Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 28 - Trình Pháp Tổng Quát Pháp Hành 2

2026-03-03 00:53:49
Tinh Hoa Nikāya

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 28

Trình Pháp Tổng Quát Pháp Hành 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Dục như ý túc PAGEREF _Toc204009784 \h 1

II. Vô minh và khát ái PAGEREF _Toc204009785 \h 2

III. Tu tập tâm PAGEREF _Toc204009786 \h 6

IV. Trình pháp PAGEREF _Toc204009787 \h 8

I. Dục như ý túc

Chỗ quan trọng ở đây chúng ta thấy sự tu học sâu sắc theo tinh thần Phật pháp nguyên chất của chúng ta đó là phải thấy được sự vận hành của tâm thức này là cái thứ nhất, tức là nhận diện ngũ uẩn. Cái thứ hai là phải thấy được cấu uế ở trong tâm thức này, kẻ vô văn phàm phu khi họ phát tiểu, họ nói chuyện là đầy một cái tự ngã, lúc nào họ cũng vỗ ngực xưng tên, tôi hay, tôi biết, tôi giỏi, tôi thấy, còn các bậc thánh bắt đầu hướng Dự Lưu cho Nhập Lưu trở lên là thấy cái tâm cấu uế của mình. Chỗ này là chỗ khác biệt giữa vô văn phàm phu và bậc thánh đệ tử cho nên một người tu chính xác hay không chính xác, cạn hay sâu thì khi trình bày về pháp thì ta biết được, cái người còn một cái bản ngã rất là lớn, cái tôi rất là to, khi nói gì cũng cho là mình hay, mình giỏi, mình tài. Còn người tu sâu sắc ở trong cái pháp này thì người đó phải thấy được cái tâm cấu nhiễm của mình, cho nên quý thầy vừa rồi trình bày như vậy rất là tốt.

Các bậc Tỳ-kheo thời Đức Phật gọi nhau là hiền giả, là bậc hiền triết, là các bậc tôn giả, đặc chất của các vị này rất là hiền nên tu cái pháp này không hiền là không tu được. Những người có những cảm thọ dữ dằn, hung dữ, hung hăng, hung bạo, hung tàn, hung tợn là không tu được, muốn tu phải làm cho các cảm thọ này lắng dịu xuống. Cho nên đầu tiên vô trong đạo tràng Nikāya là tám tháng cho tu tâm hiền, nói tám tháng là nói con số nghe cho ấn tượng thôi chứ thật ra là phải tu suốt cuộc đời là tu cái tâm hiền trí, ba năm diệt ngã, tám tháng tu tâm hiền, nói ba năm cũng là con số, diệt ngã là diệt cho tới khi nào hết, diệt ngã là diệt trừ chấp ngã. Một người hiền thiện thì cái đặc chất đầu tiên là trực hạnh là đệ tử của Thế Tôn.

"Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng ở đời" (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), I. Phẩm Veludvàra, I. Vua)

Trực hạnh là một cái tâm chánh trực, ngay thẳng thì mới tu được chánh pháp, một người chân thật mới tu được chánh pháp, một người giả dối thì làm sao tu được chánh pháp. Một người bên trong là một cái tâm xảo trá, trá ngụy, cái tâm hư ngụy, gian xảo, gian trá, dối trá thì người ta không có tu chánh pháp được. Cái ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm, một cái tâm xảo trá, hư ngụy là không tu được chánh pháp, phải là một cái tâm hiền thiện, ngay thẳng, chân thành và cung kính pháp, một cái tâm tha thiết, khao khát để hướng đến sự trong sạch, thanh tịnh, hướng đến sự diệt tận các khổ đau và nguyên nhân khổ thì người đó mới có thể tăng thượng được trong chánh pháp, mới có thể hướng thượng được ở trong thánh pháp, mới có thể đi đến chỗ cao thượng được ở trong thánh trí tuệ. Chúng ta nhớ kỹ cái đặc tính này, thứ nhất là phải hiền thiện, hiền lành, thứ hai là phải chân thật, chân thành và thứ ba là phải một cái tâm hết sức cung kính pháp và khao khát sự thành tựu, khao khát sự tu học.

