bạch trên sư phụ cung kính, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Sáng hôm nay sư phụ đã cho chúng con nghe được hai bài pháp về hai bậc thánh Tăng thời Đức Phật còn tại thế, khi nghe con đã quay về chính mình, con xin tri ơn lên sư phụ rất nhiều sư phụ đã mở nhiều khóa tu giao duyên xuất gia và con đã đủ duyên. Sư phụ đã cho con thay đổi cuộc đời, thay đổi một đời sống mới, ngay trong hiện tại đời sống con đang tập theo người xuất gia, trong những ngày tu học tu tập, đọc những bài kinh của Đức Phật, của bậc đạo sư con càng thấm hơn về cái khổ và trong những buổi thiền quán con nhìn ra được nhiều cái khổ của tất cả, từ con người đến các con vật.
Con cũng vừa mới hay tin người chị con bị bệnh ung thư đang phát tán, nhiều cảnh khổ trong cuộc đời không làm sao mà nói hết, thấy hết được. Một anh hàng xóm vì nghề nghiệp hàn gió đá, đang có một đôi chân lành lặng thì một ngày đã mất đi một đôi chân. Một anh hàng sớm vì cuộc sống gia đình không có lối thoát anh đã thắt cổ tự tử chết, bao nhiêu cuộc khổ trên đời này, trong đó bao nhiêu vô lượng kiếp con đã khổ như vậy và cái tấm gương của con cho con nhìn thực tại là con thấy con chó đang đi, nó mang thân của con chó nhưng nó rất tinh tấn, không bỏ sót một thời khóa tu nào hết, đại chúng đi đâu là nó đi theo đó. Con nhìn thấy mà con thấy thương và muốn thoát ra khỏi cái khổ của cuộc đời, không còn phải trong vòng sanh tử luân hồi nữa. Con nhớ lại bậc đạo sư đã chỉ dạy cho chúng con tu tập năm khiêm hai khéo, nhớ đến bậc đạo sư thì con nhớ lời dạy của ngài là giải thoát trí, nhớ đến bậc đạo sư chỉ dạy thì con nhớ ngài chỉ cho chúng con tu tập tứ vô lượng tâm và con cũng xin tri ân lên sư phụ rất nhiều. Chính vì sư phụ đã mở khóa tu gieo duyên xuất gia, mặc dù con cũng mới thôi nhưng con cảm nhận được rất nhiều đời sống của người xuất gia phải tu tập như thế nào và cũng được thầy Thiện Huệ chỉ dạy rất rõ ràng cho chúng con trong những ngày tu tập vừa qua, chính những ngày gieo duyên này và khi con đọc "Lòng tin bất động" trong Linh Quy Pháp Ấn chính bản thân con cũng có lòng tin bất động đối với Đức Phật, đối với pháp, đối với chúng Tăng, đối với thánh giới và con đem những lời dạy đó về nhà và con cũng đã khuyên được những chị của con tuổi cũng đã lớn, khóa xuất gia giao duyên vừa rồi hai chị con cũng đã về gieo duyên.
Vì trong cuộc sống thì các chị phải về mô sinh cuộc sống của gia đình nhưng con cũng rất vui vì không có cái gì bằng mình hướng những người thân, những người có duyên với mình về với chính pháp để tu tập, chính nơi đây mới giải thoát được mọi khổ đau của trong vòng sanh tử luân hồi. Con xin chân thành cảm ơn sư phụ rất nhiều.
Sư Phụ:
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Tỳ Kheo Thời Đức Phật 6
La Hán Nông Dân
Thiền Quán Hiểu & Thương
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vị La Hán nông dân PAGEREF _Toc204010407 \h 1
II. Vị La Hán Sangmoda PAGEREF _Toc204010408 \h 7
III. Trình pháp PAGEREF _Toc204010409 \h 11
I. Vị La Hán nông dân
Kính bạch chư tôn thiền đức và chư vị hiền trí, sáng nay chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm về cuộc đời của chư vị Tỳ-kheo thời Đức Phật.
"Ngài sanh ở tại một làng nhỏ, gần Sàvatthi, trong một gia đình nghèo khó. Lớn lên, ngài tự nuôi sống giữa đồng ruộng, với cái liềm, cái cuốc và cái cày" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIII). Sumangala (Thera. 7))
Khi nói đến đây thì mình phải đặt bản thân vào đời sống của những người bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Ngày xưa con ở chùa sư phụ dưới quê thì xung quanh là đồng ruộng, chùa sư phụ cũng đi làm ruộng, tay chân của thầy chai sần hết, móng chân dính phèn rất thô, to, bự, cứng, tay cũng vậy. Sư phụ đi làm bất kể ngày đêm, cách đây ba mươi năm thì kinh tế cũng còn khó khăn mà chùa thì ở trong sâu, nhà con thì ở chợ, sau này dời về không phải chợ nhưng thời gian sau cái chợ dời về ngay trước nhà nữa. Tuy vậy con đi tu thì đi vào vùng sâu, vùng quê, lội sình bùn trơn trợt, đầu tiên con vào chùa vẽ những bức tranh cuộc đời Đức Phật, từ nhỏ con có năng khiếu vẽ, đặc biệt là vẽ Phật, từ lúc mười tuổi đã vẽ Phật cho người ta thờ. Khi vào chùa thì con được bà cụ ở sát bên nhà là mẹ của sư phụ chỉ dẫn vào, cũng không biết Phật pháp gì hết, hồi nhỏ chỉ đọc mấy cuốn sư vải bán khoái, cụ Thanh Sĩ khuyến tu, thất ngôn tứ tuyệt hoặc là thơ lục bát.
Bây giờ ông Năm đó vẫn còn sống, ông đã chín mươi tuổi rồi, ông cũng ở gần chùa nên ông thường tới phụ với sư phụ con. Da dẻ ông đen đúa, xấu xí, một người nông dân chân lấm tay bùn, xung quanh có những ông cụ già bảy mươi tuổi vẫn không biết Sài Gòn là gì, "thầy ơi đâu có tiền mà đi Sài Gòn". Hôm đó một giờ rưỡi khuya sư phụ gõ cửa kêu làm con giật mình không biết có chuyện gì, sư phụ kêu con đi theo thầy để chỉ cho biết, con đi ra thì té ạch ạch vì đi trên bờ đê bị xì nước nên nước tràn vào, những cái lỗ đó có khi mình cho nước vô, có khi mình bít lại. Cái đêm đó là một lần duy nhất con đi ra ruộng làm lúc một giờ khuya nên nhớ mãi không quên, con đi nhét những cái bọng cho nước vô nước ra, lúc về thì lấy chanh chà chân tay mấy lần vì dơ, sình đầy chân vì mình ở chợ, nhìn lại thấy thương thầy vì ngày nào thầy cũng đi làm, còn mình lâu lâu mới đi một lần.
Ấn tượng là vì ra ruộng lúc một hai giờ đêm, mình biết thầy rất cực khổ, vất vả cho nên con ở với sư phụ có ba tháng là con thuộc hết bốn bộ Tỳ Ni, Sa-di, Oai Nghi, Cảnh Sách, thuộc lòng âm nghĩa. Thầy kêu phải ráng học, thầy không cho làm gì hết, thầy kêu học đi, sáu tháng thì con đi lên Sài Gòn, chuyện sau đó thì tính sau. Mình biết rằng những người làm ruộng cực khổ lắm, nhọc nhằn, vất vả lắm, tay lấm chân bùn, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, suốt ngày cặm cụi cái mặt xuống đất, còn cái lưng thì hướng lên trời, hết gieo mạ, cấy mạ, tới làm cỏ, gặt lúa nên cực khổ lắm. Cho nên ngài Sumangala là một nông dân, nói đến đây mình thấy một gia đình nghèo khó, khi ngài lớn lên tự sống giữa đồng ruộng mênh mông, bao la với cái liềm, cái cuốc và cái cày.
