Nhận Diện Thân Tâm 3 - CĂN BẢN TRÍ
NHẬN DIỆN THÂN TÂM 3 – CĂN BẢN TRÍ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thực hành nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc98734401 \h 1
II.Nhận diện ngũ uẩn – kinh “Đáng được ăn” PAGEREF _Toc98734402 \h 4
1.Nhận diện sắc uẩn PAGEREF _Toc98734403 \h 4
2.Nhận diện thọ, tưởng, hành PAGEREF _Toc98734404 \h 8
3.Nhận diện thức uẩn PAGEREF _Toc98734405 \h 12
Thực hành nhận diện ngũ uẩn
Chúng ta tiếp tục nhận diện về “thân tâm” nói cách khác nhận diện về “ngũ uẩn”.
Đầu tiên là nhận diện về “sắc pháp”. Thực tập nhìn con người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại là sắc, từ đó loại bỏ những suy nghĩ, nhận thức cho rằng đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Tập nhìn ra sự thật rằng thân này là đất, nước, gió, lửa; tập nhìn những đồ vật xung quanh, nhà cửa, đồ đạc, xe cộ, chùa chiềng, mọi thứ xung quanh đều là tứ đại và mình điểm danh, chỉ mặt, gọi đúng tên của nó là sắc pháp. Không được nghĩ rằng “cái bàn này là của tôi”; “chỗ này là của tôi”, “cái ghế này là của tôi”, “cái phòng này là của tôi”, “đôi dép này là của tôi”. Mà hãy tập trong từng suy tư, nghĩ ngợi, nhận thức, lời nói của mình rằng những thứ đó đều là sắc pháp, là đất, nước, gió, lửa không hơn không kém. Từ những cảnh vật bên ngoài và những đồ vật mình đang sử dụng (tạm gọi đó là mình sở hữu), cho đến thân xác này, chúng ta phải tập nhìn và gọi đúng tên của nó là sắc pháp, là tứ đại. Vì vậy, phải tập nhận diện sắc uẩn, tập nhìn ra tổ hợp sắc chất đất, nước, gió, lửa này từ trong suy nghĩ, nhận thức, lời nói ở mọi lúc mợi nơi.
Thứ hai, tập nhìn những cảm giác, cảm thọ để thấy được các dòng cảm thọ, cảm giác, cảm xúc luôn sanh diệt, khởi diệt, luôn vận hành, vận chuyển, vận động trong ba dạng cảm thọ: vui, buồn, không vui không buồn (nói cách khác là cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu). Chúng ta phải nhìn nhận cảm thọ là cảm thọ, bởi vì trước nay mình luôn lầm lẫn, nghĩ rằng cảm giác là mình, từ đó dẫn đến việc khi giận lên mình cho là “tôi giận”, khi vui lên mình nói “tôi vui quá, tôi thích quá”. Bây giờ, khi đã biết nhận diện cảm thọ, chúng ta không được nói, không được nghĩ như vậy nữa. Thay vào đó phải biết rằng trong người mình đang có cảm giác vui, hoặc là bên trong đang có cảm giác bực bội, khó chịu. Như vậy là chúng ta đang tập nhận diện và nhìn ra đúng sự thật về các cảm thọ đang có mặt ở bên trong.
Thứ ba, đối với các hình bóng trong tâm thì chúng ta phải tập nhìn lại để xemtrong tâm đang có hình bóng gì và chỉ điểm rõ rằng những hình bóng đó là tưởng. Chúng ta phải nắm thật vững phần định nghĩa này và định nghĩa này cần được áp dụng vào thực tế khi ngồi thiền và mọi lúc mọi nơi trong sinh hoạt thường nhật tu học. Thường xuyên tập nhìn vào những hình bóng trong tâm để không lầm nhận đó là “tôi tưởng”, mà thấy đó là tưởng uẩn – những tổ hợp của các hình bóng.
Thứ tư, đối với các suy nghĩ cũng vậy, cần phải đọc, nghe, kiểm tra, kiểm soát từng suy nghĩ và biết rõ những suy nghĩ trong tâm là ý hành. Không được để cho những suy nghĩ đồng hóa mình rồi cho rằng “tôi đang suy nghĩ”, “ý nghĩ này là của tôi”, mà phải tách mình riêng ra suy nghĩ đó, đồng thời phải có trí tuệ để nhìn ngược lại vào bản chất của những suy nghĩ đó. Tức là thấy rõ những suy nghĩ là tổ hợp của hành uẩn, không để cho những suy nghĩ đó đồng hóa mình. Sau đó, ngăn chặn những suy nghĩ cho rằng những ý hành đó là “tôi nghĩ”, “tôi tính”, “tôi suy tư”. Ngược lại, nếu mình nhập cuộc, cho rằng suy nghĩ và mình là một thì lúc đó không phải là nhận diện hành uẩn nữa, mà lúc đó là nhập uẩn, không còn trí tuệ để nhận diện ngũ uẩn nữa.
Cuối cùng là thức uẩn, đây là phần hết sức khó khăn. Chúng ta hiểu đơn giản: rõ biết về sắc là nhãn thức; rõ biết về tiếng là nhĩ thức; rõ biết về mùi là tỷ thức; rõ biết về vị là thiệt thức; rõ biết về xúc là thân thức; rõ biết về thọ, tưởng, hành trong tâm là ý thức.
Chúng ta phải nhớ rằng, trong sự tu tập này, cần phải thường xuyên thực tập nhận diện ngũ uẩn vì sự nhận diện này rất quan trọng. Nếu không làm bài tập và không chịu thực hành thì đi vào trong kinh sẽ không hiểu được.
Bài tập đầu tiên là nhận diện ngũ uẩn khi ngồi thiền, xem trong suốt thời gian đó có suy nghĩ gì xuất hiện, hành uẩn vận hành như thế nào; những hình bóng gì xuất hiện, tưởng uẩn sanh khởi ra làm sao; những cảm giác sanh diệt như thế nào; nhận diện sắc uẩn, xem sắc thân này như thế nào; thức uẩn hoạt động như thế nào, nó rõ biết được thọ, tưởng, hành ra sao… Cho nên, nhận diện ngũ uẩn là bài tập hết sức quan trọng trong khi ngồi thiền. Vì lúc ngồi thiền thì tâm mình rất trong sáng, nhờ vậy nên chúng ta nhìn ngũ uẩn được tỉnh sáng, sâu sắc và chính xác hơn lúc bình thường. Hơn nữa, đối với một vị đã nhận diện ngũ uẩn thường xuyên và quen sắc bén thì vị này có thể nhìn ngũ uẩn mọi lúc mọi nơi, còn người mới tu thì tập nhận diện trong lúc ngồi thiền sẽ được hiện rõ hơn.
Bài tập thứ hai là thực tập nhận diện ngũ uẩn lúc ăn cơm. Mỗi khi thọ trai, mỗi khi dùng cơm thì phải xem cảm giác vận động như thế nào; hình bóng trong tâm lúc ăn cơm vận hành ra sao; có suy nghĩ gì trong khi đang nhai, ăn, nuốt, uống… Như vậy, chúng ta phải tập nhìn vào thọ, tưởng, hành, thức trong lúc ăn cơm.
Bài tập thứ ba là tập nhận diện ngũ uẩn khi ra làm việc với chúng, khi phụ trách dọn trai đường, khi cùng nấu nướng trong nhà bếp, khi lau dọn chánh điện hoặc quét sân, làm vườn làm rẫy. Những lúc làm việc đó, chúng ta cần xem hành uẩn có suy nghĩ gì, cảm giác như thế nào, trong tâm nó có hình bóng gì.
Bài tập thứ tư là nhận diện ngũ uẩn khi ngủ. Lúc bắt đầu lên giường nằm xuống hãy nhìn vào bên trong xem mình có cảm giác như thế nào; khi nhắm mắt lại thì trong tâm có hình bóng gì; đọc được những suy nghĩ của hành uẩn trong lúc đó; thân tướng mình trong lúc ngủ như thế nào cũng phải quan sát, nhận diện sắc uẩn lúc đó.
Khi đi tắm cũng vậy. Nếu có sự nhận diện thì chúng ta sẽ thấy rất bất ngờ vì nhận ra được những điều luôn sanh khởi và vận hành trong thân tâm chính mình nhưng trước nay mình chưa từng được thấy. Ví dụ, chỉ cần nghe tiếng xối nước của người tắm kế bên là mình biết người đó có chánh niệm hay không chánh niệm. Nếu xối nước bằng dục là xối nước ào ào vì lúc đó dục đang hoạt động, cái dục này chạy theo cái cảm giác mát mẻ, thoải mái mà không có sự kiểm soát thân hành niệm. Đây là chúng ta bắt đầu đi vào chỗ sâu sắc của sự chánh niệm. Vậy, cái gì thúc giục mình xối nước ào ào lúc tắm? Chính cảm giác bên trong là một cảm giác thúc giục, hối thúc, thúc đẩy mình nhanh mau xối ào ào để được mát mẻ, sung sướng. Đó chính là cái tắm trong dục, không có chánh niệm tỉnh giác.
Ngoài ra, cần phải tập nhận diện ngũ uẩn trong bước đi. Nếu đi mà bên trong hối thúc, giục giã, hấp tấp,vội vàng, lăng xăng giống như có đuổi theo đằng sau thì đó là đi trong dục. Khi mở cánh cửa, hoặc bỏ tô chén xuống bàn gây ra tiếng động cũng là sự thô thiển, không có thân hành niệm, không có niệm thân, không có chánh niệm tỉnh giác.