Đó là dục như ý túc, một cái tâm mong muốn, khao khát, nhiệt tình, nhiệt huyết, nóng bỏng để làm sạch mình, làm cho mình được thanh tịnh, trong sạch và người này không có sĩ diện gì hết, không có bản gì hết, khi trình pháp có cái gì xấu là trình ra hết, không có giấu giếm gì hết. Còn người đứng lên sợ nói ra người ta chê mình dở, phải lựa cái gì nói cho hay thì cái tâm đó là cái tâm không có tu chánh pháp được, tâm đó là cái tâm giả dối, bản ngã.

Nếu mình thấy trong tâm còn nhiều dối trá, mình cố gắng nhiếp phục cái dối trá để mình phát triển. Nếu mình thấy cái tâm mình chưa có khao khát đối với chân lý thì phải làm cho nó khao khát, nhiệt huyết, nóng mỏng lên để mình cầu sự thật. Nếu mình thấy cái tâm mình chưa có chân chánh, cái thân mình chưa có chân chánh thì mình điều chỉnh cho nó chân chánh thì mình sẽ vào được thánh pháp, thánh trí, thánh đạo, thánh quả. Bây giờ bước qua vấn đề muốn thiền quán ba mươi hai thể trược thì mình phải thuộc, vấn đề là gì là tại sao mình quán bất tịnh mà mình thấy nó càng tịnh, quán bất tịnh nhưng khi mình buông ra là cái hình ảnh ám ảnh làm mình khoái, mình thích nhiều hơn.

Cái tâm này là một cái tâm ghê gớm lắm, cái tâm này khiếp lắm cho nên nhiều khi khóa tu mới vừa xong là người này xin xuống núi, người kia xin trị bệnh, làm đủ chuyện hết, giống như bị dồn ứa quá nên bung ra như chim xổ lồng. Cái tâm bị nó dồn nén mà mình không biết tu cái cảm thọ thì đến lúc nó sẽ bung ra, mình thấy trong ba tháng hạ bị nhốt một chỗ, đến khi ra hạ như chim xổ lồng, nếu mình không biết tu tập thì càng dồn nén chừng nào càng bung mạnh ra chừng đó, giống như mình quăng trái banh càng mạnh vào tường thì nó dội ra càng xa chừng đó cho nên tu tập cảm thọ mà để như vậy là sự tu chưa sâu sắc.

II. Vô minh và khát ái

Tại sao mình quán bất tịnh lại thấy tịnh, quán dơ mà càng thấy sạch? Cái bản vị của mình là khát ái, chỗ này là cái chỗ thâm sâu mà hơn ba mươi năm con mới nhìn ra được, rất khủng khiếp, khiếp đảm và sợ hãi. Hai cái thứ đầu não, tổng chỉ huy, tổng tư lệnh của ngũ uẩn này là vô minh và khát ái, hồi xưa khi con chưa vô Nikāya con dị ứng mấy cái từ này lắm, không muốn nói, nói cái gì cho nhẹ chút chứ dùng khát ái nghe ớn quá, không muốn nói cái từ này nhưng bây giờ từ này là tối thượng, không còn cái từ nào có thể thay thế được chữ khát ái này. Nó khao khát cái ái dục, nó thèm khá cái tham ái, nó thèm thuồng, nó thèm muốn, nó thèm khát, nó đói khát, nó khát ái. Đức Phật dùng cái chữ siêu khủng lắm, ngôn ngữ học tối thượng của tam thiên, đại thiên thế giới, mười hành tinh không ai sử dụng bằng Đức Phật, mỗi cái chữ mà Đức Phật sử dụng không thể có một con người thứ hai ở trong mười ngàn thế giới này có thể so sánh được.

