5. NHẬN DIỆN NĂM UẨN
Mục lục
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thực tập nhận diện năm uẩn: PAGEREF _Toc50466853 \h 1
Phật tử 1 PAGEREF _Toc50466854 \h 1
Phật tử 2 PAGEREF _Toc50466855 \h 3
II. Tầm quan trọng nhận diện năm uẩn: PAGEREF _Toc50466856 \h 5
III. Sắc uẩn: PAGEREF _Toc50466857 \h 7
IV. Thọ uẩn: PAGEREF _Toc50466858 \h 11
NHẬN DIỆN NĂM UẨN
-Thích Minh Thành-
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”
“Khi các huynh đệ Niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ba lần, lúc đó có thấy tâm mình sao?
Trong lúc mình ngồi yên tĩnh mấy phút đó, năm uẩn nó như thế nào?
Lúc mình nghe phòng bên cạnh niệm Phật, lúc đó năm uẩn mình như thế nào?
Có ai ghi nhận được không? Chia sẻ cho đại chúng, đó là bài tập đó, lúc mình đứng mình niệm ba câu đó, tâm mình như thế nào? Có nhìn thấy không? Huynh đệ cứ chia sẻ thoải mái. Mình đã qua một cái tiểu luận, chuyên đề về Quán Chiếu Tứ Đại. Bây giờ coi như bữa nay là thu hoạch.
I. Thực tập nhận diện năm uẩn:
Tứ đại và năm uẩn mình đã học, bây giờ mình cứ nói thoải mái, có gì mình cứ chia sẻ thật lòng, có sao mình nói vậy thôi. Nãy giờ nhận diện năm uẩn coi nó làm sao. Cũng như là trong các chuyên đề mình học mấy tháng nay, thì mình thu thập được cái gì?”
Phật tử 1
“- Phật tử: Kính thưa thầy và đại chúng,
Trong lúc niệm “Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” Con nhiếp câu Niệm Phật vào trong tâm của mình. Khi mình niệm như vậy, thấy tâm của mình rất thanh thản, mình nhiếp được cái đó thì năm uẩn của mình không sanh khởi. Khi ngồi xuống thì cũng giữ trạng thái như vậy, năm uẩn nó cũng không sanh khởi. Và khi con nghe bên kia niệm “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” lúc đó tâm mình cũng có khởi lên, phóng theo câu niệm đó, nhưng khi vừa khởi lên thì con biết liền. Con biết là mình chạy theo cảnh và chạy theo cái tiếng đó, cho nên lúc đó con làm chủ lại được năm uẩn.
Con cũng trình bày với thầy về năm uẩn, mà thầy đã dạy cho chúng con từ bấy lâu qua, người tu trước mắt là phải nhận biết được năm uẩn: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là các hình thể, các pháp hữu vi, đại khái như là các chất rắn, mắt, tai, mũi, lưỡi hay những vật chất bên ngoài, thì gọi là sắc. Thọ gọi là cảm thọ của uẩn mình, cũng giống như mình đi trời nắng nóng.
- Thầy: Hiện tại là cảm thọ gì?
- Phật tử: Cảm thọ của con là vừa nói vừa run
- Thầy: Đó là cảm thọ khổ hay vui?
- Phật tử: Dạ là lạc thọ, con vui vì con hiểu được cảm thọ đó, thọ nhận được sự vui đó. Con còn chấp vào cái vui đó, mặc dù là chấp nhưng là thiện pháp. Còn cái vui mà tâm mình phóng ra ngoài thì là ác pháp. Ngay lúc này con đang làm chủ được cảm thọ của con, con rõ biết được tưởng của mình lúc Niệm Phật nó làm sao, bây giờ tâm mình vận hành làm sao.
- Thầy: Tưởng là hình bóng trong tâm, từ nãy giờ có hình bóng gì?
- Phật tử: Hình bóng con tưởng lại câu Niệm Phật lúc ban đầu tâm mình nó làm sao, là khi con nghe phòng kế bên đọc nó làm sao, rồi con đem so sánh, sự vận hành con mới thấy mình phóng tâm, nó chạy theo tiếng bên kia”.
“Bây giờ có ai nhận diện đầy đủ được ngũ uẩn, mình học là học lý thuyết, bây giờ mình phải thực tập thực tế. Bây giờ ai có thể lên nói lại định nghĩa năm uẩn là gì? Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là gì?”
Phật tử 2
“- Phật tử: Kính thưa giáo thọ và đại chúng,
Cho con được trình bày hiểu biết của mình thông qua sự học hỏi giáo thọ về năm uẩn. Năm uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức, năm yếu tố tạo thành nên một con người. Sắc là chỉ thân thể của chúng ta có đầy đủ sáu căn.
- Thầy: Hoa có phải là sắc không?
- Phật tử: Dạ, hoa là sắc
- Thầy: Bây giờ mình nói sắc là thân thể đầy đủ sáu căn thì mình nói có bản thân mình thôi, chưa đủ
- Phật tử: Sáu căn của mình là bên trong nội tâm của mình, còn sắc tướng bên ngoài như hoa, cảnh vật, vật thể bên ngoài. Thọ của mình là cảm giác vui buồn trong thân tâm của mình, hoặc là mình nhìn cảnh vật gì đó bên ngoài.
- Thầy: Có mấy loại cảm thọ
- Phật tử: Có ba loại cảm thọ: Khổ thọ, vui và không khổ, không vui.
Tưởng là hình bóng bên trong do ta cảm nhận, nó chập chờn hay hiển thị trong tâm mình. Nhờ cái tưởng đó mà cái hành đi theo cái tưởng đó.
- Thầy: Hành là gì?
- Phật tử: Hành là hình bóng bên trong nội tâm của mình
- Thầy: Không phải, cái đó là tưởng
- Phật tử: Hành là lời nói thì thầm, và từ đó phát sanh ra hành động.
- Thầy: Còn thức là gì?
- Phật tử: Thức là sự giáo cảm, hòa hợp lời nói, hành động việc làm của ta
- Thầy: Không phải, thức là rõ biết.
Rồi, về chỗ”.
Cái này mà quý huynh đệ không nắm vững, không nhận diện được thì sự tu tập của mình sẽ mông lung. Hôm nay quý huynh đệ phải thực tập nhận diện năm uẩn, cái này quyết định cả cuộc đời tu hành của mình. Nếu mà huynh đệ không nắm được năm uẩn, thì quý huynh đệ không thể nào nhiếp phục được tham, sân, si, phá trừ bản ngã được hết. Bây giờ mình học hết một tiểu luận mấy chục tiết về Quán Chiếu Tứ Đại, mà bây giờ hỏi sắc là gì? Mà mấy người không trả lời đúng.
II. Tầm quan trọng nhận diện năm uẩn:
Bài hôm nay là thực tập rất quan trọng, mấy huynh đệ chú ý, cái này là mình sẽ sử dụng suốt cuộc đời tu hành của mình. Không cần ghi chép gì nhiều, chỉ cần cảm nhận và nhìn lại để thấy biết về năm uẩn. Hàng ngày mình tụng “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…” trong kinh “Bát Nhã Tâm Kinh”, mình đọc ro ro, đọc năm năm, mười năm, hai mươi năm, mà mình không biết năm uẩn là gì hết, mình đọc đến hết cuộc đời, tới chết, mình cũng không biết. Nếu không có người chỉ cho mình, và mình không nhìn lại để mình nhận diện, là mình đọc tới chết mình cũng không biết năm uẩn thật sự là gì.
Nếu mình không nắm được năm uẩn, thì sự tu của mình không tới đâu hết, tại vì năm uẩn là tóm thâu nhân sinh và vũ trụ. Nếu mình không hiểu về năm uẩn tức là mình không hiểu về mình. Mà mình không hiểu về mình, thì mình làm sao đi đến chỗ tự giác được? Thành ra chữ “sắc uẩn” này mình phải nắm vững, sắc là tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành, đó là định nghĩa của kinh “Đáng Được Ăn” và kinh “Thủ Chuyển”. “Sắc là tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành”, phải thuộc lòng. Còn nếu không, một hồi mình nhớ cái này mình nói cái này, rồi mình nhớ cái kia mình nói cái kia, nhớ cái nọ thì mình nói cái nọ, mình nói một hồi là loạn pháp, thì nó đi đến mạt pháp.
