Hãy tự mình làm ngọn đèn cho chính mình
Tinh Hoa Nikāya
HÃY TỰ MÌNH
LÀM NGỌN ĐÈN CHO CHÍNH MÌNH
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ngọn đèn Chánh Pháp PAGEREF _Toc71707836 \h 1
II.Nhiệt tâm đánh tan phóng dật PAGEREF _Toc71707837 \h 3
III. Thâm nhập tưởng vô thường PAGEREF _Toc71707838 \h 7
Ngọn đèn Chánh Pháp
Chúng ta tìm hiểu bài “Niệm Vị Tối Thượng” trong Căn Bản Trí:
“Này Ananda hãy tự mình làm ngọn đèn cho chính mình; hãy tự mình nương tựa chính mình, không nưa tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không có nương tựa vào một điều gì khác. Và này Ananda, thế nào là Tỳ kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác. Này Ananda ở đây Tỳ-kheo trú quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời, quán thọ trên các thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm tỉnh giác chánh niệm để nhiếp phục tham ưu ở đời”. (Tương Ưng Bộ Kinh V, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ I. Phẩm Ambapàli, bài kinh Bệnh)
Thế nào là ý nghĩa tự mình làm ngọn đèn cho chính mình?
Thế nào là ý nghĩa tự mình nương dựa chính mình?
Thế nào là ý nghĩa không nương tựa vào bất cứ một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm chỗ nương dựa, làm sao để tự mình làm ngọn đèn cho chính mình?
Chúng ta phải chiêm nghiệm cho sâu sắc, làm sao để tự mình làm nương tựa cho chính mình?
Đức Phật phải trải qua biết bao nhiêu sự khó khổ trong vô lượng, vô biên kiếp, đến kiếp cuối cùng Bồ tát mới thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác và nói ra Thánh Pháp. Suốt 2.000 năm, dày công gian khổ đem cả sinh mạng trong đêm trường để tìm ra được nhưng bây giờ bị quên lãng, mai một. Bây giờ chúng ta có thầy lành, bạn tốt giảng pháp liên tục, nhắc nhở liên tục, chỉ dẫn liên tục mỗi ngày, mà mình không chịu nỗ lực, không chịu tu, không chịu để tâm, không biết trân quý, trân trọng, mà xem thường Thánh pháp của Thế Tôn. Dầu cho hình tượng Phật ở trước mắt mà mình không thấy Phật, không biết rằng hình bóng đó, hình ảnh đó là xương máu, là huyết lệ, là một sự hy sinh vĩ đại, hy sinh vô cùng tận. Bóng dáng người ngồi đó, phải đánh đổi ngàn vạn ức ức sinh mạng trong vô lượng, vô biên kiếp, Phật truyền pháp được 500 năm, sau đó không còn nữa.
Bây giờ sau 2.000 năm của Chánh pháp, đã có người dốc hết tất cả sinh mạng để truyền trao nhưng chúng ta cầm và bỏ đó, xem thường, mình không thấy huyết lệ, xương máu, gian khổ của Thế Tôn, của bậc thiện trí thức, của đạo sư, không thấy sự gian khổ của các bậc A-la-hán, những bậc Thánh tăng truyền thừa pháp tạng suốt mấy ngàn năm. Mình nghe kinh một cách hời hợt, chỉ đọc trên môi, không thấy mỗi câu, mỗi chữ đều đầy rẫy máu, nước mắt, huyết lệ, không biết đó là trí huệ tối thượng.
Chúng ta đã học hết cảm giác toàn thân, học nhận diện năm uẩn mà mình không chịu nhận diện, không chịu để tâm, không chịu nhìn lại, khi đó mình phải cảm thấy những giây phút đó là những giây phút nhục nhã tột độ, giây phút hiểm nạn, tai nạn, tai ương, khốn nạn. Cho nên mình phải dập đầu trước Đức Phật mỗi buổi tối, mỗi ngày.
Mỗi một ngày mình phải tự hỏi “mình bỏ cha, bỏ mẹ vào đây làm cái gì?” sau đó lạy xuống. Tất cả những người tập sự xuất gia, xuất gia, cho đến những người cư sĩ đều phải tự hỏi “mình lên đây để làm cái gì?”, sau mỗi một câu mình hỏi, rồi lạy xuống, cứ lạy hoài. Tự hỏi “mình bỏ cha, bỏ mẹ, cạo đầu, đắp chiếc y để làm cái gì?”, “ mình bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ hết đời sống, tình nghĩa, công ơn dưỡng dục sanh thành, rồi vào đây làm cái gì?”, “mày bỏ cha, bỏ mẹ mày, bỏ làng, bỏ xóm, bỏ tình, bỏ nghĩa, để mày vào đây làm cái gì?” sau đó dập đầu xuống.
Chúng ta phải đặt sự thấy pháp, thực hành pháp lên trên hết tất cả, dù cho có bỏ cái mạng này. Đâu phải làm công việc, rồi mình không tu được, đó chỉ là ngụy biện, tại mình không để tâm, không chịu khó, mình thả trôi, thả nổi, thả trôi theo vô minh, thả trôi theo tham ái, thả trôi theo sự thả lỏng các căn, buông lung, phóng dật.
Tại sao Đức Phật nói “hãy tự mình làm ngọn đèn cho chính mình”? Một khi đã nhìn thấy được năm uẩn thì trí nhìn thấy đó là ngọn đèn. Ngọn đèn là sự thường trực để ý nội quán, phản chiếu, thường chiếu, thường soi, rọi lại sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Phải thường soi rọi lại, để nhìn ra được những cấu uế bên trong sắc, thọ tưởng, hành, thức. Những thứ nội soi, chiếu soi, thường rọi đó là ngọn đèn. Mỗi người chúng ta“hãy tự mình làm ngọn đèn cho chính mình”, hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi. Trí nhìn thấy năm uẩn, trí thấy các lậu hoặc, trí nhìn thấy được những sự buông lung, phóng dật, những thả lỏng các căn, bản ngã, các trí đó chính là ngọn đèn. Trí phân biệt được mê ngộ; phân biệt được dục, ái, tham; phân biệt được cái nào là cấu nhiễm thì trí đó là ngọn đèn, trí đó là chỗ nương tựa.
Hơn nữa, chúng ta đâu thể nương tựa ai khác vì ngũ uẩn là ngũ uẩn ngay trên thân mình, chứ đâu phải ngũ uẩn của người khác, đâu có thể nào có thầy nắm tay mình dắt đi hoài cho tới chết. Đối với những cảm giác dục, sân, bản ngã trong tâm thì mình phải biết nhìn lại thân mình, để nhiếp phục, chế phục, chế ngự, đó là mình tự làm chỗ dựa cho chính mình, không dựa vào chỗ nào khác. Chúng ta phải dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương dựa, Chánh pháp ở đây là các trí năm uẩn.
Chúng ta phải dập đầu xuống Đức Phật lạy và hỏi mình đang làm cái gì? Cái buông lung, phóng dật sanh khởi lên, mình sẽ dập đầu trước tượng Phật hỏi: “Mày đang làm cái gì? Cha mẹ mày ở nhà đang làm cái gì? Ông bà của mày đang làm cái gì? Họ đang nhớ thương mày đó, họ đang mong đợi, đang chờ, đang hy vọng, mà mày vô đây làm cái gì vậy? Nhục không?” Tủi nhục, ô nhục vô cùng, sau đó dập đầu xuống, tự mình thắp đuốc lên mà đi, “phải tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, phải tự mình làm chỗ nương dựa cho chính mình”, không thể có chỗ dựa nào khác ngoài tự mình nhìn thấy được ngũ uẩn, nhìn thấy được dục, tham, ái, bản ngã, mà nổ lực liên tục, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận.
Nhiệt tâm đánh tan phóng dật
Này Ananda ở đây Tỳ-kheo trú quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời, quán thọ trên các thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm tỉnh giác chánh niệm để nhiếp phục tham ưu ở đời”. (Tương Ưng Bộ Kinh V, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ I. Phẩm Ambapàli, bài kinh Bệnh)
Đức Phật dùng từ “trú” trong sự quán xét thân, quán xét cảm giác, quán xét nội tâm, quán xét những cái gì đang vận hành bên trong. Quán xét một cách nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục những ham muốn, lo lắng và tham ưu ở đời. Chữ “nhiệt tâm” là nhiệt huyết, một nội tâm nồng cháy, nóng bỏng, mạnh mẽ, tha thiết. Những lúc vui, cười theo sắc, theo năm dục trưởng dưỡng mình hãy đọc lên “cười gì, vui sướng gì khi đời bị đốt thiêu”?