Đây là ngôn ngữ học tối thượng của Thiên Nhân Sư, phải để ý những cái từ ở trong kinh, mình tu rồi mình thấm thía, mình thấy giống như thấm vô tận tâm can xương tủy, chạm vào tim mình làm rúng động. Một người khát nước thì họ sẽ uống ừng ực, một người đói cũng ăn ngấu nghiến, đối với cái dục, cái ái, cái tham cũng giống như vậy, ở trong này là một cái cảm giác thèm khác, nó đói khát, nó khao khát, nó khát ái và cái bản vị của chúng sanh nằm ở trong chỗ này. Cho nên tuy là nghe nói vô thường, nói khổ, nói bất tịnh, nói ba mươi hai thể trược, nói chín giai đoạn tử thi, quán giòi ghê gớm vậy nhưng trở ra rồi dục vẫn dục, ái vẫn ái, khát vẫn khát là tại vì lòng khao khát, thèm khát, đói khát, khát ái ở trong cái ngũ uẩn là vô lượng, vô số, vô biên, vô thỉ kiếp, nó chất chứa, nó tích tụ ở trong đó. Bây giờ mới quán một hai lần, năm ba lần thì chưa đủ sức, một cây cổ thụ cả ngàn năm mà cầm cuốc lại xới vài cọng cỏ dưới đất chơi cho đã ngứa một chút vậy thôi. Mới quán bất tịnh có một tuần lễ đã đòi chứng quả, đòi ái tận thành A-la-hán thì làm sao được? Cho nên cái bản vị của mình là vô minh và khát ái.

"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)

Vô thỉ là không thể nêu rõ cái khởi điểm và bắt đầu là từ lúc nào chúng sanh vô minh đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức, không thấy và không biết đối với năm uẩn. Vì không thấy, không biết năm uẩn cho nên không biết tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã, cũng vì không thấy, không biết năm uẩn vô thường, khổ, vô ngã, bại hoại, tan hoại, hoại diệt, khổ đau, lo lắng, bất an, tai họa, ung nhọt, hố than hừng, là mũi tên, là rắn độc, là kẻ giết người, là thứ khốn nạn, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, tai nạn, hiểm nạn, nguy nan cho nên nó khoái, nó thích, nó muốn, nó thèm, nó khát, nó giục, nó tham, nó dành, nó giựt, nó xâu xé với nhau tại. Nó không biết đó là khổ, nó không biết đó là cái cục than lửa mà nó nghĩ nó là kim cương, đến khi cầm vào bị phỏng tay, cháy tay mới biết.

Nó muốn cái cảm giác giật giành, nó thích cái cảm giác đấu tranh, nó thích một cái cảm giác hơn thua, đấu đá, khẩu tranh, chiến tranh nổ ra. Vì không thấy, không biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức, vì không thấy không biết chúng nó là duyên sanh, là lắp ráp, là vô thường, là khổ đau, là tai họa cho nên nó tưởng đâu là vui, là sướng, là tôi, là ta, là còn hoài cho nên nó mới thèm, nó khát, nó thích, nó muốn, nó khoái, nó giành, nó giật, nó chiếm, nó hữu. Bây giờ từ cái này nó đi đến chấp thủ, Đức Phật nói pháp là rung chuyển trời đất, không phải chỉ chấn động địa cầu này là cả mười ngàn thế giới còn chấn động.

Do nó yêu, nó thích, nó khoan, nó khoái thì nó phải nắm, phải giữ. Nó thích, nó khoái, nó thương thì nó phải giữ, nó giữ thì nó muốn cái này phải có, đó là sự hiện hữu, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này hiện hữu, nó có mặt. Tại vì cái tâm này nó luôn nắm sắc là tôi, cảm giác là tôi, những hình bóng trong tâm là tôi, những suy nghĩ là tôi, nhận thức là tôi, nó nắm giữ năm thứ này gọi là năm thủ uẩn, vì nó nắm giữ cho nên nó phải luôn luôn có, hiện hữu nó có mặt. Khi hiện hữu có mặt, sắc; thọ; tưởng; hành; thức có mặt thì sầu, bi, khổ, ưu, não có mặt, sanh, già, bệnh, chết có mặt, tai họa có mặt, ung nhọt, ung hạch, ung thư có mặt, ung bướu có mặt. Đó là tiến trình vận hành của tâm mê, tiến trình vận hành của cái tâm ngu, của cái tâm dại, của cái tâm khờ, của cái tâm điên, của cái tâm loạn, của cái tâm khùng, của cái tâm mù, và như thế là sầu, bi, khổ, ưu, não có mặt, nó hiện hữu hoài trong ngũ uẩn. Nó cứ đi tìm hoài, mất sắc thân này thì đi chụp vào những sắc thân khác.