Những định nghĩa này là Đức Phật định nghĩa trong kinh tạng kinh Nikāya, bây giờ nếu mình nhớ mông lung, mình nhớ sai, mình nhớ lộn, mình nói ra một hồi là loạn pháp, hay là mình nói theo ý của mình. Thì như vậy các pháp Phật từ từ hoại diệt, mà nếu pháp học mình không nắm vững, thì tới lúc mình hành là mình hành lộn xộn hết, rồi cuối cùng đâu có pháp thành. Cho nên mình tu không có thành tựu, tại vì từ pháp học đã không đúng.
Vậy cho nên, các huynh đệ đi về tìm quyển sách “Tóm Tắt Năm Uẩn”, Minh Thành sắp cho trường cao đẳng Tăng học quyển này, trong quyển này có định nghĩa hết, đây là một vị đại cư sĩ ở Paris đem mười lăm năm để nghiên cứu tạng kinh Nikāya, và lấy những tinh túy nhất ở trong tạng kinh soạn thành quyển này. Quý huynh đệ không những phải biết, mà còn phải học thuộc lòng những định nghĩa này. Nếu không học thuộc lòng, khi mình vô mình tu tập là mình sẽ tu sai.
III. Sắc uẩn:
Quý huynh đệ về tìm quyển này, nếu không có thì sẽ photo ra. Minh Thành sẽ đọc nguyên văn để quý huynh đệ nắm thật vững. “Sắc là bốn đại chủng, và sắc do bốn đại chủng tạo thành” đó là định nghĩa trong kinh “Thủ Chuyển”.
Bị thay đổi cho nên gọi là sắc. “Bị thay đổi bởi lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn…” Đó là trong kinh “Đáng Được Ăn” định nghĩa về sắc.
Khi nói “sắc là gì?” thì mình nói liền: “Sắc là bốn đại, hay là bốn đại chủng, và sắc do bốn đại chủng tạo thành” không được nói sai một chữ. Minh Thành sẽ đọc nguyên văn để quý huynh đệ nắm thật vững, Vì cái này là định nghĩa của Đức Phật, sao mình dám sửa lại. Khi mình nói “sắc là thân thể này”, vậy ở ngoài không phải sắc sao? Nếu mình chỉ nói “tất cả những vật xung quanh là sắc”, cũng không đủ, rồi còn nước, gió, nhiệt độ…, cho nên mình nói như vậy là không đầy đủ. Mình phải nắm vững được sắc là tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành.
Đất, nước, gió, lửa, bản thân mình cũng là sắc cho tứ đại tạo thành, những gì xung quanh đều là sắc, do tứ đại tạo thành hết, tất cả. Mình nắm được cái này, là mình nắm cả trái đất, nó ở một chữ thôi là “sắc uẩn”, “sắc pháp”, không hơn không kém. Từ một hạt cát, cho đến cả đỉnh Everest, núi Tu Vi cũng là sắc pháp. Từ cái am tranh cho đến ngôi chùa vĩ đại nhất thế giới, cũng là sắc pháp, phải nắm thật vững.
Tại vì khi định nghĩa đó đi sâu vào trong đầu mình rồi, mình suy nghĩ, mình tư duy, mình quán chiếu từ từ, mình san bằng những phân biệt về dáng vẻ bên ngoài của sắc. Còn nếu không, mình nhìn mình không thấy nó là sắc, mình thấy “cái kia đẹp, cái này xấu; cái này tốt, cái kia dở; cái này trắng, cái kia đen; cái này mập, cái kia ốm; cái này thể hình đẹp quá, sáu múi, cái kia có một múi à” thấy chưa?
Mình nhìn xuyên thủng đó là sắc pháp, sắc uẩn thì những cái tâm phân biệt của mình bớt, giảm. Còn cái kia là mình lo nhìn mấy cái chi tiết “biệt tướng” và “tổng tướng”, nhìn chung hay nhìn riêng, nhìn toàn phần hay là nhìn từng phần các bộ phận, rồi mình đi theo đó là mình chết. Tất cả chúng sanh vì không biết sắc là tứ đại, nên mới tưởng sắc là sắc thật, chính vì đó mới tham, mới ái, mới dục, mới chấp thủ. Còn bây giờ mình thấy tất cả nó là tứ đại, thì dù món ăn ngon hay món ăn dở cũng là tứ đại, người đẹp hay người xấu cũng là tứ đại, người giàu hay người nghèo cũng là tứ đại. Mình nhìn được mỗi điều đó thôi cũng là bớt phân biệt năm chục phần trăm rồi.
Cái này không phải là chuyện để học chỉ cho hiểu thôi, mà phải thực tập hàng ngày, để mình hành trì. Ví dụ, bây giờ người ta cúng cho xấp vải, mà xấp vải bên đây là vải kate, mà ông ngồi kế mình được sắp giải silk của Mỹ, thì mình nhìn, mình nói “ờ, tứ đại. Sắc do tứ đại tạo thành mà, kate cũng là sắc, mà silk cũng là sắc, có gì đâu”, thì tự nhiên tâm của mình nó nhẹ. Còn không mình cứ so đo hoài “cái kia tốt, cái này xấu. Tại sao cúng vải tốt cho ông kia, mà cúng tôi vải xấu? Thà đừng có cúng”, thấy không? Về mà nói nói vậy, đó là mình không thấy rõ được thực chất của nó là sắc pháp, là tứ đại, thì mình cứ đi theo nó phân biệt hoài.
Hoặc ví dụ bây giờ người ta cúng tiền mà không có bao thơ, cầm một xấp tiền tờ năm trăm. Cúng qua một lượt hết tới mình và hai người ngồi phía sau cùng thì hết tờ năm trăm, chỉ còn lại tờ hai trăm thôi, ba người đằng sau mỗi người được một tờ hai trăm. Lúc đó mình nhìn cái số với cái màu nó khác nhau. Rõ ràng bên kia số năm và năm con số không, mà bên đây con số hai. Số năm với số hai đó khác nhau, màu bên kia màu xanh, bên đây màu đỏ, nó khác nhau, mình ngồi cứ coi cái màu và cái số đó hoài. Nếu mình là người biết tu thì “ồ, tứ đại. Màu xanh hay màu đỏ gì cũng là tứ đại, con số năm hay số hai cũng là tứ đại, cũng là con số thôi”, chỗ đó là chỗ mình tu.
Cho nên chỗ này mình phải thuộc, và để nó ăn sâu vào tim tủy của mình mới được. Ví dụ người ta cúng hai xâu chuỗi, bên đây xâu là ngà voi với xâu bên đây là nhựa. Mình nhìn mình nói “ngà voi cũng là sắc pháp, mà nhựa cũng là sắc, tứ đại, không hơn không kém” tâm mình bình an, ghê gớm như vậy, đó là trí huệ về sắc uẩn, Thánh trí. Đó là công phu thâm hậu, chứ không phải chuyện đơn giản đâu. Nói cái này thì rất bình thường, nhưng nó chạm hàng ngày, mình tiếp xúc hàng ngày.
Đi vào lễ hội hoặc pháp hội, mà hai huynh đệ. Ông kia nhỏ tuổi hạ hơn mình, nhưng mặt người ta sáng hơn mặt mình, người ta mời lên ghế ngồi trên, mình thì đưa xuống ngồi ở phía dưới, rồi ngồi ở đó nhưng tâm mình khó chịu hoài “tại sao tôi lớn tuổi hạ hơn, mà đưa tôi ngồi ở dưới, ông kia nhỏ lại ngồi trên”. Cái ghế nào cũng là cái ghế thôi, chỗ nào cũng là tứ đại thôi, chứ có gì khác đâu. Bản thân mình cũng là tứ đại, chứ đâu phải tôi, là của tôi, thì làm gì có ghế ngồi trên, ghế ngồi dưới “tâm phân biệt, tham chấp đi chỗ khác chơi đi, đừng ở đây làm khổ ta nữa. Chính mày, chính cái tâm này, cái tâm cao thấp, hơn thua, nhân ngã, trên dưới, làm cho mình khổ, đi chỗ khác. Thân này là tứ đại, trống rỗng, không có gì trong đây hết, không ai cao ai thấp”. Công phu đó, Trí Huệ Quán Chiếu đó, Tư Huệ đó, phải tập nhìn tất cả là sắc pháp hết.