Quan trọng nhất là khi nói chuyện, cần phải luôn luôn nhận diện ngũ uẩn lúc nói, bằng không, nói một lúc là trong đó sân, có dục, có bản ngã. Ví dụ, hai huynh đệ đang ngồi bàn những đạo lý cao thâm, bàn một hồi thì phùng mang, trợn mắt không nói chuyện nữa vì bất đồng quan điểm. Cho nên, phải tập nhận diện ngũ uẩn trong khi pháp đàm, thảo luận về pháp. Cần xem xét mình nói bằng cái bản ngã, nói bằng sự hơn thua, nói về sự đúng sai hay là nói để tìm cầu chân lý, tìm cầu sự thật, tìm cầu pháp? Nếu trong câu nói đó có cảm giác hơn thua và một cảm giác giành phần thắng, giành phần đúng, giành phần hơn thì đó là bản ngã nói, khi đó mình phải nhìn ra được. Đó là nhận diện ngũ uẩn khi nói chuyện.
Như vậy, nhận diện ngũ uẩn chính là bài tập chúng ta phải làm trong suốt đòi, cho đến khi thành tựu cứu cánh phạm hạnh, đạt được Thánh quả tối cao.
Nhận diện ngũ uẩn – kinh “Đáng được ăn”
Kế đến, chúng ta cùng tìm hiểu thêm định nghĩa ngũ uẩn thứ ba, đây là định lý chứng ngộ của Đức Phật, nếu không thuộc thì mình sẽ không biết thực hành.
Nhận diện sắc uẩn
Trong kinh “Đáng được ăn”, Đức Phật định nghĩa:
Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. (Tương Ưng Bộ kinh – tập III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa III. Phẩm Những Gì Được Ăn, kinh Đáng Được Ăn)
Như vậy, Đức Phật dạy chúng ta thêm một góc độ trong trí tuệ về sắc uẩn, đó là tánh chất của sắc pháp này là tính bị đổi thay, tính chất bị biến họai, tính chất đổ vỡ, tan tành, mục nát, rã rời, tiêu ma. Tất cả các sắc đều có tính chất là bị thay đổi. Lạnh là thay đổi, nóng là thay đổi, sốt đói là tay chân giở không lên, khát là không còn sức lực, nằm lấy hơi lên. Cho nên Đức Phật nói, sắc này bị thay đổi bị nóng, lạnh, đói, khát… là vậy. Hoặc khi ngồi thiền, mình bị muỗi, ruồi bay vo ve xung quanh rồi đậu trên người là mình đã khó chịu, sau đó, con muỗi còn chích mình, thế là mình sân tức nổi lên. Như vậy là chúng ta bị thay đổi từ thân cho tới tâm. Đó là mình chỉ mới ví dụ bị chích bởi kim của con muỗi, nhìn sâu hơn, nếu bị xúc chạm với con dao sắc bén thì chúng ta có thể chết hoặc bị thương, tật nguyền, nằm liệt một chỗ. Hơn nữa, khi bị ruồi, muỗi, ong ong bay vo ve quanh lỗ tai, ngoài làm mình khó chịu thì nó còn có thể đâm chích làm mặt mình bị sưng lên, đó là sự thay đổi của thân này. Cho nên nói, bản chất của sắc này là bị thay đổi.
Thành ra, mỗi một chữ trong kinh cần phải được chiêm nghiệm, tư duy, nghiền ngẫm, quán chiếu cho thật thẩm thấu. Vì mỗi một chữ trong kinh chính là Thánh trí tuệ đã được bậc Chánh Đảng Chánh Giác chứng ngộ. Chúng ta không được đọc lơ là, phớt qua, không được đọc cho hết chữ, hết trang, hết hàng, hết bài, hết vở, mà đọc bằng sự cảm nhận, thẩm thấu, tư duy, chiêm nghiệm, quán chiếu và nhìn thấy được thâm ý Đức Phật muốn truyền trao. Cho nên, phải để tâm, nghiền ngẫm ba chữ “bị thay đổi” trong định nghĩa ngũ uẩn, kinh “Đáng Được Ăn” thật sâu sắc, bởi vì đặc tánh, bản chất, bản tánh của tất cả sắc pháp trên thế giới này, hình hài này đều bị thay đổi. Mọi người hãy lấy ba chữ đó để làm đề mục thiền quán để thấy rằng tất cả đã bị thay đổi, đang bị thay đổi và sẽ bị thay đổi.
Ví dụ, buổi học hôm nay mình được phân ngồi bàn thứ nhất, ngay giữa lớp, đối diện với giáo thọ sư. Buổi học hôm sau, giáo thọ lại thay đổi, phân cho mình ngồi bàn cuối cùng để nhường chỗ cho vị khác, lúc đó cảm thọ mình ít nhiều sẽ khó chịu. Nhưng nếu đã được học “các sắc bị thay đổi” thì khi đó mình quán chiếu và thấy tất cả các sắc đều bị thay đổi là lẽ đương nhiên, nhờ vậy tâm mình được bình thản, ngồi an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Khi đó, mình cũng tác ý thêm: “Nhường chỗ đó cho sư huynh ngồi rất là tốt, thật vui vì mình có cơ hội để nhường chỗ đẹp, chỗ tốt này cho mọi người”. Khi đó mình ngồi học với một nội tâm ngọt ngào, yên ổn, yên tịnh, lắng dịu. Dù ngồi dưới tận cùng ở góc kẹt nhưng lại dễ chịu làm sao!
Đây là chuyện hết sức nhỏ và đơn giản nhưng làm được như vậy là cả một công phu tu học. Cho nên, không phải sự tu này chỉ gồm những chuyện lớn, mà chúng ta phải tu trong từng chuyện nhỏ. Tất cả chuyện lớn là từ chuyện nhỏ, nếu mình xem thường chuyện nhỏ, chỉ muốn tu chuyện đại sự, như vậy thì vĩnh viễn mình không thành bổn phận sự. Đó là các ví dụ hết sức là đơn giản để mình thấy được tính chất bị thay đổi của các pháp. Đến khi các pháp đổi thay mà tâm mình vẫn không thay đổi thì lúc đó mình đã thành tựu trí tuệ mà Đức Phật truyền trao.
Minh Thành lấy thêm ví dụ, nhiều huynh đệ thân với nhau từ nhỏ tới lớn, thân thiết với nhau suốt mười mấy năm nhưng do bất đồng, mâu thuẫn nên về sau không nói chuyện, không thèm nhìn mặt nhau, đi ngang qua nhìn nhau như không khí. Lúc đó mình phải thấy rằng “bị thay đổi gọi là sắc”, sắc này là bị thay đổi” để tâm mình có được bình an. Đó là những ví dụ thực tế, gần gũi nhất trong đời sống để chúng ta quán chiếu và tu tập.
Chúng ta phải chuẩn bị tư thế, chuẩn bị tinh thần, chuẩn bị suốt hai mươi bốn trên hai mươi bốn giờ rằng mọi thứ xung quanh, bao gồm thân thể, tâm thức, cảm giác, suy nghĩ… đều bị thay đổi. Nếu không thành tựu sự thấy biết, nhớ nghĩ thường xuyên về sắc pháp, sắc uẩn thì khi có chuyện xảy ra, đổ ra, vỡ ra, bể ra, nát ra làm sao nội tâm mình bình an, an tịnh, lắng dịu được.
Đức Phật đã dạy, sắc này bị thay đổi bởi lạnh, bởi nóng, bởi đói, bởi khát, bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Cho nên, chỉ một cơn gió cũng đưa mình đi qua đời sau, thay tên đổi họ mình. Một cái hắt xì, một cái nhảy mũi cũng có thể làm mình đầu thai kiếp khác. Sắc này bị thay đổi dễ dàng như vậy nhưng chúng ta không nhớ sự thật, mà cả đời sống trong thầm ý, nhận thức sai lầm rằng “thân này là tôi, thân này cứng lắm, chắc lắm, vững lắm”, rồi vỗ ngực xưng ta đây. Đó chính là sự vô minh, ngu si, si mê, ngu muội, chấp ngã, mù lòa, không thấy được sự thật của sự “bị thay đổi” này.
Chính vì vậy, phải thường xuyên, thường trực, thường luôn, thường thường, thường nhật, thường hoài ghi nhớ tất cả các sắc đều ở trong trạng thái bị thay đổi, phải bị thay đổi. Ở đây, chữ “thay đổi” nghĩa là “vô thường” nhưng lại thêm chữ “bị”. Khi đi sâu vào chánh kinh, chúng ta sẽ thấy tuyệt diệu lắm, Đức Phật dùng nhiều từ như vậy, chặng hạn “bị sanh”, “bị già”, “bị bệnh”, “bị chết”. Phật nói chúng sanh “bị buồn lo, bị sầu khổ, bị bệnh tật mà lại đi tìm cái bị buồn lo, sầu khổ, bệnh tật”; “bị chết mà lại đi tìm cái bị chết”. Qua đó, chúng ta thấy được Thánh trí tuệ của Đức Phật khi thêm chữ “bị” vào những từ đó. Cụ thể, “thay đổi” là vô thường, còn Phật dùng từ “bị thay đổi”, tức là cái sắc này nhất định bị thay đổi. Vậy mà mình không thấy nó bị thay đổi nên cứ sống trong vô minh, si ám, chấp thủ, nắm giữ, nắm chặt.