Chúng ta hãy quán chiếu đi, cha mình bị nCov, hoặc tự thân mình vướng vào dịch bệnh này thì mình như thế nào? Rồi mình quán chiếu cảnh cha mình nằm hấp hối, mẹ nằm trên giường bệnh, khi đó mình đem cái gì về cho cha mẹ khi đời không ra đời, đạo không ra đạo. Không một viên thuốc, không một chung trà, chưa từng dọn một bữa cơm cho cha mẹ ăn, bổn phận làm con bất hiếu, bổn phận làm cháu không tròn. Bây giờ đi tu không có giới, không có định, không có tuệ, dần dà qua năm tháng, qua ngày giờ phôi pha, trơ trơ, vất vơ, vất vưỡng, rồi cuộc đời mình kết thúc sẽ ra sao. Mình đem cái gì để đền đáp cha mẹ, đem cái gì để đền đáp ông bà, đem cái gì để trả lại đàn na tín thí chấp tay cung kính đảnh lễ cúng dường tôn trọng?
Cười gì, hân hoan gì,
Khi đời mãi bị thiêu?
Bị tối tăm bao trùm,
Sao không tìm ngọn đèn?
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)
Chúng ta phải đọc lên những lời Thánh trí đó, để dập tan buông lung, phóng dật. Vì thứ ghê gớm nhất là cảm giác của si. Tham, sân có khi nhìn thấy được, nhưng cái si mình không thấy. Tại vì cái sân rất mãnh liệt, hung hăng, dữ tợn, nhìn vào là biết liền, tham thì cũng hơi khó thấy, còn cái si là một thứ hết sức vi tế, nhưng chúng ta lại xem thường và mình chết ngay cái si này. Khi tu từ từ và đạt mức độ nào đó thì hai tên khủng khiếp nhất là si và buông lung phóng dật bắt đầu xâm chiếm, khiến mình mệt mỏi, rã rượi, đơ đơ, ngơ ngơ, trơ trơ và muốn thả lỏng, muốn hướng ngoại, muốn sống một cách bình thường, không muốn suy nghĩ nhiều nhức đầu, mệt mỏi, muốn buông thả cho thoải mái.
Cho nên, Đức Thế Tôn mới nói buông lung là một kiết sử rất là khủng khiếp. Khiến mình tu học phóng dật, không an trú trong Tứ Niệm Xứ, trong trí năm uẩn. Mà một ngày chúng ta lại buông lung vô số lần, nếu không thấy năm uẩn, không chánh niệm tỉnh giác để đào thải, để loại trừ, loại bỏ những thứ ác bất thiện pháp đó thì sẽ tu theo kiểu mặc kệ nó. Thí dụ khi lên chiếc xe thì mình lái cứ việc lái, xe chạy cứ việc chạy, mình không để ý đèn xanh, đèn đỏ, không quan sát, không suy nghĩ nhiều vì nhức đầu thì mình đi tới hiểm họa, đời tu cũng giống như vậy. Vì vậy, thật sự chúng ta cần phải hết sức lo lắng, làm sao cho ngọn lửa tu học không được yếu xuống. Chúng ta phải tiếp tục bỏ củi, bỏ nhiên liệu vào liên tục, mỗi một ngày mình nghe pháp chính là đưa nhiên liệu vào.
Minh Thành đã ở trong chùa 30 năm, đã nhìn thấy huynh đệ cùng tu, Minh Thành hết sức lo lắng và sợ hãi trước tình trạng chung. Ở chùa một thời gian rồi là trơ trơ, không còn cảm xúc đối với pháp, đối với sự hành trì, huynh đệ làm biếng không muốn nghe pháp, chán ngồi thiền. Đối với bản thân Minh Thành, đã 30 năm nhưng vẫn luôn luôn khắt khe với chính mình từng chút, từng chút một, có những lúc Minh Thành rất mệt, muốn bệnh, nhưng vẫn bắt mình phải ngồi thiền, phải lên chia sẻ pháp. Cho đến thời gian Minh Thành công phu trong thất, có những lúc đầu muốn bưng ra, thậm chí lấy đầu đâm vào vách tường, trong lúc ngồi thiền có khi còn lấy dầu xanh thoa vào mắt không cho ngủ, tu như thế mà đến bây giờ Minh Thành vẫn chưa xong việc.
Thành ra tự mình phải biết thương mình, thật ra sự tu học này không bình thường như mình suy nghĩ, mà là cả một cuộc trường kỳ kháng chiến liên tục, miên mật, khít khao từng giây, từng phút trong nội tâm. Đang ngồi nghe pháp cũng phải chiến đấu với tâm, nếu không chiến đấu, tâm sẽ lơ đãng, giảng pháp không nghe, mà nghe giống như đang nói dội dội trên trời, không thọ được, đơ đơ hoặc tâm sẽ tầm, hướng đến thời gian hết giờ, chuẩn bị đi ngủ, do vậy khi mình ngồi đây nghe pháp cũng giống như trên chiến trường.
Người chân tu thực học sẽ luôn luôn ở tư thế của người chiến sĩ, Đức Phật có nói bài kinh “Chiến Sĩ”, tức là người tu lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng, lúc nào cũng cầm chặt tay súng và bất cứ lúc nào có thể nã đạn, nã vào ngũ uẩn của tự thân mình, đó là nhiệt tâm trong Tứ Niệm Xứ. Cho nên, không lúc nào được để cho tâm nguội lạnh, phải làm cho tâm nóng lên “Mình nghĩ còn sống bao nhiêu năm nữa, mình còn sức khỏe tốt không, mình nghĩ còn an ổn hoài không, thời gian còn bao lâu nữa ở tu học tại đây?”. Chính là do mình không thấy vô thường, không thấy khổ nảo, nên mới cho phép mình buông lung, phóng dật. Phải cứ tâm tâm niệm niệm về sự tan hoại, tan vỡ, bại hoại, tiêu vong, diệt vong của ngũ uẩn trong tích tắc, Đức Phật gọi là lửa cháy đầu, mau cầu chứng bất động. Do đó phải nhiệt tâm, phải tha thiết, quyết liệt, nung nấu, đốt lên ngọn lửa bậc thiện tri thức.
Ở đây có thầy lành, bạn tốt, huynh đệ cùng tu, như vậy, còn tìm được chỗ nào để tu Chánh pháp, chỗ nào mà môi trường, hoàn cảnh đầy đủ tốt đẹp như vậy. Tự mình sẽ giết mình nếu để cho mình thả lỏng, buông lung. Nếu mỗi ngày mình buông lung, phóng dật thì dập đầu xuống mà lạy, lạy cha, lạy mẹ, cha mẹ chết thì lạy theo kiểu chết, còn sống thì lạy cha mẹ theo kiểu còn sống. Lạy để khắc ghi cái bổn phận và thệ nguyện mỗi ngày, thệ nguyện để diệt tận chướng ngại trong nội tâm của mình, thệ nguyện trước Tam bảo. Vừa lạy vừa nói “Tao phải diệt mày, tao phải diệt mày” lạy xuống và tác ý vào.
Cho nên sự tác ý là tuyệt đối quan trọng, tất cả là do mình lười biếng không tác ý, hoặc tác ý một chút rồi thôi. Vì vậy, chúng ta phải tác ý mãnh liệt, phải thiết tha, phải để tâm, phải luôn nhìn lại nội tâm, thấy một cái gì đó là xử lý liền ngay lập tức. Thí dụ hàng ngày báo đưa tin, biết bao người khoảng 20 tuổi hoặc hơn 20 tuổi chết liên tục, tai nạn hiểm họa đầy rẫy, mình phải mở mắt ra nhìn và quán chiếu “hãy tự mình làm ngọn đèn cho chính mình” hãy thắp sáng ngọn đèn, nhìn thấy rõ thân tâm “hãy tự mình nương tựa cho chính mình”. Đừng nghĩ rằng có thể nương dựa vào cái điều gì khác, dù cho Thánh nhân có ở trước mặt, thì mình cũng tự hành trì, tự nỗ lực, tự tẩy sạch những cấu nhiễm, không ai làm cho mình được điều đó.
Hãy dùng sự nhìn thấy rõ để mà diệt tận, tẩy sạch, diệt sạch, đoạn tận, đoạn giảm những cấu uế trong nội tâm. Luôn luôn dòm ngó, dòm chừng thân thể, cảm giác này, cái nội tâm, và những thứ đang vận hành trong tâm, dòm chừng tâm hết sức tỉnh tảo, tỉnh thức, hết sức tỉnh giác, bằng sự nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác để nhiếp phục, tham ưu ở đời, nhiếp phục, chế phục, điều phục những dục, tham đối với ngũ uẩn.
Đức Phật dạy người tu phải luôn luôn quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp, đó là sự thường trực nhìn lại thân tâm mình, thấy chỗ nào dơ là chùi, chỗ bẩn là là lau, thấy chỗ nào cấu nhiễm là mình vệ sinh. Khi thực hiện kiên trì, bền bỉ thì đến một ngày sẽ được trong sạch. Nếu thấy dơ nhiều quá, mình nghĩ thôi bỏ đi, là tự mình hủy hoại chính mình.