Nó chụp vô những cái sắc thân của dục, của ái, của nghiệp, đâu phải nó muốn cái nào là được cái đó đâu, nó chụp vô những cái sắc thân hoặc địa ngục, hoặc cô hồn, hoặc súc sanh, thú vật, hoặc là đui, điếc, câm, ngọng, què, chột, bại liệt, dị dạng, dị hình, vị tật ở trong cái nghiệp của nó. Tất cả trong cái này đó thì cái tên đầu não, tổng chỉ huy, tổng tư lệnh, thống soái là vô minh và khát ái, cha là vô minh kết hợp với khát ái đẻ ra đứa con ngũ uẩn. Do không thấy, không biết, nó khoái, nó thích, nó ham, nó muốn, nó không biết đó là khổ nên nó nhào vô rồi có ra mấy đứa con.

Hai đứa cháu ngoại đến ngày lễ vu quy nên nó vui, nó sướng, nó tươi tắn, nó phấn khởi, nó khoái, nó thích, nó chuẩn bị này kia thì ông ngoại bước ra nhìn:

Trời đất ơi, khổ tới rồi tụ con ơi, trời ơi khổ tới nơi rồi.

Thôi ông vô nghỉ giùm con đi.

Con nói vậy mọi người có hiểu không ạ? Từ cái sự không thấy, không biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức này mà nó thích, nó muốn, nó khát, nó thèm, nó giục, nó ái, nó tham. Cái đầu tiên trong Bát Chánh Đạo là chánh kiến để phá vô minh, chúng ta thấy hết sức là logic, hết sức là nhân quả, nó hết sức là thực tế, cụ thể, rõ rằng. Chánh kiến là thấy, là biết ngũ uẩn là không có cái tôi, không có cái của tôi, là khổ, là biến hoại, là trống rỗng, là sầu, bi, khổ, ưu, não, nhìn thấy được bản chất sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, thấy được ngũ uẩn này. Khi đã thấy nó là khổ, là đau, là hố than hừng, là con rắn độc, là cái mũi tên, là gai nhọn, là kẻ giết người thì không còn ham thích nữa, cái khát ái từ từ lắng dịu xuống, an tịnh xuống.

Chánh tư duy là như lý tác ý để phá khát ái cho nên Đức Phật dạy rất là nhiều các cách quán, có tới mấy chục cách quán, hàng trăm cách quán. Đức Phật dạy quán dục là khúc xương khô, là hố than hừng, là cái đầu rắn độc, sắc là than đỏ, thọ là than đỏ, tưởng là than đỏ, thức là than đỏ, hành là than đỏ.

"Sắc là than đỏ, này các Tỳ-kheo! Thọ là than đỏ! Tưởng là than đỏ! Các hành là than đỏ! Thức là than đỏ!

Thấy vậy, này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối với thức.

Do nhàm chán nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: 'Ta đã được giải thoát". Vị ấy biết rõ: 'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, các việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'." (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, I. Than Ðỏ Hực)

Có rất nhiều cách quán để phá vô minh, để diệt khát ái đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Phá vô minh, diệt khát ái, trừ chấp thủ, dập tắt sự hiện hữu, không còn tái sanh trong cái vô thường, khổ não, sanh, lão, bệnh, tử, sầu bi này nữa, qua đây chúng ta thấy rõ được đạo lộ, sự vận hành của cái tâm mê và cái đạo lộ của bậc thánh. Chúng ta dùng đủ mọi thứ, ta nỗ lực, tinh tấn, từ thấy đúng rồi nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, làm đúng, nuôi đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng, tám cái đúng của bậc thánh này đánh vô bát tà, dùng tám đúng đánh tám con yêu tinh, tám con yêu ma. Đánh phá tất cả tám mặt của thánh trí huệ, từ cái ái này, cái chấp thù này không còn, cái hiện hữu này sẽ đi đến chỗ chấm dứt.