Xin thưa các huynh đệ, Minh Thành đi qua Dhammakaya (Thái Lan), chỗ mà một triệu người ngồi thiền được. Thấy lạ lắm, Minh Thành đứng ở đó thì tâm mình bình an lắm, trong lòng không có sự nôn nao, thúc giục “ờ, mình về mình ráng làm được phần trăm của cái này”, không có. Tới lúc đó tự nhiên kinh Nikāya nó sáng tỏ, nói “đây là sắc pháp, vô thường, không có gì ở đây hết”. Thậm chí Minh Thành đi chia sẻ Phật pháp, có những ngôi chùa đẹp lắm, mình vô mình thấy “ừ mình cũng biết đẹp vậy, nhưng rồi cũng sụp đổ. Mà có khi không khéo, sau này nó trở thành chỗ tranh giành nữa, không có gì ở đây để ưa thích hết”. Mình thấy kinh Nikāya cho mình một cái tâm, chỉ cho mình một phương thức sống bình an, kỳ diệu, tuyệt vời lắm, ứng dụng đi mới thấy, phải thực tập.
Chứ mình bây giờ dễ ợt à, mình nói lý thuyết nghe nó hay vậy đó, nghe không có vậy đó, chứ từng miếng ăn, từng ly nước, từng cái bao thơ, cái xâu chuỗi, ghế ngồi, đụng vô là phiền não rầm rầm. Tham, sân, si đầy rẫy, bản ngã nghi ngút, ngất trời. Tại vì sao? Tại vì mình không hiểu sắc pháp, mình không hiểu gì về sắc uẩn, mình cho nó là mình, là của mình, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
Bây giờ thử ai chụp hình mình rồi để hai chữ “ăn trộm” phía dưới, lúc đó xem mình chết liền không. Mình xem cái hình đó thôi là tự nhiên bên trong mình bốc lên, bắt đầu tới cái thọ, nó qua cái thọ, cảm giác. Mình có nhìn vô cảm giác này, mình mới phát hiện được tham, sân, si, bản ngã, những phiền não, nó cư trú trong đó, đây là hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa của tất cả tham, sân, si, bản ngã, thọ uẩn đó, cảm giác đó.
Cho nên hồi nãy Minh Thành muốn có hỏi “huynh đệ đang lúc niệm ba câu niệm đó cảm giác như thế nào? Có cảm giác gì? Có nhìn thấy cảm giác lúc đó hay không? Hay là chỉ chạy theo cái tiếng thôi?” Mình nghe tiếng bên kia niệm, có khi mình niệm theo luôn nữa, lúc đó là mình mất mình rồi, không phải Niệm Phật, mà là hướng ngoại, mất mình, mình bị thanh trần câu dẫn. Phật là gì? Là trí huệ thấu suốt năm uẩn, không bị lừa dối, không bị đam mê, không bị chấp thủ, không bị bám chặt vô năm uẩn, đó là trí huệ của Phật. Chứ không phải Phật là “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, không phải. Đó chỉ là ngôn ngữ, từ ngữ thôi, chứ không phải Phật.
Huynh đệ nghĩ mình bước lên chùa, thấy cái tượng đặt ở giữa, mình đến mình lạy lia lịa, đó là Phật đó hả? Đó là sắc pháp, là biểu tượng thôi, cái đó làm sao Phật được. Thành ra mình mà không khéo, là mình trở thành giống như mê tín đó, tại vì mình không hiểu được đó là sắc pháp. Mình nói vậy không phải mình không cung kính, nhưng mình phải hiểu được thực chất của vấn đề, mình đừng có lầm tưởng.
IV. Thọ uẩn:
Ví dụ như tấm giấy, người ta vẽ hình lên, rồi tô màu, đem treo lên, mình đến mình lạy, gặp chỗ nào cũng lạy, vô từ cổng chùa đi đến hết cái chùa, mà ít nhất cũng một trăm tám mươi ông, vô không biết ông nào, lạy vô kêu tên ông nào nữa. Phải hiểu, phải nắm vững những vấn đề, đó chỉ là biểu tượng để nhắc nhở mình phải thành tựu trí huệ, nhìn thấy được cảm giác. Cảm giác của mình trong hằng ngày, đừng để cho nó qua mặt mình. Cái cảm giác mình phải hiểu biết nó, biết tên tuổi của nó, tên nó là cảm giác gì? Và đào sâu xuống, trong cảm giác này có dục, có tham, có ái, có sân trong đó không? Mình đào sâu xuống. Tại sao nó phát sanh ra tham ái, tham muốn này? Đào sâu xuống, nó nhiều lớp lắm, đào từng tầng, từng tầng xuống, cái thọ này ghê gớm lắm.
Từ ở trong cảm thọ này, nếu huynh đệ chịu khó, thường trực để ý, nhìn lại, kiểm soát lại, thì huynh đệ sẽ thấy. Trong cảm giác, cảm thọ của mình, cái cảm thọ nào nó khoan khoái, thích thú, dễ chịu, là trong đó có tham, theo từ ngữ trong tạng kinh Nikāya gọi là “tham tùy miên”. “Tùy” là nó đi theo, chữ “miên” là miên man. Ở trong cảm giác lạc thọ cảm giác, thích thú, khoan khoái, sung sướng, thì anh chàng tham này đi theo miên man ở trong đó.
Cho nên khi mình ăn những món ngon, mình nhìn kỹ sẽ thấy tham, dục, ái ở trong đó. Bên trong có sự thúc giục gắp ăn, rồi nó thích thích, rồi nó muốn gắp lẹ lẹ lên thêm, thì cái dục trước, rồi đến ái, rồi tham, muốn thêm nữa. Hay những lời tán thán, khen ngợi, ca tụng mình. Khi mình nghe những lời đó, người ta gọi là thọ do (nhĩ) xúc sanh. Cảm giác mà nó có ra từ sự tiếp xúc của lỗ tai trong điện thoại hoặc bên ngoài cũng vậy, những lời tán tụng, khen ngợi đưa mình lên. Lúc đó tự nhiên trong người tham, khoái và thích.
Lúc đó bên trong có tham, mình có thấy không? Mình không thấy, nếu mà không nhìn lại cảm giác, không thành tựu trí huệ về thọ uẩn là mình không biết, mình tưởng cái đó là bình thường thôi. Nhưng cái đó nó không bình thường, tham tùy miên trong đó. Cảm giác khó chịu, bực bội, thì rõ ràng là sân ở trong đó, mà mình có thấy không? Mình phải để ý kỹ mình mới thấy. Mà không những mình để ý kỹ mình mới thấy, mà mình biết chỗ đó là chỗ nào luôn.
Thí dụ như trở lại trạng thái cảm thấy dễ chịu, khoan khoái, thì dục nó có chỗ phát sanh, chỗ phát dục nó động chuyển. Mình để ý kỹ, khi mình tiếp xúc những hình ảnh, âm thanh về dục, thì trong cảm giác mình sẽ thấy chỗ phát dục động chuyển, mình nhiếp phục chỗ đó liền. Mình nhiếp phục được cảm giác mình, thì chỗ đó sẽ lắng dịu. Còn nếu mình tiếp tục để cho cảm giác nó lên, thì thúc giục, nó đẩy mình đi tìm, đi kiếm, đi thực hiện, để cho nó thỏa mãn.
Thành ra ở trong cảm giác này rất đặc biệt. Vì tưởng là hình bóng thôi, mình không nắm bắt được, nó không có chỗ. Hành là những suy nghĩ, nó miên man, làm sao mình thấy nó ở chỗ nào. Thức thì nó rõ biết thôi. Còn cái sắc này là dễ thấy rồi. Nhưng cái thọ là chỗ rất đặc biệt, nó là chiếc cầu nối của sắc, tưởng, hành, thức. Cho nên cái thọ này nó có chỗ ở, nó biểu hiện trên thân của mình. Thí dụ mình nóng lên, thì trong người mình nó hừng hực lên, nó biểu hiện ra. Hay là mình tham, thì nó bệnh bịn rịn, hai mắt lờ đờ, lờ mờ, nó bị cuốn hút vô đó. Cái thọ nó biểu hiện trên thân, chính vì biểu hiện, cho nên mình thấy được. Mình thường nhìn lại là mình thấy được, mình phát giác ra rồi mình nhiếp phục nó, mình mới từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận nó được.
Cho nên người tu đúng chân tu, đúng tinh thần Đức Phật dạy, là người đó không có thời gian, lúc nào cũng nhìn lại cảm giác của mình hết. Còn bằng không tối ngày mình nhìn ở ngoài không à, nhìn người này, người kia, cảnh này, cảnh nọ, cái này đúng, cái này sai, cái này hay, cái kia dở, phải quấy, tối ngày mình phê phán ở ngoài thôi, mình không nhìn vào gốc cảm thọ bên trong của mình, không thấy được tham, sân, si. Người thành tựu trí huệ thấy được tham, sân, si sanh khởi như thế nào? An trú, chấm dứt và vận hành làm sao? Thì người đó là bậc tu đà hoàn, thành tựu Thánh trí mới thấy được tham, sân, si một cách sâu sắc.