Thâm nhập tưởng vô thường
Đức Phật dạy trong Tăng Chi Bộ kinh tập 4, bài kinh “Xuất Gia”:
Này các Tỳ kheo các Thầy cần phải học tập như sau:
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập như khi xuất gia.
Khi xuất gia là khi chúng ta mới xuất gia, tức là phải thực hành, phải tích tập Thánh pháp, Thánh đạo giống như khi mình mới xuất gia. Phải giữ tâm ban đầu giống như khi mình mới lên chùa, giống như ngày bước vào đầu tiên tu tập.
Các pháp bất thiện được sanh không có chinh phục tâm và tồn tại.
Tức là tuy pháp bất thiện sanh khởi lên nhưng không chinh phục và tồn tại trong tâm mình được, chỗ này rất quan trọng, đây là công phu của Như Lý Tác Ý. Khi dục, tham khởi lên, mình tác ý đánh nó, đánh đuổi cho đến lúc nó tan ra, đánh tan những cảm giác ưa thích, mê đắm những món đồ. Những thứ mình ưa thích, trân quý, cất giữ giống như báu vật, bảo bối, bây giờ mình phải quyết tâm từ bỏ, xả ly, đoạn tận. Dục, tham có sanh khởi nhưng nó không chinh phục được tâm và không tồn tại bởi chúng ta có Như Lý Tác Ý mạnh mẽ, quyết liệt đánh tan hết dục, ái của mình, đối với những cái sân và bản ngã cũng vậy. Lúc trước mình không thấy được ngũ uẩn, không biết ngũ uẩn thì làm sao mình đánh đuổi được. Bây giờ mình thấy ngũ uẩn tích tụ trong thọ, tưởng, hành, trong cảm giác, nghĩ, tưởng, vì vậy, mỗi lần sanh khởi là mình cứ đánh, đánh cho đến nó không sanh khởi, mà mình cũng đánh từ xa, tức là mình dọn hàng tồn kho, đánh cho đến cái thọ về vấn đề nào đó không còn nữa.
Thí dụ mình giận một người nào đó, mà đến khi gặp tiếp xúc với người đó là mình giận, bực, do đó mình tác ý mãnh liệt đến tan cảm giác giận ra luôn. Nhưng khi tan cảm giác giận, cũng chưa được, khi mình trở về không còn gặp người đó nữa, mình vẫn tác ý và khi tác ý như vậy thì thọ tưởng, hành cũng sanh khởi. Khi đó thì mình vẫn nhớ về người ấy, đối diện với thọ, tưởng, hành trong quá khứ như pháp trận, mình vẫn tác ý cho hình bóng người đó hiện ra, xem thọ, tưởng, hành như thế nào, suy nghĩ tiếp tục, tác ý liên tục, tác ý từ xa. Chúng ta tác ý cho đến khi hình bóng người đó dù có hiện trong tâm thì mình cảm thấy bình thường, không còn khó chịu, không còn bực bội, không còn suy nghĩ xấu về người đó. Hình bóng người đó hiện ra, cái mặt bình thường không còn khó chịu như lúc trước. Khi đã tác ý đến mức độ đó thì cảm giác được lắng dịu về sân, khi gặp người đó trong thực tế, tâm của mình cũng lắng dịu tưởng, lắng dịu hành, đi đến diệt tận mầm mống không cho sanh khởi trở lại trong tương lai.
Đối với dục, tham, sân, bản ngã cũng giống như vậy, đợi đến lúc gặp người mình giận mới kiềm hãm xuống, mới tu là không kịp, không thể được, giống như nhà cháy bốc khói ngùn ngụt mà mình dùng mấy xô nước tưới thì không kịp, cho nên phải tác ý từ xa.
Chẳng hạn có người nói “con ngồi đây, con thấy đâu có dục, tại sao phải quán bất tịnh”, đó là bởi vì trong xương tủy, trong từng thớ thịt, trong từng cọng gân, trong từng sợi tóc của mình có dục, ái, tham chấp, thủ nằm trong đó. Nếu chờ đến lúc gặp sắc, khởi lên tham dục mới quán thì không được. Cho nên, phải liên tục, tinh tấn về quán bất tịnh, quán cửu tưởng, thân hành niệm thì nhất định sẽ nhiếp phục được dục, tham, ái.
Với việc để tâm liên tục vào sân để đánh phá, tác ý, đánh đuổi, tẩy sạch nó, thì nhất định sân đi đến giảm thiểu và được nhiếp phục, một khi đã làm thì không thể không có kết quả, điều đó vô lý, phi nhân quả. Cái gì dính mắc nặng thì chúng ta phải để tâm vào nó mà đánh phá, để tâm tìm đủ mọi cách dò xét liên tục.
Thí dụ có cây kiểng mà mình rất cưng, trồng để trước cửa phòng, sáng nào cũng tưới nước, khi nhìn thấy đất ít, mình kiếm đất phân, đất tốt đổ vào, ngày nào cũng chăm, cũng tưới. So với mình trồng một cây kiểng bỏ đại, không tưới, không chăm, không coi, bỏ thí khoảng 2-3-4 tháng, khi quay lại xem thì giữa hai cây kiểng đó thì đương nhiên cây kiểng được chăm sóc, tưới tẩm sẽ tốt hơn. Sự tu học của mình cũng giống như vậy, nếu không chịu dòm, ngó, chăm coi vào công phu tu tập mà để tâm vào những thứ khác, những thứ yếu mà mình quá đặt nặng thì mình vào chùa để làm gì, chúng ta phải tự hỏi lại.
Cho nên, Đức Phật nói những điều tâm niệm của người xuất gia:
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô thường.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô ngã.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng bất tịnh.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng nguy hại.
(Tăng Chi Bộ Kinh IV, 10. Chương Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, bài kinh Xuất Gia)
Những câu này tuyệt đối quan trọng, mà bây giờ mọi người ít để tâm đối với những điều này. Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập tưởng vô thường, mình phải nhớ là “thực hành tích tập”, tích là tích lũy, tập là tập hợp. Bất cứ cái gì nhìn vào cũng thấy tính chất vô thường, bất cứ sắc nào, bất cứ thọ nào, bất cứ tưởng nào, bất cứ hành nào, bất cứ thức nào cũng phải nhìn bằng trí huệ vô thường. Đức Phật gọi cái nhìn đó là thực hành tích tập, mỗi chữ của Đức Phật hết sức sâu sắc, thâm thúy. Thực hành chưa đủ, còn dùng tích tập, tức là thực hành nhiều, chất chứa, tập hợp.
Tưởng về thường rất cứng chắc trong vô lượng, vô biên kiếp, nếu không có tưởng vô thường đánh phá thật là nhiều thì làm sao sụp đổ được tưởng thường, tưởng đẹp, tưởng bền, tưởng chắc. Nếu không chất chứa, tập hợp tưởng vô thường thì làm sao đủ quân để đánh sập tưởng thường, trong khi quân giặc đến mười ngàn người, mà lính mình có một trăm người thì sao mà đánh. Thí dụ từ khi vào chùa quán bất tịnh được mười lần thì được có mười tên lính, trong khi giặc của tham dục đến mười triệu tên, đều là lực sĩ, như vậy mười tên lính què, không biết võ công thì làm sao mình đấu được. Cho nên phải thực hành, tích tập sự quán tưởng về vô thường liên tục, liên tục.
Nhìn vào gương cũng thấy đây là sắc uẩn vô thường, nhìn vào chiếc xe, cũng là của cải vô thường; nhìn vào cái thân xác, cũng thấy là thứ vô thường, chóng vánh, dễ vỡ; nhìn vào vòng ngọc, vòng cẩm thạch, cũng là cái thứ vô thường tan vỡ này. Nhìn vào bất cứ thứ gì, cũng xuyên thủng qua bằng trí huệ vô thường, đó là tích tập vô thường tưởng, tất cả cảm giác nào sanh khởi lên, cũng là vô thường “mày tan biến đi, mày lắng dịu đi”, tất cả hình bóng hiện khởi lên, cũng là vô thường. Hình bóng dục, ái, tham, sân, si, bản ngã cái vô thường, cái đồ bất tịnh, nguy hại. Tất cả đều dùng tưởng tức là quán tưởng, quán chiếu, quán sát thứ bất tịnh, cái thứ nhơ nhớp bẩn thỉu, xú uế, tanh hôi, cái thứ thối tha, thây sình phình lên, bản ngã sanh khởi là mình chửi, tác ý mãnh liệt lên. Các cảm giác khó chịu, bừng bừng, hất hất, cảm giác dương dương tự đắc, cảm giác ta đây, vênh váo, ngạo mạn, tác ý “mày phình trương cái thây sình lên sao? mày có biết thối không? có biết nhục không?”, tác ý mãnh liệt trong tưởng nguy hại, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng nguy hại. Nhìn cái gì cũng phải thấy nguy hiểm và tác hại trong đó.