"Một hôm vua Pasenadi cúng dường đức Phật với chư Tăng và ngài đi đến, đem theo sữa và bơ cùng với các người làm công khác. Khi thấy các Tăng, Ni được cung kính cúng dường, ngài nghĩ các Tăng, Ni này sống trong các nhà cửa được che kín và mặc các y phục tốt đẹp và ngài xin xuất gia để hưởng những tiện nghi này" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIII). Sumangala (Thera. 7))
Ở đây chỉ nói vắn tắt nên không biết là ngài đem theo sữa bơ có thể là đi cúng, hồi xưa không có cúng tiền chỉ cúng thức ăn thôi cho nên đem lại. Ngài thấy nhà vua còn đi cúng nên mình cũng đi tạo cái phước, lại nhìn xem thấy chư Tăng Ni được người ta cung kính, quý trọng quá vậy, cuộc sống tốt quá nên ngài nghĩ bây giờ mình bỏ cái mảnh ruộng này đi, bỏ cái liềm, cái cuốc, cái cài này để mình đi tu.
"Một Trưởng lão Tăng vì lòng từ chấp nhận ngài được xuất gia, cho ngài một đề tài tu hành và bảo ngài đi vào rừng để tu tập. Nhưng trong hạnh độc cư, ngài cảm thấy buồn bã chán nản và đi về lại làng của mình" (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIII). Sumangala (Thera. 7))
Một vị trưởng lão tăng, một thầy lớn thấy ngài như vậy nên thương, tội nghiệp, xót thương cho nên cho ngài đi xuất gia, cho ngài tu một cái đề tài để ngài thiền quán và bảo ngài đi vô rừng để tu tập, nhưng trong hạnh độc cư đó ngài cảm thấy buồn bã, chán nản rồi đi về lại làng của. Chỗ này là cái chỗ là khó, mình thấy vậy đó, mình tưởng đâu vô thất khỏe nha nhưng vô rồi biết, những cái dục lậu nó quậy mình, những hữu lậu, vô mình lậu quậy mình, mình tưởng "sướng quá ha, có người xách cơm cho ăn, tối ngày ở không, không làm gì hết, sướng quá, mấy thầy mấy cô sướng quá" nhưng vô đó rồi biết. Có nhiều người bể thất, mà không phải nhỏ, đó là người lớn, bể thất tức là thí dụ mình dự định là bốn mươi chín ngày, hoặc dự định thời gian ba tháng nhưng mới có hai ba tuần là đi ra thì gọi là bể thất.
Vô đó nó quậy mình tại vì khi vô đó mình không còn ở đối duyên xúc cảnh ở bên ngoài, mình chỉ đối duyên với tâm mình thì lúc đó có cái gì trong tâm trào ra hết, bao nhiêu những hình bóng, bao nhiêu những cảm giác, bao nhiêu những suy nghĩ nó ám ảnh trong mình, những bộ phim chiếu lại hoài mà mình ngồi thiền đối diện vô trong đó. Không lẽ ngủ hoài? Vô cho ngủ dữ lắm một hai ngày rồi cái mặt sưng ra rồi cũng chán ngủ, bắt đầu tu thì lúc này bắt đầu nó trào ra. Đối diện với chí mình là cái khó nhất, đi ra làm này, làm kia, làm nọ suốt ngày vậy chứ dễ, mệt vô than "Tôi làm mệt quá", bận rộn vậy mà khoái, thích, thấy công chuyện nhìn giống như cá gặp nước, chim sổ lồng vậy đó, vui lắm, khoái lắm, thích lắm. Có một số vị mới tu xin con nhập thất, con nói khoan, biết cái gì đâu mà nhập thất, pháp hành phải nắm cho vững, có sự nhiếp phục tương đối thì Khi vào trong đó thì tất cả những hình bóng của quá khứ như một cái tập phim hiển hiện lại, bao nhiêu những cái cảm xúc, cảm giác, cảm thọ, bao nhiêu những cái suy nghĩ, nghĩ tưởng mà nó tích tụ mấy chục năm, những cái gì mà nó đậm nhất, nó ấn tượng nhất, cái nghiệp lực mạnh nhất, những cái tập khí bùng lên, nó bốc lên quậy mình.
Như vậy ngài đi vô trong rừng thì thấy ngán quá, chán quá, buồn bã, chán nản nên quay về làng mình, trở về làng mình.
"Khi về, ngài thấy các dân quê cày bừa với áo quần nhớp nhúa, đầy bụi bặm và bị nóng bức. Thấy vậy, ngài trở lại tu tập, đi đến dưới gốc cây, tu tập thiền định, sống cô độc, phát triển thiền quán. Cuối cùng, ngài chứng được quả A-la-hán." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIII). Sumangala (Thera. 7))
Ở Ấn Độ nóng khủng khiếp, kinh hoàng lắm, bốn mươi mấy, năm chục độ là bình thường, giống như lửa thêu, lửa cháy, lửa đốt, rồi quần áo thì sình bùng, nhơ nhớp, đầy bụi bặm rồi nóng bức như vậy, nhìn thấy cái liềm, cái cuốc, cái cày nữa chắc chết rồi, ngán quá, ớn quá, thôi về tu, trở vô rừng lại. Nhiều khi có mấy chú thối thất, thối đọa, hoàn tục, không dám điện thoại con khi nói chuyện, con nói không sao đâu, nghiệp mình thì mình chịu nhưng mà nhớ quay lại nha, tranh thủ mau mau, hồi xưa có những vị Tăng đi ra đời rồi quay vô lại sáu bảy lần, cuối cùng cũng chứng thánh quả. Đức Phật tuyệt vời lắm, con nói là thấy vậy đó chứ vài tháng, một năm là con cũng chán, con không chán thì người ta cũng chán con trước, lúc đó nhớ sư phụ và tất cả quý thầy cô dang cánh tay rộng quay về, đừng đi luôn là được, miễn sao mình đừng có mất cái ý chí giác ngộ, tức là cái bồ đề tâm của mình phải nhất định tiến về phía trước, dù cho có gục ngã xuống rồi cũng bò lên, bò không được thì lết cũng phải tiến về phía trước, đừng có quay trở lại mà phải tiến về phía trước, dầu có té, dầu có bị thương, dầu có bò lết cũng phải tiến lên rồi mình cũng sẽ tới, có thể chậm hơn người ta chút thôi nhưng cũng tới.
Phải bám cho chặt, nắm cho chắc, giữ cho vững, bất lay động, bất thối chuyển bất thối lui, bất cứ chuyện gì xảy ra mình cũng nắm vững cái pháp "bây giờ tôi chết tôi cũng nói ngũ uẩn là khổ chứ tôi không nói ngũ uẩn là sướng", "tôi chết thì tôi cũng nói dục là hố than hừng", "tôi chết thì tôi cũng nói cái bản ngã này là rắn độc chứ tôi không nói khác", cứ giữ vững cái đó rồi mình cứ tiến tới, mình lết, mình trường tới, rồi mình bò tới rồi mình cũng phải đi tới, rồi mình cũng phải tới chỗ chứ không thể không tới. Thành ra ngài thấy quay trở lại cái cảnh bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, rồi nắng bốn mươi, năm mươi độ C, đầu bù tóc rối, mồ hôi nhễ nhại, quần áo lem luốc như vậy rồi làm sao, chắc chết thôi, bây giờ chán quá rồi nên quay về rừng tu.