Mùa mưa ta ở đây
Ðông, hạ cũng ở đây,
Người ngu tâm tưởng vậy,
Không tự giác hiểm nguy.
(Kinh Pháp cú – Phẩm Đạo – kệ 286)
Phần lớn con người đều nghĩ hiện tại đang ở đâu thì tháng sau cũng sẽ ở đó, năm sau cũng vậy, năm năm sau, mười năm sau rồi vẫn mãi vậy. Những người ngu thường nghĩ như vậy nên không tự biết mình đang bị hiểm nguy vì mình đang bị thay đổi. Chỉ một chữ “bị thay đổi” thôi mà chúng ta phải chiêm nghiệm vô cùng sâu sắc, vì vậy, việc học kinh đòi hỏi sự thâm sâu, thâm thúy như vậy.
Bị muỗi, bị gió, bị sức nóng và bị rắn tác động thì sắc này cũng thay đổi nhanh chóng. Bị rắn mổ vào là sắc này thay đổi chở đi cấp cứu không kịp là chết ngay. Hoặc không may bị rắn hổ mang chúa, rắn cạp nông, rắn lục đuôi đỏ, mổ vào người một cái là sắc thân này bị thay đổi lập tức. Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu phần định nghĩa về sắc trong kinh “Đáng được ăn”.
Nhận diện thọ, tưởng, hành
Tiếp theo, Đức Phật tuyên bố:
Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thọ?
Được cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Được cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ.
Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là tưởng?
Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ, nhận rõ màu trắng. Nhận rõ, này các Tỷ kheo, nên gọi là tưởng.
Tưởng là nhận rõ những hình bóng trong tâm của mình. Ví dụ, nhớ lại hình ảnh sáng nay người mình vừa gặp mặc áo trắng hay áo vàng, nhớ gương mặt người đó da trắng hay da đen. Sự nhận rõ hình bóng trong tâm như vậy gọi là tưởng.
Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là hành?
Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là các hành. (Tương Ưng Bộ kinh – tập III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa III. Phẩm Những Gì Được Ăn, kinh Đáng Được Ăn)
Phần này chúng ta cần tìm hiểu thật kỹ vì hết sức quan trọng. Khi đọc lên mình thấy rất khó hiểu. Nếu mình không có vị thực hành được pháp hướng dẫn thì dù có đọc ba chục năm cũng khó có thể hiểu.
“Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh”, nghĩa là làm cho hiện hành sắc với tính chất của sắc. “Hữu vi” có nghĩa là tất cả các pháp được làm ra, tạo ra là nằm trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Câu kinh này có nghĩa là những sắc, thọ, tưởng, hành, thức được biểu hiện ra, được vận hành ra, được trình bày ra thì được gọi là hiện hành, như vậy, làm biểu hiện, vận hành các pháp thì thì gọi là hành.
Trong bài kinh “Cội rễ của sự vật” – Tăng Chi Bộ Kinh IV, Đức Phật tuyên bố những câu rất thâm sâu, trong đó có câu: “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, nghĩa là tất cả mọi sự vật, mọi việc trên thế gian này do sự suy nghĩ của mình mà ra, từ suy nghĩ mới sanh khởi tất cả các pháp. Như vậy làm hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hành, ý hành là sự suy nghĩ.
Nãy giờ Minh Thành ví dụ những chuyện trong chùa, bây giờ ví dụ những chuyện ở ngoài đời cho dễ ấn tượng, để nhớ. Có một thầy tri khố đi chợ mua đồ, khi mua rau gặp cô bán hàng mặt như hoa, da như phấn, nở nụ cười như sen hồng nở, lúc về chùa ông cứ về im lặng, không nói gì cả mà mặt ông cứ buồn. Tuần lễ sau có huynh đệ thân thiết hỏi xem ông có bệnh gì không, vì mặt ông cứ buồn buồn. Sau khi hỏi ba bốn lần thì cuối cùng ông mới chịu nói là sau khi gặp cô bán hàng ở chợ thì khó chịu. Chúng ta thấy rằng, nếu ông không nói câu đó ra thì người khác làm sao biết được ông bị thế nào. Cho nên, làm hiện hành các pháp hữu vi là ông kể lại sau khi gặp cô bán hàng đó thì ông suy nghĩ không dừng và hiện tại tâm của ông bị ám ảnh bởi hình bóng của cô bán rau ngoài chợ. Như vậy, nà nếu ông không chịu nói ra thì làm sao các pháp hữu vi hiện hành ra được, khi nói ra thì người khác mới biết nguyên nhân tại sao ông khó chịu, buồn buồn. Và chính từ suy nghĩ như vậy mới phát ra lời nói tương ứng, từ đó tất cả pháp mới hiện hành, biểu hiện, vận hành.
Thành ra, suy nghĩ của mình ghê gớm lắm. Chẳng hạn, trưa nay mình ăn cơm, khi được đầu bếp hỏi “ăn ngon hay không”, mình trả lời “nấu ngon lắm”, chính câu “nấu ngon lắm” đó sẽ làm hiện hành cảm thọ, cảm giác vui sướng khi ăn ngon miệng. Đồng thời, đối với cái ngon đó thì mình biết rõ là ngon, đó chính là thức. Khi nói đồ ăn ngon thì hình bóng của những món ăn, như canh chua, đậu hũ, đồ kho... hiện ra, đó chính là tưởng. Cho nên, chỉ một câu nói của mình mà nó tạo thành những thọ, tưởng, hành, thức và câu nói đó gọi là khẩu hành, nếu nó còn nằm trong suy nghĩ thì gọi là ý hành. Chính sự biểu hiện của những suy nghĩ, lời nói đó làm cho ngũ uẩn vận hành, các pháp sanh khởi và Đức Phật gọi là “làm hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hiện hành”.
Chẳng hạn, khi thấy sư đệ mới vào tu mặt mày cứ bí xị, mình hỏi tại sao thì sư đệ nói là tuy vào chùa tu rồi nhưng vẫn nhớ gia đình, nhớ nhà con còn nhỏ, vợ đau, con mới vài tuổi mà họ đã bỏ đi tu. Điều này có nghĩa, dù đi tu rồi nhưng vẫn bị ám ảnh bởi những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về gia đình, cứ nhớ thương nên mặt không tươi nổi, lúc nào cũng bí xị. Như vậy, khi mình hỏi và huynh đệ nói ra tâm sự thì mình mới biết họ suy nghĩ cái gì. Đó là làm cho hiện hành sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nghĩa là làm cho biểu hiện ra, làm cho sáng tỏ ra, làm cho người ta thấy rõ, biết rõ, trình bày rõ ràng ra. Nhờ đó, mình biết được cảm giác của họ rất khó chịu, suy nghĩ của họ cứ loanh quanh chuyện đó, những hình bóng về gia đình cứ ám ảnh trong tâm và chúng ta nhận thức được điều đó tức là làm cho hiện hành sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Sau đó, chúng ta đưa ra lời khuyên: “Thôi, đệ đừng nhớ nữa, giờ mình đã quyết chí đi tu, quyết chí từ bỏ tất cả rồi thì thôi bỏ luôn đi. Con người ngoài đời mình còn bỏ được, chẳng lẽ đối với hình bóng, ảo ảnh trong tâm bỏ không được sao? Tại sao thân tướng, da thịt, người thật mà bỏ được, bây giờ cái ảo ảnh, hư huyễn trong mà không bỏ được hay sao?”. Sư đệ nghe sư huynh nói vậy nên khoát nhiên đại ngộ, nhất ngôn liễu ngộ và vỡ lẽ ra rằng, đến con người bằng da, bằng xương, bằng thịt mà còn bỏ được, chẳng lẽ lại không bỏ được những bóng hình giả dối trong tâm? Tất cả những hình bóng, nghĩ, tưởng đó đều là vọng tưởng, ảo tưởng, điên đảo tưởng không bỏ hay sao! Thấy vậy nên vị này quyết định từ bỏ và diệt tận những cảm giác, nghĩ, tưởng đó và làm cho chúng tan biến hoàn toàn thành mây, thành khói, thành hư không, từ đó có được nội tâm hoàn toàn an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng để tu học.
Đó là chúng ta ra lệnh để giải phá tất cả những ám ảnh, những hình bóng hư huyễn, ảo tưởng, mộng tưởng, hư tưởng bằng sự Như lý tác ý mạnh mẽ. Sự tác ý đó sẽ làm cho các hình bóng tan rã, tan vỡ, tan nát, tan vụn, tan tành, tan hoang. Sử dụng Như lý tác ý trong sự tu học tức là dùng suy nghĩ để diệt suy nghĩ; dùng hành để phá hành; dùng hành uẩn để diệt hành uẩn giống như dùng độc trị độc. Cần dùng suy nghĩ thiện để đánh đuổi suy nghĩ bất thiện; dùng suy nghĩ trí tuệ đánh phá những suy nghĩ vô minh; dùng suy nghĩ hùng lực đánh phá những suy nghĩ nhu nhược, yếu hèn, hạ liệt, phàm phu, thấp kém. Đồng thời, chúng ta cố gắng tu tập để đưa những suy nghĩ của bậc Thánh bậc đại trí tuệ, của bậc xuất trần thượng sĩ để đánh phá những suy nghĩ nhu nhược, yếu hèn, hạ liệt, phàm phu, thấp kém.