Mới vừa mở điện thoại lên, báo đăng về người đẹp, người mẫu, mình nhìn vào mình phải nghĩ nguy hiểm, nếu chúng ta chạm vào sẽ sanh thọ, sanh dục, sanh nghiệp liền. Chỉ nhìn hình là đã sanh khởi lên liền, mình phải quán chiếu liền, thứ này là thứ nguy hại, vì thứ này mà đam mê, vì thứ này mà tham dục, vì thứ này mà tham đắm, ngu mê, vì thứ này mà đời đời kiếp kiếp sanh sản ra những thân thể bẩn thỉu, máu huyết, máu mủ, tinh huyết, hôi dơ. Nhìn vào người đẹp là thấy bộ xương liền, nước tiểu, phân trong đây, không có cái gì đẹp, chúng ta phải tác ý đánh liền cái cảm giác, cái nghỉ tưởng thích, dục, ái đánh bạt qua liền, đó gọi là các pháp bất thiện được sanh, mà không chinh phục tâm và tồn tại.
Cho nên phải thực hành, phải tích tập, tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng nguy hại, bốn tưởng này phải thực tập thường xuyên. Thí dụ mình đi vòng sân chùa, mình nhìn lên, chùa nhìn đẹp, thất của mình cũng xinh xinh trên đồi cao, khi đó phải thấy cái này rất nguy hiểm, cái này là tác hại, cái này là ái. “Mày tính mai mốt chết rồi, mày làm cô hồn giữ cái chùa này à”, ái cái gì, tham cái gì, luyến cái gì trong cái đống bại hoại này?” Mình phải tác ý liền đánh cho tan cái dục, cái tham, cái ái đối với sắc uẩn đó, đánh bạt tan những cảm giác, nghĩ, tưởng đó, như vậy gọi là tích tập tưởng nguy hại. Thực hành và tích tập tưởng nguy hại đối với tất cả ngũ uẩn, mọi hình thái của ngũ uẩn.
Khi mình ngồi đây, người ta vào quỳ lạy, mình thấy cảm giác lâng lâng, sung sướng, người ta nói “Sư cô tu tuyệt vời, đức hạnh lắm; Thầy tu là bậc nhất, con chưa thấy ai mà tướng hảo như thầy, chưa thấy ai đạo hạnh như thầy, chưa thấy ai trí huệ như cô” và họ quỳ xuống lạy. Trong tâm cảm giác thọ, tưởng, hành vận hành như thế nào? Lúc đó, mình phải nghĩ “Mày chết đi, mày chết đi, dòm lại đi trong lớp vải này là lớp da, trong lớp da này là thịt, bao tử, lá lách, ruột non, ruột già, chỉ là trống rỗng, ai ở trong đây? Cái ta nào ở trong đây mà mày ưa thích, khoan khoái? Đây là đồ trống rỗng, đồ trống không, đồ vô ngã, vô thường, bất tịnh, nhơ nhớp”. Cần phải đánh tan cảm giác nhẹ nhẹ, ưa ưa, thích thích, khoái khoái, cảm giác nghĩ tưởng ngay khi người ta lạy, đó là tích tập tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh. Khi mình tác ý, quán như vậy, thì mình sẽ không có thọ, tại xúc sanh thọ, không thọ sự cung kính đảnh lễ cúng dường đó. Nếu bình thường trong vô minh là mình khoái, thích, cho nên, khi người ta lạy mình thì chỉ rõ ràng có người lạy.
Cho nên tích tập tưởng hết sức quan trọng. Tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng nguy hại là bốn cái tưởng mà tất cả người tu, người xuất gia trong dòng pháp này phải thực tập liên tục và tích tụ, tích tập. Khi thực hành sẽ thấy sự bình an kỳ diệu, mình sẽ đánh gục hết, ngã hết, đánh sập những thứ quái ác, yêu ma, tà ngụy, thứ quậy phá mình trong vô lượng vô biên kiếp mà mình không thấy, bây giờ mới được phô bày ra ánh sáng. Thánh trí năm uẩn làm phơi bày ra hết những gì che dấu hàng ngàn, hàng vạn năm qua, bấy giờ sẽ được phanh phui phơi bày ra ánh sáng hết. Như người đem đèn sáng vào trong bóng tối, để cho người có mắt có thể nhìn thấy được, giáo pháp cũng giống như vậy, Đức Gotama cũng giống như vậy, Đức Thế Tôn cũng giống như vậy, chỉ đường cho người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, phơi bày những cái gì bị che kín. Thánh trí năm uẩn sẽ làm điều đó.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với cái tưởng đoạn tận, tưởng ly tham, tưởng đoạn diệt, cái gì mình nhìn cũng thấy là đồ bại hoại, đoạn tận, nói tiếng Việt cho dễ hiểu là bại hoại, đoạn diệt, hoại diệt. Cái gì nhìn vào con mắt mình cũng nghĩ đó là đồ cái thứ bại hoại, cái thứ sớm muộn rồi cũng tan rã. Trong mắt mình khi nhìn đến đâu là tất cả phải rã rời tới đó hết, đổ vỡ, sụp đổ hết, nhìn thấy cái gì cũng xuyên thủng, làm tan vỡ hết tất cả các pháp, không còn cái gì ở trước Thánh trí năm uẩn mà có thể đứng vững được, Thánh trí đánh sụp đổ hết tất cả.
Trong bài kinh “Bọt Nước”, Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật có dạy: “Quán sắc như hòn bọt, quán thọ như bong bóng nước, quán tưởng như ráng mặt trời, quán hành như cây chuối, quán thức như trò ảo thuật”, đó là đề tài thiền quán hết sức quan trọng. Nhìn tất cả hình sắc đều là bong bóng nước, nếu nhìn như vậy, thực hành huân tập liên tục, thường trực tích tụ tưởng như vậy, dù cho cái này có bị cháy, chỉ gợn buồn một chút xíu thôi, có gì đâu, đó chỉ là bong bóng nước. Bình thường thấy nó đẹp, nó thật, là của tôi, đó là tự ngã của tôi, đó là cái đáng yêu, đáng mến, đến khi nó sụp đổ, tan hoại thì lúc đó bức tóc, đấm ngực, nước mặt đầy mặt. Hãy nhìn tất cả thế giới này, con người này, tất cả cảm giác nghĩ tưởng này, nhận thức, nhìn đến đâu là tan đến đó, nhìn tới đâu là hoại tới đó, nhìn tới đâu là thứ đoạn tận, đoạn diệt để ly tham, không còn ham muốn nữa.
Chúng ta sẽ được thực hành tích tập với cái tưởng ly tham, chỉ có như vậy mới đưa đến ly tham, chứ mình nói tôi không còn tham nữa được không? Mình nói thôi, suy nghĩ thôi, chứ chưa thẩm thấu bằng tất cả Thánh trí năm uẩn thì làm sao mà ly tham, làm sao mà không tham được. Cho nên tất cả những tưởng mà mình học là vô thường, vô ngã, bất tịnh, nguy hại, đoạn tận, đoạn diệt này đưa đến chữ ly tham, mà ly tham này cũng phải thực hành tích tập, chứ nói là không được.
Phải thực hành nhiều lần, nhiều lần, trăm lần, ngàn lần, mười ngàn lần, một trăm ngàn lần, một triệu lần, mười triệu lần, thực tập cho đến khi tắt hơi thở cuối cùng, là cứu cánh ly tham, đây là đời sống cuối cùng sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui cảm giác dục, tham, ái, sầu, bi, khổ, ưu, não đối với năm uẩn nữa.
Hãy đầu tư, hãy để tâm, hãy nỗ lực, hãy phấn đấu cho đến khi mình ra đi, đó cũng chính là ngày đại viên mãn. Phải làm trước khi ra đi thì mới có thể nhập Thánh quả. Từ Nhị quả trở lên là đã tốt, tham, sân đã nguội, từ Nhị quả trở lên là khỏe rồi. Chưa Nhập lưu thì hiểm nguy còn dầy rẫy hết, chưa chắc chắn. Cho nên từ đây là mình phải nỗ lực, quyết liệt, tối thiểu là phải Nhập lưu, đến chỗ bất thoái chuyển với chánh giác thì mới an ổn.
Còn bây giờ tâm thay đổi liên tục vì vậy phải làm sao nhiếp phục được cảm giác, phải giữ lửa và để nhiên liệu cho ngọn lửa nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác rực cháy liên tục. Không được để ngọn lửa hạ thấp, và tuyệt đối không cho ngọn lửa tắt, ngọn lửa tắt là mình chết. Nếu ngọn lửa quyết liệt tu hành tắt thì mình chết đi: “Mày chết đi? Mày sống để làm gì? Sống làm gì trong sự nhục nhã, tham, sân, si, bản ngã?”, chúng ta phải tác ý mãnh liệt.
./.