Còn mình bây giờ hỏi lại là“thưa thầy, con đâu có tham, sân, si”. Có nhiều Phật tử đến nói: “Thưa thầy con hết tham, sân, si rồi!” (nói vậy luôn mà), nghe xong là mình bó tay luôn. Tại vì họ phàm phu, họ không biết, họ là vô văn phàm phu thì làm sao biết được. Chỉ có Đa Văn Thánh đệ tử mới biết, mới thấy được, ở trong cảm giác mình khó chịu, là mình thấy liền. Thí dụ điện thoại ren ren, mình bắt lên nghe, bên kia nói nói, mình thấy “như vậy là xúc phạm mình rồi”, lúc đó mình thấy từ dưới dâng lên một cảm giác nóng hực lên, mình thấy “cái này không ổn rồi, cảm giác này không ổn rồi, bây giờ nếu mình nói lời nào ra là thế nào cũng hư chuyện, tan nát hết”. Nên thôi đừng nói, cứ im lặng, Chánh niệm tỉnh giác lắng nghe, xong rồi tắt điện thoại. Mình ngồi xem lại “tại sao cảm giác này nó sanh? Nó do từ đâu? Có phải do bản ngã”,“nói như vậy là xúc phạm đến tôi”,“tại sao nhỏ mà lại nói như vậy, mình là người lớn mà? Tại sao Sư đệ lại nói sư huynh như vậy? Tại sao Sư cháu mà lại nói Sư chú như vậy? Tại sao một Phật tử mà nói người xuất gia như vậy?” là chết liền, chỗ đó là chỗ bản ngã.
Khi mình quán chiếu, mình thấy không có cư sĩ, xuất gia, không có Sư chú, Sư bác, Sư phụ gì hết, mà tất cả là tứ đại, mình chả là cái gì hết, mình chỉ là tứ đại mà thôi, tứ đại với tứ đại thì làm gì có cao thấp? “Gục đầu xuống, cúi đầu xuống, đắp y vô, quỳ, lạy”, mình lạy người Phật tử làm cho mình sân trong cái điện thoại đó. Quỳ xuống lạy, quán chiếu cái tướng, lạy mười lạy, để mình dẹp bản ngã này. Khi mình quán chiếu như vậy, mình tiếp tục như vậy, thì cái sân lên dần dần nó tan ra, mình thấy nó tan hết ra, giống như viên thuốc sủi bọt mà bỏ vào nước vậy, nó tan ra, cảm giác nó tan hết ra, đó là công phu Tuệ Quán, nhiếp phục bản ngã.
Tại sao mình có bản ngã chình ình? Tại vì mình không có thành tựu trí huệ năm uẩn, mình không thấy đây là năm uẩn, mình thấy “đây là tôi”, nếu “đây là tôi” thì phải có bản ngã chứ. Còn nếu thấy là năm uẩn thì đâu có bản ngã, năm uẩn là năm uẩn thôi, đâu có cái tôi. Mà tại sao mình không thành tựu trí tuệ năm uẩn? Tại vì mình không có nhận diện năm uẩn. Tại sao mình không nhận diện năm uẩn? Tại vì không có ai nói cho mình nghe. Mình không được nghe Chánh Pháp, mình không được gặp bậc chân nhân, mình đâu có được gặp bậc thiện tri thức, mình đâu có gặp bậc đạo sư mà chỉ cho mình biết “thực chất cái thân này, thế giới này, chỉ là năm uẩn, chứ không có tôi, của tôi”. Mà đi qua được cái cửa này, mới thành tựu Chánh Tri Kiến trong Bát Chánh Đạo. Nếu không đi qua cửa này, thì tất cả những cái như mình ngồi thiền, hay này nọ kia không phải là thiền định của Phật giáo, không phải Chánh Định.
Quý huynh đệ để ý đi, mình ngồi, mình để cái tâm mình yên Niệm Phật, mình ngồi thiền xong ra mình nói “Trời, hôm nay ngồi thiền đã quá, khoái ghê luôn, không muốn xả, tại đánh kẻng mới ngưng chứ không muốn xả, muốn ngồi thêm”. Ai hỏi “sao vậy?”, mình trả lời “tại nó đã quá”, thì cái “đã quá” đó là gì? Là tham trong cảm giác. Nó chỉ là trong cảm giác thôi, cảm giác nhẹ nhàng, êm ái, yên tịnh, cảm giác đó là khi tưởng và hành lắng dịu. Tưởng là những hình bóng trong nội tâm của mình lắng xuống, không khởi lên những hình bóng. Còn hành là những lời nói, nó không nói. Rồi có nhiều người lầm tưởng là “chân tâm Phật tánh” nữa, không phải. Nó chỉ là tưởng và hành lắng dịu thôi, lúc đó cảm giác được yên tĩnh.
Có hai Phật tử ở bên Mỹ, họ nghe bài pháp “Chiến Thuật Tâm Linh Của đức Phật”, Minh Thành tâm sự về vấn đề tưởng và hành này. Những vị đó cũng ngồi thiền mấy chục năm bay về đây để trình bày lại vấn đề này. Lúc đó chỉ là tưởng với hành đó tạm yên, mà họ tưởng đâu đó là tối thượng rồi, bây giờ họ nghe được họ mừng quá, họ xúc động chảy nước mắt luôn. Tại họ tưởng cái đó là cứu cánh rồi, không có.
Chỉ có tưởng với hành lắng dịu, thì lúc đó mình ngồi bình yên, cảm giác của mình nhẹ nhàng, tâm thức của mình biết rõ tưởng với hành, những hình bóng không có, những lời nói lầm thầm không có, thì mình lầm tưởng là cái tâm chân thật của mình này kia nọ, không phải, chỉ là lắng dịu hai cái kia thôi. Nhưng mà trong đó cảm giác của mình thích thú, khoái, muốn kéo dài cái này ra, thì lúc đó là dính mắc ở trong cái thọ, lạc thọ của Thiền Định. Mà mình không biết rằng cảm thọ đó là vô thường, rồi nó sẽ hết. Đó là nói cái này tốt đó, tu khá, tu ở mức độ sâu sắc một chút mới được như vậy đó.
Mấy huynh đệ thấy không? Không nghe được Chánh Pháp, mình không có tư duy, mình không biết được năm uẩn là năm uẩn, không phải mình. Cho nên, con đường để tàn diệt cái thân kiến, chính là con đường thành tựu cái trí về năm uẩn. Huynh đệ nhìn đi, bây giờ cả trên thế giới này (chúng ta đã nói nhiều lần rồi), là đắm chìm ở trong cảm giác, không thấy, không biết.
Từ ở ngoài mình đã bị đắm chìm vô tài, sắc, danh lợi bên ngoài rồi. Mình vô tu, mình đắm chìm trong những thích thú ở trong những cảm giác yên yên, mình khoái đó. Cho nên vô ngồi là thở vô, thở ra, phồng xẹp cái bụng, vô ra hơi thở, một hồi yên quá là cho nó yên luôn. Mình tưởng cái đó là ngồi thiền, đó là mình ru ngủ, mình tưởng mình “tu”, nhưng thật sự là mình “ru”, không phải. Đó là cảm giác, mình không thành tựu trí huệ để thấy được cái cảm giác đó là sự thật, đó là Chánh Pháp.
Trong tạng kinh Nikāya cho mình biết, giới hạnh ở trong Đạo Phật là phải đầy đủ những yếu tố (nói đơn giản nhất) là:
“Giữ giới, sống hộ trì và sự hộ trì của giới bổn.
Đầy đủ oai nghi, Chánh Hạnh.
Thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt. Chấp nhận và học tập trong các học pháp.
Thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh giới hạnh.
Đầy đủ hộ các căn. Chánh niệm tỉnh giác, biết tri túc”.
Cái này là nói đơn giản nhất của phần giới hạnh trong tạng kinh Nikāya “đầy đủ oai nghi, Chánh Hạnh”, thâm thúy, cốt tủy, mà tìm được trong tạng kinh là càng khó hơn trăm ngàn lần nữa, để chỉ cho mình đạo lộ giải thoát.