Trong pháp hành kinh tạng Nikāya, đây là phần tu tuyệt đối quan trọng, là Chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo. Theo trình tự, sau khi thấy đúng về nội tâm, mình biết trong tâm đang có những suy nghĩ nhu nhược thì cố gắng làm cho suy nghĩ của mình mạnh mẽ lên. Hoặc đang có những suy nghĩ khiến mình đi xuống thì cần tác động tâm lí giúp mình tiến lên. Như vậy, gọi là Chánh tư duy, Thánh tư duy, suy nghĩ của bậc Thánh, suy nghĩ chân chánh, suy nghĩ đưa đến sức mạnh trí tuệ ở bên trong. Điều này có nghĩa, tấn lực, tuệ lực, đại hùng lực, mãnh hổ lực, hung hãi lực, oai thần lực có được cũng từ tác động tâm lí của chúng ta.
Cho nên, nếu không có suy nghĩ đúng đắn bên trong thì những suy nghĩ tiêu cực sẽ ngấm vào tâm mình dần dần. Sau đó nó tạo thành khối u trong nội tâm chúng ta mà ngay cả chính mình cũng không hay biết. Đến khi mình phát hiện, phát giác thì đã đến giai đoạn cuối rồi không thể cứu chữa được. Chính vì vậy, bước đầu tiên trong sự tu tập là nhận diện ngũ uẩn hết sức quan trọng. Bởi lẽ, nhờ có sự nhận diện ngũ uẩn, ta sẽ biết được trong tâm đang lành mạnh hay là đang có những ung nhọt. Đức Phật đã nói trong Tạng Kinh Nikāya là trong tâm này có rất nhiều những ung hạch, ung nhọt, ung bướu, ung thư và đầy dẫy những khối u của tham dục, sân hận, si mê, bản ngã. Cho nên, chúng ta nhận diện để thấy thật rõ và trị liệu.
Trở lại bài kinh, chúng ta thấy rằng, trong sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì còn chữ “tánh” đi theo sau, ở đây, chúng ta hiểu ý của câu kinh này là nhắc đến bản tánh của ngũ uẩn là vô thường. Ví dụ đơn giản nhất, mình vừa nhìn thấy người đó giàu sang, phú quý, sống vui vẻ, hạnh phúc hôm qua nhưng hôm nay nghe tin họ đã chết. Một ví dụ này đã làm rõ đầy đủ ý nghĩa của câu “làm hiện hành sắc với sắc tánh”, cụ thể, người đó là sắc; còn sắc tánh là người này hôm qua còn sống bình thường nhưng hôm nay đã chết, tức là sắc này bị đổi thay, bị biến đổi vô thường, đó là tánh chất của ngũ uẩn.
Tóm lại chữ hành này có nghĩa là những suy nghĩ, lời nói của mình làm biểu hiện, vận hành ra ngũ uẩn. Khi nói ra thì người khác mới biết mình đang có cảm giác gì, bằng không, mình im lặng thì người ta đâu thể biết được. Phải nói ra “tôi thích quá”, hoặc “tôi thấy bực mình ghê” thì người nghe mới biết mình đang có cảm thọ gì, đang suy nghĩ điều gì, không thôi người ta cứ nghĩ, tưởng đủ thứ, không đúng với sự thật. Và những suy nghĩ, tưởng tượng, lời nói đó đều nằm trong năm uẩn, không thể ra khỏi năm uẩn. Như vậy, những suy nghĩ làm cho các pháp hiện hành, từ suy nghĩ thì mình phát ra lời nói, từ đó người khác mới biết được cảm giác của mình đang như thế nào; trong tâm mình đang có hình bóng gì; mình đang suy nghĩ cái gì và mình nhận thức như thế nào khi mình phát ra cái lời nói.
Nhận diện thức uẩn
Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thức?
Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm... rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. (Tương Ưng Bộ kinh – tập III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa III. Phẩm Những Gì Được Ăn, kinh Đáng Được Ăn)
Bài kinh này chỉ mới nói về thiệt thức, nếu nói đầy đủ là gồm có sáu thức. Trong đó, Đức Phật đã khẳng định rõ “rõ biết nên gọi là thức”. Ví dụ, hiện tại mọi người đang nghe pháp trực tuyến, lúc nhìn vào màn hình sẽ thấy cái bóng của Minh Thành, sự rõ biết đang có hình bóng Minh Thành và cảnh vật gọi là nhãn thức – sự rõ biết các sắc. Lúc nghe âm thanh Minh Thành nói và có sự rõ biết âm thanh đó gọi là nhĩ thức – sự rõ biết âm thanh. Xung quanh mình có mùi của gỗ, mùi của bàn ghế và mình rõ biết được cái mùi đó gọi là tỷ thức – rõ biết các mùi. Khi nhìn lại và có sự rõ biết được các vị ở trong lưỡi, trong miệng mình gọi là thiệt thức – sự rõ biết các vị. Thân mình đang đụng chạm với quần áo, bàn ghế… sự rõ biết chỗ đụng chạm, tiếp xúc đó gọi là thân thức – rõ biết sự tiếp xúc. Cuối cùng là ý thức, Minh Thành ví dụ, khi ngồi mà sanh khởi đau chân, có cảm giác khó chịu thì mình có suy nghĩ “lẹ lẹ hết giờ đi, ông gác thiền ngủ gục hay sao mà chưa chịu đánh chuông báo hết giờ”, trong đó: suy nghĩ lầm thầm đó là hành; cảm giác đau tê chân là thọ; hình bóng ông gác thiền ngủ gục hiện là tưởng. Lúc đó, tâm thức nhận biết được mình đang có cảm giác khó chịu, đang có hình bóng đó, suy nghĩ đó, như vậy, sự rõ biết đó là ý thức – rõ biết thọ, tưởng, hành.
Hoặc mình đang ngồi thiền thì hình ảnh ngôi nhà mình ở quê hiện ra. Lúc đó, hình bóng của căn nhà thân thương ở làng quê hiện ra; mình có cảm giác gần gũi, ấm áp, dễ chịu; mình có suy nghĩ “lâu rồi mình chưa về quê thăm nhà, không biết khi nào được về thăm” và mình rõ biết trong tâm đang có hình bóng căn nhà, có cảm giác dễ chịu và đang có suy nghĩ. Như vậy, hình bóng căn nhà là tưởng, cảm giác dễ chịu là thọ, suy nghĩ có dịp mình về thăm nhà là hành và sự rõ biết được ba cái đó là ý thức.
Ở đây, chúng ta cần chú ý rằng, ý thức là rõ biết thọ, tưởng, hành bên trong tâm; còn năm thức trước (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức) chỉ rõ biết sắc, thanh, hương, vị, xúc ở bên ngoài. Chúng ta cần phân biệt rõ chỗ này, tức là nhãn thức chỉ biết tất cả các sắc bên ngoài, còn nhĩ thức chỉ rõ biết được các tiếng, ngoài ra không biết cái gì khác. Cũng vậy, thiệt thức chỉ biết rõ về các vị, còn thân thức chỉ biết rõ chỗ đụng chạm. Như vậy, năm thức đầu tiền sẽ rõ biết về ngoại cảnh, ngoại trần, còn ý thức sẽ rõ biết nội trần, tức là rõ biết thọ, tưởng, hành. Điều này chúng ta cần phải nhớ thật kỹ, vì đây là trí tuệ rất quan trọng trong sự tu học của mình.
Nhờ có ý thức nên khi quay ngược vào trong tâm thì mình sẽ thấy được tâm này đang có hình bóng gì; đang có suy nghĩ gì; đang có cảm giác và sự biết rõ điều đó là ý thức. Cần nhớ rằng, các thọ, tưởng, hành ở trong tâm chính mình, chứ không phải mình đối diện với cảnh mới có thọ, tưởng, hành. Khi chúng ta ở một mình, thậm chí nhắm mắt lại nhưng mình vẫn đang tiếp xúc với cảm giác, hình bóng, suy nghĩ bên trong. Đây là điểm quan trọng trong sự tu. Không phải mình đóng cửa hết phòng là xong, vì khi đó chỉ là không có nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc ở ngoài nhưng lúc đó vẫn có ý xúc với với các thọ, tưởng, hành bên trong. Chính vì tiếp xúc với bên trong nên không ở thất một mình được, đóng cửa thất không được nên phải mở cửa ra, cách ly không được nên phải leo rào. Như vậy, chúng ta nhớ kỹ rằng ý thức là sự rõ biết thọ, tưởng, hành trong tâm. Cần nhớ điều này thật kỹ vì đây là những định lý được Đức Phật giác ngộ.
Một ví dụ khác về ý thức, chẳng hạn khi đang ngồi thiền một mình trong phòng tự nhiên hình bóng cha mẹ chúng ta hiện ra. Lúc đó mình có một cảm giác thân thương; có suy nghĩ “không biết giờ này cha mẹ có mạnh khoẻ không, không biết cha mẹ đang làm gì”; đồng thời biết rõ mình đang nghĩ về cha mẹ, đang có cảm giác nhớ thương, đang có hình bóng cha mẹ trong tâm. Như vậy, sự rõ biết đó là ý thức, tức là rõ biết thọ, tưởng, hành.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thực hành nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc98734401 \h 1
II.Nhận diện ngũ uẩn – kinh “Đáng được ăn” PAGEREF _Toc98734402 \h 4
1.Nhận diện sắc uẩn PAGEREF _Toc98734403 \h 4
2.Nhận diện thọ, tưởng, hành PAGEREF _Toc98734404 \h 8
3.Nhận diện thức uẩn PAGEREF _Toc98734405 \h 12
Thực hành nhận diện ngũ uẩn
Chúng ta tiếp tục nhận diện về “thân tâm” nói cách khác nhận diện về “ngũ uẩn”.
