ĐẠO LỘ TU TẬP 3
ĐẠO LỘ TU TẬP 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tâm sự với người tu PAGEREF _Toc111146778 \h 1
II.Quét rác nội tâm PAGEREF _Toc111146779 \h 4
III.Gánh nặng thiện pháp PAGEREF _Toc111146780 \h 9
Tâm sự với người tu
Nếu đại chúng có câu hỏi thì hôm nay chúng ta sẽ có buổi pháp đàm, mọi người nêu lên những câu hỏi khó khăn, thắc mắc trong tu học. Chúng ta không nên học một chiều, tức là chỉ nghe mà không phát biểu, trao đổi. Nếu bản thân có những thắc mắc, trăn trở, khó khăn, mà không biết nhờ ai giúp đỡ, cũng không chia sẻ với sư phụ của mình thì cuối cùng chúng ta sẽ thối đọa trong giáo pháp, trôi dạt theo thế gian, dù dưới hình thức là một người tu. Cho nên những buổi pháp đàm là hết sức quan trọng.
Minh Thành ở trong chùa gần ba chục năm nên hiểu được những tâm tư, nguyện vọng, cũng như những khó khăn của người xuất gia. Mỗi người xuất gia đều mang một chí cả, một tâm nguyện ban đầu rất đẹp, rất cao thượng. Người nào cũng là người hiền thiện, là những hạt giống tốt, nhưng nếu không gặp mảnh đất phì nhiêu, không có sự chăm sóc, chăm bón đầy đủ, cẩn thận thì hạt giống ấy sẽ không lên mầm, không mọc cây được. Bản thân Minh Thành chứng kiến rất nhiều huynh đệ cùng tu rơi rớt. Rơi rớt ở đây không có nghĩa là ra đời hết, mà rơi rớt ở đây phải hiểu trên nhiều phương diện. Nói tóm gọn, rơi rớt thứ nhất là không còn mặc chiếc áo tu và rơi rớt thứ hai là tuy còn mặc chiếc áo tu nhưng tâm không phải người tu, trường hợp này rất nhiều. Tại sao như vậy? Tại vì những vị này không có sự chăm sóc, giống như đứa trẻ mới sinh ra rất cần sự chăm sóc hết sức cẩn thận và kĩ lưỡng của người mẹ. Đức Phật dùng hình ảnh những vị mới xuất gia là những con nghé, phải cần bò mẹ chăm sóc rất nhiều. Người xuất gia Đức Phật ví dụ là hạt giống mới vừa được nảy mầm, nếu không chăm sóc, giữ gìn chu đáo, cẩn thận thì hạt mầm này sẽ bị hư hoại.
Sự tu hành của chúng ta không phải chuyện đơn giản. Nếu thật sự gọi là chân tu thật học thì đó là cả một sự nước mắt, máu và sinh mạng. Trong kinh tạng Nikāya, Đức Phật có diễn tả hình ảnh đó, "Người tu nước mắt ràn rụa đầy mặt, đấm ngực, khóc than, đau khổ, đau đớn vì gánh nặng của thiện pháp". Bây giờ đa số mọi người tu một cách thoải mái, không cần lo gì nhiều, vì không biết gánh nặng thiện pháp thật sự là gì. Hãy tự nhắc nhở mình rằng, không phải bỏ ngoài đời, xong vào tu là được nhẹ khỏe, vì bỏ gánh ác bất thiện pháp, nhưng đi vào trong đạo là phải gánh lên một gánh hết sức là nặng của thiện pháp, Thánh pháp. Không phải vào tu là không làm gì nữa hết, mà phải làm rất nhiều, tuy nhiên, không phải là làm những thứ bên ngoài như chúng ta hiểu. Việc cần làm, đạo lộ tu học trong kinh Nikāya đầu tiên là nhìn thấy được thân tâm giống như người mù được mở mắt, sáng mắt. Thứ hai là nhìn thấy được rác bẩn, uế nhiễm. Thứ ba là quét rác, hốt rác, dọn rác, tẩy sạch cấu nhiễm trong tâm.
Thật sự là chúng ta đang gánh một gánh hết sức nặng, chứ không phải đi tu là khỏe. Chúng ta hết sức lo lắng và sợ hãi khi nhìn lại thân tâm của mình đầy rẫy dục tham, sân hận, si mê, bản ngã, tật đố, ganh tỵ, đố kị, giận hờn, so đo, hơn thua, đúng sai, dối trá, xiểm nịnh, hư ngụy, gian trá, quanh co, che dấu những lỗi lầm. Trong kinh Nikāya, Đức Phật chỉ ra nội tâm ta tràn đầy rác bẩn, đó là những cấu uế mà chúng ta cần quét dọn. Nếu không nhận diện được ngũ uẩn thì mình sẽ không thấy được rác, giống như người mù thì làm sao thấy được căn nhà bốn chục năm, đó chính là kẻ vô văn phàm phu không nghe được pháp ngũ uẩn, trí ngũ uẩn này. Ngay cả người xuất gia, không nghe được Chánh pháp, không thấy được ngũ uẩn thì vẫn kể là vô văn phàm phu.
Cho nên nếu không nhìn thấy được thân thể của mình là cái gì cấu thành; các dòng cảm thọ, cảm giác ở bên trong, những hình bóng, những suy nghĩ, sự rõ biết bên trong cũng không nhìn thấy được thì mình là người mù, dầu cho hình thức gì đều không quan trọng. Có những người đi nhưng sân si, bản ngã còn nhiều hơn ngoài đời. Đó là tai nạn, là những tiếng chuông đại hồng chung gọi lên, thỉnh lên, đánh lên, vang lên để cho mình phản tỉnh. Nhìn thấy hình ảnh những người đó, mình phải run sợ, khiếp sợ, hoảng sợ, kinh sợ, hãi sợ!
Trong Tương Ưng Kassapa, Tương Ưng Bộ Kinh, Thế Tôn gọi Ngài Ma-ha-ca-diếp giáo giới cho các Tỳ-kheo, Ngài Ca-diếp nói: "Bạch Thế Tôn, con không dạy, các Tỳ-kheo này là khó dạy, khó bảo, không chịu nghe". Đó là thời Thánh pháp đang được tuyên thuyết; bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đang hiện tại; có tướng quân của Chánh pháp là Mục-kiền-liên và tôn giả Xá-lợi-phất; bậc đại trưởng thượng là Ngài Ma-ha-ca-diếp đang có mặt… nhưng Ngài Ca-diếp nói như vậy, qua đó, chúng ta thấy thực trạng hiện nay còn khủng khiếp đến dường nào.
Trong phần Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, Ngài Ma-ha-ca-diếp nói: "Người nào không biết xấu hổ đối với ác và bất thiện pháp, người đó không đạt tới cứu cánh Phạm hạnh, Niết-bàn". Người nào không biết sợ đối với ác bất thiện pháp, không biết sợ tội lỗi đối với những tâm niệm ác sanh khởi; những ái dục sanh khởi lên không biết sợ, không biết xấu hổ, không thấy nhục nhã; những sân hận, tức giận sanh khởi lên không biết sợ, không thấy xấu hổ, không thấy tàm quý; những bản ngã, ta đây, hơn thua sanh khởi cũng không sợ, cứ trơ trơ thì người này thối đọa, sẽ đi đến chỗ chết trong Thánh pháp, không có chân đứng trong pháp và luật.
Người biết tu là người hết sức sợ. Trong từng cử chỉ, từng hành vi, từng suy nghĩ của mình mà sanh khởi ra ác bất thiện pháp, buông lung, phóng dật là thấy sợ hãi, lạy sám hối, dập đầu. Người này luôn luôn lúc nào cũng nhìn lại những cảm giác, nghĩ, tưởng để điều chỉnh, chấn chỉnh cho hoàn chỉnh thì người đó mới là người tu. Cho nên phải biết sợ và biết xấu hổ. Người không biết sợ, không biết xấu hổ là cuộc đời tu coi như quăng bỏ.