Muốn quán bất tịnh thì chúng ta phải học thộc lòng, tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, bao tử, lá lách, ruột non, ruột già, tim, gan, tỳ phế thận, hoành cách mô, nước miếng, mủ, mỡ, đàm giải, nước tiểu, máu, mồ hôi, chất dịch ở trong khớp xương… Phải học thuộc từng cái như vậy, nói tới đâu là nó hiện ra tới đó, nhìn vô cái tâm mê, cái tâm ngu, cái tâm ái này để nhắc nhở, chữa trị nó, nhiều khi nó ngu quá thì tát vô mặt cho tỉnh lên bằng cách tác ý "sao mày ngu, mày mê hoài, mày tham, mày muốn hoài vậy để mày khổ đau". Khi mình tác ý như vậy thì tâm dục, tâm ái thấy khó chịu, bực bội lắm, "sao nói vậy? Tôi thích mà, tôi khoái mà, tôi được vị ngọt mà tại sao nói vậy". Đó là sự chống đối cho nên tu cái này đầu tiên là phải diệt cái tâm chống đối, đầu tiên và cực kỳ quan trọng trong pháp hành là diệt tâm chống đối với thánh pháp, không diệt được cái tâm này là không tu được. Cái tâm thứ hai nữa là một cái tâm phản trắc, lật qua lật lại, quán bất tịnh mà chỉ toàn thấy tịnh cho nên phải diệt cái tâm đó "mày là ma, mày là quỷ, mày không cho tao tu, mày là chướng ngại pháp, mày là yêu tinh, ta tan biến khỏi tâm ta đi, đừng có quậy phá nữa, để cho ta tu"

III. Tu tập tâm

Mình đuổi nó ra khỏi căn nhà nội tâm, cái tâm phản trắc, cái tâm lật qua lật lại, cái tâm bất kính, cái tâm gian ngụy, xảo trá, cái tâm vong ơn bội nghĩa đối với pháp, đối với Phật, đối với Tăng. Mình phải nhìn cho sâu sắc, nhìn ra hết những diễn biến trạng thái của tâm, cái đó cần một sự nhận diện ngũ uẩn sâu sắc, có một sự yên tịnh, lắng dịu và có một môi trường để cho mình thực tập cái sâu sắc. Còn nếu mình cứ chạy lăng xăng này kia nọ là mình không có thấy được, không có quán được. Cái tâm nổi loạn, tâm chống đối, cái tâm hướng ngại, cái tâm này phải diệt tận nó, nhất đao lưỡng đoạn, một dao chém thành hai khúc, chém sắc như chém bùn, mạnh mẽ như vậy còn chưa chắc thắng được nó, còn nói gì yếu xìu là nó quật lại mình cái một.

Mình phải quán cái trí của mình khi chém những cái vô minh, dục ái giống như cái máy cắt đá, núi như cắt đậu hũ, khủng khiếp như vậy chứ không phải tu mà ngồi đơ đơ ra đó, tu như vậy một trăm năm thì vô minh, khát ái vẫn y nguyên. Thành ra mình phải để ý kĩ trong sự tu của mình, không đơn giản một chút nào, đừng nghĩ tu hành là dễ, ngược lại nó rất sâu sắc, phải nỗ lực cho đến chết cũng chưa chắc Nhập Lưu thánh quả thứ nhất, nếu mình không gặp được bậc chân nhân chánh kiến thì không dễ cho mình, mình tu một tỷ kiếp cũng chưa có hướng được Dự Lưu, chưa không có ý muốn rời xa, thoát ra. Vì không biết ngũ uẩn là gì thì làm sao thoát ra cho nên sự tu học của mình rất sâu sắc.

Chúng ta phải thấy rõ được mặt mũi, tên tuổi, tánh tình, bản chất của ngũ uẩn, mình tu mà mình không biết pháp, không biết đang có pháp gì trong tâm thì mình kêu nó đâu có nghe, nó cứ trơ trơ ra. Khi mình kêu đúng tên thì nó sẽ sợ, lúc đó mình sanh khởi lên dục tham "mày là dục tham nha, đi chỗ khác chơi nha" thì nó sợ, nó run cho nên giáo pháp của Đức Thế Tôn là thiết thực, hiện tại, có hiệu quả tức thời, không có thời gian, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu, chỉ là mình tu hay là không tu thôi. Cảm thọ sân khởi lên mình có biết không? Mình đang có cảm thọ bực bội, mình chỉ mặt nó liền "mày sân hả mày, tan biến khỏi tâm ta đi, an tịnh, lắng dịu đi", cho nên khi gọi đúng tên là nó sợ.