Đầu tiên là nhận diện về “sắc pháp”. Thực tập nhìn con người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại là sắc, từ đó loại bỏ những suy nghĩ, nhận thức cho rằng đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Tập nhìn ra sự thật rằng thân này là đất, nước, gió, lửa; tập nhìn những đồ vật xung quanh, nhà cửa, đồ đạc, xe cộ, chùa chiềng, mọi thứ xung quanh đều là tứ đại và mình điểm danh, chỉ mặt, gọi đúng tên của nó là sắc pháp. Không được nghĩ rằng “cái bàn này là của tôi”; “chỗ này là của tôi”, “cái ghế này là của tôi”, “cái phòng này là của tôi”, “đôi dép này là của tôi”. Mà hãy tập trong từng suy tư, nghĩ ngợi, nhận thức, lời nói của mình rằng những thứ đó đều là sắc pháp, là đất, nước, gió, lửa không hơn không kém. Từ những cảnh vật bên ngoài và những đồ vật mình đang sử dụng (tạm gọi đó là mình sở hữu), cho đến thân xác này, chúng ta phải tập nhìn và gọi đúng tên của nó là sắc pháp, là tứ đại. Vì vậy, phải tập nhận diện sắc uẩn, tập nhìn ra tổ hợp sắc chất đất, nước, gió, lửa này từ trong suy nghĩ, nhận thức, lời nói ở mọi lúc mợi nơi.
Thứ hai, tập nhìn những cảm giác, cảm thọ để thấy được các dòng cảm thọ, cảm giác, cảm xúc luôn sanh diệt, khởi diệt, luôn vận hành, vận chuyển, vận động trong ba dạng cảm thọ: vui, buồn, không vui không buồn (nói cách khác là cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu). Chúng ta phải nhìn nhận cảm thọ là cảm thọ, bởi vì trước nay mình luôn lầm lẫn, nghĩ rằng cảm giác là mình, từ đó dẫn đến việc khi giận lên mình cho là “tôi giận”, khi vui lên mình nói “tôi vui quá, tôi thích quá”. Bây giờ, khi đã biết nhận diện cảm thọ, chúng ta không được nói, không được nghĩ như vậy nữa. Thay vào đó phải biết rằng trong người mình đang có cảm giác vui, hoặc là bên trong đang có cảm giác bực bội, khó chịu. Như vậy là chúng ta đang tập nhận diện và nhìn ra đúng sự thật về các cảm thọ đang có mặt ở bên trong.
Thứ ba, đối với các hình bóng trong tâm thì chúng ta phải tập nhìn lại để xemtrong tâm đang có hình bóng gì và chỉ điểm rõ rằng những hình bóng đó là tưởng. Chúng ta phải nắm thật vững phần định nghĩa này và định nghĩa này cần được áp dụng vào thực tế khi ngồi thiền và mọi lúc mọi nơi trong sinh hoạt thường nhật tu học. Thường xuyên tập nhìn vào những hình bóng trong tâm để không lầm nhận đó là “tôi tưởng”, mà thấy đó là tưởng uẩn – những tổ hợp của các hình bóng.
Thứ tư, đối với các suy nghĩ cũng vậy, cần phải đọc, nghe, kiểm tra, kiểm soát từng suy nghĩ và biết rõ những suy nghĩ trong tâm là ý hành. Không được để cho những suy nghĩ đồng hóa mình rồi cho rằng “tôi đang suy nghĩ”, “ý nghĩ này là của tôi”, mà phải tách mình riêng ra suy nghĩ đó, đồng thời phải có trí tuệ để nhìn ngược lại vào bản chất của những suy nghĩ đó. Tức là thấy rõ những suy nghĩ là tổ hợp của hành uẩn, không để cho những suy nghĩ đó đồng hóa mình. Sau đó, ngăn chặn những suy nghĩ cho rằng những ý hành đó là “tôi nghĩ”, “tôi tính”, “tôi suy tư”. Ngược lại, nếu mình nhập cuộc, cho rằng suy nghĩ và mình là một thì lúc đó không phải là nhận diện hành uẩn nữa, mà lúc đó là nhập uẩn, không còn trí tuệ để nhận diện ngũ uẩn nữa.
Cuối cùng là thức uẩn, đây là phần hết sức khó khăn. Chúng ta hiểu đơn giản: rõ biết về sắc là nhãn thức; rõ biết về tiếng là nhĩ thức; rõ biết về mùi là tỷ thức; rõ biết về vị là thiệt thức; rõ biết về xúc là thân thức; rõ biết về thọ, tưởng, hành trong tâm là ý thức.
Chúng ta phải nhớ rằng, trong sự tu tập này, cần phải thường xuyên thực tập nhận diện ngũ uẩn vì sự nhận diện này rất quan trọng. Nếu không làm bài tập và không chịu thực hành thì đi vào trong kinh sẽ không hiểu được.
Bài tập đầu tiên là nhận diện ngũ uẩn khi ngồi thiền, xem trong suốt thời gian đó có suy nghĩ gì xuất hiện, hành uẩn vận hành như thế nào; những hình bóng gì xuất hiện, tưởng uẩn sanh khởi ra làm sao; những cảm giác sanh diệt như thế nào; nhận diện sắc uẩn, xem sắc thân này như thế nào; thức uẩn hoạt động như thế nào, nó rõ biết được thọ, tưởng, hành ra sao… Cho nên, nhận diện ngũ uẩn là bài tập hết sức quan trọng trong khi ngồi thiền. Vì lúc ngồi thiền thì tâm mình rất trong sáng, nhờ vậy nên chúng ta nhìn ngũ uẩn được tỉnh sáng, sâu sắc và chính xác hơn lúc bình thường. Hơn nữa, đối với một vị đã nhận diện ngũ uẩn thường xuyên và quen sắc bén thì vị này có thể nhìn ngũ uẩn mọi lúc mọi nơi, còn người mới tu thì tập nhận diện trong lúc ngồi thiền sẽ được hiện rõ hơn.
Bài tập thứ hai là thực tập nhận diện ngũ uẩn lúc ăn cơm. Mỗi khi thọ trai, mỗi khi dùng cơm thì phải xem cảm giác vận động như thế nào; hình bóng trong tâm lúc ăn cơm vận hành ra sao; có suy nghĩ gì trong khi đang nhai, ăn, nuốt, uống… Như vậy, chúng ta phải tập nhìn vào thọ, tưởng, hành, thức trong lúc ăn cơm.
Bài tập thứ ba là tập nhận diện ngũ uẩn khi ra làm việc với chúng, khi phụ trách dọn trai đường, khi cùng nấu nướng trong nhà bếp, khi lau dọn chánh điện hoặc quét sân, làm vườn làm rẫy. Những lúc làm việc đó, chúng ta cần xem hành uẩn có suy nghĩ gì, cảm giác như thế nào, trong tâm nó có hình bóng gì.
Bài tập thứ tư là nhận diện ngũ uẩn khi ngủ. Lúc bắt đầu lên giường nằm xuống hãy nhìn vào bên trong xem mình có cảm giác như thế nào; khi nhắm mắt lại thì trong tâm có hình bóng gì; đọc được những suy nghĩ của hành uẩn trong lúc đó; thân tướng mình trong lúc ngủ như thế nào cũng phải quan sát, nhận diện sắc uẩn lúc đó.
Khi đi tắm cũng vậy. Nếu có sự nhận diện thì chúng ta sẽ thấy rất bất ngờ vì nhận ra được những điều luôn sanh khởi và vận hành trong thân tâm chính mình nhưng trước nay mình chưa từng được thấy. Ví dụ, chỉ cần nghe tiếng xối nước của người tắm kế bên là mình biết người đó có chánh niệm hay không chánh niệm. Nếu xối nước bằng dục là xối nước ào ào vì lúc đó dục đang hoạt động, cái dục này chạy theo cái cảm giác mát mẻ, thoải mái mà không có sự kiểm soát thân hành niệm. Đây là chúng ta bắt đầu đi vào chỗ sâu sắc của sự chánh niệm. Vậy, cái gì thúc giục mình xối nước ào ào lúc tắm? Chính cảm giác bên trong là một cảm giác thúc giục, hối thúc, thúc đẩy mình nhanh mau xối ào ào để được mát mẻ, sung sướng. Đó chính là cái tắm trong dục, không có chánh niệm tỉnh giác.
Ngoài ra, cần phải tập nhận diện ngũ uẩn trong bước đi. Nếu đi mà bên trong hối thúc, giục giã, hấp tấp,vội vàng, lăng xăng giống như có đuổi theo đằng sau thì đó là đi trong dục. Khi mở cánh cửa, hoặc bỏ tô chén xuống bàn gây ra tiếng động cũng là sự thô thiển, không có thân hành niệm, không có niệm thân, không có chánh niệm tỉnh giác.