Tại sao một người có thể điều chỉnh, sửa đổi được? Ví dụ đơn giản, một người đem xe đi sửa bởi vì thấy nó hư, nó có trục trặc. Nếu người này không sửa, vẫn chạy chiếc xe này thì sẽ bị tai nạn giao thông. Nếu đi đường đèo giống như Minh Thành thì có thể lọt xuống vực thẳm. Mỗi một tuần Minh Thành phải đi lên, đi xuống năm trăm cây số để về gặp mọi người chia sẻ pháp trong một tiếng đồng hồ. Minh Thành không phải ở Sài Gòn mà ở Linh Quy Pháp Ấn – Bảo Lộc, tuốt ở trong sâu, ở trên núi cao. Một lần về đây, để gặp đại chúng một tiếng đồng hồ là trải qua năm trăm cây số. Đi đường xa thì có rất nhiều nguy hiểm, tai nạn không lường trước được. Nếu xe người đó hư nhưng họ không lo, không sợ, không có đem sửa mà vẫn đem chạy thì có thể sẽ rơi xuống vực sâu. Cũng vậy, khi đã thấy được trong tâm mình có những cái dục, có những cái sân, có những bản ngã, có những tâm xấu ác mà không biết sợ, không biết lo, không có chỉnh sửa thì người này thối đọa. Sau khi nhắm mắt sẽ rơi vào ác thú, đọa xứ, cảnh khổ, cảnh dữ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Cho nên người biết tu là người rất sợ, chỉ có những người điếc mới không sợ súng, còn người có lỗ tai bình thường thì rất sợ. Phải sợ, sợ thật là nhiều, phải tập run sợ đối với ác bất thiện pháp. Khi thấy một người sân hận trước mặt mình, trước huynh đệ thì không nên vội đi phê phán, chỉ trích người này, hoặc châm dầu vô, cũng đừng chạy đến chỗ người khác để kể lể, mà nhìn thấy như vậy để chúng ta sợ cho mình, phản tỉnh cho mình. Khi thấy một huynh đệ rơi vào dục tham thì mình không nên vội đi nói xấu, đi phê phán, đi nói chuyện người này, nói chuyện người kia, mà mình run sợ, khiếp sợ cho mình. Nếu chúng ta không tu kĩ lưỡng, cẩn thận thì đó là vết xe đổ, mình sẽ đi theo. Bây giờ mình nhìn thấy cấu uế, cấu nhiễm trong tâm nhiều như vậy mà vẫn cứ trơ trơ, ăn, ngủ, vui chơi, không biết lo, không biết sợ, không biết xấu hổ, nhục nhã, tàm quý… thì đời tu sẽ rơi xuống vực sâu. Chính vì không biết tu những pháp này nên làm gì có bậc Hiền Thánh, tu qua ngày qua tháng thì không có tới đâu hết.
Quét rác nội tâm
Đạo lộ tu tập tiếp theo là Sự quét rác trong tâm.
Sau khi đã thấy tâm cấu nhiễm, cấu bẩn giống như người đã sáng mắt và nhìn thấy căn nhà bốn, năm chục năm dơ bẩn. Như vậy hì bây giờ họ làm sao? Họ ngồi họ tụng? Hay ngồi niệm, kêu: "Rác ơi đi chỗ khác chơi đi, rác đi đừng ở đây nữa?". Hay quỳ xuống lạy xin rác tự biến mất? Hay phải đi hốt rác, quét rác, dọn rác? Cho nên, quét dọn rác là công đoạn tiếp theo. Có bao giờ chúng ta ngồi một mình, ngẫm nghĩ lại về đời tu của chính mình không? Đối với giới hạnh, có xấu hổ không? Đối với thiền định, có xấu hổ không? Đối với những học pháp mà Đức Thế tôn chế định, có thấy nhục nhã không, có sợ hãi không? Đối với Thánh trí mà Đức Phật truyền trao mình đã hiểu tới đâu, có thâm nhập chưa, thể nhập chưa, chứng nhập chưa? Những suy tư này hết sức cần thiết. Chứ không phải ngồi lại để tính nấu món gì, làm cái gì, tổ chức cái gì, làm cho ai, những chuyện này là chuyện thế gian.
Dù lợi người bao nhiêu,
Chớ quên phần tư lợi,
Nhờ thắng tri tư lợi,
Hãy chuyên tâm lợi mình.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Thế gian)
Đức Phật dạy, dù có làm những việc bên ngoài bao nhiêu thì chớ có quên phần lợi ích cho chính mình. "Nhờ thắng tri tư lợi", thắng tri là sự thấy biết chính xác về lợi ích của chính mình, nên "Hãy chuyên tâm lợi mình". Mình còn đầy dẫy dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã mà mình đi lợi ai, độ ai, cứu ai? Mới chạm tới một cái là sừng sộ, sân si lên thì đi cứu ai, giúp ai hết sân? Nhìn gì cũng dính mắc, tham muốn hết thì mình giúp ai ly tham? Ai đụng tới một chút là bản ngã mình phình lên, trương lên, sình lên, hất hất cái mặt lên, khó chịu, bực bội, ta đây, hơn thua thì làm sao hướng dẫn người khác chứng đạt Thánh trí vô ngã?
Chúng ta hãy nhìn cho kĩ, mình đang làm cái gì, mình đang tu cái gì, nếu không cả đời tu của mình không phải là số 0, mà là âm ngàn tỷ. Sau khi nhắm mắt là ác thú, đọa xứ, khổ cảnh. Đây là chỗ thâm sâu của Thánh pháp, lõi cây của kinh tạng Nikāya, làm cho chúng ta nhìn thấy được thân tâm của chính mình. Chúng ta cứ mải mê miết trên những mỹ từ, những câu thơ, vần cho hay, đọc lên cho êm tai, nhưng chúng đều sáo rỗng, trống rỗng, chứ không có gì hết. Trở ra là sân si, bản ngã, hơn thua, danh lợi, ganh tị, đố kị từ chút, từ chút mà mình không nhìn thấy. Trước mặt thế này, sau lưng thì khác, cái miệng thì nói vậy mà cái bụng thì nghĩ khác. Sống giả dối, gian trá! Đừng nói chi là gian trá với người, mà gian trá với chính mình, chính mình gạt mình luôn mà mình cũng không biết.
Cho nên ở trong kinh tạng Nikāya là phơi bày những gì bị che kín, đem ánh sáng vào trong bóng tối, để cho người có mắt có thể nhìn thấy được sắc, chỉ đường cho những người lạc hướng. Đó là công năng của giáo pháp. Vi diệu là giáo pháp này, tối thượng là Thánh pháp này. Giáo pháp này sẽ phơi bày cho chúng ta thấy những điều từ trước nay chúng ta không thể tưởng tượng được. Mình cứ tưởng mình tu hay, tu giỏi, tu ngon… nhưng khi nhìn lại nội tâm, nhận diện ngũ uẩn, đọc từng dòng suy nghĩ, từng dòng cảm giác, những hình bóng hiện ra trong tâm thì chúng ta sẽ thấy một cú sốc khủng khiếp. Vì không ngờ mình lại có một nội tâm cấu bẩn, rác bẩn, xú uế, nhớp nhơ, hôi thối, nói như trong Tây Du Kí thì nội tâm này là một nội tâm yêu quái, yêu tinh, ma quái, ác ma ở nhưng mình không biết, đây mới là chỗ đau đớn. Nội tâm chính mình mà mình còn không biết thì ai sẽ chỉ cho mình? Làm sao mình nhìn thấy được?
Hằng ngày trước mắt chúng ta toàn là những cảnh đâm chém, cướp giật, hãm hiếp, lừa gạt, phân xác; vợ chồng đầu độc; anh em ruột giết nhau 4-5 người chỉ vì mấy tất đất; con chặt đầu mẹ; vợ chồng phân xác; mẹ giết con chôn sống, bỏ dưới hố ga, bỏ trước cổng chùa, bỏ trong bệnh viện; con gái đưa cha bệnh nặng vô bệnh viện, rồi bỏ đó đi. Nhờ Thánh trí của kinh tạng Nikāya làm phơi bày hết tất cả, vén màn bí mật của thế giới thân tâm chúng sanh. Tất cả những gì bí mật ở trong vũ trụ, ở trong chúng sanh, trong thân tâm của ta đều được Thánh trí năm uẩn mở mật mã ra, vén bức màn bí mật ra và trong đó là một sự khủng khiếp, vì tất cả đều bị chi phối bởi dục.
Đức Phật đã tuyên bố: "Này các Tỷ-kheo, tất cả pháp lấy dục làm căn bản".
Đời sống chúng ta được tác thành từ dục, vô minh và khát ái mới có ra cái thân này. Từ những thứ tinh huyết hôi dơ, tanh tưởi, nó kết thành một cục máu. Thứ dơ bẩn nhất, tanh hôi nhất nó kết thành một cục máu, cục máu này mỗi tuần, mỗi tháng lớn dần dần. Nó mọc ra các cành nhánh gọi là tứ chi: tai, chân, mình, đầu; ngũ quan, sáu căn. Từ trong một tâm si mê, vô minh, ngu si cộng với tham ái, ngũ uẩn này chọn chỗ dơ bẩn nhất để làm ổ, làm tổ, làm thai, làm sào huyệt, căn cứ địa trong đó. Cục máu đó từ từ lớn lên, mọc tay, mọc chân, mọc đầu ra, cho tới bây giờ, cục thịt, cục máu đó bự sáu chục kí đang ngồi đây. Không biết bao nhiêu giọt nước mắt, máu, đau khổ cho cái cục thịt ác độc, dơ bẩn, hôi tanh này. Tất cả chúng sanh trên thế giới chìm ngập trong cái dục này mà không nhìn được thấy bản chất của tất cả chúng sanh đều từ một cục máu dơ bẩn, tanh hôi, cấu bẩn nhất kết thành. Đam mê trong này, khao khát trong này, khát ái trong này, đau khổ trong này, sống chết trong này. Sống chết vì đống dơ đó, sống chết vì thứ dơ, bẩn tanh hôi đó. Chúng sanh chìm ngập trong cái si mê không có lối thoát, muốn thoát ra là đau khổ cùng cực. Muốn thoát ra nên đi tự vẫn hoặc sa đọa, trụy lạc, buông thả, chứ không biết con đường giải thoát thật sự. Cho nên vô minh và khát ái kết thành tấm thân này. Chúng ta đang học tổng cương lĩnh pháp hành của kinh tạng Nikāya, khi nắm được tổng cương lĩnh này rồi, đi vào những bài kinh sẽ dễ hiểu hơn.