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thực tập nhận diện năm uẩn: PAGEREF _Toc50466853 \h 1
Phật tử 1 PAGEREF _Toc50466854 \h 1
Phật tử 2 PAGEREF _Toc50466855 \h 3
II. Tầm quan trọng nhận diện năm uẩn: PAGEREF _Toc50466856 \h 5
III. Sắc uẩn: PAGEREF _Toc50466857 \h 7
IV. Thọ uẩn: PAGEREF _Toc50466858 \h 11
NHẬN DIỆN NĂM UẨN
-Thích Minh Thành-
“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”
“Khi các huynh đệ Niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật ba lần, lúc đó có thấy tâm mình sao?
Trong lúc mình ngồi yên tĩnh mấy phút đó, năm uẩn nó như thế nào?
Lúc mình nghe phòng bên cạnh niệm Phật, lúc đó năm uẩn mình như thế nào?
Có ai ghi nhận được không? Chia sẻ cho đại chúng, đó là bài tập đó, lúc mình đứng mình niệm ba câu đó, tâm mình như thế nào? Có nhìn thấy không? Huynh đệ cứ chia sẻ thoải mái. Mình đã qua một cái tiểu luận, chuyên đề về Quán Chiếu Tứ Đại. Bây giờ coi như bữa nay là thu hoạch.
I. Thực tập nhận diện năm uẩn:
Tứ đại và năm uẩn mình đã học, bây giờ mình cứ nói thoải mái, có gì mình cứ chia sẻ thật lòng, có sao mình nói vậy thôi. Nãy giờ nhận diện năm uẩn coi nó làm sao. Cũng như là trong các chuyên đề mình học mấy tháng nay, thì mình thu thập được cái gì?”
Phật tử 1
“- Phật tử: Kính thưa thầy và đại chúng,
Trong lúc niệm “Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” Con nhiếp câu Niệm Phật vào trong tâm của mình. Khi mình niệm như vậy, thấy tâm của mình rất thanh thản, mình nhiếp được cái đó thì năm uẩn của mình không sanh khởi. Khi ngồi xuống thì cũng giữ trạng thái như vậy, năm uẩn nó cũng không sanh khởi. Và khi con nghe bên kia niệm “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật” lúc đó tâm mình cũng có khởi lên, phóng theo câu niệm đó, nhưng khi vừa khởi lên thì con biết liền. Con biết là mình chạy theo cảnh và chạy theo cái tiếng đó, cho nên lúc đó con làm chủ lại được năm uẩn.
Con cũng trình bày với thầy về năm uẩn, mà thầy đã dạy cho chúng con từ bấy lâu qua, người tu trước mắt là phải nhận biết được năm uẩn: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là các hình thể, các pháp hữu vi, đại khái như là các chất rắn, mắt, tai, mũi, lưỡi hay những vật chất bên ngoài, thì gọi là sắc. Thọ gọi là cảm thọ của uẩn mình, cũng giống như mình đi trời nắng nóng.
- Thầy: Hiện tại là cảm thọ gì?
- Phật tử: Cảm thọ của con là vừa nói vừa run
- Thầy: Đó là cảm thọ khổ hay vui?
- Phật tử: Dạ là lạc thọ, con vui vì con hiểu được cảm thọ đó, thọ nhận được sự vui đó. Con còn chấp vào cái vui đó, mặc dù là chấp nhưng là thiện pháp. Còn cái vui mà tâm mình phóng ra ngoài thì là ác pháp. Ngay lúc này con đang làm chủ được cảm thọ của con, con rõ biết được tưởng của mình lúc Niệm Phật nó làm sao, bây giờ tâm mình vận hành làm sao.
- Thầy: Tưởng là hình bóng trong tâm, từ nãy giờ có hình bóng gì?
- Phật tử: Hình bóng con tưởng lại câu Niệm Phật lúc ban đầu tâm mình nó làm sao, là khi con nghe phòng kế bên đọc nó làm sao, rồi con đem so sánh, sự vận hành con mới thấy mình phóng tâm, nó chạy theo tiếng bên kia”.
“Bây giờ có ai nhận diện đầy đủ được ngũ uẩn, mình học là học lý thuyết, bây giờ mình phải thực tập thực tế. Bây giờ ai có thể lên nói lại định nghĩa năm uẩn là gì? Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là gì?”
Phật tử 2
“- Phật tử: Kính thưa giáo thọ và đại chúng,
Cho con được trình bày hiểu biết của mình thông qua sự học hỏi giáo thọ về năm uẩn. Năm uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức, năm yếu tố tạo thành nên một con người. Sắc là chỉ thân thể của chúng ta có đầy đủ sáu căn.
- Thầy: Hoa có phải là sắc không?
- Phật tử: Dạ, hoa là sắc
- Thầy: Bây giờ mình nói sắc là thân thể đầy đủ sáu căn thì mình nói có bản thân mình thôi, chưa đủ
- Phật tử: Sáu căn của mình là bên trong nội tâm của mình, còn sắc tướng bên ngoài như hoa, cảnh vật, vật thể bên ngoài. Thọ của mình là cảm giác vui buồn trong thân tâm của mình, hoặc là mình nhìn cảnh vật gì đó bên ngoài.
- Thầy: Có mấy loại cảm thọ
- Phật tử: Có ba loại cảm thọ: Khổ thọ, vui và không khổ, không vui.
Tưởng là hình bóng bên trong do ta cảm nhận, nó chập chờn hay hiển thị trong tâm mình. Nhờ cái tưởng đó mà cái hành đi theo cái tưởng đó.
- Thầy: Hành là gì?
- Phật tử: Hành là hình bóng bên trong nội tâm của mình
- Thầy: Không phải, cái đó là tưởng
- Phật tử: Hành là lời nói thì thầm, và từ đó phát sanh ra hành động.
- Thầy: Còn thức là gì?
- Phật tử: Thức là sự giáo cảm, hòa hợp lời nói, hành động việc làm của ta
- Thầy: Không phải, thức là rõ biết.
Rồi, về chỗ”.
Cái này mà quý huynh đệ không nắm vững, không nhận diện được thì sự tu tập của mình sẽ mông lung. Hôm nay quý huynh đệ phải thực tập nhận diện năm uẩn, cái này quyết định cả cuộc đời tu hành của mình. Nếu mà huynh đệ không nắm được năm uẩn, thì quý huynh đệ không thể nào nhiếp phục được tham, sân, si, phá trừ bản ngã được hết. Bây giờ mình học hết một tiểu luận mấy chục tiết về Quán Chiếu Tứ Đại, mà bây giờ hỏi sắc là gì? Mà mấy người không trả lời đúng.
II. Tầm quan trọng nhận diện năm uẩn:
Bài hôm nay là thực tập rất quan trọng, mấy huynh đệ chú ý, cái này là mình sẽ sử dụng suốt cuộc đời tu hành của mình. Không cần ghi chép gì nhiều, chỉ cần cảm nhận và nhìn lại để thấy biết về năm uẩn. Hàng ngày mình tụng “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách…” trong kinh “Bát Nhã Tâm Kinh”, mình đọc ro ro, đọc năm năm, mười năm, hai mươi năm, mà mình không biết năm uẩn là gì hết, mình đọc đến hết cuộc đời, tới chết, mình cũng không biết. Nếu không có người chỉ cho mình, và mình không nhìn lại để mình nhận diện, là mình đọc tới chết mình cũng không biết năm uẩn thật sự là gì.
Nếu mình không nắm được năm uẩn, thì sự tu của mình không tới đâu hết, tại vì năm uẩn là tóm thâu nhân sinh và vũ trụ. Nếu mình không hiểu về năm uẩn tức là mình không hiểu về mình. Mà mình không hiểu về mình, thì mình làm sao đi đến chỗ tự giác được? Thành ra chữ “sắc uẩn” này mình phải nắm vững, sắc là tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành, đó là định nghĩa của kinh “Đáng Được Ăn” và kinh “Thủ Chuyển”. “Sắc là tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành”, phải thuộc lòng. Còn nếu không, một hồi mình nhớ cái này mình nói cái này, rồi mình nhớ cái kia mình nói cái kia, nhớ cái nọ thì mình nói cái nọ, mình nói một hồi là loạn pháp, thì nó đi đến mạt pháp.