Ở đây cũng có mấy người xuống núi thăm nhà, dự định về hai tuần nhưng mới một tuần đã quay về núi, về bị lửa táp, cháy xém mình cho nên chạy lẹ lẹ chứ nếu không là cháy. Lúc xưa con đi tu là không có về nhà, chuyện gì cực kỳ quan trọng lắm, cần thiết lắm mới về vì đó là nhà lửa, mình quay lại là quay về chỗ hỏa hoạn, chỗ hầm lửa, hố than, hừng, mà nhà biết tu còn đỡ, nhà không biết tu về còn mệt nữa, bao nhiêu cái thứ trong đó cho nên khi về ngài thấy dân quê cày bừa quần áo nhơ nhớp, đầy bụi bặm, bị nóng bức, thấy vậy ngài mới trở lại tu tập, đi đến dưới gốc cây tu tập thiền định, sống cô độc, triển khai thiền quán. Chắc là ngài quán mấy cái cảnh khổ ngài đã thấy, ngài đã chứng kiến, ngài đã từng trải qua cộng với cái đề mục mà bậc trưởng lão, sư phụ ngài cho thì ngay chỗ đó cuối cùng, cái chữ cuối cùng là từ đó phải trải qua biết bao nhiêu những sự chiến đấu bên trong, bên ngoài, những cái dục, những cái ái, những cái tham ở bên trong, cuối cùng chứng quả A-la-hán. Tới đây là xong rồi, khổ một lần nhưng được an lạc vĩnh hằng.
"Ðể nói lên sự giải thoát khỏi nỗi khổ cuộc đời, ngài thốt lên bài kệ này:
Khéo thoát! Ôi khéo thoát!
Thật sự ta khéo thoát,
Thoát ba sự cong queo,
Ta thoát cong với liềm,
Ta thoát cột với cày,
Ta thoát cực với cuốc,
Nếu có đây, có đây,
Thật đủ chán, đủ chán,
Hỡi Sumangala!
Hỡi Sumangala!
Hãy thiền, hãy thiền định!
Hỡi Sumangala!
Hãy sống không phóng dật." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Năm, (XLIII). Sumangala (Thera. 7))
Ngài là nông dân nên ngài nói chuyện chân chất lắm, bình dị lắm, không có văn chương gì hết, tự khen mình sướng quá, ngươi thiệt là giỏi nha, thiệt là hay, khéo thoát, ôi khéo thoát, thật sự ta khéo thoát, thoát ra một cách hết sức là khéo léo, hết sức là ngoạn mục, hết sức là tuyệt vời cho sự thoát ra này. Thoát khỏi cái gì? Thoát khỏi ba sự cong vẹo, thứ nhất là cái liềm, thứ hai là cái cày, thứ ba là cái cuốc, đó là nói biểu trưng cũng là nói cái nghĩa đen, còn sâu hơn nữa là thoát ra những cái dục ái, tham, sân, si, vô minh trong con người của mình. Đầu tiên đơn giản nhất là thoát khỏi đời sống khổ sở, nhọc nhằn, vất quả, cực nhọc của một người nông dân, người làm ruộng, kế đó là thoát ra được những cái cấu nhiễm của tâm cho nên tự tán thưởng mình "Sao mình giỏi vậy ta, sao chỗ này mình hay quá vậy ta, sao mình thông minh, chỗ này mình thoát ra hay, ngoạn mục vậy, tuyệt vời quá vậy".
Nếu có đây, có đây,
Thật đủ chán, đủ chán
Có đây, có đây có ba cái cong vẹo đó, có liềm, có cày, có cuốc là chán quá chán, sanh ra rồi đi làm vậy đó mà sao mình không chán. Mấy người có tóc này chán chưa? Cứ sáng mở mắt ra, rồi đi làm, rồi ăn, chiều tối về, ngày nào cũng làm hoài vậy đó mà không có chán, rồi cứ tham, sân, si, hơn thua làm hoài. Ngài nói nếu có mấy món đồ cong vẹo đó là chán lắm, ngài là nông dân nên nói đơn giản, chân chất vậy.
Hỡi Sumangala!
Hỡi Sumangala!
Hãy thiền, hãy thiền định!
Hỡi Sumangala!
Hãy sống không phóng dật.
Đây chính là như lý tác ý, tự kêu mình hãy thiền định sống không phóng dật.
Bằng tất cả tấm lòng thành kính chúng con đảnh lễ tôn giả Sumangala.
Bằng tất cả tấm lòng thành kính chúng con đảnh lễ tôn giả Sumangala.
Bằng tất cả tấm lòng thành kính chúng con đảnh lễ tôn giả Sumangala, bậc thấy khổ, diệt khổ, chứng đắc Niết-bàn tối thượng.
Chúng ta học các cái chư vị thánh Tăng để mình thấy được tất cả các ngành nghề trong xã hội, bất cứ là hạng người nào gặp được chánh pháp và nỗ lực hành trì đều có thể thành tựu được. Đó là chỗ đặc biệt của chánh pháp mà Đức Phật nói tất cả dòng sông khi trở về biển chỉ có một vị thôi, đó là vị mặn, giáo pháp của ta chỉ có một vị thôi, là vị giải thoát, là ý nghĩa của câu nói đó.
"Ví như, này Pahàràda, biển lớn chỉ có một vị mặn. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật cũng chỉ có một vị là vị giải thoát" (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX). A-Tu-La Pahàràda)
Thành ra tùy nhân, tùy duyên, tùy căn cơ cái nghiệp cũng như sự nỗ lực, tinh cần của các vị đó, nhiều khi người ta không hiểu thì cái này có nhiều khía cạnh để mình nhìn vấn đề trong sự tu lắm. Ngài đâu có cần học nhiều đâu mà tại sao ngài vẫn chứng thánh quả? Tại sao mình học nhiều mà mình không chứng? Mình chưa có nỗ lực tu tập, cái nhân, cái duyên của mình khác, nếu mình nói giống như ngài khỏi học gì hết thì nó là tai họa, hoặc có những người không biết nói rằng ngài đâu có hóa độ ai đâu thì người ta lại nghĩ đây là Tiểu thừa. Cái tâm giải thoát của ngài với cái tâm giải thoát ngài Xá-lợi-phất bằng nhau, không hơn không kém và có rất nhiều vị thánh A-la-hán cũng không có được ghi trong này nữa, chứ không phải là ai cũng được ghi đâu vì có nhiều lắm, vậy thì không được ghi thì mấy ngài đó không phải A-la-hán hay sao.
Cũng như trên báo mình thấy tin tức như vậy thì đâu phải chỉ có bao nhiêu đó đâu, đâu phải trên thế gian này có mấy tờ báo đó đâu, có rất là nhiều trăm ngàn tin nhưng không có ghi, người ta không biết hoặc người ta biết a cũng không có đưa lên. Cũng vậy, cái tâm giải của các vị thánh là như nhau nhưng cái nhân, cái duyên, cái phước, cái đức, cái bồ đề quyến thuộc khác nhau chứ không phải ngài cái tâm nhỏ hẹp không muốn độ chúng sanh, nếu có người nào tới gặp ngài mà có duyên thì ngài sẽ độ nhưng mà nhiều khi tới gặp ngài mà không có duyên ngài cũng không độ được rồi mình nói người đó là Tiểu Thừa, thành ra mình không có hiểu, người sau này không có hiểu.