HÃY TỰ MÌNH
LÀM NGỌN ĐÈN CHO CHÍNH MÌNH
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Ngọn đèn Chánh Pháp PAGEREF _Toc71707836 \h 1
II.Nhiệt tâm đánh tan phóng dật PAGEREF _Toc71707837 \h 3
III. Thâm nhập tưởng vô thường PAGEREF _Toc71707838 \h 7
Ngọn đèn Chánh Pháp
Chúng ta tìm hiểu bài “Niệm Vị Tối Thượng” trong Căn Bản Trí:
“Này Ananda hãy tự mình làm ngọn đèn cho chính mình; hãy tự mình nương tựa chính mình, không nưa tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không có nương tựa vào một điều gì khác. Và này Ananda, thế nào là Tỳ kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác. Này Ananda ở đây Tỳ-kheo trú quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời, quán thọ trên các thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm tỉnh giác chánh niệm để nhiếp phục tham ưu ở đời”. (Tương Ưng Bộ Kinh V, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ I. Phẩm Ambapàli, bài kinh Bệnh)
Thế nào là ý nghĩa tự mình làm ngọn đèn cho chính mình?
Thế nào là ý nghĩa tự mình nương dựa chính mình?
Thế nào là ý nghĩa không nương tựa vào bất cứ một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm chỗ nương dựa, làm sao để tự mình làm ngọn đèn cho chính mình?
Chúng ta phải chiêm nghiệm cho sâu sắc, làm sao để tự mình làm nương tựa cho chính mình?
Đức Phật phải trải qua biết bao nhiêu sự khó khổ trong vô lượng, vô biên kiếp, đến kiếp cuối cùng Bồ tát mới thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác và nói ra Thánh Pháp. Suốt 2.000 năm, dày công gian khổ đem cả sinh mạng trong đêm trường để tìm ra được nhưng bây giờ bị quên lãng, mai một. Bây giờ chúng ta có thầy lành, bạn tốt giảng pháp liên tục, nhắc nhở liên tục, chỉ dẫn liên tục mỗi ngày, mà mình không chịu nỗ lực, không chịu tu, không chịu để tâm, không biết trân quý, trân trọng, mà xem thường Thánh pháp của Thế Tôn. Dầu cho hình tượng Phật ở trước mắt mà mình không thấy Phật, không biết rằng hình bóng đó, hình ảnh đó là xương máu, là huyết lệ, là một sự hy sinh vĩ đại, hy sinh vô cùng tận. Bóng dáng người ngồi đó, phải đánh đổi ngàn vạn ức ức sinh mạng trong vô lượng, vô biên kiếp, Phật truyền pháp được 500 năm, sau đó không còn nữa.
Bây giờ sau 2.000 năm của Chánh pháp, đã có người dốc hết tất cả sinh mạng để truyền trao nhưng chúng ta cầm và bỏ đó, xem thường, mình không thấy huyết lệ, xương máu, gian khổ của Thế Tôn, của bậc thiện trí thức, của đạo sư, không thấy sự gian khổ của các bậc A-la-hán, những bậc Thánh tăng truyền thừa pháp tạng suốt mấy ngàn năm. Mình nghe kinh một cách hời hợt, chỉ đọc trên môi, không thấy mỗi câu, mỗi chữ đều đầy rẫy máu, nước mắt, huyết lệ, không biết đó là trí huệ tối thượng.
Chúng ta đã học hết cảm giác toàn thân, học nhận diện năm uẩn mà mình không chịu nhận diện, không chịu để tâm, không chịu nhìn lại, khi đó mình phải cảm thấy những giây phút đó là những giây phút nhục nhã tột độ, giây phút hiểm nạn, tai nạn, tai ương, khốn nạn. Cho nên mình phải dập đầu trước Đức Phật mỗi buổi tối, mỗi ngày.
Mỗi một ngày mình phải tự hỏi “mình bỏ cha, bỏ mẹ vào đây làm cái gì?” sau đó lạy xuống. Tất cả những người tập sự xuất gia, xuất gia, cho đến những người cư sĩ đều phải tự hỏi “mình lên đây để làm cái gì?”, sau mỗi một câu mình hỏi, rồi lạy xuống, cứ lạy hoài. Tự hỏi “mình bỏ cha, bỏ mẹ, cạo đầu, đắp chiếc y để làm cái gì?”, “ mình bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ hết đời sống, tình nghĩa, công ơn dưỡng dục sanh thành, rồi vào đây làm cái gì?”, “mày bỏ cha, bỏ mẹ mày, bỏ làng, bỏ xóm, bỏ tình, bỏ nghĩa, để mày vào đây làm cái gì?” sau đó dập đầu xuống.
Chúng ta phải đặt sự thấy pháp, thực hành pháp lên trên hết tất cả, dù cho có bỏ cái mạng này. Đâu phải làm công việc, rồi mình không tu được, đó chỉ là ngụy biện, tại mình không để tâm, không chịu khó, mình thả trôi, thả nổi, thả trôi theo vô minh, thả trôi theo tham ái, thả trôi theo sự thả lỏng các căn, buông lung, phóng dật.
Tại sao Đức Phật nói “hãy tự mình làm ngọn đèn cho chính mình”? Một khi đã nhìn thấy được năm uẩn thì trí nhìn thấy đó là ngọn đèn. Ngọn đèn là sự thường trực để ý nội quán, phản chiếu, thường chiếu, thường soi, rọi lại sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Phải thường soi rọi lại, để nhìn ra được những cấu uế bên trong sắc, thọ tưởng, hành, thức. Những thứ nội soi, chiếu soi, thường rọi đó là ngọn đèn. Mỗi người chúng ta“hãy tự mình làm ngọn đèn cho chính mình”, hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi. Trí nhìn thấy năm uẩn, trí thấy các lậu hoặc, trí nhìn thấy được những sự buông lung, phóng dật, những thả lỏng các căn, bản ngã, các trí đó chính là ngọn đèn. Trí phân biệt được mê ngộ; phân biệt được dục, ái, tham; phân biệt được cái nào là cấu nhiễm thì trí đó là ngọn đèn, trí đó là chỗ nương tựa.
Hơn nữa, chúng ta đâu thể nương tựa ai khác vì ngũ uẩn là ngũ uẩn ngay trên thân mình, chứ đâu phải ngũ uẩn của người khác, đâu có thể nào có thầy nắm tay mình dắt đi hoài cho tới chết. Đối với những cảm giác dục, sân, bản ngã trong tâm thì mình phải biết nhìn lại thân mình, để nhiếp phục, chế phục, chế ngự, đó là mình tự làm chỗ dựa cho chính mình, không dựa vào chỗ nào khác. Chúng ta phải dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương dựa, Chánh pháp ở đây là các trí năm uẩn.
Chúng ta phải dập đầu xuống Đức Phật lạy và hỏi mình đang làm cái gì? Cái buông lung, phóng dật sanh khởi lên, mình sẽ dập đầu trước tượng Phật hỏi: “Mày đang làm cái gì? Cha mẹ mày ở nhà đang làm cái gì? Ông bà của mày đang làm cái gì? Họ đang nhớ thương mày đó, họ đang mong đợi, đang chờ, đang hy vọng, mà mày vô đây làm cái gì vậy? Nhục không?” Tủi nhục, ô nhục vô cùng, sau đó dập đầu xuống, tự mình thắp đuốc lên mà đi, “phải tự mình làm ngọn đèn cho chính mình, phải tự mình làm chỗ nương dựa cho chính mình”, không thể có chỗ dựa nào khác ngoài tự mình nhìn thấy được ngũ uẩn, nhìn thấy được dục, tham, ái, bản ngã, mà nổ lực liên tục, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận.
Nhiệt tâm đánh tan phóng dật
Này Ananda ở đây Tỳ-kheo trú quán thân trên thân, nhiệt tâm tỉnh giác chánh niệm, để nhiếp phục tham ưu ở đời, quán thọ trên các thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm tỉnh giác chánh niệm để nhiếp phục tham ưu ở đời”. (Tương Ưng Bộ Kinh V, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ I. Phẩm Ambapàli, bài kinh Bệnh)
Đức Phật dùng từ “trú” trong sự quán xét thân, quán xét cảm giác, quán xét nội tâm, quán xét những cái gì đang vận hành bên trong. Quán xét một cách nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục những ham muốn, lo lắng và tham ưu ở đời. Chữ “nhiệt tâm” là nhiệt huyết, một nội tâm nồng cháy, nóng bỏng, mạnh mẽ, tha thiết. Những lúc vui, cười theo sắc, theo năm dục trưởng dưỡng mình hãy đọc lên “cười gì, vui sướng gì khi đời bị đốt thiêu”?