Quan trọng nhất là khi nói chuyện, cần phải luôn luôn nhận diện ngũ uẩn lúc nói, bằng không, nói một lúc là trong đó sân, có dục, có bản ngã. Ví dụ, hai huynh đệ đang ngồi bàn những đạo lý cao thâm, bàn một hồi thì phùng mang, trợn mắt không nói chuyện nữa vì bất đồng quan điểm. Cho nên, phải tập nhận diện ngũ uẩn trong khi pháp đàm, thảo luận về pháp. Cần xem xét mình nói bằng cái bản ngã, nói bằng sự hơn thua, nói về sự đúng sai hay là nói để tìm cầu chân lý, tìm cầu sự thật, tìm cầu pháp? Nếu trong câu nói đó có cảm giác hơn thua và một cảm giác giành phần thắng, giành phần đúng, giành phần hơn thì đó là bản ngã nói, khi đó mình phải nhìn ra được. Đó là nhận diện ngũ uẩn khi nói chuyện.
Như vậy, nhận diện ngũ uẩn chính là bài tập chúng ta phải làm trong suốt đòi, cho đến khi thành tựu cứu cánh phạm hạnh, đạt được Thánh quả tối cao.
Nhận diện ngũ uẩn – kinh “Đáng được ăn”
Kế đến, chúng ta cùng tìm hiểu thêm định nghĩa ngũ uẩn thứ ba, đây là định lý chứng ngộ của Đức Phật, nếu không thuộc thì mình sẽ không biết thực hành.
Nhận diện sắc uẩn
Trong kinh “Đáng được ăn”, Đức Phật định nghĩa:
Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là sắc. (Tương Ưng Bộ kinh – tập III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa III. Phẩm Những Gì Được Ăn, kinh Đáng Được Ăn)
Như vậy, Đức Phật dạy chúng ta thêm một góc độ trong trí tuệ về sắc uẩn, đó là tánh chất của sắc pháp này là tính bị đổi thay, tính chất bị biến họai, tính chất đổ vỡ, tan tành, mục nát, rã rời, tiêu ma. Tất cả các sắc đều có tính chất là bị thay đổi. Lạnh là thay đổi, nóng là thay đổi, sốt đói là tay chân giở không lên, khát là không còn sức lực, nằm lấy hơi lên. Cho nên Đức Phật nói, sắc này bị thay đổi bị nóng, lạnh, đói, khát… là vậy. Hoặc khi ngồi thiền, mình bị muỗi, ruồi bay vo ve xung quanh rồi đậu trên người là mình đã khó chịu, sau đó, con muỗi còn chích mình, thế là mình sân tức nổi lên. Như vậy là chúng ta bị thay đổi từ thân cho tới tâm. Đó là mình chỉ mới ví dụ bị chích bởi kim của con muỗi, nhìn sâu hơn, nếu bị xúc chạm với con dao sắc bén thì chúng ta có thể chết hoặc bị thương, tật nguyền, nằm liệt một chỗ. Hơn nữa, khi bị ruồi, muỗi, ong ong bay vo ve quanh lỗ tai, ngoài làm mình khó chịu thì nó còn có thể đâm chích làm mặt mình bị sưng lên, đó là sự thay đổi của thân này. Cho nên nói, bản chất của sắc này là bị thay đổi.
Thành ra, mỗi một chữ trong kinh cần phải được chiêm nghiệm, tư duy, nghiền ngẫm, quán chiếu cho thật thẩm thấu. Vì mỗi một chữ trong kinh chính là Thánh trí tuệ đã được bậc Chánh Đảng Chánh Giác chứng ngộ. Chúng ta không được đọc lơ là, phớt qua, không được đọc cho hết chữ, hết trang, hết hàng, hết bài, hết vở, mà đọc bằng sự cảm nhận, thẩm thấu, tư duy, chiêm nghiệm, quán chiếu và nhìn thấy được thâm ý Đức Phật muốn truyền trao. Cho nên, phải để tâm, nghiền ngẫm ba chữ “bị thay đổi” trong định nghĩa ngũ uẩn, kinh “Đáng Được Ăn” thật sâu sắc, bởi vì đặc tánh, bản chất, bản tánh của tất cả sắc pháp trên thế giới này, hình hài này đều bị thay đổi. Mọi người hãy lấy ba chữ đó để làm đề mục thiền quán để thấy rằng tất cả đã bị thay đổi, đang bị thay đổi và sẽ bị thay đổi.
Ví dụ, buổi học hôm nay mình được phân ngồi bàn thứ nhất, ngay giữa lớp, đối diện với giáo thọ sư. Buổi học hôm sau, giáo thọ lại thay đổi, phân cho mình ngồi bàn cuối cùng để nhường chỗ cho vị khác, lúc đó cảm thọ mình ít nhiều sẽ khó chịu. Nhưng nếu đã được học “các sắc bị thay đổi” thì khi đó mình quán chiếu và thấy tất cả các sắc đều bị thay đổi là lẽ đương nhiên, nhờ vậy tâm mình được bình thản, ngồi an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào. Khi đó, mình cũng tác ý thêm: “Nhường chỗ đó cho sư huynh ngồi rất là tốt, thật vui vì mình có cơ hội để nhường chỗ đẹp, chỗ tốt này cho mọi người”. Khi đó mình ngồi học với một nội tâm ngọt ngào, yên ổn, yên tịnh, lắng dịu. Dù ngồi dưới tận cùng ở góc kẹt nhưng lại dễ chịu làm sao!
Đây là chuyện hết sức nhỏ và đơn giản nhưng làm được như vậy là cả một công phu tu học. Cho nên, không phải sự tu này chỉ gồm những chuyện lớn, mà chúng ta phải tu trong từng chuyện nhỏ. Tất cả chuyện lớn là từ chuyện nhỏ, nếu mình xem thường chuyện nhỏ, chỉ muốn tu chuyện đại sự, như vậy thì vĩnh viễn mình không thành bổn phận sự. Đó là các ví dụ hết sức là đơn giản để mình thấy được tính chất bị thay đổi của các pháp. Đến khi các pháp đổi thay mà tâm mình vẫn không thay đổi thì lúc đó mình đã thành tựu trí tuệ mà Đức Phật truyền trao.
Minh Thành lấy thêm ví dụ, nhiều huynh đệ thân với nhau từ nhỏ tới lớn, thân thiết với nhau suốt mười mấy năm nhưng do bất đồng, mâu thuẫn nên về sau không nói chuyện, không thèm nhìn mặt nhau, đi ngang qua nhìn nhau như không khí. Lúc đó mình phải thấy rằng “bị thay đổi gọi là sắc”, sắc này là bị thay đổi” để tâm mình có được bình an. Đó là những ví dụ thực tế, gần gũi nhất trong đời sống để chúng ta quán chiếu và tu tập.
Chúng ta phải chuẩn bị tư thế, chuẩn bị tinh thần, chuẩn bị suốt hai mươi bốn trên hai mươi bốn giờ rằng mọi thứ xung quanh, bao gồm thân thể, tâm thức, cảm giác, suy nghĩ… đều bị thay đổi. Nếu không thành tựu sự thấy biết, nhớ nghĩ thường xuyên về sắc pháp, sắc uẩn thì khi có chuyện xảy ra, đổ ra, vỡ ra, bể ra, nát ra làm sao nội tâm mình bình an, an tịnh, lắng dịu được.
Đức Phật đã dạy, sắc này bị thay đổi bởi lạnh, bởi nóng, bởi đói, bởi khát, bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Cho nên, chỉ một cơn gió cũng đưa mình đi qua đời sau, thay tên đổi họ mình. Một cái hắt xì, một cái nhảy mũi cũng có thể làm mình đầu thai kiếp khác. Sắc này bị thay đổi dễ dàng như vậy nhưng chúng ta không nhớ sự thật, mà cả đời sống trong thầm ý, nhận thức sai lầm rằng “thân này là tôi, thân này cứng lắm, chắc lắm, vững lắm”, rồi vỗ ngực xưng ta đây. Đó chính là sự vô minh, ngu si, si mê, ngu muội, chấp ngã, mù lòa, không thấy được sự thật của sự “bị thay đổi” này.
Chính vì vậy, phải thường xuyên, thường trực, thường luôn, thường thường, thường nhật, thường hoài ghi nhớ tất cả các sắc đều ở trong trạng thái bị thay đổi, phải bị thay đổi. Ở đây, chữ “thay đổi” nghĩa là “vô thường” nhưng lại thêm chữ “bị”. Khi đi sâu vào chánh kinh, chúng ta sẽ thấy tuyệt diệu lắm, Đức Phật dùng nhiều từ như vậy, chặng hạn “bị sanh”, “bị già”, “bị bệnh”, “bị chết”. Phật nói chúng sanh “bị buồn lo, bị sầu khổ, bị bệnh tật mà lại đi tìm cái bị buồn lo, sầu khổ, bệnh tật”; “bị chết mà lại đi tìm cái bị chết”. Qua đó, chúng ta thấy được Thánh trí tuệ của Đức Phật khi thêm chữ “bị” vào những từ đó. Cụ thể, “thay đổi” là vô thường, còn Phật dùng từ “bị thay đổi”, tức là cái sắc này nhất định bị thay đổi. Vậy mà mình không thấy nó bị thay đổi nên cứ sống trong vô minh, si ám, chấp thủ, nắm giữ, nắm chặt.
Mùa mưa ta ở đây
Ðông, hạ cũng ở đây,
Người ngu tâm tưởng vậy,
Không tự giác hiểm nguy.