Chúng ta đang đi tung tăng, cười nói vui vẻ nhưng khi gặp hòa thượng là nghiêm chỉnh lại liền, đi chậm lại, cũng vậy, khi ngũ uẩn bị trí tuệ phát hiện là nó e dè, rụt rè, lo sợ. Ở đây mình học thánh trí ngũ uẩn để nhìn lại ngũ uẩn, khi mình nhìn bằng cái trí tuệ đó thì sắc; thọ; tưởng; hành; thức sẽ sợ, nó e dè, nó sanh khởi cái gì lên nó sẽ sợ, nó lo. Đức Phật ví dụ trong kinh con bò vào ăn lúa mạ bị người ta đánh một trận nên thân.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì không phóng dật. Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chắc cái lỗ mũi của con bò; sau khi nắm chắc cái lỗ mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh cho một trận nên thân, người ấy thả con bò đi.

Lần thứ hai, này các Tỳ-kheo...

Lần thứ ba, này các Tỳ-kheo, có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chặt cái mũi con bò; sau khi nắm chắc cái mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh con bò một trận nên thân, người ấy thả con bò đi. Như vậy, này các Tỳ-kheo, con bò ăn lúa mì ấy đi vào làng, hay đi vào rừng, hay khi đứng, hay ngồi, nó không xâm phạm lúa mì ấy, vì nó nhớ đến cảm xúc cái gậy lần trước. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi nào Tỳ-kheo có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ, thời nội tâm được an trú, tịnh chỉ, nhứt tâm, Thiền định" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Ðộc, IX. Đờn Tỳ Bà)

Con bò bị người ta đánh một trận nên thân, nó đau đớn nên sau này nó muốn vào ăn lúa là nó nhớ, nó sợ, không dám bước vô nữa, mình phải canh chừng cái tâm, rầy cái tâm, quở trách cái tâm, quất cái tâm mình thì mới được. Còn đằng này tu mà thích ngồi im ru, ai nói tới tên là giận, quải đãi bỏ đi "đừng ai nói tới tôi, đừng đụng tới tôi", tu như vậy thì một tỷ kiếp vẫn phàm phu, tu để nuôi cái bản ngã, kêu trình pháp thì ngồi đơ mặt ra, chỉ bấy nhiêu thôi đã không đủ tư cách để học rồi, không kính pháp thì đâu có kính Tăng, vậy thì làm sao thành tựu được pháp. Chỉ bấy nhiêu thôi là nhìn thấy cả tương lai, thấy cả đời tu học sẽ đi tới đâu, phải biết tự mình thương mình, tự mình cứu mình, xuất gia phải có được lợi ích, phải có được thành tích, phải thành công, phải thành tựu. Nếu không đời sống xuất gia của mình Đức Phật gọi là vô tích sự, đem đến tai họa cho mình, khổ đau dài lâu ở trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

IV. Trình pháp

Chúng ta làm bài tập nhận diện ngũ uẩn, nghe như vậy thì trong tâm vận hành như thế nào, những cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng vận thế nào?

Sư cô 1: Mô Phật, bạch thầy, nãy giờ con cũng lắng nghe thầy dạy về ngũ uẩn thì con cũng có nhận diện thấy có đôi lúc mình ngồi cũng thấy những hình bóng này, những hình bóng kia, có đôi lúc mình cảm thấy không được vui, có đôi lúc thì muốn vui là vui, muốn buồn là buồn, mình không điều khiển được bản thân của mình. Từ ngày con học lớp giảng sư thứ hai, thầy có dạy nhận diện ngũ uẩn con có nhận ra thấy mình dám tu tập để mình phát triển thân tâm, đi theo con đường của Đức Phật dạy giáo lý cho mình thì mình phải cố gắng để thiền quán, định lại tâm mình để mình thấy những cái vô minh của mình, còn chưa sáng tỏ được con đường mà Đức Phật chỉ cho mình đi.