Những định nghĩa này là Đức Phật định nghĩa trong kinh tạng kinh Nikāya, bây giờ nếu mình nhớ mông lung, mình nhớ sai, mình nhớ lộn, mình nói ra một hồi là loạn pháp, hay là mình nói theo ý của mình. Thì như vậy các pháp Phật từ từ hoại diệt, mà nếu pháp học mình không nắm vững, thì tới lúc mình hành là mình hành lộn xộn hết, rồi cuối cùng đâu có pháp thành. Cho nên mình tu không có thành tựu, tại vì từ pháp học đã không đúng.
Vậy cho nên, các huynh đệ đi về tìm quyển sách “Tóm Tắt Năm Uẩn”, Minh Thành sắp cho trường cao đẳng Tăng học quyển này, trong quyển này có định nghĩa hết, đây là một vị đại cư sĩ ở Paris đem mười lăm năm để nghiên cứu tạng kinh Nikāya, và lấy những tinh túy nhất ở trong tạng kinh soạn thành quyển này. Quý huynh đệ không những phải biết, mà còn phải học thuộc lòng những định nghĩa này. Nếu không học thuộc lòng, khi mình vô mình tu tập là mình sẽ tu sai.
III. Sắc uẩn:
Quý huynh đệ về tìm quyển này, nếu không có thì sẽ photo ra. Minh Thành sẽ đọc nguyên văn để quý huynh đệ nắm thật vững. “Sắc là bốn đại chủng, và sắc do bốn đại chủng tạo thành” đó là định nghĩa trong kinh “Thủ Chuyển”.
Bị thay đổi cho nên gọi là sắc. “Bị thay đổi bởi lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn…” Đó là trong kinh “Đáng Được Ăn” định nghĩa về sắc.
Khi nói “sắc là gì?” thì mình nói liền: “Sắc là bốn đại, hay là bốn đại chủng, và sắc do bốn đại chủng tạo thành” không được nói sai một chữ. Minh Thành sẽ đọc nguyên văn để quý huynh đệ nắm thật vững, Vì cái này là định nghĩa của Đức Phật, sao mình dám sửa lại. Khi mình nói “sắc là thân thể này”, vậy ở ngoài không phải sắc sao? Nếu mình chỉ nói “tất cả những vật xung quanh là sắc”, cũng không đủ, rồi còn nước, gió, nhiệt độ…, cho nên mình nói như vậy là không đầy đủ. Mình phải nắm vững được sắc là tứ đại và sắc do tứ đại tạo thành.
Đất, nước, gió, lửa, bản thân mình cũng là sắc cho tứ đại tạo thành, những gì xung quanh đều là sắc, do tứ đại tạo thành hết, tất cả. Mình nắm được cái này, là mình nắm cả trái đất, nó ở một chữ thôi là “sắc uẩn”, “sắc pháp”, không hơn không kém. Từ một hạt cát, cho đến cả đỉnh Everest, núi Tu Vi cũng là sắc pháp. Từ cái am tranh cho đến ngôi chùa vĩ đại nhất thế giới, cũng là sắc pháp, phải nắm thật vững.
Tại vì khi định nghĩa đó đi sâu vào trong đầu mình rồi, mình suy nghĩ, mình tư duy, mình quán chiếu từ từ, mình san bằng những phân biệt về dáng vẻ bên ngoài của sắc. Còn nếu không, mình nhìn mình không thấy nó là sắc, mình thấy “cái kia đẹp, cái này xấu; cái này tốt, cái kia dở; cái này trắng, cái kia đen; cái này mập, cái kia ốm; cái này thể hình đẹp quá, sáu múi, cái kia có một múi à” thấy chưa?
Mình nhìn xuyên thủng đó là sắc pháp, sắc uẩn thì những cái tâm phân biệt của mình bớt, giảm. Còn cái kia là mình lo nhìn mấy cái chi tiết “biệt tướng” và “tổng tướng”, nhìn chung hay nhìn riêng, nhìn toàn phần hay là nhìn từng phần các bộ phận, rồi mình đi theo đó là mình chết. Tất cả chúng sanh vì không biết sắc là tứ đại, nên mới tưởng sắc là sắc thật, chính vì đó mới tham, mới ái, mới dục, mới chấp thủ. Còn bây giờ mình thấy tất cả nó là tứ đại, thì dù món ăn ngon hay món ăn dở cũng là tứ đại, người đẹp hay người xấu cũng là tứ đại, người giàu hay người nghèo cũng là tứ đại. Mình nhìn được mỗi điều đó thôi cũng là bớt phân biệt năm chục phần trăm rồi.
Cái này không phải là chuyện để học chỉ cho hiểu thôi, mà phải thực tập hàng ngày, để mình hành trì. Ví dụ, bây giờ người ta cúng cho xấp vải, mà xấp vải bên đây là vải kate, mà ông ngồi kế mình được sắp giải silk của Mỹ, thì mình nhìn, mình nói “ờ, tứ đại. Sắc do tứ đại tạo thành mà, kate cũng là sắc, mà silk cũng là sắc, có gì đâu”, thì tự nhiên tâm của mình nó nhẹ. Còn không mình cứ so đo hoài “cái kia tốt, cái này xấu. Tại sao cúng vải tốt cho ông kia, mà cúng tôi vải xấu? Thà đừng có cúng”, thấy không? Về mà nói nói vậy, đó là mình không thấy rõ được thực chất của nó là sắc pháp, là tứ đại, thì mình cứ đi theo nó phân biệt hoài.
Hoặc ví dụ bây giờ người ta cúng tiền mà không có bao thơ, cầm một xấp tiền tờ năm trăm. Cúng qua một lượt hết tới mình và hai người ngồi phía sau cùng thì hết tờ năm trăm, chỉ còn lại tờ hai trăm thôi, ba người đằng sau mỗi người được một tờ hai trăm. Lúc đó mình nhìn cái số với cái màu nó khác nhau. Rõ ràng bên kia số năm và năm con số không, mà bên đây con số hai. Số năm với số hai đó khác nhau, màu bên kia màu xanh, bên đây màu đỏ, nó khác nhau, mình ngồi cứ coi cái màu và cái số đó hoài. Nếu mình là người biết tu thì “ồ, tứ đại. Màu xanh hay màu đỏ gì cũng là tứ đại, con số năm hay số hai cũng là tứ đại, cũng là con số thôi”, chỗ đó là chỗ mình tu.
Cho nên chỗ này mình phải thuộc, và để nó ăn sâu vào tim tủy của mình mới được. Ví dụ người ta cúng hai xâu chuỗi, bên đây xâu là ngà voi với xâu bên đây là nhựa. Mình nhìn mình nói “ngà voi cũng là sắc pháp, mà nhựa cũng là sắc, tứ đại, không hơn không kém” tâm mình bình an, ghê gớm như vậy, đó là trí huệ về sắc uẩn, Thánh trí. Đó là công phu thâm hậu, chứ không phải chuyện đơn giản đâu. Nói cái này thì rất bình thường, nhưng nó chạm hàng ngày, mình tiếp xúc hàng ngày.
Đi vào lễ hội hoặc pháp hội, mà hai huynh đệ. Ông kia nhỏ tuổi hạ hơn mình, nhưng mặt người ta sáng hơn mặt mình, người ta mời lên ghế ngồi trên, mình thì đưa xuống ngồi ở phía dưới, rồi ngồi ở đó nhưng tâm mình khó chịu hoài “tại sao tôi lớn tuổi hạ hơn, mà đưa tôi ngồi ở dưới, ông kia nhỏ lại ngồi trên”. Cái ghế nào cũng là cái ghế thôi, chỗ nào cũng là tứ đại thôi, chứ có gì khác đâu. Bản thân mình cũng là tứ đại, chứ đâu phải tôi, là của tôi, thì làm gì có ghế ngồi trên, ghế ngồi dưới “tâm phân biệt, tham chấp đi chỗ khác chơi đi, đừng ở đây làm khổ ta nữa. Chính mày, chính cái tâm này, cái tâm cao thấp, hơn thua, nhân ngã, trên dưới, làm cho mình khổ, đi chỗ khác. Thân này là tứ đại, trống rỗng, không có gì trong đây hết, không ai cao ai thấp”. Công phu đó, Trí Huệ Quán Chiếu đó, Tư Huệ đó, phải tập nhìn tất cả là sắc pháp hết.