Mình muốn độ người đó, muốn giúp người đó thứ nhất mình là một người ít nhiều phải thành tựu rồi, còn ở đây là thành tựu tối thượng. Tuy là thành tựu tối thượng như vậy nhưng mà không phải muốn độ ai là độ, các ngài không có muốn nữa, đâu còn dục nữa nên không có muốn, cái người đó muốn cầu pháp, người đó muốn giải thoát thì tới gặp ngài là trúng ngay rồi, trúng tủ rồi, trúng mánh rồi, trúng số độc đắc rồi, trúng pháp rồi, trúng thầy rồi, trúng đạo rồi, đắc đạo chứ đâu phải là ngài có ý a muốn đi độ ai. Các ngài tới đó là cái tâm hoàn toàn tịch tịnh, tâm giải thoát, tuệ giải thoát, không còn muốn gì nữa hết, giống như cái gương trong sáng không có một miếng tì vết, bụi bặm gì hết, người nào đen thì hiện đen, trắng tới hiện trắng, đỏ tới hiện đỏ. Những người này đến mà mong cầu pháp thì lúc đó các ngài bằng tất cả tấm lòng truyền pháp nếu người đó chịu lắng nghe.
Đầu tiên là phải có nhân duyên lắng nghe, phải chịu nghe, đó là bước đầu tiên rồi kế đó là tư duy, nỗ lực tu tập, chịu sự giáo huấn, rèn luyện, hướng dẫn. Ở trong đây viết đơn giản vậy chứ không có đơn giản, nhiều lắm, phải được sư phụ giảng dạy, chỉ dẫn, hướng dẫn nhiều. Thời đó chưa có văn bản nữa cho nên người ta nói rất là đơn giản để nhớ thôi, như vậy để mình thấy được nhiều phương diện lắm.
II. Vị La Hán Sangmoda
"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh thuộc dòng họ Thích-ca, thành Devadahi, trong gia đình vua chúa Thích-ca và được gọi là thanh niên Sangmoda. Nhưng khi còn nhỏ, ngài bị bệnh tê thấp, có khi bước đi như người bị què, vì vậy được tên là Pakkha (vị què quặt) và giữ lại tên ấy." (Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ (tiếp theo), Phẩm Bảy, (LXIII). Pakkha (Thera. 10))
Ở trong mình cũng có người bị chân bệnh nên nghe kỹ cái bài này, người ta gọi ngài là cái vị què quặc, đây là cái tên gần gũi, tên thông tục, ví dụ trên mình người ta không gọi là Quán Chiếu Đường mà thường gọi là Cổng Trời, gọi là Cổng Trời lâu ngày nên quen luôn, đến khi gọi là Quán Chiếu Đường lại không biết. Hoặc là cái chùa đó tên hay lắm mà không nhớ, chỉ nhớ chùa bún riêu, bánh canh, bánh xèo, cái tên tục là vậy đó, nhiều khi mình ta kêu tên cúng cơm, ví dụ kêu ông Năm dễ nhớ, còn kêu Hồ Ngọc Long không ai biết hết, nói không ai biết hết, gọi thầy Pháp An nhiều khi ít người biết nhưng mà kêu ông Năm thì biết, đó gọi là tên cúng cơm, tên tục, cái tên mà nó gần gũi, ai cũng nhớ dễ nhớ. Cũng vậy, cái tên của ngài người ta không nhớ, người ta thấy ngài đi khập khiễng thì kêu "què", "chú què" rồi giữ lại cái tên đó luôn.
Bây giờ mình đặt mình vào người què, nhiều khi còn nhỏ xíu con cũng để ý nhìn thấy những cái vị có tật đi khập khiễng, ở núi mình cũng có thì có hai trường hợp, nói gọn hai trường hợp. Một trường hợp người ta tủi hổ lắm, người ta tự ti, người ta mặc cảm, người ta xấu hổ và người ta sẽ né tránh khi có đông người, người ta sẽ không đi trước mặt khi có người nhìn thấy, nhất là đông thì người ta sẽ ngồi một chỗ khuất chờ mấy người đó đi hết người ta mới dám đi, bởi vì khi người ta đi ngang vậy thì những người khác nhìn bằng cái ánh mắt khinh khi, khinh thị, khinh thường hoặc là những người nhìn bằng mắt đáng thương, thương hại, tội nghiệp. Người ta không muốn, ai trên đời này sanh ra cũng muốn mình được bình thường phải không? Đâu muốn mình bất thường nhưng vì cái nghiệp quả rơi vào những cái cảnh như vậy và người ta đau khổ lắm, chính vì vậy mình phải có tình thương đối với người bệnh tật, nghèo khổ, cái này rất quan trọng là cái tâm từ.
Nói ra là trái tim muốn quặn thắt rồi, đau lòng, nhói tim, mình nhìn những người khổ mình thương nhiều, mình nhìn những người tật nguyền phải đặt mình vô đời sống của họ, mình thấy những người bất thường từ thể xác cho đến tâm trạng, tâm lý đúng ra mình phải hiểu, mình thương người ta, mình không có nên đem ra bêu riếu, bêu xấu, khinh khi, như vậy là tổn đức lắm. Người ta sanh ra một con người đã khổ rồi, bây giờ mang lên thêm một cái tật nguyền mà có những người đem những cái tật nguyện của người ta ra bêu riếu, nói xấu, khinh khi, chế giễu, khinh thường, cười chê, sỉ nhục người ta cho nên từ nhỏ khi con còn bảy tám tuổi, nhiều khi đang chơi đùa mà con thấy mấy bà già bảy mươi tuổi mà bưng cái mâm đi bán bánh bò, bánh tiêu, con không có đói bụng nhưng mà cũng ráng chạy lại mua mấy miếng. Hay là con gặp mấy ông cụ già mù bán vé số con cũng không có mong trúng mà con mua mấy tấm có khi cho mà người ta không nhận, người ta nói "tôi đi bán chứ tôi không có đi xin".
Khi người ta nói một cái câu tự trọng mình thấy mình thương, lòng mình quặn thắt cho nên tại sao con làm cái bài "Ta đã về đây" mà có nhiều khí cạnh như vậy tại vì con thật sự thấm thía nỗi khổ của thế gian này, cho nên khi đọc cái bài bậc đạo sư "mỗi người một nỗi khổ" là con không có cầm được, "mỗi loài một niềm đau, xin cùng nhau thấu hiểu những đau khổ trong nhau". Người ta què quặt, người ta bò lết, người ta câm ngọng, đui điếc, mù lòa về thể chất hay là về tinh thần, về những cái khuynh hướng tâm lý, trong tình cảm cũng vậy, người ta có những cái sự lệch lạc hay là thể xác người ta có tật nguyền, hay là tinh thần người ta bị bất ổn thì mình thương lắm vì mình thấy phản chiếu trong đó là những đời sống của mình, mình đã và mình sẽ.
Tại sao mình đem những cái đau khổ của người ta ra mình châm biếm, mình khinh khi, mình hủy nhục, mình cười đùa trên sự đau khổ của người khác. Mình có biết là những người đó họ khổ đến mức độ nào không? Nhiều khi họ muốn kết thúc sự sống, họ không muốn hiện hữu với một cái thân xác như vậy, họ không muốn tồn tại với những cái cảm giác như vậy, họ sẽ đau khổ lắm. Khi có một cái con mắt sáng, có một trái tim lớn, có một tình thương rộng mình mới hiểu được nỗi khổ của chúng sanh, đó cũng là tâm từ, mình sẽ nhìn thấy được khi nỗi khổ của mình, mình thấm thía được, thấm đẫm được, thấm đượm, thấm nhuần, thẩm thấu được rồi mình tập nhìn mình sẽ thấy được tất cả nỗi khổ của chúng sinh.