Chúng ta hãy quán chiếu đi, cha mình bị nCov, hoặc tự thân mình vướng vào dịch bệnh này thì mình như thế nào? Rồi mình quán chiếu cảnh cha mình nằm hấp hối, mẹ nằm trên giường bệnh, khi đó mình đem cái gì về cho cha mẹ khi đời không ra đời, đạo không ra đạo. Không một viên thuốc, không một chung trà, chưa từng dọn một bữa cơm cho cha mẹ ăn, bổn phận làm con bất hiếu, bổn phận làm cháu không tròn. Bây giờ đi tu không có giới, không có định, không có tuệ, dần dà qua năm tháng, qua ngày giờ phôi pha, trơ trơ, vất vơ, vất vưỡng, rồi cuộc đời mình kết thúc sẽ ra sao. Mình đem cái gì để đền đáp cha mẹ, đem cái gì để đền đáp ông bà, đem cái gì để trả lại đàn na tín thí chấp tay cung kính đảnh lễ cúng dường tôn trọng?
Cười gì, hân hoan gì,
Khi đời mãi bị thiêu?
Bị tối tăm bao trùm,
Sao không tìm ngọn đèn?
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Già)
Chúng ta phải đọc lên những lời Thánh trí đó, để dập tan buông lung, phóng dật. Vì thứ ghê gớm nhất là cảm giác của si. Tham, sân có khi nhìn thấy được, nhưng cái si mình không thấy. Tại vì cái sân rất mãnh liệt, hung hăng, dữ tợn, nhìn vào là biết liền, tham thì cũng hơi khó thấy, còn cái si là một thứ hết sức vi tế, nhưng chúng ta lại xem thường và mình chết ngay cái si này. Khi tu từ từ và đạt mức độ nào đó thì hai tên khủng khiếp nhất là si và buông lung phóng dật bắt đầu xâm chiếm, khiến mình mệt mỏi, rã rượi, đơ đơ, ngơ ngơ, trơ trơ và muốn thả lỏng, muốn hướng ngoại, muốn sống một cách bình thường, không muốn suy nghĩ nhiều nhức đầu, mệt mỏi, muốn buông thả cho thoải mái.
Cho nên, Đức Thế Tôn mới nói buông lung là một kiết sử rất là khủng khiếp. Khiến mình tu học phóng dật, không an trú trong Tứ Niệm Xứ, trong trí năm uẩn. Mà một ngày chúng ta lại buông lung vô số lần, nếu không thấy năm uẩn, không chánh niệm tỉnh giác để đào thải, để loại trừ, loại bỏ những thứ ác bất thiện pháp đó thì sẽ tu theo kiểu mặc kệ nó. Thí dụ khi lên chiếc xe thì mình lái cứ việc lái, xe chạy cứ việc chạy, mình không để ý đèn xanh, đèn đỏ, không quan sát, không suy nghĩ nhiều vì nhức đầu thì mình đi tới hiểm họa, đời tu cũng giống như vậy. Vì vậy, thật sự chúng ta cần phải hết sức lo lắng, làm sao cho ngọn lửa tu học không được yếu xuống. Chúng ta phải tiếp tục bỏ củi, bỏ nhiên liệu vào liên tục, mỗi một ngày mình nghe pháp chính là đưa nhiên liệu vào.
Minh Thành đã ở trong chùa 30 năm, đã nhìn thấy huynh đệ cùng tu, Minh Thành hết sức lo lắng và sợ hãi trước tình trạng chung. Ở chùa một thời gian rồi là trơ trơ, không còn cảm xúc đối với pháp, đối với sự hành trì, huynh đệ làm biếng không muốn nghe pháp, chán ngồi thiền. Đối với bản thân Minh Thành, đã 30 năm nhưng vẫn luôn luôn khắt khe với chính mình từng chút, từng chút một, có những lúc Minh Thành rất mệt, muốn bệnh, nhưng vẫn bắt mình phải ngồi thiền, phải lên chia sẻ pháp. Cho đến thời gian Minh Thành công phu trong thất, có những lúc đầu muốn bưng ra, thậm chí lấy đầu đâm vào vách tường, trong lúc ngồi thiền có khi còn lấy dầu xanh thoa vào mắt không cho ngủ, tu như thế mà đến bây giờ Minh Thành vẫn chưa xong việc.
Thành ra tự mình phải biết thương mình, thật ra sự tu học này không bình thường như mình suy nghĩ, mà là cả một cuộc trường kỳ kháng chiến liên tục, miên mật, khít khao từng giây, từng phút trong nội tâm. Đang ngồi nghe pháp cũng phải chiến đấu với tâm, nếu không chiến đấu, tâm sẽ lơ đãng, giảng pháp không nghe, mà nghe giống như đang nói dội dội trên trời, không thọ được, đơ đơ hoặc tâm sẽ tầm, hướng đến thời gian hết giờ, chuẩn bị đi ngủ, do vậy khi mình ngồi đây nghe pháp cũng giống như trên chiến trường.
Người chân tu thực học sẽ luôn luôn ở tư thế của người chiến sĩ, Đức Phật có nói bài kinh “Chiến Sĩ”, tức là người tu lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng, lúc nào cũng cầm chặt tay súng và bất cứ lúc nào có thể nã đạn, nã vào ngũ uẩn của tự thân mình, đó là nhiệt tâm trong Tứ Niệm Xứ. Cho nên, không lúc nào được để cho tâm nguội lạnh, phải làm cho tâm nóng lên “Mình nghĩ còn sống bao nhiêu năm nữa, mình còn sức khỏe tốt không, mình nghĩ còn an ổn hoài không, thời gian còn bao lâu nữa ở tu học tại đây?”. Chính là do mình không thấy vô thường, không thấy khổ nảo, nên mới cho phép mình buông lung, phóng dật. Phải cứ tâm tâm niệm niệm về sự tan hoại, tan vỡ, bại hoại, tiêu vong, diệt vong của ngũ uẩn trong tích tắc, Đức Phật gọi là lửa cháy đầu, mau cầu chứng bất động. Do đó phải nhiệt tâm, phải tha thiết, quyết liệt, nung nấu, đốt lên ngọn lửa bậc thiện tri thức.
Ở đây có thầy lành, bạn tốt, huynh đệ cùng tu, như vậy, còn tìm được chỗ nào để tu Chánh pháp, chỗ nào mà môi trường, hoàn cảnh đầy đủ tốt đẹp như vậy. Tự mình sẽ giết mình nếu để cho mình thả lỏng, buông lung. Nếu mỗi ngày mình buông lung, phóng dật thì dập đầu xuống mà lạy, lạy cha, lạy mẹ, cha mẹ chết thì lạy theo kiểu chết, còn sống thì lạy cha mẹ theo kiểu còn sống. Lạy để khắc ghi cái bổn phận và thệ nguyện mỗi ngày, thệ nguyện để diệt tận chướng ngại trong nội tâm của mình, thệ nguyện trước Tam bảo. Vừa lạy vừa nói “Tao phải diệt mày, tao phải diệt mày” lạy xuống và tác ý vào.
Cho nên sự tác ý là tuyệt đối quan trọng, tất cả là do mình lười biếng không tác ý, hoặc tác ý một chút rồi thôi. Vì vậy, chúng ta phải tác ý mãnh liệt, phải thiết tha, phải để tâm, phải luôn nhìn lại nội tâm, thấy một cái gì đó là xử lý liền ngay lập tức. Thí dụ hàng ngày báo đưa tin, biết bao người khoảng 20 tuổi hoặc hơn 20 tuổi chết liên tục, tai nạn hiểm họa đầy rẫy, mình phải mở mắt ra nhìn và quán chiếu “hãy tự mình làm ngọn đèn cho chính mình” hãy thắp sáng ngọn đèn, nhìn thấy rõ thân tâm “hãy tự mình nương tựa cho chính mình”. Đừng nghĩ rằng có thể nương dựa vào cái điều gì khác, dù cho Thánh nhân có ở trước mặt, thì mình cũng tự hành trì, tự nỗ lực, tự tẩy sạch những cấu nhiễm, không ai làm cho mình được điều đó.
Hãy dùng sự nhìn thấy rõ để mà diệt tận, tẩy sạch, diệt sạch, đoạn tận, đoạn giảm những cấu uế trong nội tâm. Luôn luôn dòm ngó, dòm chừng thân thể, cảm giác này, cái nội tâm, và những thứ đang vận hành trong tâm, dòm chừng tâm hết sức tỉnh tảo, tỉnh thức, hết sức tỉnh giác, bằng sự nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác để nhiếp phục, tham ưu ở đời, nhiếp phục, chế phục, điều phục những dục, tham đối với ngũ uẩn.
Đức Phật dạy người tu phải luôn luôn quán thân, quán thọ, quán tâm, quán pháp, đó là sự thường trực nhìn lại thân tâm mình, thấy chỗ nào dơ là chùi, chỗ bẩn là là lau, thấy chỗ nào cấu nhiễm là mình vệ sinh. Khi thực hiện kiên trì, bền bỉ thì đến một ngày sẽ được trong sạch. Nếu thấy dơ nhiều quá, mình nghĩ thôi bỏ đi, là tự mình hủy hoại chính mình.