Thân này hằng ngày bài tiết ra phân và nước tiểu, nhưng có ai ngồi kế bên mình chê: "Sao bữa nay sư đệ, sư muội hôi quá", là giận liền. Đúng ra mình phải nói "Dạ, thưa tỷ, hôi là đỡ, muội thấy nó còn thúi nữa. Muội thấy phân trong này, nước tiểu trong này, nó là thúi chứ không phải hôi". Rõ ràng ai cũng biết sự thật này, ngay cả những người bác sĩ, họ phải giải phẫu nên càng biết rõ về hình hài, thân xác này nhưng họ vẫn mê thân xác máu mủ, hôi tanh, phân, nước tiểu này mới đau đớn. Không ai không biết thân mình là dơ bẩn; bài tiết ra phân và nước tiểu; cứt mũi, cứt ráy, nước miếng là tanh hôi, bất tịnh… nhưng người nào cũng vẫn đam mê, khao khát vào đó, như vậy là vô minh, là si mê.
Vì vậy, cửa đầu tiên trong sự tu này là phá thân kiến, nếu không phá được thân kiến – tức là không phá được kiến chấp về thân thì vĩnh viễn là phàm phu. Phải phá vỡ kiến chấp sai lầm về thân thể, vóc hình, bao da, túi thịt mấy chục kí lô này. Phải đánh tan, đánh sập, đánh vỡ, đánh bể, đánh nát trong nhận thức của mình thì lúc đó mới gọi là mở được con mắt pháp. Muốn làm được như vậy phải có công phu rất là thâm sâu. Phải Quán bất tịnh, Quán tứ đại, Quán chín giai đoạn tử thi thường xuyên, mỗi ngày. Dán hình chín giai đoạn tử ngay chỗ phòng ngủ, ở trước mặt chỗ ngồi thiền cho nhớ. Nhìn thấy hình ảnh, sắc uẩn nào mà dính mắc, cho là đẹp thì tự động hiện lên hình ảnh đó là bộ xương, mặt giòi ăn, tràn ra khắp mặt toàn là giòi. Từ đó, quán cho thâm nhập được trí huệ về sắc uẩn này để phá được thân kiến. Nhìn đâu cũng thấy bộ xương, nhìn đâu cũng thấy đống thịt bầy nhầy, nhìn đâu cũng thấy một đống giòi, một đống cát bụi thì mới thâm nhập được trí huệ, chiếu phá được sắc uẩn. Tu pháp này là phải cố gắng tu đến mức thể nhập Thánh trí, đi vào Thánh đạo, tiến tới Thánh quả. Chánh pháp sẽ đưa chúng ta tiến lên như vậy.
Mỗi ngày, chúng ta phải dọn rác nội tâm bằng cách Như lý tác ý. Thí dụ, sáng thức dậy rửa mặt, nhìn vô gương, thấy gương mặt mình trong gương. Lúc đó một ý niệm sanh khởi lên là mình tự hào "Mặt mình coi cũng được, mặt tui vầy cũng đâu đến nỗi". Khi có những suy nghĩ đó, lập tức tác ý, quét rác liền vì suy nghĩ như vậy chính là rác: "Tự hào gì với cái bộ xương này. Đây là đầu lâu, bất tịnh. Lột da mặt này xuống đi". Lột xuống thì sự thật bên trong lòi ra, tròng mắt lọt xuống, máu chảy ra, mỡ chảy ra, trong đầu lâu này là bộ não. Tác ý như vậy để phá tan kiến chấp về “thân của tôi, gương mặt của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”. Chúng ta phải đánh phá những suy nghĩ đó bằng cách Như lý tác ý thường xuyên, thường trực.
"Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi." Nếu mình không tác động tâm ý thì các pháp không sanh khởi, trí huệ không sanh khởi, thiện pháp không sanh khởi. Cho nên mình phải tác động tâm ý thường xuyên và liên tục thì đó là sự tu. Đó là Như lý tác ý, đó là tuệ lực, đó là Chánh tư duy, đó là Thánh tư duy. Đó cũng gọi là thiền quán, bằng cách vận dụng tư duy chân chánh, tư duy đó là ly dục tư duy, ly ái tư duy. Mình suy nghĩ cái này là tứ đại, chụp X-quang thì đầu lâu giống nhau hết, không ai đẹp xấu gì hết. Tới ngày đi thiêu thì nó ra một nắm tro, không có "Trần Văn A", "Nguyễn Thị B" gì ở đây hết, không có "Thích Nữ, Thích Nam" gì ở đây hết. Đây là trống rỗng, là vô thường, là tứ đại, đất, nước, gió, lửa, nó sẽ tan hoại, biến hoại, hủy hoại, tan nát. Tác ý như vậy thì tức là lúc đó mình quét rác, dẹp bỏ những ý nghĩ về tôi, về của tôi: "Cái mặt tôi đẹp, cái mặt tôi được, cái mặt tôi coi cũng tạm". Khi đó, những ý nghĩ đó bị đánh dẹp; Thánh trí về sắc uẩn được hiển lộ, sáng tỏ ra. Ngay lúc đó là chúng ta đang quét rác, quét dọn thân tâm.
Ví dụ, nghe sư tỷ nói gì đó làm mình bực bội, tức giận, thì phải tác ý làm sao? Tu ở chỗ này, nếu không biết tác ý thì không tu tập được, giận thì để luôn cho giận, đi theo cơn giận, càng đi theo thì cái giận đó càng tăng trưởng, phát triển, xâm chiếm, áp đảo và bành trướng, quảng đại trong thân tâm. Nếu giận một chút xin lỗi thì hết, giận để chừng hai ngày, ba ngày, bảy ngày thì càng ngày nó càng ngấm vô nên cơn giận càng tăng trưởng. Có nhiều người giận mấy tháng, mấy năm không quên được, đó là cảm thọ sân được thọ nhận, chất chứa vào bên trong tâm. Khi đó, phải Như lý tác ý:
"Nhà ngươi bỏ cha, bỏ mẹ vào đây tu để giận hờn à? Nhà ngươi cạo cái đầu này vô đây để sân si phải không? Cái sân này sung sướng lắm hả mà ưa thích cái sân này? Sự nóng giận như lửa thiêu đốt này dễ chịu lắm hay sao? Thôi vừa rồi cái cơn giận này, ta nhàm chán người quá rồi. Tới đây là đủ rồi. Từ vô lượng, vô biên kiếp ngươi đốt thiêu ta tới đây là đủ rồi. Làm ơn dập tắt, tan biến hoàn toàn khỏi thân tâm ta, thành mây, thành khói, thành hư không đi. Đừng ở trong tâm ta nữa."
Những cảm giác sân hận này là cảm giác thiêu đốt, thiêu hủy, thiêu cháy, thiêu rụi. Nó làm cho tan nát, làm cho tâm bất an, bất ổn thì làm sao ngồi thiền, làm sao tu. Ra vào gặp nhau nhìn mặt làkhó chịu thì làm sao mà thiền. Trong chùa giận chừng ba người rồi thiền được không? Cứ thấy đằng trước thì tránh ra đằng sau, thấy ở giữa thì tránh vào phòng, không muốn dòm mặt, nhìn là khó chịu, thì làm sao tu. Nên mình phải tác ý mạnh như vậy, tác ý cho đến lúc nào những cảm giác khó chịu, những hình bóng, những suy nghĩ tan hết giống như viên thuốc sủi bọt, bỏ vô nước tan ra hết thành nước bình thường mới thôi. Tức là khi gặp lại người mình giận, mình nói chuyện bình thường, không có một cảm giác gì khó chịu thì lúc đó mới xong, như vậy mới là tu. Ngược lại, hễ còn cảm giác khó chịu trong tâm là giải quyết chưa xong. Cho đến khi nào mình gặp lại người mình giận, cảm giác của mình bình thường, không có gợn gì hết trơn thì lúc đó mới được.
Đối với cái dục cũng y như vậy. Nếu một đối tượng nào khiến tâm dính mắc phải tác ý liên tục, cho đến lúc nào không khởi cái đó nữa thì gặp, còn nếu không là không gặp, gặp là chết. Xúc sanh dục, xúc sanh thọ, xúc sanh nghiệp. Tiếp xúc sẽ sanh ra cảm giác. Đó là định lý của tâm mà Đức Phật chứng ngộ. Tiếp xúc là sanh ra cảm giác, tiếp xúc là sanh ra dục, ham muốn.