Xin thưa các huynh đệ, Minh Thành đi qua Dhammakaya (Thái Lan), chỗ mà một triệu người ngồi thiền được. Thấy lạ lắm, Minh Thành đứng ở đó thì tâm mình bình an lắm, trong lòng không có sự nôn nao, thúc giục “ờ, mình về mình ráng làm được phần trăm của cái này”, không có. Tới lúc đó tự nhiên kinh Nikāya nó sáng tỏ, nói “đây là sắc pháp, vô thường, không có gì ở đây hết”. Thậm chí Minh Thành đi chia sẻ Phật pháp, có những ngôi chùa đẹp lắm, mình vô mình thấy “ừ mình cũng biết đẹp vậy, nhưng rồi cũng sụp đổ. Mà có khi không khéo, sau này nó trở thành chỗ tranh giành nữa, không có gì ở đây để ưa thích hết”. Mình thấy kinh Nikāya cho mình một cái tâm, chỉ cho mình một phương thức sống bình an, kỳ diệu, tuyệt vời lắm, ứng dụng đi mới thấy, phải thực tập.
Chứ mình bây giờ dễ ợt à, mình nói lý thuyết nghe nó hay vậy đó, nghe không có vậy đó, chứ từng miếng ăn, từng ly nước, từng cái bao thơ, cái xâu chuỗi, ghế ngồi, đụng vô là phiền não rầm rầm. Tham, sân, si đầy rẫy, bản ngã nghi ngút, ngất trời. Tại vì sao? Tại vì mình không hiểu sắc pháp, mình không hiểu gì về sắc uẩn, mình cho nó là mình, là của mình, là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi.
Bây giờ thử ai chụp hình mình rồi để hai chữ “ăn trộm” phía dưới, lúc đó xem mình chết liền không. Mình xem cái hình đó thôi là tự nhiên bên trong mình bốc lên, bắt đầu tới cái thọ, nó qua cái thọ, cảm giác. Mình có nhìn vô cảm giác này, mình mới phát hiện được tham, sân, si, bản ngã, những phiền não, nó cư trú trong đó, đây là hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa của tất cả tham, sân, si, bản ngã, thọ uẩn đó, cảm giác đó.
Cho nên hồi nãy Minh Thành muốn có hỏi “huynh đệ đang lúc niệm ba câu niệm đó cảm giác như thế nào? Có cảm giác gì? Có nhìn thấy cảm giác lúc đó hay không? Hay là chỉ chạy theo cái tiếng thôi?” Mình nghe tiếng bên kia niệm, có khi mình niệm theo luôn nữa, lúc đó là mình mất mình rồi, không phải Niệm Phật, mà là hướng ngoại, mất mình, mình bị thanh trần câu dẫn. Phật là gì? Là trí huệ thấu suốt năm uẩn, không bị lừa dối, không bị đam mê, không bị chấp thủ, không bị bám chặt vô năm uẩn, đó là trí huệ của Phật. Chứ không phải Phật là “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”, không phải. Đó chỉ là ngôn ngữ, từ ngữ thôi, chứ không phải Phật.
Huynh đệ nghĩ mình bước lên chùa, thấy cái tượng đặt ở giữa, mình đến mình lạy lia lịa, đó là Phật đó hả? Đó là sắc pháp, là biểu tượng thôi, cái đó làm sao Phật được. Thành ra mình mà không khéo, là mình trở thành giống như mê tín đó, tại vì mình không hiểu được đó là sắc pháp. Mình nói vậy không phải mình không cung kính, nhưng mình phải hiểu được thực chất của vấn đề, mình đừng có lầm tưởng.
IV. Thọ uẩn:
Ví dụ như tấm giấy, người ta vẽ hình lên, rồi tô màu, đem treo lên, mình đến mình lạy, gặp chỗ nào cũng lạy, vô từ cổng chùa đi đến hết cái chùa, mà ít nhất cũng một trăm tám mươi ông, vô không biết ông nào, lạy vô kêu tên ông nào nữa. Phải hiểu, phải nắm vững những vấn đề, đó chỉ là biểu tượng để nhắc nhở mình phải thành tựu trí huệ, nhìn thấy được cảm giác. Cảm giác của mình trong hằng ngày, đừng để cho nó qua mặt mình. Cái cảm giác mình phải hiểu biết nó, biết tên tuổi của nó, tên nó là cảm giác gì? Và đào sâu xuống, trong cảm giác này có dục, có tham, có ái, có sân trong đó không? Mình đào sâu xuống. Tại sao nó phát sanh ra tham ái, tham muốn này? Đào sâu xuống, nó nhiều lớp lắm, đào từng tầng, từng tầng xuống, cái thọ này ghê gớm lắm.
Từ ở trong cảm thọ này, nếu huynh đệ chịu khó, thường trực để ý, nhìn lại, kiểm soát lại, thì huynh đệ sẽ thấy. Trong cảm giác, cảm thọ của mình, cái cảm thọ nào nó khoan khoái, thích thú, dễ chịu, là trong đó có tham, theo từ ngữ trong tạng kinh Nikāya gọi là “tham tùy miên”. “Tùy” là nó đi theo, chữ “miên” là miên man. Ở trong cảm giác lạc thọ cảm giác, thích thú, khoan khoái, sung sướng, thì anh chàng tham này đi theo miên man ở trong đó.
Cho nên khi mình ăn những món ngon, mình nhìn kỹ sẽ thấy tham, dục, ái ở trong đó. Bên trong có sự thúc giục gắp ăn, rồi nó thích thích, rồi nó muốn gắp lẹ lẹ lên thêm, thì cái dục trước, rồi đến ái, rồi tham, muốn thêm nữa. Hay những lời tán thán, khen ngợi, ca tụng mình. Khi mình nghe những lời đó, người ta gọi là thọ do (nhĩ) xúc sanh. Cảm giác mà nó có ra từ sự tiếp xúc của lỗ tai trong điện thoại hoặc bên ngoài cũng vậy, những lời tán tụng, khen ngợi đưa mình lên. Lúc đó tự nhiên trong người tham, khoái và thích.
Lúc đó bên trong có tham, mình có thấy không? Mình không thấy, nếu mà không nhìn lại cảm giác, không thành tựu trí huệ về thọ uẩn là mình không biết, mình tưởng cái đó là bình thường thôi. Nhưng cái đó nó không bình thường, tham tùy miên trong đó. Cảm giác khó chịu, bực bội, thì rõ ràng là sân ở trong đó, mà mình có thấy không? Mình phải để ý kỹ mình mới thấy. Mà không những mình để ý kỹ mình mới thấy, mà mình biết chỗ đó là chỗ nào luôn.
Thí dụ như trở lại trạng thái cảm thấy dễ chịu, khoan khoái, thì dục nó có chỗ phát sanh, chỗ phát dục nó động chuyển. Mình để ý kỹ, khi mình tiếp xúc những hình ảnh, âm thanh về dục, thì trong cảm giác mình sẽ thấy chỗ phát dục động chuyển, mình nhiếp phục chỗ đó liền. Mình nhiếp phục được cảm giác mình, thì chỗ đó sẽ lắng dịu. Còn nếu mình tiếp tục để cho cảm giác nó lên, thì thúc giục, nó đẩy mình đi tìm, đi kiếm, đi thực hiện, để cho nó thỏa mãn.
Thành ra ở trong cảm giác này rất đặc biệt. Vì tưởng là hình bóng thôi, mình không nắm bắt được, nó không có chỗ. Hành là những suy nghĩ, nó miên man, làm sao mình thấy nó ở chỗ nào. Thức thì nó rõ biết thôi. Còn cái sắc này là dễ thấy rồi. Nhưng cái thọ là chỗ rất đặc biệt, nó là chiếc cầu nối của sắc, tưởng, hành, thức. Cho nên cái thọ này nó có chỗ ở, nó biểu hiện trên thân của mình. Thí dụ mình nóng lên, thì trong người mình nó hừng hực lên, nó biểu hiện ra. Hay là mình tham, thì nó bệnh bịn rịn, hai mắt lờ đờ, lờ mờ, nó bị cuốn hút vô đó. Cái thọ nó biểu hiện trên thân, chính vì biểu hiện, cho nên mình thấy được. Mình thường nhìn lại là mình thấy được, mình phát giác ra rồi mình nhiếp phục nó, mình mới từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận nó được.
Cho nên người tu đúng chân tu, đúng tinh thần Đức Phật dạy, là người đó không có thời gian, lúc nào cũng nhìn lại cảm giác của mình hết. Còn bằng không tối ngày mình nhìn ở ngoài không à, nhìn người này, người kia, cảnh này, cảnh nọ, cái này đúng, cái này sai, cái này hay, cái kia dở, phải quấy, tối ngày mình phê phán ở ngoài thôi, mình không nhìn vào gốc cảm thọ bên trong của mình, không thấy được tham, sân, si. Người thành tựu trí huệ thấy được tham, sân, si sanh khởi như thế nào? An trú, chấm dứt và vận hành làm sao? Thì người đó là bậc tu đà hoàn, thành tựu Thánh trí mới thấy được tham, sân, si một cách sâu sắc.