Thâm nhập tưởng vô thường
Đức Phật dạy trong Tăng Chi Bộ kinh tập 4, bài kinh “Xuất Gia”:
Này các Tỳ kheo các Thầy cần phải học tập như sau:
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập như khi xuất gia.
Khi xuất gia là khi chúng ta mới xuất gia, tức là phải thực hành, phải tích tập Thánh pháp, Thánh đạo giống như khi mình mới xuất gia. Phải giữ tâm ban đầu giống như khi mình mới lên chùa, giống như ngày bước vào đầu tiên tu tập.
Các pháp bất thiện được sanh không có chinh phục tâm và tồn tại.
Tức là tuy pháp bất thiện sanh khởi lên nhưng không chinh phục và tồn tại trong tâm mình được, chỗ này rất quan trọng, đây là công phu của Như Lý Tác Ý. Khi dục, tham khởi lên, mình tác ý đánh nó, đánh đuổi cho đến lúc nó tan ra, đánh tan những cảm giác ưa thích, mê đắm những món đồ. Những thứ mình ưa thích, trân quý, cất giữ giống như báu vật, bảo bối, bây giờ mình phải quyết tâm từ bỏ, xả ly, đoạn tận. Dục, tham có sanh khởi nhưng nó không chinh phục được tâm và không tồn tại bởi chúng ta có Như Lý Tác Ý mạnh mẽ, quyết liệt đánh tan hết dục, ái của mình, đối với những cái sân và bản ngã cũng vậy. Lúc trước mình không thấy được ngũ uẩn, không biết ngũ uẩn thì làm sao mình đánh đuổi được. Bây giờ mình thấy ngũ uẩn tích tụ trong thọ, tưởng, hành, trong cảm giác, nghĩ, tưởng, vì vậy, mỗi lần sanh khởi là mình cứ đánh, đánh cho đến nó không sanh khởi, mà mình cũng đánh từ xa, tức là mình dọn hàng tồn kho, đánh cho đến cái thọ về vấn đề nào đó không còn nữa.
Thí dụ mình giận một người nào đó, mà đến khi gặp tiếp xúc với người đó là mình giận, bực, do đó mình tác ý mãnh liệt đến tan cảm giác giận ra luôn. Nhưng khi tan cảm giác giận, cũng chưa được, khi mình trở về không còn gặp người đó nữa, mình vẫn tác ý và khi tác ý như vậy thì thọ tưởng, hành cũng sanh khởi. Khi đó thì mình vẫn nhớ về người ấy, đối diện với thọ, tưởng, hành trong quá khứ như pháp trận, mình vẫn tác ý cho hình bóng người đó hiện ra, xem thọ, tưởng, hành như thế nào, suy nghĩ tiếp tục, tác ý liên tục, tác ý từ xa. Chúng ta tác ý cho đến khi hình bóng người đó dù có hiện trong tâm thì mình cảm thấy bình thường, không còn khó chịu, không còn bực bội, không còn suy nghĩ xấu về người đó. Hình bóng người đó hiện ra, cái mặt bình thường không còn khó chịu như lúc trước. Khi đã tác ý đến mức độ đó thì cảm giác được lắng dịu về sân, khi gặp người đó trong thực tế, tâm của mình cũng lắng dịu tưởng, lắng dịu hành, đi đến diệt tận mầm mống không cho sanh khởi trở lại trong tương lai.
Đối với dục, tham, sân, bản ngã cũng giống như vậy, đợi đến lúc gặp người mình giận mới kiềm hãm xuống, mới tu là không kịp, không thể được, giống như nhà cháy bốc khói ngùn ngụt mà mình dùng mấy xô nước tưới thì không kịp, cho nên phải tác ý từ xa.
Chẳng hạn có người nói “con ngồi đây, con thấy đâu có dục, tại sao phải quán bất tịnh”, đó là bởi vì trong xương tủy, trong từng thớ thịt, trong từng cọng gân, trong từng sợi tóc của mình có dục, ái, tham chấp, thủ nằm trong đó. Nếu chờ đến lúc gặp sắc, khởi lên tham dục mới quán thì không được. Cho nên, phải liên tục, tinh tấn về quán bất tịnh, quán cửu tưởng, thân hành niệm thì nhất định sẽ nhiếp phục được dục, tham, ái.
Với việc để tâm liên tục vào sân để đánh phá, tác ý, đánh đuổi, tẩy sạch nó, thì nhất định sân đi đến giảm thiểu và được nhiếp phục, một khi đã làm thì không thể không có kết quả, điều đó vô lý, phi nhân quả. Cái gì dính mắc nặng thì chúng ta phải để tâm vào nó mà đánh phá, để tâm tìm đủ mọi cách dò xét liên tục.
Thí dụ có cây kiểng mà mình rất cưng, trồng để trước cửa phòng, sáng nào cũng tưới nước, khi nhìn thấy đất ít, mình kiếm đất phân, đất tốt đổ vào, ngày nào cũng chăm, cũng tưới. So với mình trồng một cây kiểng bỏ đại, không tưới, không chăm, không coi, bỏ thí khoảng 2-3-4 tháng, khi quay lại xem thì giữa hai cây kiểng đó thì đương nhiên cây kiểng được chăm sóc, tưới tẩm sẽ tốt hơn. Sự tu học của mình cũng giống như vậy, nếu không chịu dòm, ngó, chăm coi vào công phu tu tập mà để tâm vào những thứ khác, những thứ yếu mà mình quá đặt nặng thì mình vào chùa để làm gì, chúng ta phải tự hỏi lại.
Cho nên, Đức Phật nói những điều tâm niệm của người xuất gia:
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô thường.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng vô ngã.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng bất tịnh.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng nguy hại.
(Tăng Chi Bộ Kinh IV, 10. Chương Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, bài kinh Xuất Gia)
Những câu này tuyệt đối quan trọng, mà bây giờ mọi người ít để tâm đối với những điều này. Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập tưởng vô thường, mình phải nhớ là “thực hành tích tập”, tích là tích lũy, tập là tập hợp. Bất cứ cái gì nhìn vào cũng thấy tính chất vô thường, bất cứ sắc nào, bất cứ thọ nào, bất cứ tưởng nào, bất cứ hành nào, bất cứ thức nào cũng phải nhìn bằng trí huệ vô thường. Đức Phật gọi cái nhìn đó là thực hành tích tập, mỗi chữ của Đức Phật hết sức sâu sắc, thâm thúy. Thực hành chưa đủ, còn dùng tích tập, tức là thực hành nhiều, chất chứa, tập hợp.
Tưởng về thường rất cứng chắc trong vô lượng, vô biên kiếp, nếu không có tưởng vô thường đánh phá thật là nhiều thì làm sao sụp đổ được tưởng thường, tưởng đẹp, tưởng bền, tưởng chắc. Nếu không chất chứa, tập hợp tưởng vô thường thì làm sao đủ quân để đánh sập tưởng thường, trong khi quân giặc đến mười ngàn người, mà lính mình có một trăm người thì sao mà đánh. Thí dụ từ khi vào chùa quán bất tịnh được mười lần thì được có mười tên lính, trong khi giặc của tham dục đến mười triệu tên, đều là lực sĩ, như vậy mười tên lính què, không biết võ công thì làm sao mình đấu được. Cho nên phải thực hành, tích tập sự quán tưởng về vô thường liên tục, liên tục.
Nhìn vào gương cũng thấy đây là sắc uẩn vô thường, nhìn vào chiếc xe, cũng là của cải vô thường; nhìn vào cái thân xác, cũng thấy là thứ vô thường, chóng vánh, dễ vỡ; nhìn vào vòng ngọc, vòng cẩm thạch, cũng là cái thứ vô thường tan vỡ này. Nhìn vào bất cứ thứ gì, cũng xuyên thủng qua bằng trí huệ vô thường, đó là tích tập vô thường tưởng, tất cả cảm giác nào sanh khởi lên, cũng là vô thường “mày tan biến đi, mày lắng dịu đi”, tất cả hình bóng hiện khởi lên, cũng là vô thường. Hình bóng dục, ái, tham, sân, si, bản ngã cái vô thường, cái đồ bất tịnh, nguy hại. Tất cả đều dùng tưởng tức là quán tưởng, quán chiếu, quán sát thứ bất tịnh, cái thứ nhơ nhớp bẩn thỉu, xú uế, tanh hôi, cái thứ thối tha, thây sình phình lên, bản ngã sanh khởi là mình chửi, tác ý mãnh liệt lên. Các cảm giác khó chịu, bừng bừng, hất hất, cảm giác dương dương tự đắc, cảm giác ta đây, vênh váo, ngạo mạn, tác ý “mày phình trương cái thây sình lên sao? mày có biết thối không? có biết nhục không?”, tác ý mãnh liệt trong tưởng nguy hại, tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với tưởng nguy hại. Nhìn cái gì cũng phải thấy nguy hiểm và tác hại trong đó.