Ví dụ, khi đi chợ, thấy trái cây ngon, mình muốn mua về ăn nhưng còn có một trái thôi, đang định đến mua nhưng có người vừa đến mua trước, lúc đó khó chịu không? Đừng nói là không khó chịu, đó là do mình không thấy được những cảm thọ vi tế sanh khởi. Mặt khác, nếu như mình ở nhà, không đi chợ, không thấy món đồ đó, thì sẽ không muốn mua món đồ, đó là xúc sanh dục, vì tiếp xúc nên mong muốn, ước muốn. Cho nên, người tu chúng ta nên ở trong chùa để tu, đừng nhìn thanh sắc ở bên ngoài nhiều, vì xúc sanh dục, xúc sanh thọ, xúc sanh nghiệp. Thay vào đó, chúng ta chỉ nên tiếp xúc với Thánh pháp. Những gì hiền thiện, pháp lành thì tiếp xúc, còn những gì là ác bất thiện pháp thì không nên tiếp xúc, hãy vào phòng đóng cửa lại, bế quan. Cần cẩn thận đối với xúc này.
Sự tu còn phải đánh thẳng vào bản ngã, nếu bản ngã không được nhìn thấy, không được giảm thiểu, nhiếp phục thì không thể tu được. Phải nhìn thấy được bản ngã bằng cách thường trực để ý vô cảm giác, những suy nghĩ, những hình bóng, nghĩ tưởng trong tâm.
Gánh nặng thiện pháp
Câu hỏi: "Dạ mô Phật, kính bạch thầy và chư huynh đệ, con xin được hỏi. Lúc nãy con được nghe thầy nói là gánh nặng thiện pháp và gánh nặng bất thiện pháp. Vậy trong Nikāya Đức Phật đã nói gì về gánh nặng thiện pháp và gánh nặng bất thiện pháp? Và chúng con phải thực hành như thế nào?"
Bất thiện pháp tức là tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Thiện pháp là nhiếp phục, đoạn trừ những thứ đó.
Người tu chúng ta mang cả một gánh hết sức nặng. Chúng ta phải lo lắng cho sự nghiệp tu tập của bản thân. Đừng nên "Ai sao mình vậy, xưa bày nay làm", mà phải có sự để tâm vào công cuộc tu hành này. Chưa hẳn cái gì mình được thấy, được nghe là chắc chắn đúng, mà cần phải có một tâm khát khao, tha thiết trong sự tu học, đừng chấp nhận, hài lòng với những cái ở hiện tại đang có. Hài lòng là mình chết. Hài lòng với chiếc xe hư để rồi đi xuống vực sâu. Chúng ta hiểu bản thân mình hơn bất cứ ai, không ai hiểu mình bằng chính mình. Hãy nhìn lại những cảm giác dục, những cảm giác sân, những cảm giác bản ngã, si mê. Cần phải có sự khắc khoải, ưu tư, tìm cầu, tha thiết, chân thành tu học, thực tập để ngày đêm chúng ta tăng trưởng, lớn mạnh ở trong thiện pháp.
Chúng ta đừng chạy theo hư danh phía bên ngoài, sau này sẽ hối hận vì đến khi nhắm mắt ra đi cũng không có gì là thật. Chỉ khi tâm này được nhiếp phục, những cấu nhiễm bên trong được quét dọn sạch sẽ mới là hành trang của mình. Đừng ham làm những công chuyện không cần thiết, mà phải ham ngồi thiền, ham nghe pháp, ham tu học. Hơn nữa, pháp phải biết chọn pháp để nghe, không nên nghe linh tinh lang tang ròi không biết tu đường nào. Hãy để tâm vào tạng kinh Nikāya, đây là những lời dạy gốc của Đức Phật, là Phật pháp nguyên chất. Phải gánh cho được gánh nặng của thiện pháp. Luôn luôn để tâm vào sự thăng tiến giới hạnh, giới đức của một người tu. Đừng nhìn người ta sao thì mình vậy, thấy sư huynh, sư đệ, sư muội đó vậy thì mình cũng giống vậy thì không được! Đừng lo nhìn người ta, mà phải luôn luôn cố gắng làm cho mình tăng thượng giới hạnh, giới đức, đức hạnh của một người tu, đây mới là điều quan trọng cần làm.
Đức hạnh của một người tu không phải cái gì cao siêu, mà là nhất cử nhất động, cách nói chuyện, những cử chỉ, cách đi đứng, cách cư xử của mình giữa những huynh đệ với nhau. Chúng ta phải luôn luôn để ý đẽo gọt thân tâm của mình. Làm sao cho mỗi một ngày phải hoàn thiện hơn thêm nữa. Không phải cạo đầu, mặc chiếc áo, đắp cái y, thọ giới là xong, đó chỉ là hình thức. Tấm vải đó người ăn xin bên ngoài khoác lên cũng được. Người tu phải thật sự là người có đức hạnh, có sự nhiếp phục thân tâm, không phải muốn nói gì nói, không phải muốn nghĩ gì nghĩ, không phải muốn làm gì làm. Từng suy nghĩ phải kiểm soát xem là ác bất thiện pháp hay thiện pháp. Nếu nó là ác bất thiện pháp thì phải tác ý đánh đuổi, diệt tận. Trước khi nói phải quán sát cẩn thận; trong khi đang nói mình cẩn thận quán sát; sau khi nói xong rồi mình cẩn thận quán sát xem đây là lời nói thiện hay bất thiện. Đây là điều Đức Thế tôn dạy La-hầu-la. Trước khi suy nghĩ; đang suy nghĩ; sau khi đã suy nghĩ rồi, luôn luôn quán sát xem suy nghĩ đó là ác hay thiện. Nếu là ác phải diệt tận, nếu thiện phải phát huy. Trước khi làm soi xét cẩn thận; khi đang làm soi xét cẩn thận; khi làm xong rồi soi xét cẩn thận, xem cái làm đó có đúng hay không. Để sau này chúng ta không bị rơi vào khổ cảnh, nhân quả, nghiệp báu.
Có hai ông phi công, gồm cơ trưởng với cơ phó, đang bay mà lo nói chuyện dịch Covid 19. Nhà người này có mấy người bị nhiễm bệnh, nên hai ông này ngồi bàn nói chuyện Covid 19, rồi để chiếc máy bay rơi xuống, sống sót được 2-3 người, còn cả trăm người chết hết, hư hao mười mấy căn nhà. Qua đó chúng ta thấy rằng, chỉ sơ sót chút xíu nhưng để hậu quả rất lớn. Cứ nghĩ mình nói chuyện một chút thì đâu có gì, nói chuyện thì làm sao chết người, nhưng ở đây là không phải chết một người, mà là hàng trăm người.
Chính vì vậy, chúng ta đừng nghĩ lời nói, hành động, suy nghĩ hằng ngày là chuyện nhỏ, không cần để tâm. Có một cô vừa lái xe, vừa nhắn tin, cười giỡn, rồi làm một cái "rầm", chết hết mấy mạng người. Có một tin nhắn thôi mà làm chết mấy mạng người, mà đây là sự thật đã xảy ra. Trong sự tu học của mình cũng vậy. Giới đức, giới hạnh, đạo hành phải được tích tập, tu tập, thực tập từ những việc nhỏ nhiệm nhất. Đừng xem thường những điều nhỏ nhiệm. Tu là từ những cái nhỏ, không có hạt cát thì làm sao có cái trường học. Đức độ và đạo hạnh người tu cũng làm từ những suy nghĩ, lời nói và hành động nhỏ nhiệm của mình. Nếu xem thường những điều này thì suốt đời tu không thành tựu được đạo hạnh viên mãn.
Minh Thành trước khi bước vào lớp học thấy buồn lắm, vì rất ồn. Khi mấy cô ngồi yên lặng như vậy con mới vui, lúc đó mới giống người tu, còn lúc nãy không giống người tu, mà giống cái chợ. Chúng ta tự nhìn kĩ xem nơi đây có giống cái chùa không, có giống trường Phật học không? Nếu không để ý đức độ, đạo hạnh thì tu cái gì? Nếu không học từ những cái này thì học cái gì? Chúng ta đi tu là học giới đức, thiền định và trí tuệ. Nếu không có nền tảng của giới hạnh, giới đức này thì làm gì có thiền định và trí tuệ. Cho nên con tha thiết, chân thành mong mấy cô, một người không thể làm được, phải tất cả đại chúng cùng nhay ý thức sâu sắc sự đang tu học này là gì? Nếu không, dầu cho mình có học thêm ba chục năm nữa cũng chỉ là giấy trắng, mực đen, kiến thức nói suông, còn thân thể mình thì vẫn mãi tật nguyền và bệnh hoạn trong vô minh.