Có những người thấy người ta tật nguyền, mù lòa thì chế giễu, thậm chí họ đạp cho té ngã rồi cười, những người thanh thiếu niên trẻ tuổi đúng là ngu lâu dốt bền, vô minh vững chắc như vậy. Mình thấy khổ, mình thấm khổ, cảm thọ trong người mình sẽ mềm ra, nó nhũng ra, nó chảy ra, nó hòa tan, không còn thấy có mình người nữa mà chỉ thấy những đống khổ đang di động, những đống dục tham, bản ngã hoạt động, nó sâu xé, nó ăn nuốt, nó ganh tỵ, nó đố kỵ, nó hơn thua, không thấy có ai hết. Phải thấm thía, thật là thấm thía, thấm thía, thấm thía cái khổ này, chúng ta mới thấy được hai vị, một vị là làm ruộng, nông dân, một người què như vậy nhìn hết cái nỗi khổ trên thế giới này thì lòng thương của mình rộng bao nhiêu, lớn bao nhiêu, tâm mình phải quảng đại, phải rộng lớn, phải tu cái tâm vô lượng, tâm rộng lớn, tâm như trời với đất.
Cái thái cực thứ hai của người tật nguyền là họ nhiều oán hận, phương diện thứ nhất là họ tự ti, mặc cảm, xấu hổ, nhục nhã và một phương diện thứ hai là họ sẽ oán người hận đời, trách trời, họ buông tay luôn cho rơi tự do trên cuộc đời này, họ bất chấp tất cả tội lỗi, ác nghiệp. Những cái người mà họ khổ đau thường rơi vô hai cái thái cực như vậy, năm giờ mấy sáng con cùng với các thầy, các chú ở trên núi này xuống chùa Bửu Liên đi thiền hành ra bờ sông Thanh Đa, lúc đó con dẫn các vị đi lên cây cầu thì thấy có một người nằm lạnh lẽo, không có chăn đắp, con mới nói với một chú xuất gia rồi lại hỏi thăm, có gì mình cho người ta tiền, vị xuất gia này đi tới thì người này móc con dao ra thì con nói thôi mình đi. Mới gần đây con và chú Trí Nhân buổi sáng sớm đi thiền hành ra sông cũng ngay chỗ đó ở phía dưới, hồi nãy là ở trên cầu, rồi nhìn thấy sạt lở phải căng sợ dây ngang, lòng mình xót xa, trải tình thương đến mọi người. Con mới hỏi một chú ngồi đó uống cafe chỗ này bị sạt lâu chưa thì ông ấy chửi mình, ý nói mấy ông tu sung sướng, biết gì khổ của người ta, con mới trải tâm từ rộng lớn với chú đó, với những người dân đang ngồi đó, với vùng trời đất ở đó.
Nước mắt chảy ngược vào trong, con nói Trí Nhân "Thôi mình đi về, người ta khổ ta nhiều oán hận lắm. Mình phải tập thương, đừng giận họ, đừng trách họ, Họ đang đau khổ lắm". Những người thân thương trong gia đình của mình cũng vậy, cha mẹ, anh em, vợ chồng hay là thầy trò, huynh đệ rất là dễ giận cá chém thớt. Họ đang khổ đau mà ai tới là họ sẽ trút cái đau khổ đó lên đầu người khác, họ bung ra những cái cảm thọ bức xúc, dồn nén, tức tưởi, oán hận, hận thù, hờn trách, oán trách, mình phải hiểu và thương họ thật nhiều. Con bị biết nhiêu người chửi mắng và chính những người mà mình giúp cho họ, lúc đầu con phải tập thương, lần lần tới bây giờ thương bình thường lắm, không còn cố gắng thương nữa, không có khó khăn, không có mệt nhọc, không có phí sức với cái tâm từ, nhiều khi mình đem hết cả tấm lòng, cả một sự để tâm từ cái nhỏ nhất giúp cho họ thành đạt, thành tụ, họ quay ngược trở lại chỉa mũi dùi vào mình, họ oán trách, họ hận thù lây lan qua cả cha mẹ mình.
Nhưng con hiểu các vị đó khổ lắm, họ cần tình thương, họ đang đau khổ lắm, họ không nhìn nhận được phương hướng, làm sao mình trách người ta được, mà có ai với ai mà trách ai, làm gì có ai, chỉ có vô minh và tham ái, chỉ có sự vận hành của nghiệp và quả dị thục của nghiệp, làm gì có ai mà trách ai, mà chửi ai, mà hận ai, mà ghét ai.
Khi cái khổ thấm đẫm vào tim, vào tủy, vào não mình, tất cả những hình này sẽ tan biến, tất cả những cái tên sẽ được cục tẩy của chánh khiến xóa nhòa hết trong tâm mình. Không có người, không có tên, danh tướng sẽ được tiêu dung trong cái chánh tri kiến của mình, đầy ấp thân tâm mình là một đống khổ và một tình thương dào dạt, ngập tràn, cùng khắp vô lượng vô biên. Khổ và thương có mặt trong tâm, tồn tại trong tâm, hiện hữu tâm, cái hai chữ, chữ khổ lớn hơn trái đất này và một chữ thương thấm đẫm, thấm thía, thấm nhuần và thấm gội từng lỗ chân lông, từng cọng tóc, từng làn da, thớ thịt, ngấm vào trong xương tuỷ của mình. Đây là khổ, khổ là đây, làm sao mình nở lòng nào trong cái khổ lại tiếp tục làm cho khổ thêm nữa, chỉ có thương, thương và thương.
III. Trình pháp
Mời chư tôn và chư hiền chia sẻ cảm thọ thiền quán
Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin kính đảnh lễ sư phụ, con xin kính đảnh lễ quý Tăng Ni, thầy, sư cô và các bậc hiền trí. Trước sư phụ cho con nói tiếng Anh trước xong rồi con sẽ tự cố gắng thông dịch lại tiếng Việt.
Sư Phụ: Cô nói tiếng Việt luôn đi, ráng nói tiếng Việt luôn đi.
Sư cô 1: Dạ thì theo cái rõ biết của con trong mấy câu chuyện của sư phụ là sư phụ nói người làm cực nhọc xã hội….
Sư Phụ: Con để quý thầy, quý sư cô chia sẻ trước đi rồi con từ từ chia sẻ cũng được, để cho quý chư tôn đức chia sẻ trước.
Sư cô 2: Con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-Hán Chánh Đẳng Giác, con xin đem hết đòng thành kính đánh lễ giác linh bậc đạo sư, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ sư phụ bậc ân sư của chúng, con xin đem hết lòng thành kính đảnh lễ quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí, con kính bạch sư phụ, con xin kính bạch quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí, con xin phép chia sẻ cảm thọ của con trong buổi sư phụ giảng pháp và thiền quán sáng nay. Khi nghe sư phụ giảng về đức hạnh của hai bậc tôn giả, một bậc sinh ra trong hoàn cảnh nghèo khó, vì nhàm chán cái nghèo khó đã vươn lên để chứng quả A-la-hán và một bậc bị bệnh tật, bị khiếm khuyết để trong lòng con thấy, cảm nhận được sự khổ.
Bản thân con cũng sinh ra ở nơi biên địa hạ tiện, nghèo khổ nên con thấm, rất là thấm cái sự khổ, từ nhỏ đến lớn con đã phải trải qua cùng với những hoàn cảnh, những trường hợp mà con gặp thì con thấy rất là khổ. Những em bé còn rất nhỏ đã bị những căn bệnh ung thư quái ác mà các em đó rất là hồn nhiên, ngây thơ, không biết là mạng sống của các em đấy không còn được bao lâu nữa đến các cụ già vô gia cư, sống lang thang ở các thành phố lớn con đã đừng gặp tiếp xúc rất là nhiều. Chia sẻ với hoàn cảnh của các cụ thì khổ, rất khổ, có nhà có cửa, có đầy đủ tài sản nhưng mà vì lòng tham của những người con mà bị đuổi ra đường, tám chín chục tuổi, tóc bạc phơ rồi vẫn phải đi nhặt rác, lượm vê chai bán kiếm đồng tiền mua được miếng ăn, sinh sống cầm cự qua ngày. Những cụ đó thì lâu lâu sẽ có những tin tức họ chết ở bên lề đường.