Mới vừa mở điện thoại lên, báo đăng về người đẹp, người mẫu, mình nhìn vào mình phải nghĩ nguy hiểm, nếu chúng ta chạm vào sẽ sanh thọ, sanh dục, sanh nghiệp liền. Chỉ nhìn hình là đã sanh khởi lên liền, mình phải quán chiếu liền, thứ này là thứ nguy hại, vì thứ này mà đam mê, vì thứ này mà tham dục, vì thứ này mà tham đắm, ngu mê, vì thứ này mà đời đời kiếp kiếp sanh sản ra những thân thể bẩn thỉu, máu huyết, máu mủ, tinh huyết, hôi dơ. Nhìn vào người đẹp là thấy bộ xương liền, nước tiểu, phân trong đây, không có cái gì đẹp, chúng ta phải tác ý đánh liền cái cảm giác, cái nghỉ tưởng thích, dục, ái đánh bạt qua liền, đó gọi là các pháp bất thiện được sanh, mà không chinh phục tâm và tồn tại.
Cho nên phải thực hành, phải tích tập, tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng nguy hại, bốn tưởng này phải thực tập thường xuyên. Thí dụ mình đi vòng sân chùa, mình nhìn lên, chùa nhìn đẹp, thất của mình cũng xinh xinh trên đồi cao, khi đó phải thấy cái này rất nguy hiểm, cái này là tác hại, cái này là ái. “Mày tính mai mốt chết rồi, mày làm cô hồn giữ cái chùa này à”, ái cái gì, tham cái gì, luyến cái gì trong cái đống bại hoại này?” Mình phải tác ý liền đánh cho tan cái dục, cái tham, cái ái đối với sắc uẩn đó, đánh bạt tan những cảm giác, nghĩ, tưởng đó, như vậy gọi là tích tập tưởng nguy hại. Thực hành và tích tập tưởng nguy hại đối với tất cả ngũ uẩn, mọi hình thái của ngũ uẩn.
Khi mình ngồi đây, người ta vào quỳ lạy, mình thấy cảm giác lâng lâng, sung sướng, người ta nói “Sư cô tu tuyệt vời, đức hạnh lắm; Thầy tu là bậc nhất, con chưa thấy ai mà tướng hảo như thầy, chưa thấy ai đạo hạnh như thầy, chưa thấy ai trí huệ như cô” và họ quỳ xuống lạy. Trong tâm cảm giác thọ, tưởng, hành vận hành như thế nào? Lúc đó, mình phải nghĩ “Mày chết đi, mày chết đi, dòm lại đi trong lớp vải này là lớp da, trong lớp da này là thịt, bao tử, lá lách, ruột non, ruột già, chỉ là trống rỗng, ai ở trong đây? Cái ta nào ở trong đây mà mày ưa thích, khoan khoái? Đây là đồ trống rỗng, đồ trống không, đồ vô ngã, vô thường, bất tịnh, nhơ nhớp”. Cần phải đánh tan cảm giác nhẹ nhẹ, ưa ưa, thích thích, khoái khoái, cảm giác nghĩ tưởng ngay khi người ta lạy, đó là tích tập tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh. Khi mình tác ý, quán như vậy, thì mình sẽ không có thọ, tại xúc sanh thọ, không thọ sự cung kính đảnh lễ cúng dường đó. Nếu bình thường trong vô minh là mình khoái, thích, cho nên, khi người ta lạy mình thì chỉ rõ ràng có người lạy.
Cho nên tích tập tưởng hết sức quan trọng. Tưởng vô thường, tưởng vô ngã, tưởng bất tịnh, tưởng nguy hại là bốn cái tưởng mà tất cả người tu, người xuất gia trong dòng pháp này phải thực tập liên tục và tích tụ, tích tập. Khi thực hành sẽ thấy sự bình an kỳ diệu, mình sẽ đánh gục hết, ngã hết, đánh sập những thứ quái ác, yêu ma, tà ngụy, thứ quậy phá mình trong vô lượng vô biên kiếp mà mình không thấy, bây giờ mới được phô bày ra ánh sáng. Thánh trí năm uẩn làm phơi bày ra hết những gì che dấu hàng ngàn, hàng vạn năm qua, bấy giờ sẽ được phanh phui phơi bày ra ánh sáng hết. Như người đem đèn sáng vào trong bóng tối, để cho người có mắt có thể nhìn thấy được, giáo pháp cũng giống như vậy, Đức Gotama cũng giống như vậy, Đức Thế Tôn cũng giống như vậy, chỉ đường cho người lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối, phơi bày những cái gì bị che kín. Thánh trí năm uẩn sẽ làm điều đó.
Tâm chúng ta sẽ được thực hành tích tập với cái tưởng đoạn tận, tưởng ly tham, tưởng đoạn diệt, cái gì mình nhìn cũng thấy là đồ bại hoại, đoạn tận, nói tiếng Việt cho dễ hiểu là bại hoại, đoạn diệt, hoại diệt. Cái gì nhìn vào con mắt mình cũng nghĩ đó là đồ cái thứ bại hoại, cái thứ sớm muộn rồi cũng tan rã. Trong mắt mình khi nhìn đến đâu là tất cả phải rã rời tới đó hết, đổ vỡ, sụp đổ hết, nhìn thấy cái gì cũng xuyên thủng, làm tan vỡ hết tất cả các pháp, không còn cái gì ở trước Thánh trí năm uẩn mà có thể đứng vững được, Thánh trí đánh sụp đổ hết tất cả.
Trong bài kinh “Bọt Nước”, Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Phật có dạy: “Quán sắc như hòn bọt, quán thọ như bong bóng nước, quán tưởng như ráng mặt trời, quán hành như cây chuối, quán thức như trò ảo thuật”, đó là đề tài thiền quán hết sức quan trọng. Nhìn tất cả hình sắc đều là bong bóng nước, nếu nhìn như vậy, thực hành huân tập liên tục, thường trực tích tụ tưởng như vậy, dù cho cái này có bị cháy, chỉ gợn buồn một chút xíu thôi, có gì đâu, đó chỉ là bong bóng nước. Bình thường thấy nó đẹp, nó thật, là của tôi, đó là tự ngã của tôi, đó là cái đáng yêu, đáng mến, đến khi nó sụp đổ, tan hoại thì lúc đó bức tóc, đấm ngực, nước mặt đầy mặt. Hãy nhìn tất cả thế giới này, con người này, tất cả cảm giác nghĩ tưởng này, nhận thức, nhìn đến đâu là tan đến đó, nhìn tới đâu là hoại tới đó, nhìn tới đâu là thứ đoạn tận, đoạn diệt để ly tham, không còn ham muốn nữa.
Chúng ta sẽ được thực hành tích tập với cái tưởng ly tham, chỉ có như vậy mới đưa đến ly tham, chứ mình nói tôi không còn tham nữa được không? Mình nói thôi, suy nghĩ thôi, chứ chưa thẩm thấu bằng tất cả Thánh trí năm uẩn thì làm sao mà ly tham, làm sao mà không tham được. Cho nên tất cả những tưởng mà mình học là vô thường, vô ngã, bất tịnh, nguy hại, đoạn tận, đoạn diệt này đưa đến chữ ly tham, mà ly tham này cũng phải thực hành tích tập, chứ nói là không được.
Phải thực hành nhiều lần, nhiều lần, trăm lần, ngàn lần, mười ngàn lần, một trăm ngàn lần, một triệu lần, mười triệu lần, thực tập cho đến khi tắt hơi thở cuối cùng, là cứu cánh ly tham, đây là đời sống cuối cùng sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui cảm giác dục, tham, ái, sầu, bi, khổ, ưu, não đối với năm uẩn nữa.
Hãy đầu tư, hãy để tâm, hãy nỗ lực, hãy phấn đấu cho đến khi mình ra đi, đó cũng chính là ngày đại viên mãn. Phải làm trước khi ra đi thì mới có thể nhập Thánh quả. Từ Nhị quả trở lên là đã tốt, tham, sân đã nguội, từ Nhị quả trở lên là khỏe rồi. Chưa Nhập lưu thì hiểm nguy còn dầy rẫy hết, chưa chắc chắn. Cho nên từ đây là mình phải nỗ lực, quyết liệt, tối thiểu là phải Nhập lưu, đến chỗ bất thoái chuyển với chánh giác thì mới an ổn.
Còn bây giờ tâm thay đổi liên tục vì vậy phải làm sao nhiếp phục được cảm giác, phải giữ lửa và để nhiên liệu cho ngọn lửa nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác rực cháy liên tục. Không được để ngọn lửa hạ thấp, và tuyệt đối không cho ngọn lửa tắt, ngọn lửa tắt là mình chết. Nếu ngọn lửa quyết liệt tu hành tắt thì mình chết đi: “Mày chết đi? Mày sống để làm gì? Sống làm gì trong sự nhục nhã, tham, sân, si, bản ngã?”, chúng ta phải tác ý mãnh liệt.
./.