Hòa thượng Tinh Vân – tông chủ của Phật Quang Sơn ở Đài Loan, Minh Thành có gặp hồi năm 2000, Hòa thượng nói một câu rất là ấn tượng "Làm cái gì phải giống cái đó, làm người tu phải giống một người tu". Cho nên, chúng ta đừng treo đầu dê bán thịt chó, lừa gạt người ta, tự nói mình tu mà thật ra không có tu. Hãy chiêm nghiệm câu này hết sức sâu sắc để cho mình tăng thượng đạo đức, giới hạnh, thiền định, trí tuệ. Đó là tấm lòng của con gửi đến mọi người.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tâm sự với người tu PAGEREF _Toc111146778 \h 1
II.Quét rác nội tâm PAGEREF _Toc111146779 \h 4
III.Gánh nặng thiện pháp PAGEREF _Toc111146780 \h 9
Tâm sự với người tu
Nếu đại chúng có câu hỏi thì hôm nay chúng ta sẽ có buổi pháp đàm, mọi người nêu lên những câu hỏi khó khăn, thắc mắc trong tu học. Chúng ta không nên học một chiều, tức là chỉ nghe mà không phát biểu, trao đổi. Nếu bản thân có những thắc mắc, trăn trở, khó khăn, mà không biết nhờ ai giúp đỡ, cũng không chia sẻ với sư phụ của mình thì cuối cùng chúng ta sẽ thối đọa trong giáo pháp, trôi dạt theo thế gian, dù dưới hình thức là một người tu. Cho nên những buổi pháp đàm là hết sức quan trọng.
Minh Thành ở trong chùa gần ba chục năm nên hiểu được những tâm tư, nguyện vọng, cũng như những khó khăn của người xuất gia. Mỗi người xuất gia đều mang một chí cả, một tâm nguyện ban đầu rất đẹp, rất cao thượng. Người nào cũng là người hiền thiện, là những hạt giống tốt, nhưng nếu không gặp mảnh đất phì nhiêu, không có sự chăm sóc, chăm bón đầy đủ, cẩn thận thì hạt giống ấy sẽ không lên mầm, không mọc cây được. Bản thân Minh Thành chứng kiến rất nhiều huynh đệ cùng tu rơi rớt. Rơi rớt ở đây không có nghĩa là ra đời hết, mà rơi rớt ở đây phải hiểu trên nhiều phương diện. Nói tóm gọn, rơi rớt thứ nhất là không còn mặc chiếc áo tu và rơi rớt thứ hai là tuy còn mặc chiếc áo tu nhưng tâm không phải người tu, trường hợp này rất nhiều. Tại sao như vậy? Tại vì những vị này không có sự chăm sóc, giống như đứa trẻ mới sinh ra rất cần sự chăm sóc hết sức cẩn thận và kĩ lưỡng của người mẹ. Đức Phật dùng hình ảnh những vị mới xuất gia là những con nghé, phải cần bò mẹ chăm sóc rất nhiều. Người xuất gia Đức Phật ví dụ là hạt giống mới vừa được nảy mầm, nếu không chăm sóc, giữ gìn chu đáo, cẩn thận thì hạt mầm này sẽ bị hư hoại.
Sự tu hành của chúng ta không phải chuyện đơn giản. Nếu thật sự gọi là chân tu thật học thì đó là cả một sự nước mắt, máu và sinh mạng. Trong kinh tạng Nikāya, Đức Phật có diễn tả hình ảnh đó, "Người tu nước mắt ràn rụa đầy mặt, đấm ngực, khóc than, đau khổ, đau đớn vì gánh nặng của thiện pháp". Bây giờ đa số mọi người tu một cách thoải mái, không cần lo gì nhiều, vì không biết gánh nặng thiện pháp thật sự là gì. Hãy tự nhắc nhở mình rằng, không phải bỏ ngoài đời, xong vào tu là được nhẹ khỏe, vì bỏ gánh ác bất thiện pháp, nhưng đi vào trong đạo là phải gánh lên một gánh hết sức là nặng của thiện pháp, Thánh pháp. Không phải vào tu là không làm gì nữa hết, mà phải làm rất nhiều, tuy nhiên, không phải là làm những thứ bên ngoài như chúng ta hiểu. Việc cần làm, đạo lộ tu học trong kinh Nikāya đầu tiên là nhìn thấy được thân tâm giống như người mù được mở mắt, sáng mắt. Thứ hai là nhìn thấy được rác bẩn, uế nhiễm. Thứ ba là quét rác, hốt rác, dọn rác, tẩy sạch cấu nhiễm trong tâm.
Thật sự là chúng ta đang gánh một gánh hết sức nặng, chứ không phải đi tu là khỏe. Chúng ta hết sức lo lắng và sợ hãi khi nhìn lại thân tâm của mình đầy rẫy dục tham, sân hận, si mê, bản ngã, tật đố, ganh tỵ, đố kị, giận hờn, so đo, hơn thua, đúng sai, dối trá, xiểm nịnh, hư ngụy, gian trá, quanh co, che dấu những lỗi lầm. Trong kinh Nikāya, Đức Phật chỉ ra nội tâm ta tràn đầy rác bẩn, đó là những cấu uế mà chúng ta cần quét dọn. Nếu không nhận diện được ngũ uẩn thì mình sẽ không thấy được rác, giống như người mù thì làm sao thấy được căn nhà bốn chục năm, đó chính là kẻ vô văn phàm phu không nghe được pháp ngũ uẩn, trí ngũ uẩn này. Ngay cả người xuất gia, không nghe được Chánh pháp, không thấy được ngũ uẩn thì vẫn kể là vô văn phàm phu.
Cho nên nếu không nhìn thấy được thân thể của mình là cái gì cấu thành; các dòng cảm thọ, cảm giác ở bên trong, những hình bóng, những suy nghĩ, sự rõ biết bên trong cũng không nhìn thấy được thì mình là người mù, dầu cho hình thức gì đều không quan trọng. Có những người đi nhưng sân si, bản ngã còn nhiều hơn ngoài đời. Đó là tai nạn, là những tiếng chuông đại hồng chung gọi lên, thỉnh lên, đánh lên, vang lên để cho mình phản tỉnh. Nhìn thấy hình ảnh những người đó, mình phải run sợ, khiếp sợ, hoảng sợ, kinh sợ, hãi sợ!
Trong Tương Ưng Kassapa, Tương Ưng Bộ Kinh, Thế Tôn gọi Ngài Ma-ha-ca-diếp giáo giới cho các Tỳ-kheo, Ngài Ca-diếp nói: "Bạch Thế Tôn, con không dạy, các Tỳ-kheo này là khó dạy, khó bảo, không chịu nghe". Đó là thời Thánh pháp đang được tuyên thuyết; bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đang hiện tại; có tướng quân của Chánh pháp là Mục-kiền-liên và tôn giả Xá-lợi-phất; bậc đại trưởng thượng là Ngài Ma-ha-ca-diếp đang có mặt… nhưng Ngài Ca-diếp nói như vậy, qua đó, chúng ta thấy thực trạng hiện nay còn khủng khiếp đến dường nào.
Trong phần Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính, Ngài Ma-ha-ca-diếp nói: "Người nào không biết xấu hổ đối với ác và bất thiện pháp, người đó không đạt tới cứu cánh Phạm hạnh, Niết-bàn". Người nào không biết sợ đối với ác bất thiện pháp, không biết sợ tội lỗi đối với những tâm niệm ác sanh khởi; những ái dục sanh khởi lên không biết sợ, không biết xấu hổ, không thấy nhục nhã; những sân hận, tức giận sanh khởi lên không biết sợ, không thấy xấu hổ, không thấy tàm quý; những bản ngã, ta đây, hơn thua sanh khởi cũng không sợ, cứ trơ trơ thì người này thối đọa, sẽ đi đến chỗ chết trong Thánh pháp, không có chân đứng trong pháp và luật.
Người biết tu là người hết sức sợ. Trong từng cử chỉ, từng hành vi, từng suy nghĩ của mình mà sanh khởi ra ác bất thiện pháp, buông lung, phóng dật là thấy sợ hãi, lạy sám hối, dập đầu. Người này luôn luôn lúc nào cũng nhìn lại những cảm giác, nghĩ, tưởng để điều chỉnh, chấn chỉnh cho hoàn chỉnh thì người đó mới là người tu. Cho nên phải biết sợ và biết xấu hổ. Người không biết sợ, không biết xấu hổ là cuộc đời tu coi như quăng bỏ.