Còn mình bây giờ hỏi lại là“thưa thầy, con đâu có tham, sân, si”. Có nhiều Phật tử đến nói: “Thưa thầy con hết tham, sân, si rồi!” (nói vậy luôn mà), nghe xong là mình bó tay luôn. Tại vì họ phàm phu, họ không biết, họ là vô văn phàm phu thì làm sao biết được. Chỉ có Đa Văn Thánh đệ tử mới biết, mới thấy được, ở trong cảm giác mình khó chịu, là mình thấy liền. Thí dụ điện thoại ren ren, mình bắt lên nghe, bên kia nói nói, mình thấy “như vậy là xúc phạm mình rồi”, lúc đó mình thấy từ dưới dâng lên một cảm giác nóng hực lên, mình thấy “cái này không ổn rồi, cảm giác này không ổn rồi, bây giờ nếu mình nói lời nào ra là thế nào cũng hư chuyện, tan nát hết”. Nên thôi đừng nói, cứ im lặng, Chánh niệm tỉnh giác lắng nghe, xong rồi tắt điện thoại. Mình ngồi xem lại “tại sao cảm giác này nó sanh? Nó do từ đâu? Có phải do bản ngã”,“nói như vậy là xúc phạm đến tôi”,“tại sao nhỏ mà lại nói như vậy, mình là người lớn mà? Tại sao Sư đệ lại nói sư huynh như vậy? Tại sao Sư cháu mà lại nói Sư chú như vậy? Tại sao một Phật tử mà nói người xuất gia như vậy?” là chết liền, chỗ đó là chỗ bản ngã.
Khi mình quán chiếu, mình thấy không có cư sĩ, xuất gia, không có Sư chú, Sư bác, Sư phụ gì hết, mà tất cả là tứ đại, mình chả là cái gì hết, mình chỉ là tứ đại mà thôi, tứ đại với tứ đại thì làm gì có cao thấp? “Gục đầu xuống, cúi đầu xuống, đắp y vô, quỳ, lạy”, mình lạy người Phật tử làm cho mình sân trong cái điện thoại đó. Quỳ xuống lạy, quán chiếu cái tướng, lạy mười lạy, để mình dẹp bản ngã này. Khi mình quán chiếu như vậy, mình tiếp tục như vậy, thì cái sân lên dần dần nó tan ra, mình thấy nó tan hết ra, giống như viên thuốc sủi bọt mà bỏ vào nước vậy, nó tan ra, cảm giác nó tan hết ra, đó là công phu Tuệ Quán, nhiếp phục bản ngã.
Tại sao mình có bản ngã chình ình? Tại vì mình không có thành tựu trí huệ năm uẩn, mình không thấy đây là năm uẩn, mình thấy “đây là tôi”, nếu “đây là tôi” thì phải có bản ngã chứ. Còn nếu thấy là năm uẩn thì đâu có bản ngã, năm uẩn là năm uẩn thôi, đâu có cái tôi. Mà tại sao mình không thành tựu trí tuệ năm uẩn? Tại vì mình không có nhận diện năm uẩn. Tại sao mình không nhận diện năm uẩn? Tại vì không có ai nói cho mình nghe. Mình không được nghe Chánh Pháp, mình không được gặp bậc chân nhân, mình đâu có được gặp bậc thiện tri thức, mình đâu có gặp bậc đạo sư mà chỉ cho mình biết “thực chất cái thân này, thế giới này, chỉ là năm uẩn, chứ không có tôi, của tôi”. Mà đi qua được cái cửa này, mới thành tựu Chánh Tri Kiến trong Bát Chánh Đạo. Nếu không đi qua cửa này, thì tất cả những cái như mình ngồi thiền, hay này nọ kia không phải là thiền định của Phật giáo, không phải Chánh Định.
Quý huynh đệ để ý đi, mình ngồi, mình để cái tâm mình yên Niệm Phật, mình ngồi thiền xong ra mình nói “Trời, hôm nay ngồi thiền đã quá, khoái ghê luôn, không muốn xả, tại đánh kẻng mới ngưng chứ không muốn xả, muốn ngồi thêm”. Ai hỏi “sao vậy?”, mình trả lời “tại nó đã quá”, thì cái “đã quá” đó là gì? Là tham trong cảm giác. Nó chỉ là trong cảm giác thôi, cảm giác nhẹ nhàng, êm ái, yên tịnh, cảm giác đó là khi tưởng và hành lắng dịu. Tưởng là những hình bóng trong nội tâm của mình lắng xuống, không khởi lên những hình bóng. Còn hành là những lời nói, nó không nói. Rồi có nhiều người lầm tưởng là “chân tâm Phật tánh” nữa, không phải. Nó chỉ là tưởng và hành lắng dịu thôi, lúc đó cảm giác được yên tĩnh.
Có hai Phật tử ở bên Mỹ, họ nghe bài pháp “Chiến Thuật Tâm Linh Của đức Phật”, Minh Thành tâm sự về vấn đề tưởng và hành này. Những vị đó cũng ngồi thiền mấy chục năm bay về đây để trình bày lại vấn đề này. Lúc đó chỉ là tưởng với hành đó tạm yên, mà họ tưởng đâu đó là tối thượng rồi, bây giờ họ nghe được họ mừng quá, họ xúc động chảy nước mắt luôn. Tại họ tưởng cái đó là cứu cánh rồi, không có.
Chỉ có tưởng với hành lắng dịu, thì lúc đó mình ngồi bình yên, cảm giác của mình nhẹ nhàng, tâm thức của mình biết rõ tưởng với hành, những hình bóng không có, những lời nói lầm thầm không có, thì mình lầm tưởng là cái tâm chân thật của mình này kia nọ, không phải, chỉ là lắng dịu hai cái kia thôi. Nhưng mà trong đó cảm giác của mình thích thú, khoái, muốn kéo dài cái này ra, thì lúc đó là dính mắc ở trong cái thọ, lạc thọ của Thiền Định. Mà mình không biết rằng cảm thọ đó là vô thường, rồi nó sẽ hết. Đó là nói cái này tốt đó, tu khá, tu ở mức độ sâu sắc một chút mới được như vậy đó.
Mấy huynh đệ thấy không? Không nghe được Chánh Pháp, mình không có tư duy, mình không biết được năm uẩn là năm uẩn, không phải mình. Cho nên, con đường để tàn diệt cái thân kiến, chính là con đường thành tựu cái trí về năm uẩn. Huynh đệ nhìn đi, bây giờ cả trên thế giới này (chúng ta đã nói nhiều lần rồi), là đắm chìm ở trong cảm giác, không thấy, không biết.
Từ ở ngoài mình đã bị đắm chìm vô tài, sắc, danh lợi bên ngoài rồi. Mình vô tu, mình đắm chìm trong những thích thú ở trong những cảm giác yên yên, mình khoái đó. Cho nên vô ngồi là thở vô, thở ra, phồng xẹp cái bụng, vô ra hơi thở, một hồi yên quá là cho nó yên luôn. Mình tưởng cái đó là ngồi thiền, đó là mình ru ngủ, mình tưởng mình “tu”, nhưng thật sự là mình “ru”, không phải. Đó là cảm giác, mình không thành tựu trí huệ để thấy được cái cảm giác đó là sự thật, đó là Chánh Pháp.
Trong tạng kinh Nikāya cho mình biết, giới hạnh ở trong Đạo Phật là phải đầy đủ những yếu tố (nói đơn giản nhất) là:
“Giữ giới, sống hộ trì và sự hộ trì của giới bổn.
Đầy đủ oai nghi, Chánh Hạnh.
Thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt. Chấp nhận và học tập trong các học pháp.
Thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh giới hạnh.
Đầy đủ hộ các căn. Chánh niệm tỉnh giác, biết tri túc”.
Cái này là nói đơn giản nhất của phần giới hạnh trong tạng kinh Nikāya “đầy đủ oai nghi, Chánh Hạnh”, thâm thúy, cốt tủy, mà tìm được trong tạng kinh là càng khó hơn trăm ngàn lần nữa, để chỉ cho mình đạo lộ giải thoát.