Con nhận định thấy từ bắt đầu vô học một năm mấy nay, thầy có dạy cho con thì con cũng được nhận diện và thấy được những cái bản chất nó hiện lên trong tâm con, những cái đó đều vô thường. Khi con nhận được thấy pháp sanh diệt thì con mới ngộ nhận ra những cái đó trên cõi đời mình đang sống tạm bợ, trên cõi trần gian này nó là tạm thôi chứ nó không có cái gì là thức thực của mình hết. Con có đọc một cái câu trong kinh Tương Ưng Đức Phật có dạy mắt sắc trần, nó là cảm thọ tụ tập lại thành nó, có đôi lúc mình thấy nó vô thường cho nên cái đó con cảm nhận ra được cái lời đó của Đức Phật dạy thì con cũng quán ra được cái bản thân của con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư cô 2: Dạ kính bạch trên thầy giáo thô cùng toàn thể thầy cô, trong thời gian qua sự tu tập của con thì như con việc ở chùa, thường là con thấy tự biết việc mà con tranh thủ con chạy về đi trong ngày, nhưng tuần vừa qua thì thầy điện lên hỏi con có rảnh không về thì lúc đó cái tâm con cũng lo, không biết là có việc gì. tại vì con biết việc thì con chạy về chứ không có kêu mà hôm nay kêu con về thì tâm con cũng lo. Như nãy thầy nói là cái thân của mình nó bệnh nhưng mà cái tâm của mình nó không có bệnh, con biết là thầy con đang bệnh nhưng khi nhìn vô thời khóa tu tập của thầy thì mình không có biết là thầy đang bệnh hay gì. Lúc về chấp tác thì con làm con có nghĩ là đi đường về trường xa, tranh thủ về để làm phụ một phần nào công việc ở chùa.

Sư Phụ: Nãy giờ học buổi nay, trong cô có suy nghĩ gì, có cảm giác làm sao.

Sư cô 2: Dạ con có cảm giác là mình thấy là mình đang đi đúng đường, mình không có bị những cái ở ngoài chi phối mình nhiều. Nhiều khi có những việc như là mình bị cô lập nhưng mà mình không có nghĩ, mình không có chạy theo nó, nếu mình chạy theo nó, mình nương theo những cái đó thì mình thấy nó bình thường, mình không có còn là chính mình nữa.

Sư Phụ: Rồi cảm ơn sư cô.

Sư cô 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thầy giáo thọ qua buổi học hôm nay, con thấy được rằng từ trước đến giờ con vẫn còn cái chấp thủ rất là nặng, có nghĩa là mình là được tạo bởi năm uẩn nhưng mình cứ nghĩ là mình là thật cho nên có những lúc ai đó nói những lời khó nghe hay nói sự thật thì mình lại không chịu chấp nhận là mình là như vậy. Cho nên qua buổi học hôm nay thì con thấy con còn chấp rất là nặng vào cái ngũ uẩn của mình cho nên con sẽ cố gắng từng ngày để không còn chấp chặt vào năm uẩn này là thật nữa, để cho những lúc mình nghe được những lời nói có thể đó là lời nói thật, người ta nói thật với mình nhưng mà mình không chịu chấp nhận và mình sanh cái tâm buồn hay là giận dỗi với người đã nói những lời đó với mình cho nên con cần phải quán chiếu vào tự thân mình, nhìn lại cái tâm của mình nhiều hơn để ngày càng không còn chấp vào năm uẩn này nữa. Nam mô A-di-đà Phật.

Sư cô 4: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy giáo thọ trong buổi học hôm nay, khi mới bắt đầu vô buổi học lúc trình pháp đầu tiên thì lúc sau những cái ngày nghỉ học thì con đã quên quán chiếu nên khi thầy thấy thì con sợ thầy kêu, cái tâm con cảm thấy hoảng sợ nhưng mà sau thời gian học thầy đã dạy thì con nhớ lại những cái buổi học trước. Con suy nghĩ lại những cái việc từ trước con đã làm nên tâm con cảm thấy hoan hỉ hơn và con sẽ cố gắng thực hành những cái lời dạy của thầy. Dạ con xin hết.