Tại sao một người có thể điều chỉnh, sửa đổi được? Ví dụ đơn giản, một người đem xe đi sửa bởi vì thấy nó hư, nó có trục trặc. Nếu người này không sửa, vẫn chạy chiếc xe này thì sẽ bị tai nạn giao thông. Nếu đi đường đèo giống như Minh Thành thì có thể lọt xuống vực thẳm. Mỗi một tuần Minh Thành phải đi lên, đi xuống năm trăm cây số để về gặp mọi người chia sẻ pháp trong một tiếng đồng hồ. Minh Thành không phải ở Sài Gòn mà ở Linh Quy Pháp Ấn – Bảo Lộc, tuốt ở trong sâu, ở trên núi cao. Một lần về đây, để gặp đại chúng một tiếng đồng hồ là trải qua năm trăm cây số. Đi đường xa thì có rất nhiều nguy hiểm, tai nạn không lường trước được. Nếu xe người đó hư nhưng họ không lo, không sợ, không có đem sửa mà vẫn đem chạy thì có thể sẽ rơi xuống vực sâu. Cũng vậy, khi đã thấy được trong tâm mình có những cái dục, có những cái sân, có những bản ngã, có những tâm xấu ác mà không biết sợ, không biết lo, không có chỉnh sửa thì người này thối đọa. Sau khi nhắm mắt sẽ rơi vào ác thú, đọa xứ, cảnh khổ, cảnh dữ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Cho nên người biết tu là người rất sợ, chỉ có những người điếc mới không sợ súng, còn người có lỗ tai bình thường thì rất sợ. Phải sợ, sợ thật là nhiều, phải tập run sợ đối với ác bất thiện pháp. Khi thấy một người sân hận trước mặt mình, trước huynh đệ thì không nên vội đi phê phán, chỉ trích người này, hoặc châm dầu vô, cũng đừng chạy đến chỗ người khác để kể lể, mà nhìn thấy như vậy để chúng ta sợ cho mình, phản tỉnh cho mình. Khi thấy một huynh đệ rơi vào dục tham thì mình không nên vội đi nói xấu, đi phê phán, đi nói chuyện người này, nói chuyện người kia, mà mình run sợ, khiếp sợ cho mình. Nếu chúng ta không tu kĩ lưỡng, cẩn thận thì đó là vết xe đổ, mình sẽ đi theo. Bây giờ mình nhìn thấy cấu uế, cấu nhiễm trong tâm nhiều như vậy mà vẫn cứ trơ trơ, ăn, ngủ, vui chơi, không biết lo, không biết sợ, không biết xấu hổ, nhục nhã, tàm quý… thì đời tu sẽ rơi xuống vực sâu. Chính vì không biết tu những pháp này nên làm gì có bậc Hiền Thánh, tu qua ngày qua tháng thì không có tới đâu hết.
Quét rác nội tâm
Đạo lộ tu tập tiếp theo là Sự quét rác trong tâm.
Sau khi đã thấy tâm cấu nhiễm, cấu bẩn giống như người đã sáng mắt và nhìn thấy căn nhà bốn, năm chục năm dơ bẩn. Như vậy hì bây giờ họ làm sao? Họ ngồi họ tụng? Hay ngồi niệm, kêu: "Rác ơi đi chỗ khác chơi đi, rác đi đừng ở đây nữa?". Hay quỳ xuống lạy xin rác tự biến mất? Hay phải đi hốt rác, quét rác, dọn rác? Cho nên, quét dọn rác là công đoạn tiếp theo. Có bao giờ chúng ta ngồi một mình, ngẫm nghĩ lại về đời tu của chính mình không? Đối với giới hạnh, có xấu hổ không? Đối với thiền định, có xấu hổ không? Đối với những học pháp mà Đức Thế tôn chế định, có thấy nhục nhã không, có sợ hãi không? Đối với Thánh trí mà Đức Phật truyền trao mình đã hiểu tới đâu, có thâm nhập chưa, thể nhập chưa, chứng nhập chưa? Những suy tư này hết sức cần thiết. Chứ không phải ngồi lại để tính nấu món gì, làm cái gì, tổ chức cái gì, làm cho ai, những chuyện này là chuyện thế gian.
Dù lợi người bao nhiêu,
Chớ quên phần tư lợi,
Nhờ thắng tri tư lợi,
Hãy chuyên tâm lợi mình.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Thế gian)
Đức Phật dạy, dù có làm những việc bên ngoài bao nhiêu thì chớ có quên phần lợi ích cho chính mình. "Nhờ thắng tri tư lợi", thắng tri là sự thấy biết chính xác về lợi ích của chính mình, nên "Hãy chuyên tâm lợi mình". Mình còn đầy dẫy dục, tham, ái, sân, si, vô minh, bản ngã mà mình đi lợi ai, độ ai, cứu ai? Mới chạm tới một cái là sừng sộ, sân si lên thì đi cứu ai, giúp ai hết sân? Nhìn gì cũng dính mắc, tham muốn hết thì mình giúp ai ly tham? Ai đụng tới một chút là bản ngã mình phình lên, trương lên, sình lên, hất hất cái mặt lên, khó chịu, bực bội, ta đây, hơn thua thì làm sao hướng dẫn người khác chứng đạt Thánh trí vô ngã?
Chúng ta hãy nhìn cho kĩ, mình đang làm cái gì, mình đang tu cái gì, nếu không cả đời tu của mình không phải là số 0, mà là âm ngàn tỷ. Sau khi nhắm mắt là ác thú, đọa xứ, khổ cảnh. Đây là chỗ thâm sâu của Thánh pháp, lõi cây của kinh tạng Nikāya, làm cho chúng ta nhìn thấy được thân tâm của chính mình. Chúng ta cứ mải mê miết trên những mỹ từ, những câu thơ, vần cho hay, đọc lên cho êm tai, nhưng chúng đều sáo rỗng, trống rỗng, chứ không có gì hết. Trở ra là sân si, bản ngã, hơn thua, danh lợi, ganh tị, đố kị từ chút, từ chút mà mình không nhìn thấy. Trước mặt thế này, sau lưng thì khác, cái miệng thì nói vậy mà cái bụng thì nghĩ khác. Sống giả dối, gian trá! Đừng nói chi là gian trá với người, mà gian trá với chính mình, chính mình gạt mình luôn mà mình cũng không biết.
Cho nên ở trong kinh tạng Nikāya là phơi bày những gì bị che kín, đem ánh sáng vào trong bóng tối, để cho người có mắt có thể nhìn thấy được sắc, chỉ đường cho những người lạc hướng. Đó là công năng của giáo pháp. Vi diệu là giáo pháp này, tối thượng là Thánh pháp này. Giáo pháp này sẽ phơi bày cho chúng ta thấy những điều từ trước nay chúng ta không thể tưởng tượng được. Mình cứ tưởng mình tu hay, tu giỏi, tu ngon… nhưng khi nhìn lại nội tâm, nhận diện ngũ uẩn, đọc từng dòng suy nghĩ, từng dòng cảm giác, những hình bóng hiện ra trong tâm thì chúng ta sẽ thấy một cú sốc khủng khiếp. Vì không ngờ mình lại có một nội tâm cấu bẩn, rác bẩn, xú uế, nhớp nhơ, hôi thối, nói như trong Tây Du Kí thì nội tâm này là một nội tâm yêu quái, yêu tinh, ma quái, ác ma ở nhưng mình không biết, đây mới là chỗ đau đớn. Nội tâm chính mình mà mình còn không biết thì ai sẽ chỉ cho mình? Làm sao mình nhìn thấy được?
Hằng ngày trước mắt chúng ta toàn là những cảnh đâm chém, cướp giật, hãm hiếp, lừa gạt, phân xác; vợ chồng đầu độc; anh em ruột giết nhau 4-5 người chỉ vì mấy tất đất; con chặt đầu mẹ; vợ chồng phân xác; mẹ giết con chôn sống, bỏ dưới hố ga, bỏ trước cổng chùa, bỏ trong bệnh viện; con gái đưa cha bệnh nặng vô bệnh viện, rồi bỏ đó đi. Nhờ Thánh trí của kinh tạng Nikāya làm phơi bày hết tất cả, vén màn bí mật của thế giới thân tâm chúng sanh. Tất cả những gì bí mật ở trong vũ trụ, ở trong chúng sanh, trong thân tâm của ta đều được Thánh trí năm uẩn mở mật mã ra, vén bức màn bí mật ra và trong đó là một sự khủng khiếp, vì tất cả đều bị chi phối bởi dục.
Đức Phật đã tuyên bố: "Này các Tỷ-kheo, tất cả pháp lấy dục làm căn bản".
Đời sống chúng ta được tác thành từ dục, vô minh và khát ái mới có ra cái thân này. Từ những thứ tinh huyết hôi dơ, tanh tưởi, nó kết thành một cục máu. Thứ dơ bẩn nhất, tanh hôi nhất nó kết thành một cục máu, cục máu này mỗi tuần, mỗi tháng lớn dần dần. Nó mọc ra các cành nhánh gọi là tứ chi: tai, chân, mình, đầu; ngũ quan, sáu căn. Từ trong một tâm si mê, vô minh, ngu si cộng với tham ái, ngũ uẩn này chọn chỗ dơ bẩn nhất để làm ổ, làm tổ, làm thai, làm sào huyệt, căn cứ địa trong đó. Cục máu đó từ từ lớn lên, mọc tay, mọc chân, mọc đầu ra, cho tới bây giờ, cục thịt, cục máu đó bự sáu chục kí đang ngồi đây. Không biết bao nhiêu giọt nước mắt, máu, đau khổ cho cái cục thịt ác độc, dơ bẩn, hôi tanh này. Tất cả chúng sanh trên thế giới chìm ngập trong cái dục này mà không nhìn được thấy bản chất của tất cả chúng sanh đều từ một cục máu dơ bẩn, tanh hôi, cấu bẩn nhất kết thành. Đam mê trong này, khao khát trong này, khát ái trong này, đau khổ trong này, sống chết trong này. Sống chết vì đống dơ đó, sống chết vì thứ dơ, bẩn tanh hôi đó. Chúng sanh chìm ngập trong cái si mê không có lối thoát, muốn thoát ra là đau khổ cùng cực. Muốn thoát ra nên đi tự vẫn hoặc sa đọa, trụy lạc, buông thả, chứ không biết con đường giải thoát thật sự. Cho nên vô minh và khát ái kết thành tấm thân này. Chúng ta đang học tổng cương lĩnh pháp hành của kinh tạng Nikāya, khi nắm được tổng cương lĩnh này rồi, đi vào những bài kinh sẽ dễ hiểu hơn.