Thực sự rất là khổ, những thanh tưởng là những lời của những người nghèo khổ đó, sắc tưởng con tưởng đến vùng cao, những nơi mà con được đi thực sự đủ mọi tầng lớp, đủ mọi hoàn cảnh. Những mùa đông lạnh giá ở vùng Tây Bắc rất là lạnh, có khi xuống 0 độ C, người già và trẻ em không chịu được vì lạnh, vì không có đủ áo ấm chăn, lương thực nên họ đã không vượt qua được cái lạnh đó. Trên đường đi chúng con mặc rất là nhiều áo ấm nhưng mà dừng xe lại có những em bé không có một bộ đồ nào ở trên người. Thực sự thấy xót xa, thương cho những hoàn cảnh của họ mà cũng thương cho chính bản thân mình, con cũng rất biết ơn vì con đã được trải qua, được tiếp xúc với những hoàn cảnh khổ tận cùng như thế nên con có ý chí muốn thoát khỏi cái cảnh khổ đó. Trải qua rất nhiều thì đến hiện tại đại con đã được có mặt ở Linh Quy Pháp Ấn này và được tu tập trên con đường thoát khỏi cảnh khổ. Con rất là biết ơn, con xin tri ân trên tất cả. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô Huệ Lý: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con chân thành đảnh lễ trên giác linh bậc đạo sư, con chân thành đảnh lễ trên sư phụ, con chân thành đảnh lễ trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng toàn thể chư vị hiền thiện. Con kính bạch trên sư phụ, sáng nay sư phụ cho chúng con thiền quán về hai bậc thánh Tăng, con thấy tấm gương của quý ngài con cũng tự thấy mình thật xấu hổ, quý ngài đã vượt qua những cái khó khăn từ một người nông dân mà trở thành một bậc thánh quả, chứng đạt thánh quả và một ngài tật nguyền nhưng cũng được đạt đến chứng quả. Bản thân con tuy cũng có bệnh nhưng bệnh thì cũng đơn giản mà con chưa cố gắng hết sức mình để lo tu tập, lo bào gọt những cái cấu uế, con cũng tự thấy xấu hổ và con cũng được nghe hai tấm gương của ngài, con cũng có tác ý từ nay mình phải cố gắng vì vô thường không biết đến với mình lúc nào. Nếu mình chưa làm tròn được bổn phận của người tu học thì thật là tàm quý, thật là xấu hổ.
Khi sư phụ cho thiền quán về những góc độ cái khổ của cuộc đời vì vô minh, vì si mê, vì bản ngã, vì cái tâm tự ti, những người sư phụ muốn giúp họ nhưng vì những cái vô minh, ngu si, bản ngã của họ mà họ không nhận được tình thương từ sư phụ, họ không nhận được từ tâm từ sư phụ. Họ phải đau khổ, trên cuộc đời này rất nhiều cái đau khổ, từ bản thân mình ngu si, vô minh, vì hoàn cảnh, vì cuộc sống, vì môi trường tạo ra cho con người rất nhiều cái khổ, bị thiên tai, con đã thẩm thấu được cái khổ đó. Khổ từ bản thân mình quá khổ, sanh ra cũng khổ, lớn lên cũng khổ, già bệnh cũng khổ, có cái thân này, có cái ngũ uẩn này là một khối khổ, mở mắt ra là đã thấy khổ, vì có cái thân này ăn uống cũng khổ, danh vọng cũng khổ. Cái gì cũng khổ, trong cái khổ con nhìn ra được niềm hạnh phúc của mình vì mình được nhìn thấy nó và mình đang trên con đường để lìa bỏ nó. Con rất tri ân trên Đức Phật, con tri ân trên bậc đạo sư, con tri ân trên sư phụ đã dẫn dắt, đã chỉ dạy, vì lòng thương, vì từ tâm dẫn dắt chúng con ra khỏi cái khổ của cuộc đời này, thoát ra khỏi cái ngũ uẩn khổ này. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô Nguyên Tú: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính thưa chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng tất cả đại chúng hiền trí, con xin được chia sẻ cảm thọ của con trong khi sư phụ thiền quán về tâm hiểu và tâm thương trên cuộc đời này. Trong bài thiền quán sư phụ đã đưa ra những sự đau khổ của một người tàn tật, sư phụ dạy chúng con đừng khởi lên những tâm khó chịu với họ hay là khinh khi với họ. Có hai khía cạnh về những người như vậy, khía cạnh đầu tiên chính là người ta mang một tâm xấu hổ, e dè, khía cạnh thứ hai là người ta mang một tâm hờn trách người và mình cũng phải khởi lên tình thương đối với họ bởi vì họ cũng thật sự là đau khổ rất là nhiều, mang một cái thân bị tật nguyền và bên trong chất chứa đầy những cảm thọ đau khổ, mình chỉ còn có tâm thương với họ.
Sau đó sư phụ tiếp tục dẫn dắt chúng con khởi lên những tâm thương đến tất cả mọi người và tất cả những người trong gia đình của mình. Sư phụ nói rằng không có một con người nào cả. chỉ có dục, tham, ái đang vận hành trong đó mà thôi, và tất cả đều mang những nỗi đau khổ, thống khổ. Con từng nhớ sư phụ dạy rằng một con người khi họ hành xử như vậy đó chính là một ngũ uẩn với đầy những tập khí, mình có gì để trách hờn họ đâu, họ cũng đau khổ với những tập khí của họ, sao mình lại khởi lên những tâm khó chịu với họ. Ngay cả khi mình khởi lên những sự khó chịu, hoặc mình có sân hận, hoặc những tập khí của mình sanh khởi mình còn đau khổ với nó, tại sao mình còn lại hờn trách, giận hờn với những tập khí của họ. Họ cũng đang nhiếp phục, họ cũng đang khống chế mà, mình phải khởi tâm thương họ nhiều lên, thương cho sự đau khổ của họ và thương cho sự đau khổ của mình, thương cho mình thật là nhiều và thương cho họ bởi vì họ không thấy được điều đó.
Mình phải khởi lên tình thương như vậy và tình thương của mình thật sự phải là rộng lớn. Khi mình thấy được điều đó mình sẽ thấy được nỗi khổ của từng người và mình hiểu rằng tất cả cũng đều là đau khổ, mình sẽ thật sự thấm được những sự đau khổ này và sự đau khổ đó xuất phát từ một thân ngũ uẩn như thế này. Mình thấm như vậy mỗi ngày, mỗi ngày mình đều thấm như vậy, một ngày nào đó khổ thánh trí sẽ thực sự bừng sáng trong nội tâm của mình và khi mình thấm thía được sự khổ này tình thương của mình sẽ cực kỳ rộng lớn. Nếu như người làm gì có lỗi với mình, nếu như thật sự lúc đó vô minh che mờ, mình có khởi lên sự sân hận với họ mình hãy về tự trách lại mình, thông cảm cho nỗi khổ của họ và thương mình. Tại sao ngày giờ này tu tập còn khởi lên những tâm sân hận đối với người khác? Mình phải thương họ thật nhiều vì mình thấy được những nỗi khổ trong cuộc đời này để cho mình vừa thấm khổ vừa có thể trải được một tình thương rộng lớn.