(Kinh Pháp cú – Phẩm Đạo – kệ 286)
Phần lớn con người đều nghĩ hiện tại đang ở đâu thì tháng sau cũng sẽ ở đó, năm sau cũng vậy, năm năm sau, mười năm sau rồi vẫn mãi vậy. Những người ngu thường nghĩ như vậy nên không tự biết mình đang bị hiểm nguy vì mình đang bị thay đổi. Chỉ một chữ “bị thay đổi” thôi mà chúng ta phải chiêm nghiệm vô cùng sâu sắc, vì vậy, việc học kinh đòi hỏi sự thâm sâu, thâm thúy như vậy.
Bị muỗi, bị gió, bị sức nóng và bị rắn tác động thì sắc này cũng thay đổi nhanh chóng. Bị rắn mổ vào là sắc này thay đổi chở đi cấp cứu không kịp là chết ngay. Hoặc không may bị rắn hổ mang chúa, rắn cạp nông, rắn lục đuôi đỏ, mổ vào người một cái là sắc thân này bị thay đổi lập tức. Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu phần định nghĩa về sắc trong kinh “Đáng được ăn”.
Nhận diện thọ, tưởng, hành
Tiếp theo, Đức Phật tuyên bố:
Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thọ?
Được cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Được cảm thọ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thọ.
Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là tưởng?
Nhận rõ, này các Tỷ-kheo, nên gọi là tưởng. Nhận rõ gì? Nhận rõ màu xanh, nhận rõ màu vàng, nhận rõ màu đỏ, nhận rõ màu trắng. Nhận rõ, này các Tỷ kheo, nên gọi là tưởng.
Tưởng là nhận rõ những hình bóng trong tâm của mình. Ví dụ, nhớ lại hình ảnh sáng nay người mình vừa gặp mặc áo trắng hay áo vàng, nhớ gương mặt người đó da trắng hay da đen. Sự nhận rõ hình bóng trong tâm như vậy gọi là tưởng.
Này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là hành?
Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỷ-kheo, nên gọi là các hành. (Tương Ưng Bộ kinh – tập III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa III. Phẩm Những Gì Được Ăn, kinh Đáng Được Ăn)
Phần này chúng ta cần tìm hiểu thật kỹ vì hết sức quan trọng. Khi đọc lên mình thấy rất khó hiểu. Nếu mình không có vị thực hành được pháp hướng dẫn thì dù có đọc ba chục năm cũng khó có thể hiểu.
“Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh”, nghĩa là làm cho hiện hành sắc với tính chất của sắc. “Hữu vi” có nghĩa là tất cả các pháp được làm ra, tạo ra là nằm trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Câu kinh này có nghĩa là những sắc, thọ, tưởng, hành, thức được biểu hiện ra, được vận hành ra, được trình bày ra thì được gọi là hiện hành, như vậy, làm biểu hiện, vận hành các pháp thì thì gọi là hành.
Trong bài kinh “Cội rễ của sự vật” – Tăng Chi Bộ Kinh IV, Đức Phật tuyên bố những câu rất thâm sâu, trong đó có câu: “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, nghĩa là tất cả mọi sự vật, mọi việc trên thế gian này do sự suy nghĩ của mình mà ra, từ suy nghĩ mới sanh khởi tất cả các pháp. Như vậy làm hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hành, ý hành là sự suy nghĩ.
Nãy giờ Minh Thành ví dụ những chuyện trong chùa, bây giờ ví dụ những chuyện ở ngoài đời cho dễ ấn tượng, để nhớ. Có một thầy tri khố đi chợ mua đồ, khi mua rau gặp cô bán hàng mặt như hoa, da như phấn, nở nụ cười như sen hồng nở, lúc về chùa ông cứ về im lặng, không nói gì cả mà mặt ông cứ buồn. Tuần lễ sau có huynh đệ thân thiết hỏi xem ông có bệnh gì không, vì mặt ông cứ buồn buồn. Sau khi hỏi ba bốn lần thì cuối cùng ông mới chịu nói là sau khi gặp cô bán hàng ở chợ thì khó chịu. Chúng ta thấy rằng, nếu ông không nói câu đó ra thì người khác làm sao biết được ông bị thế nào. Cho nên, làm hiện hành các pháp hữu vi là ông kể lại sau khi gặp cô bán hàng đó thì ông suy nghĩ không dừng và hiện tại tâm của ông bị ám ảnh bởi hình bóng của cô bán rau ngoài chợ. Như vậy, nà nếu ông không chịu nói ra thì làm sao các pháp hữu vi hiện hành ra được, khi nói ra thì người khác mới biết nguyên nhân tại sao ông khó chịu, buồn buồn. Và chính từ suy nghĩ như vậy mới phát ra lời nói tương ứng, từ đó tất cả pháp mới hiện hành, biểu hiện, vận hành.
Thành ra, suy nghĩ của mình ghê gớm lắm. Chẳng hạn, trưa nay mình ăn cơm, khi được đầu bếp hỏi “ăn ngon hay không”, mình trả lời “nấu ngon lắm”, chính câu “nấu ngon lắm” đó sẽ làm hiện hành cảm thọ, cảm giác vui sướng khi ăn ngon miệng. Đồng thời, đối với cái ngon đó thì mình biết rõ là ngon, đó chính là thức. Khi nói đồ ăn ngon thì hình bóng của những món ăn, như canh chua, đậu hũ, đồ kho... hiện ra, đó chính là tưởng. Cho nên, chỉ một câu nói của mình mà nó tạo thành những thọ, tưởng, hành, thức và câu nói đó gọi là khẩu hành, nếu nó còn nằm trong suy nghĩ thì gọi là ý hành. Chính sự biểu hiện của những suy nghĩ, lời nói đó làm cho ngũ uẩn vận hành, các pháp sanh khởi và Đức Phật gọi là “làm hiện hành các pháp hữu vi nên gọi là hiện hành”.
Chẳng hạn, khi thấy sư đệ mới vào tu mặt mày cứ bí xị, mình hỏi tại sao thì sư đệ nói là tuy vào chùa tu rồi nhưng vẫn nhớ gia đình, nhớ nhà con còn nhỏ, vợ đau, con mới vài tuổi mà họ đã bỏ đi tu. Điều này có nghĩa, dù đi tu rồi nhưng vẫn bị ám ảnh bởi những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về gia đình, cứ nhớ thương nên mặt không tươi nổi, lúc nào cũng bí xị. Như vậy, khi mình hỏi và huynh đệ nói ra tâm sự thì mình mới biết họ suy nghĩ cái gì. Đó là làm cho hiện hành sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nghĩa là làm cho biểu hiện ra, làm cho sáng tỏ ra, làm cho người ta thấy rõ, biết rõ, trình bày rõ ràng ra. Nhờ đó, mình biết được cảm giác của họ rất khó chịu, suy nghĩ của họ cứ loanh quanh chuyện đó, những hình bóng về gia đình cứ ám ảnh trong tâm và chúng ta nhận thức được điều đó tức là làm cho hiện hành sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
Sau đó, chúng ta đưa ra lời khuyên: “Thôi, đệ đừng nhớ nữa, giờ mình đã quyết chí đi tu, quyết chí từ bỏ tất cả rồi thì thôi bỏ luôn đi. Con người ngoài đời mình còn bỏ được, chẳng lẽ đối với hình bóng, ảo ảnh trong tâm bỏ không được sao? Tại sao thân tướng, da thịt, người thật mà bỏ được, bây giờ cái ảo ảnh, hư huyễn trong mà không bỏ được hay sao?”. Sư đệ nghe sư huynh nói vậy nên khoát nhiên đại ngộ, nhất ngôn liễu ngộ và vỡ lẽ ra rằng, đến con người bằng da, bằng xương, bằng thịt mà còn bỏ được, chẳng lẽ lại không bỏ được những bóng hình giả dối trong tâm? Tất cả những hình bóng, nghĩ, tưởng đó đều là vọng tưởng, ảo tưởng, điên đảo tưởng không bỏ hay sao! Thấy vậy nên vị này quyết định từ bỏ và diệt tận những cảm giác, nghĩ, tưởng đó và làm cho chúng tan biến hoàn toàn thành mây, thành khói, thành hư không, từ đó có được nội tâm hoàn toàn an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng để tu học.
Đó là chúng ta ra lệnh để giải phá tất cả những ám ảnh, những hình bóng hư huyễn, ảo tưởng, mộng tưởng, hư tưởng bằng sự Như lý tác ý mạnh mẽ. Sự tác ý đó sẽ làm cho các hình bóng tan rã, tan vỡ, tan nát, tan vụn, tan tành, tan hoang. Sử dụng Như lý tác ý trong sự tu học tức là dùng suy nghĩ để diệt suy nghĩ; dùng hành để phá hành; dùng hành uẩn để diệt hành uẩn giống như dùng độc trị độc. Cần dùng suy nghĩ thiện để đánh đuổi suy nghĩ bất thiện; dùng suy nghĩ trí tuệ đánh phá những suy nghĩ vô minh; dùng suy nghĩ hùng lực đánh phá những suy nghĩ nhu nhược, yếu hèn, hạ liệt, phàm phu, thấp kém. Đồng thời, chúng ta cố gắng tu tập để đưa những suy nghĩ của bậc Thánh bậc đại trí tuệ, của bậc xuất trần thượng sĩ để đánh phá những suy nghĩ nhu nhược, yếu hèn, hạ liệt, phàm phu, thấp kém.