Thân này hằng ngày bài tiết ra phân và nước tiểu, nhưng có ai ngồi kế bên mình chê: "Sao bữa nay sư đệ, sư muội hôi quá", là giận liền. Đúng ra mình phải nói "Dạ, thưa tỷ, hôi là đỡ, muội thấy nó còn thúi nữa. Muội thấy phân trong này, nước tiểu trong này, nó là thúi chứ không phải hôi". Rõ ràng ai cũng biết sự thật này, ngay cả những người bác sĩ, họ phải giải phẫu nên càng biết rõ về hình hài, thân xác này nhưng họ vẫn mê thân xác máu mủ, hôi tanh, phân, nước tiểu này mới đau đớn. Không ai không biết thân mình là dơ bẩn; bài tiết ra phân và nước tiểu; cứt mũi, cứt ráy, nước miếng là tanh hôi, bất tịnh… nhưng người nào cũng vẫn đam mê, khao khát vào đó, như vậy là vô minh, là si mê.
Vì vậy, cửa đầu tiên trong sự tu này là phá thân kiến, nếu không phá được thân kiến – tức là không phá được kiến chấp về thân thì vĩnh viễn là phàm phu. Phải phá vỡ kiến chấp sai lầm về thân thể, vóc hình, bao da, túi thịt mấy chục kí lô này. Phải đánh tan, đánh sập, đánh vỡ, đánh bể, đánh nát trong nhận thức của mình thì lúc đó mới gọi là mở được con mắt pháp. Muốn làm được như vậy phải có công phu rất là thâm sâu. Phải Quán bất tịnh, Quán tứ đại, Quán chín giai đoạn tử thi thường xuyên, mỗi ngày. Dán hình chín giai đoạn tử ngay chỗ phòng ngủ, ở trước mặt chỗ ngồi thiền cho nhớ. Nhìn thấy hình ảnh, sắc uẩn nào mà dính mắc, cho là đẹp thì tự động hiện lên hình ảnh đó là bộ xương, mặt giòi ăn, tràn ra khắp mặt toàn là giòi. Từ đó, quán cho thâm nhập được trí huệ về sắc uẩn này để phá được thân kiến. Nhìn đâu cũng thấy bộ xương, nhìn đâu cũng thấy đống thịt bầy nhầy, nhìn đâu cũng thấy một đống giòi, một đống cát bụi thì mới thâm nhập được trí huệ, chiếu phá được sắc uẩn. Tu pháp này là phải cố gắng tu đến mức thể nhập Thánh trí, đi vào Thánh đạo, tiến tới Thánh quả. Chánh pháp sẽ đưa chúng ta tiến lên như vậy.
Mỗi ngày, chúng ta phải dọn rác nội tâm bằng cách Như lý tác ý. Thí dụ, sáng thức dậy rửa mặt, nhìn vô gương, thấy gương mặt mình trong gương. Lúc đó một ý niệm sanh khởi lên là mình tự hào "Mặt mình coi cũng được, mặt tui vầy cũng đâu đến nỗi". Khi có những suy nghĩ đó, lập tức tác ý, quét rác liền vì suy nghĩ như vậy chính là rác: "Tự hào gì với cái bộ xương này. Đây là đầu lâu, bất tịnh. Lột da mặt này xuống đi". Lột xuống thì sự thật bên trong lòi ra, tròng mắt lọt xuống, máu chảy ra, mỡ chảy ra, trong đầu lâu này là bộ não. Tác ý như vậy để phá tan kiến chấp về “thân của tôi, gương mặt của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”. Chúng ta phải đánh phá những suy nghĩ đó bằng cách Như lý tác ý thường xuyên, thường trực.
"Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi." Nếu mình không tác động tâm ý thì các pháp không sanh khởi, trí huệ không sanh khởi, thiện pháp không sanh khởi. Cho nên mình phải tác động tâm ý thường xuyên và liên tục thì đó là sự tu. Đó là Như lý tác ý, đó là tuệ lực, đó là Chánh tư duy, đó là Thánh tư duy. Đó cũng gọi là thiền quán, bằng cách vận dụng tư duy chân chánh, tư duy đó là ly dục tư duy, ly ái tư duy. Mình suy nghĩ cái này là tứ đại, chụp X-quang thì đầu lâu giống nhau hết, không ai đẹp xấu gì hết. Tới ngày đi thiêu thì nó ra một nắm tro, không có "Trần Văn A", "Nguyễn Thị B" gì ở đây hết, không có "Thích Nữ, Thích Nam" gì ở đây hết. Đây là trống rỗng, là vô thường, là tứ đại, đất, nước, gió, lửa, nó sẽ tan hoại, biến hoại, hủy hoại, tan nát. Tác ý như vậy thì tức là lúc đó mình quét rác, dẹp bỏ những ý nghĩ về tôi, về của tôi: "Cái mặt tôi đẹp, cái mặt tôi được, cái mặt tôi coi cũng tạm". Khi đó, những ý nghĩ đó bị đánh dẹp; Thánh trí về sắc uẩn được hiển lộ, sáng tỏ ra. Ngay lúc đó là chúng ta đang quét rác, quét dọn thân tâm.
Ví dụ, nghe sư tỷ nói gì đó làm mình bực bội, tức giận, thì phải tác ý làm sao? Tu ở chỗ này, nếu không biết tác ý thì không tu tập được, giận thì để luôn cho giận, đi theo cơn giận, càng đi theo thì cái giận đó càng tăng trưởng, phát triển, xâm chiếm, áp đảo và bành trướng, quảng đại trong thân tâm. Nếu giận một chút xin lỗi thì hết, giận để chừng hai ngày, ba ngày, bảy ngày thì càng ngày nó càng ngấm vô nên cơn giận càng tăng trưởng. Có nhiều người giận mấy tháng, mấy năm không quên được, đó là cảm thọ sân được thọ nhận, chất chứa vào bên trong tâm. Khi đó, phải Như lý tác ý:
"Nhà ngươi bỏ cha, bỏ mẹ vào đây tu để giận hờn à? Nhà ngươi cạo cái đầu này vô đây để sân si phải không? Cái sân này sung sướng lắm hả mà ưa thích cái sân này? Sự nóng giận như lửa thiêu đốt này dễ chịu lắm hay sao? Thôi vừa rồi cái cơn giận này, ta nhàm chán người quá rồi. Tới đây là đủ rồi. Từ vô lượng, vô biên kiếp ngươi đốt thiêu ta tới đây là đủ rồi. Làm ơn dập tắt, tan biến hoàn toàn khỏi thân tâm ta, thành mây, thành khói, thành hư không đi. Đừng ở trong tâm ta nữa."
Những cảm giác sân hận này là cảm giác thiêu đốt, thiêu hủy, thiêu cháy, thiêu rụi. Nó làm cho tan nát, làm cho tâm bất an, bất ổn thì làm sao ngồi thiền, làm sao tu. Ra vào gặp nhau nhìn mặt làkhó chịu thì làm sao mà thiền. Trong chùa giận chừng ba người rồi thiền được không? Cứ thấy đằng trước thì tránh ra đằng sau, thấy ở giữa thì tránh vào phòng, không muốn dòm mặt, nhìn là khó chịu, thì làm sao tu. Nên mình phải tác ý mạnh như vậy, tác ý cho đến lúc nào những cảm giác khó chịu, những hình bóng, những suy nghĩ tan hết giống như viên thuốc sủi bọt, bỏ vô nước tan ra hết thành nước bình thường mới thôi. Tức là khi gặp lại người mình giận, mình nói chuyện bình thường, không có một cảm giác gì khó chịu thì lúc đó mới xong, như vậy mới là tu. Ngược lại, hễ còn cảm giác khó chịu trong tâm là giải quyết chưa xong. Cho đến khi nào mình gặp lại người mình giận, cảm giác của mình bình thường, không có gợn gì hết trơn thì lúc đó mới được.
Đối với cái dục cũng y như vậy. Nếu một đối tượng nào khiến tâm dính mắc phải tác ý liên tục, cho đến lúc nào không khởi cái đó nữa thì gặp, còn nếu không là không gặp, gặp là chết. Xúc sanh dục, xúc sanh thọ, xúc sanh nghiệp. Tiếp xúc sẽ sanh ra cảm giác. Đó là định lý của tâm mà Đức Phật chứng ngộ. Tiếp xúc là sanh ra cảm giác, tiếp xúc là sanh ra dục, ham muốn.