Khi sư phụ nhắc tới bậc đạo sư trong lòng con là hình ảnh của bậc đạo sư trút những hơi thở cuối cùng để dạy, bậc đạo sư có nói rằng con không muốn nhìn thấy những người yếu đuối trong đạo tràng này, khi con nghe những lời nói của sư phụ nói về bậc đạo sư con cảm nhận được rằng bản thân của con chưa có gặp bậc đạo sư lần nào mà con đã thấy rất là chua xót thì đối với như sư phụ, người đã từng được sự hướng dẫn với bậc đạo sư trong lòng của người sẽ đau xót và quặn thắt tới mức độ nào. Sư phụ nói rằng chừng nào mình tu tập được mình sẽ hiểu được tấm lòng của bậc đạo sư đối với mình cũng như là hiểu được tấm lòng của sư phụ đối với chúng con. Chúng con sẽ cố gắng, cố gắng khởi tình thương đối với tất cả mọi người, cố gắng thấm được khổ, thấy được khổ, cố gắng tu tập để không làm cho sư phụ buồn lòng. Mong sư phụ hãy cố gắng cũng tin tưởng chúng con, chúng con nguyện sẽ thực hành lời dạy mà sư phụ đã truyền trao. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Thiện Huệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con cung kính đảnh lễ trên sư phụ, con kính bạch trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng toàn thể các bậc hiền trí. Con xin tri ân trên sư phụ đã có buổi thiền quán sáng nay, khi con nghe những lời thiền quán thì trên sư phụ cảm thọ con rất là xúc động, hình bóng trong tâm cứ hiện về một đứa em bé bị bệnh mà con đã chứng kiến nằm trên giường bệnh, cái đầu thì to bằng gấp hai lần cái đầu của những em bé bình thường, cặp mắt thì lồi lên, da xanh nhợt, những cọng gân ở trên mặt nổi đầy lên và em bé đó đã chết trước mặt con. Con thấy mọi sự hiện hữu dù là mang hình tướng gì đi nữa cũng đều nằm trong cái đau khổ, rồi những em bé mới sanh ra ở trong những gia đình giàu có nếu nhìn theo cái trí tuệ thông thường thì cho là sung sướng, hạnh phúc lắm nhưng nếu con nhìn bằng cái thánh trí dù sanh trong gia đình giàu có cũng vẫn là khổ đau. Bởi vì đứa bé đó lớn lên nó sẽ tham dục, nó sẽ sân hận, nó cũng sẽ bản ngã, ta đây, hơn thua, tranh đấu với đời cũng luẩn quẩn, loanh quanh ở trong cái khổ.
Con liên hệ đến vị Tỳ-kheo sanh ra trong gia đình nghèo khổ, làm nông vất vả, con nhớ lại những câu kệ trong chốn thiền môn các thầy hay tụng "thân mặc y phục thường nhớ người may dệt, cơm ngày ba bữa phải nhớ nỗi khổ của nhà nông". Những người nông dân con thấy rất là khổ cực, vất vả, thậm chí họ dành chút ít công sức của họ làm lụm kiếm một ít tiền để dâng lên cúng dường tam bảo, con thấy những cái sự cúng dường như vậy đối với con, con thấy rất là lo lắng, để nhìn lại tự thân mình tu tập như thế nào để cho xứng đáng thọ lãnh những cái lợi vật của Đàn-na tín thí cúng dường. Bởi vì đó là những mồ hôi, là nước mắt của họ thức khuya dậy sớm, chịu nắng chịu mưa.
Bên cạnh đó con nhìn lại hình ảnh của vị Tỳ-kheo mà cái chân bị què quặc, con thấy rằng con rất là sợ nghiệp quả bởi vì dù sanh trong một gia đình nông dân làm ruộng vất vả, hay là có những cái hình hài dị tật, tật nguyền thì con ngồi con tác ý, đó chính là cái nghiệp cũ ở trong quá khứ mà thôi, mình phải lo lắng, sợ hãi cho những nghiệp mới hiện tại qua những cái hành động, lời nói, suy nghĩ của mình để mình tránh rơi vào những cái hoàn cảnh như vậy. Cái thanh tưởng trong con cứ nhớ, vang vang sư phụ hay kể lúc sư phụ còn là Tăng sinh, sư phụ đi học thì thấy có một người tật nguyền ở giữa đường, ở trên tay của họ xăm hai chữ "hận đời", con nhìn lại cuộc đời đâu có gì mà phải hận đời mà đó phải là trách mình, phải hận mình chính hơn.
Tại vì tất cả đó là do nghiệp quả của mình đã làm ra chứ không ai làm hết, có chăng đi nữa đó là những cái hành động, suy nghĩ, lời nói trong quá khứ của họ cho nên bây giờ họ phải lãnh những cái nghiệp quả như vậy. Khi sư phụ nhắc đến những hình ảnh vị Tỳ-kheo chân què quặc con thấy rất là sợ hãi và phải cẩn thận đối với nghiệp quả. Qua bài thiền quán sư phụ sáng nay con cũng có nhìn lại một cái góc độ, khía cạnh về tình thương, tâm từ, luôn luôn mình phải có sự quán đổi vị trí khi thấy nỗi khổ của người, mình phải đặt mình vào mình vào nỗi khổ của người thì lúc đó mình sẽ hiểu và sẽ cảm thông được với họ. Nhìn người mà thương lại chính mình, con nhớ lại những lời mà bậc đạo sư tác ý chỉ dạy trong cái bài tâm từ, con thấy rất là thấm thía và xót xa quá. Bậc đạo sư nói rằng:
Mong tất cả chúng sanh
Thấu hiểu và cảm thông
Những nỗi khổ của nhau
Đừng tạo thêm đau khổ.
Mong tất cả chúng sanh
Thấu hiểu và cảm thông
Những nỗi khổ của nhau
Đừng tạo thêm oan trái.
Đừng tạo thêm đắng cay,
Đừng tạo thêm khổ ải,
Cho kiếp người của nhau.
Cả một chữ khổ bao trùm cả khắp thế giới này, ở ngoài đời tất cả chúng sanh mọi người rất là đau khổ, tất cả cái chung những ngôi chùa, đạo tràng là nơi có thể làm chỗ dựa về mặt tinh thần. Nhưng con nhìn lại nếu chúng ta không hiểu nỗi khổ của nhau, còn tạo thêm những oan trái đau khổ thì chúng sanh không biết sẽ nương tựa vào đâu, họ đi về đâu. Con thấy thực tế nhất hiện giờ đây ngay trong hoàn cảnh này cần nhất tự thân con phải nuôi dưỡng tâm hiền, tâm từ cho thật vững chắc, kiên cố thành cỗ xe, thành căn cứ địa để mình làm chỗ nương tựa cho những ai đau khổ quay về nương tựa ngôi tam bảo, chánh pháp cũng như là chư Tăng và đó là những cảm thọ của con trong khi con nghe sư phụ tác ý thiền quán sáng nay. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Thầy Pháp Nghĩa: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cũng các bậc hiền trí. Nhân duyên buổi sáng hôm nay được sư phụ chia sẻ về hai vị A-la-hán trong thời Đức Phật và cũng được sư phụ thiền quán cho chúng con về cảnh khổ của cuộc đời này có liên quan đến vị A-la-hán tên là Pakkha bị khiếm khuyết. Khi được sư phụ chia sẻ có sự liên hệ cảnh khổ của cuộc đời này về những người chúng sanh được sinh ra không được lành lặn, bị khiếm khuyết các chi, khiếm khuyết các căn. Lúc đó con cũng có liên tưởng đến những người thân và những người xung quanh của mình khi họ không được may mắn sinh ra trong cuộc đời này được lành lặn, đúng như lời sư phụ chia sẻ họ có hai tâm thái, một là sẽ bất cần trong cuộc đời này, có thể làm tất cả những gì mà họ muốn trong sự sân giận, sân tức, họ uất hận vì tại sao họ lại trớ trêu thay không được như bao người, phải mang vác một tấm thân đi đứng không được bình thường.