Trong pháp hành kinh tạng Nikāya, đây là phần tu tuyệt đối quan trọng, là Chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo. Theo trình tự, sau khi thấy đúng về nội tâm, mình biết trong tâm đang có những suy nghĩ nhu nhược thì cố gắng làm cho suy nghĩ của mình mạnh mẽ lên. Hoặc đang có những suy nghĩ khiến mình đi xuống thì cần tác động tâm lí giúp mình tiến lên. Như vậy, gọi là Chánh tư duy, Thánh tư duy, suy nghĩ của bậc Thánh, suy nghĩ chân chánh, suy nghĩ đưa đến sức mạnh trí tuệ ở bên trong. Điều này có nghĩa, tấn lực, tuệ lực, đại hùng lực, mãnh hổ lực, hung hãi lực, oai thần lực có được cũng từ tác động tâm lí của chúng ta.
Cho nên, nếu không có suy nghĩ đúng đắn bên trong thì những suy nghĩ tiêu cực sẽ ngấm vào tâm mình dần dần. Sau đó nó tạo thành khối u trong nội tâm chúng ta mà ngay cả chính mình cũng không hay biết. Đến khi mình phát hiện, phát giác thì đã đến giai đoạn cuối rồi không thể cứu chữa được. Chính vì vậy, bước đầu tiên trong sự tu tập là nhận diện ngũ uẩn hết sức quan trọng. Bởi lẽ, nhờ có sự nhận diện ngũ uẩn, ta sẽ biết được trong tâm đang lành mạnh hay là đang có những ung nhọt. Đức Phật đã nói trong Tạng Kinh Nikāya là trong tâm này có rất nhiều những ung hạch, ung nhọt, ung bướu, ung thư và đầy dẫy những khối u của tham dục, sân hận, si mê, bản ngã. Cho nên, chúng ta nhận diện để thấy thật rõ và trị liệu.
Trở lại bài kinh, chúng ta thấy rằng, trong sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức thì còn chữ “tánh” đi theo sau, ở đây, chúng ta hiểu ý của câu kinh này là nhắc đến bản tánh của ngũ uẩn là vô thường. Ví dụ đơn giản nhất, mình vừa nhìn thấy người đó giàu sang, phú quý, sống vui vẻ, hạnh phúc hôm qua nhưng hôm nay nghe tin họ đã chết. Một ví dụ này đã làm rõ đầy đủ ý nghĩa của câu “làm hiện hành sắc với sắc tánh”, cụ thể, người đó là sắc; còn sắc tánh là người này hôm qua còn sống bình thường nhưng hôm nay đã chết, tức là sắc này bị đổi thay, bị biến đổi vô thường, đó là tánh chất của ngũ uẩn.
Tóm lại chữ hành này có nghĩa là những suy nghĩ, lời nói của mình làm biểu hiện, vận hành ra ngũ uẩn. Khi nói ra thì người khác mới biết mình đang có cảm giác gì, bằng không, mình im lặng thì người ta đâu thể biết được. Phải nói ra “tôi thích quá”, hoặc “tôi thấy bực mình ghê” thì người nghe mới biết mình đang có cảm thọ gì, đang suy nghĩ điều gì, không thôi người ta cứ nghĩ, tưởng đủ thứ, không đúng với sự thật. Và những suy nghĩ, tưởng tượng, lời nói đó đều nằm trong năm uẩn, không thể ra khỏi năm uẩn. Như vậy, những suy nghĩ làm cho các pháp hiện hành, từ suy nghĩ thì mình phát ra lời nói, từ đó người khác mới biết được cảm giác của mình đang như thế nào; trong tâm mình đang có hình bóng gì; mình đang suy nghĩ cái gì và mình nhận thức như thế nào khi mình phát ra cái lời nói.
Nhận diện thức uẩn
Và này các Tỷ-kheo, thế nào gọi là thức?
Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. Rõ biết gì? Rõ biết chua, rõ biết đắng, rõ biết cay, rõ biết ngọt, rõ biết chất kiềm... rõ biết không phải chất kiềm, rõ biết mặn, rõ biết không mặn. Rõ biết, này các Tỷ-kheo, nên gọi là thức. (Tương Ưng Bộ kinh – tập III, Phần 22b - B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa III. Phẩm Những Gì Được Ăn, kinh Đáng Được Ăn)
Bài kinh này chỉ mới nói về thiệt thức, nếu nói đầy đủ là gồm có sáu thức. Trong đó, Đức Phật đã khẳng định rõ “rõ biết nên gọi là thức”. Ví dụ, hiện tại mọi người đang nghe pháp trực tuyến, lúc nhìn vào màn hình sẽ thấy cái bóng của Minh Thành, sự rõ biết đang có hình bóng Minh Thành và cảnh vật gọi là nhãn thức – sự rõ biết các sắc. Lúc nghe âm thanh Minh Thành nói và có sự rõ biết âm thanh đó gọi là nhĩ thức – sự rõ biết âm thanh. Xung quanh mình có mùi của gỗ, mùi của bàn ghế và mình rõ biết được cái mùi đó gọi là tỷ thức – rõ biết các mùi. Khi nhìn lại và có sự rõ biết được các vị ở trong lưỡi, trong miệng mình gọi là thiệt thức – sự rõ biết các vị. Thân mình đang đụng chạm với quần áo, bàn ghế… sự rõ biết chỗ đụng chạm, tiếp xúc đó gọi là thân thức – rõ biết sự tiếp xúc. Cuối cùng là ý thức, Minh Thành ví dụ, khi ngồi mà sanh khởi đau chân, có cảm giác khó chịu thì mình có suy nghĩ “lẹ lẹ hết giờ đi, ông gác thiền ngủ gục hay sao mà chưa chịu đánh chuông báo hết giờ”, trong đó: suy nghĩ lầm thầm đó là hành; cảm giác đau tê chân là thọ; hình bóng ông gác thiền ngủ gục hiện là tưởng. Lúc đó, tâm thức nhận biết được mình đang có cảm giác khó chịu, đang có hình bóng đó, suy nghĩ đó, như vậy, sự rõ biết đó là ý thức – rõ biết thọ, tưởng, hành.
Hoặc mình đang ngồi thiền thì hình ảnh ngôi nhà mình ở quê hiện ra. Lúc đó, hình bóng của căn nhà thân thương ở làng quê hiện ra; mình có cảm giác gần gũi, ấm áp, dễ chịu; mình có suy nghĩ “lâu rồi mình chưa về quê thăm nhà, không biết khi nào được về thăm” và mình rõ biết trong tâm đang có hình bóng căn nhà, có cảm giác dễ chịu và đang có suy nghĩ. Như vậy, hình bóng căn nhà là tưởng, cảm giác dễ chịu là thọ, suy nghĩ có dịp mình về thăm nhà là hành và sự rõ biết được ba cái đó là ý thức.
Ở đây, chúng ta cần chú ý rằng, ý thức là rõ biết thọ, tưởng, hành bên trong tâm; còn năm thức trước (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức) chỉ rõ biết sắc, thanh, hương, vị, xúc ở bên ngoài. Chúng ta cần phân biệt rõ chỗ này, tức là nhãn thức chỉ biết tất cả các sắc bên ngoài, còn nhĩ thức chỉ rõ biết được các tiếng, ngoài ra không biết cái gì khác. Cũng vậy, thiệt thức chỉ biết rõ về các vị, còn thân thức chỉ biết rõ chỗ đụng chạm. Như vậy, năm thức đầu tiền sẽ rõ biết về ngoại cảnh, ngoại trần, còn ý thức sẽ rõ biết nội trần, tức là rõ biết thọ, tưởng, hành. Điều này chúng ta cần phải nhớ thật kỹ, vì đây là trí tuệ rất quan trọng trong sự tu học của mình.
Nhờ có ý thức nên khi quay ngược vào trong tâm thì mình sẽ thấy được tâm này đang có hình bóng gì; đang có suy nghĩ gì; đang có cảm giác và sự biết rõ điều đó là ý thức. Cần nhớ rằng, các thọ, tưởng, hành ở trong tâm chính mình, chứ không phải mình đối diện với cảnh mới có thọ, tưởng, hành. Khi chúng ta ở một mình, thậm chí nhắm mắt lại nhưng mình vẫn đang tiếp xúc với cảm giác, hình bóng, suy nghĩ bên trong. Đây là điểm quan trọng trong sự tu. Không phải mình đóng cửa hết phòng là xong, vì khi đó chỉ là không có nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc ở ngoài nhưng lúc đó vẫn có ý xúc với với các thọ, tưởng, hành bên trong. Chính vì tiếp xúc với bên trong nên không ở thất một mình được, đóng cửa thất không được nên phải mở cửa ra, cách ly không được nên phải leo rào. Như vậy, chúng ta nhớ kỹ rằng ý thức là sự rõ biết thọ, tưởng, hành trong tâm. Cần nhớ điều này thật kỹ vì đây là những định lý được Đức Phật giác ngộ.
Một ví dụ khác về ý thức, chẳng hạn khi đang ngồi thiền một mình trong phòng tự nhiên hình bóng cha mẹ chúng ta hiện ra. Lúc đó mình có một cảm giác thân thương; có suy nghĩ “không biết giờ này cha mẹ có mạnh khoẻ không, không biết cha mẹ đang làm gì”; đồng thời biết rõ mình đang nghĩ về cha mẹ, đang có cảm giác nhớ thương, đang có hình bóng cha mẹ trong tâm. Như vậy, sự rõ biết đó là ý thức, tức là rõ biết thọ, tưởng, hành.
./.