Ví dụ, khi đi chợ, thấy trái cây ngon, mình muốn mua về ăn nhưng còn có một trái thôi, đang định đến mua nhưng có người vừa đến mua trước, lúc đó khó chịu không? Đừng nói là không khó chịu, đó là do mình không thấy được những cảm thọ vi tế sanh khởi. Mặt khác, nếu như mình ở nhà, không đi chợ, không thấy món đồ đó, thì sẽ không muốn mua món đồ, đó là xúc sanh dục, vì tiếp xúc nên mong muốn, ước muốn. Cho nên, người tu chúng ta nên ở trong chùa để tu, đừng nhìn thanh sắc ở bên ngoài nhiều, vì xúc sanh dục, xúc sanh thọ, xúc sanh nghiệp. Thay vào đó, chúng ta chỉ nên tiếp xúc với Thánh pháp. Những gì hiền thiện, pháp lành thì tiếp xúc, còn những gì là ác bất thiện pháp thì không nên tiếp xúc, hãy vào phòng đóng cửa lại, bế quan. Cần cẩn thận đối với xúc này.
Sự tu còn phải đánh thẳng vào bản ngã, nếu bản ngã không được nhìn thấy, không được giảm thiểu, nhiếp phục thì không thể tu được. Phải nhìn thấy được bản ngã bằng cách thường trực để ý vô cảm giác, những suy nghĩ, những hình bóng, nghĩ tưởng trong tâm.
Gánh nặng thiện pháp
Câu hỏi: "Dạ mô Phật, kính bạch thầy và chư huynh đệ, con xin được hỏi. Lúc nãy con được nghe thầy nói là gánh nặng thiện pháp và gánh nặng bất thiện pháp. Vậy trong Nikāya Đức Phật đã nói gì về gánh nặng thiện pháp và gánh nặng bất thiện pháp? Và chúng con phải thực hành như thế nào?"
Bất thiện pháp tức là tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Thiện pháp là nhiếp phục, đoạn trừ những thứ đó.
Người tu chúng ta mang cả một gánh hết sức nặng. Chúng ta phải lo lắng cho sự nghiệp tu tập của bản thân. Đừng nên "Ai sao mình vậy, xưa bày nay làm", mà phải có sự để tâm vào công cuộc tu hành này. Chưa hẳn cái gì mình được thấy, được nghe là chắc chắn đúng, mà cần phải có một tâm khát khao, tha thiết trong sự tu học, đừng chấp nhận, hài lòng với những cái ở hiện tại đang có. Hài lòng là mình chết. Hài lòng với chiếc xe hư để rồi đi xuống vực sâu. Chúng ta hiểu bản thân mình hơn bất cứ ai, không ai hiểu mình bằng chính mình. Hãy nhìn lại những cảm giác dục, những cảm giác sân, những cảm giác bản ngã, si mê. Cần phải có sự khắc khoải, ưu tư, tìm cầu, tha thiết, chân thành tu học, thực tập để ngày đêm chúng ta tăng trưởng, lớn mạnh ở trong thiện pháp.
Chúng ta đừng chạy theo hư danh phía bên ngoài, sau này sẽ hối hận vì đến khi nhắm mắt ra đi cũng không có gì là thật. Chỉ khi tâm này được nhiếp phục, những cấu nhiễm bên trong được quét dọn sạch sẽ mới là hành trang của mình. Đừng ham làm những công chuyện không cần thiết, mà phải ham ngồi thiền, ham nghe pháp, ham tu học. Hơn nữa, pháp phải biết chọn pháp để nghe, không nên nghe linh tinh lang tang ròi không biết tu đường nào. Hãy để tâm vào tạng kinh Nikāya, đây là những lời dạy gốc của Đức Phật, là Phật pháp nguyên chất. Phải gánh cho được gánh nặng của thiện pháp. Luôn luôn để tâm vào sự thăng tiến giới hạnh, giới đức của một người tu. Đừng nhìn người ta sao thì mình vậy, thấy sư huynh, sư đệ, sư muội đó vậy thì mình cũng giống vậy thì không được! Đừng lo nhìn người ta, mà phải luôn luôn cố gắng làm cho mình tăng thượng giới hạnh, giới đức, đức hạnh của một người tu, đây mới là điều quan trọng cần làm.
Đức hạnh của một người tu không phải cái gì cao siêu, mà là nhất cử nhất động, cách nói chuyện, những cử chỉ, cách đi đứng, cách cư xử của mình giữa những huynh đệ với nhau. Chúng ta phải luôn luôn để ý đẽo gọt thân tâm của mình. Làm sao cho mỗi một ngày phải hoàn thiện hơn thêm nữa. Không phải cạo đầu, mặc chiếc áo, đắp cái y, thọ giới là xong, đó chỉ là hình thức. Tấm vải đó người ăn xin bên ngoài khoác lên cũng được. Người tu phải thật sự là người có đức hạnh, có sự nhiếp phục thân tâm, không phải muốn nói gì nói, không phải muốn nghĩ gì nghĩ, không phải muốn làm gì làm. Từng suy nghĩ phải kiểm soát xem là ác bất thiện pháp hay thiện pháp. Nếu nó là ác bất thiện pháp thì phải tác ý đánh đuổi, diệt tận. Trước khi nói phải quán sát cẩn thận; trong khi đang nói mình cẩn thận quán sát; sau khi nói xong rồi mình cẩn thận quán sát xem đây là lời nói thiện hay bất thiện. Đây là điều Đức Thế tôn dạy La-hầu-la. Trước khi suy nghĩ; đang suy nghĩ; sau khi đã suy nghĩ rồi, luôn luôn quán sát xem suy nghĩ đó là ác hay thiện. Nếu là ác phải diệt tận, nếu thiện phải phát huy. Trước khi làm soi xét cẩn thận; khi đang làm soi xét cẩn thận; khi làm xong rồi soi xét cẩn thận, xem cái làm đó có đúng hay không. Để sau này chúng ta không bị rơi vào khổ cảnh, nhân quả, nghiệp báu.
Có hai ông phi công, gồm cơ trưởng với cơ phó, đang bay mà lo nói chuyện dịch Covid 19. Nhà người này có mấy người bị nhiễm bệnh, nên hai ông này ngồi bàn nói chuyện Covid 19, rồi để chiếc máy bay rơi xuống, sống sót được 2-3 người, còn cả trăm người chết hết, hư hao mười mấy căn nhà. Qua đó chúng ta thấy rằng, chỉ sơ sót chút xíu nhưng để hậu quả rất lớn. Cứ nghĩ mình nói chuyện một chút thì đâu có gì, nói chuyện thì làm sao chết người, nhưng ở đây là không phải chết một người, mà là hàng trăm người.
Chính vì vậy, chúng ta đừng nghĩ lời nói, hành động, suy nghĩ hằng ngày là chuyện nhỏ, không cần để tâm. Có một cô vừa lái xe, vừa nhắn tin, cười giỡn, rồi làm một cái "rầm", chết hết mấy mạng người. Có một tin nhắn thôi mà làm chết mấy mạng người, mà đây là sự thật đã xảy ra. Trong sự tu học của mình cũng vậy. Giới đức, giới hạnh, đạo hành phải được tích tập, tu tập, thực tập từ những việc nhỏ nhiệm nhất. Đừng xem thường những điều nhỏ nhiệm. Tu là từ những cái nhỏ, không có hạt cát thì làm sao có cái trường học. Đức độ và đạo hạnh người tu cũng làm từ những suy nghĩ, lời nói và hành động nhỏ nhiệm của mình. Nếu xem thường những điều này thì suốt đời tu không thành tựu được đạo hạnh viên mãn.
Minh Thành trước khi bước vào lớp học thấy buồn lắm, vì rất ồn. Khi mấy cô ngồi yên lặng như vậy con mới vui, lúc đó mới giống người tu, còn lúc nãy không giống người tu, mà giống cái chợ. Chúng ta tự nhìn kĩ xem nơi đây có giống cái chùa không, có giống trường Phật học không? Nếu không để ý đức độ, đạo hạnh thì tu cái gì? Nếu không học từ những cái này thì học cái gì? Chúng ta đi tu là học giới đức, thiền định và trí tuệ. Nếu không có nền tảng của giới hạnh, giới đức này thì làm gì có thiền định và trí tuệ. Cho nên con tha thiết, chân thành mong mấy cô, một người không thể làm được, phải tất cả đại chúng cùng nhay ý thức sâu sắc sự đang tu học này là gì? Nếu không, dầu cho mình có học thêm ba chục năm nữa cũng chỉ là giấy trắng, mực đen, kiến thức nói suông, còn thân thể mình thì vẫn mãi tật nguyền và bệnh hoạn trong vô minh.
Hòa thượng Tinh Vân – tông chủ của Phật Quang Sơn ở Đài Loan, Minh Thành có gặp hồi năm 2000, Hòa thượng nói một câu rất là ấn tượng "Làm cái gì phải giống cái đó, làm người tu phải giống một người tu". Cho nên, chúng ta đừng treo đầu dê bán thịt chó, lừa gạt người ta, tự nói mình tu mà thật ra không có tu. Hãy chiêm nghiệm câu này hết sức sâu sắc để cho mình tăng thượng đạo đức, giới hạnh, thiền định, trí tuệ. Đó là tấm lòng của con gửi đến mọi người.
./.