Một tâm thái thứ hai nữa là họ sẽ có một sự ê dề, xấu hổ, tủi hổ, không được bình thường như bao người, lúc nào họ cũng ẩn ở phía sau, không muốn cho ai biết mình là khiếm khuyết. Con có tác ý theo lời của sư phụ "mỗi người một nỗi khổ, mỗi người một niềm đau, xin cùng nhau thấu hiểu những đau khổ trong nhau", hiện tại mình may mắn mang được mang được thân người đầy đủ lành lặn sáu căn, khi mình nhìn những người như vậy mình hãy thông cảm, thương xót cho người rồi cũng thương xót cho mình bởi vì chắc chắn trong vô lượng vô biên kiếp chúng ta cũng đã trải qua một kiếp sống đầy khổ đau, không chỉ là thân bị khiếm khuyết mà cả tâm cũng bị khiếm khuyết
Thân trống rỗng không ai trong đó
Có gì đâu mà ái, dục, sân
Ái dục sân chi thân trống rống
Để rồi không thoát khỏi trầm luân.
Mình đừng nhìn người ta không lành lặn sáu căn mà mình huênh hoang, ta đây, cống cao ngã mạn. Có gì đâu trong cái thân trống rỗng này mà ái, mà dục, mà sân giận, sân tức để rồi một kết cục thật là bi thảm, đó là không thể thoát khỏi cái vòng trầm luân sanh tử này. Con thấy thật là chưa xót cho chính mình bởi vì tâm địa của chính mình còn rất nhiều si mê, hôn ám, cứ chạy theo hướng ngoại ở bên, không quay về nơi tự thân, thương xót người không có nhiều, hãy thương xót chính mình sẽ còn lặn hụp trong sanh tử khổ đau trầm luân dài dài để rồi nước mắt sẽ chẳng cạn dòng bởi vì chúng ta sẽ còn những dòng lệ tuôn rơi trong vô lượng kiếp nữa nếu không có sự sách tấn, nỗ lực chính mình.
Lúc sư phụ tác ý có nhắc đến con chó, trước đó con cũng có tình cờ quay qua con thấy con chó đang ăn một vật gì ở dưới đất, lúc đó con thương xót cho nó nhưng rồi con quay lại thương xót nó chỉ một phần, con thương xót cho mình, con chó nó ăn cái vật bất tịnh không được sạch, mình ăn những vật sạch nhưng rồi không có sự nhìn nhận, các vị chư thiên ở trên cũng nhìn xuống con cũng đang ăn những vật khi qua cái cổ họng này cũng đầy bất tịnh và tanh hôi. Thương xót cái gì con chó mà không thương xót mình, rồi con thầm xin lỗi nó, xin lỗi con chó vì những ngày qua con có những tâm ý không được hiền thiện, không được tâm từ đối với chúng. Khi sư phụ thuyết giảng nó hay sủa bậy, con trải lòng đối với chính nó, con xin lỗi nó rất là nhiều, dường như con chó nó cảm được sự thành tâm xin lỗi của con mà nó chạy qua liếm đầu bàn chân của con, lúc đó nước mắt con tuôn rơi rất là nhiều, dường như con chó cũng cảm nhận được và chấp nhận lời xin lỗi của con.
Nhìn lại trong quảng thời gian vừa qua con cảm thấy mình thật đáng hổ thẹn khi so sánh đối với những bậc hiền trí hay các bậc thánh Tăng, dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào các vị vẫn luôn luôn nỗ lực, tinh tấn để mà vượt qua khỏi cái sự khó khăn trong tu học. Con sẽ nỗ lực hết mình, sẽ cố gắng duy trì những thiện pháp mà sư phụ, bậc đạo sư đã chỉ dạy. Con tri ân trên sư phụ đã có một buổi thiền quán chia sẻ đầy ý nghĩa cho con cùng với đại chúng. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư cô: Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, con kính bạch trên sư phụ cung kính, con kính bạch trên quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí. Sáng hôm nay sư phụ đã cho chúng con nghe được hai bài pháp về hai bậc thánh Tăng thời Đức Phật còn tại thế, khi nghe con đã quay về chính mình, con xin tri ơn lên sư phụ rất nhiều sư phụ đã mở nhiều khóa tu giao duyên xuất gia và con đã đủ duyên. Sư phụ đã cho con thay đổi cuộc đời, thay đổi một đời sống mới, ngay trong hiện tại đời sống con đang tập theo người xuất gia, trong những ngày tu học tu tập, đọc những bài kinh của Đức Phật, của bậc đạo sư con càng thấm hơn về cái khổ và trong những buổi thiền quán con nhìn ra được nhiều cái khổ của tất cả, từ con người đến các con vật.
Con cũng vừa mới hay tin người chị con bị bệnh ung thư đang phát tán, nhiều cảnh khổ trong cuộc đời không làm sao mà nói hết, thấy hết được. Một anh hàng xóm vì nghề nghiệp hàn gió đá, đang có một đôi chân lành lặng thì một ngày đã mất đi một đôi chân. Một anh hàng sớm vì cuộc sống gia đình không có lối thoát anh đã thắt cổ tự tử chết, bao nhiêu cuộc khổ trên đời này, trong đó bao nhiêu vô lượng kiếp con đã khổ như vậy và cái tấm gương của con cho con nhìn thực tại là con thấy con chó đang đi, nó mang thân của con chó nhưng nó rất tinh tấn, không bỏ sót một thời khóa tu nào hết, đại chúng đi đâu là nó đi theo đó. Con nhìn thấy mà con thấy thương và muốn thoát ra khỏi cái khổ của cuộc đời, không còn phải trong vòng sanh tử luân hồi nữa. Con nhớ lại bậc đạo sư đã chỉ dạy cho chúng con tu tập năm khiêm hai khéo, nhớ đến bậc đạo sư thì con nhớ lời dạy của ngài là giải thoát trí, nhớ đến bậc đạo sư chỉ dạy thì con nhớ ngài chỉ cho chúng con tu tập tứ vô lượng tâm và con cũng xin tri ân lên sư phụ rất nhiều. Chính vì sư phụ đã mở khóa tu gieo duyên xuất gia, mặc dù con cũng mới thôi nhưng con cảm nhận được rất nhiều đời sống của người xuất gia phải tu tập như thế nào và cũng được thầy Thiện Huệ chỉ dạy rất rõ ràng cho chúng con trong những ngày tu tập vừa qua, chính những ngày gieo duyên này và khi con đọc "Lòng tin bất động" trong Linh Quy Pháp Ấn chính bản thân con cũng có lòng tin bất động đối với Đức Phật, đối với pháp, đối với chúng Tăng, đối với thánh giới và con đem những lời dạy đó về nhà và con cũng đã khuyên được những chị của con tuổi cũng đã lớn, khóa xuất gia giao duyên vừa rồi hai chị con cũng đã về gieo duyên.
Vì trong cuộc sống thì các chị phải về mô sinh cuộc sống của gia đình nhưng con cũng rất vui vì không có cái gì bằng mình hướng những người thân, những người có duyên với mình về với chính pháp để tu tập, chính nơi đây mới giải thoát được mọi khổ đau của trong vòng sanh tử luân hồi. Con xin chân thành cảm ơn sư phụ rất nhiều.
Sư Phụ:
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.