Sư Phụ: Nãy giờ cô nhớ được cái gì trong bài ngày hôm nay?

Sư cô 4: Dạ thưa thầy là trong thân mình có bệnh nhưng khi mình quán chiếu thì mình sẽ không để ý tới cái thân của mình bệnh nữa, tất cả pháp này lấy cảm thọ để làm chỗ quy tụ và tất cả pháp thì lấy tác ý làm sanh khởi, luôn sống chân thật và tu đúng chánh pháp.

Sư Phụ: Bài học hôm nay nó quan trọng nhất là ở điểm nào thưa thầy?

Sư thầy 1: Mô Phật, mình có chánh kiến để mình phá được vô minh và khát ái, từ đó mình sẽ diệt được cái chấp thủ và cái hiện hữu của mình. Bởi vì chúng ta luôn luôn có chữ chấp thủ cái này của tôi, cái kia của tôi cho nên mình chìm trong vô minh và từ trong vô minh đó mình sẽ bị khát ái cái này, khát ái cái kia nên mình không thấy được những cái chính kiến đó, và mình sẽ đi lệch lạc con đường, mình sẽ bê trễ con đường tu tập của mình. Cũng giống như việc tụng kinh giống, hôm nay chúng ta khỏe chúng ta có thể tụng hai thời kinh và ngày mai chúng ta bệnh, chúng ta nghĩ là hôm qua chúng ta tụng kinh rồi thì bữa nay chúng ta có thể vắng để huynh đệ mình tụng kinh, do mình chấp thủ về sức khỏe của mình và cái thứ hai là do hôm qua mình đã tụng kinh thì hôm nay mình không tụng kinh vẫn được, bình thường. Cho nên mình chưa có chánh kiến là cái thân này là của tứ đại, một khi đã rã tan thì nó vẫn là vô thường, nó vẫn không có gì và hiện tại nó vẫn là không có gì, vì thế chúng ta bệnh hay không bệnh thì chúng ta vẫn phải tụng kinh. Dạ mô Phật

Sư Phụ: Hiện tại sao không có gì hở thầy? Hiện tại làm sao để thấy được không có gì?

Sư thầy 1: Hiện tại là chúng ta phải nhìn cái thân này nếu như chúng ta bệnh thì cũng là cái thân của chúng ta do tứ đại hợp thành, chúng ta không bệnh thì cũng do tứ đại hợp thành. Nếu chúng ta chấp vào cái thân bữa nay bệnh, tôi không làm việc, không tu tập thì chúng ta sẽ trễ nải, hoặc là nếu chúng ta chấp vào chúng ta bữa nay khỏe, chúng ta cố gắng tu tập, ngày mai bệnh thì chúng ta cũng phải tác ý hôm qua chúng ta tu tập được thì bữa nay cũng tu tập được.

Sư Phụ: Bây giờ không lên tụng kinh ở dưới giường có tu được không?

Sư thầy 1: Dạ nếu như mình chấp thủ vô cái thân mình thì có thể mình không tu, bởi vì mình bê trễ, bởi vì mình cho rằng hôm qua mình đã tu tập rồi, bữa nay mình có thể không tu tập.

Sư Phụ: Nằm ở trên giường có tu được không?

Sư thầy 1: Dạ được.

Sư Phụ: Tu sao?

Sư thầy 1: Mình có thể quán thân của mình, mình có thể niệm Phật, tụng kinh và trì chú gì đó, hoặc là mình có thể tác ý cái thân của mình bữa nay nó bệnh, ngày mai nó không bệnh thì nếu như mình chấp vào cái bệnh đó thì mình…

Sư Phụ: Cái thân mình bữa nay nó bệnh thì ngày mai nó chết, đi luôn chứ không có quay lại.

Sư thầy 1: Dạ

Sư thầy 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy và đại chúng, dạ hôm nay con nghe lời thầy dạy thì con có lắng nghe, nhưng một tuần vừa qua thì có một điều ấn tượng trong con, đó là thứ bảy có học môn nghiên cứu ở kinh A-hàm thì thầy có dạy nhân duyên chứng đắc của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Con suy nghĩ trong đầu Đức Phật chỉ dạy cho đệ tử đó là nấc thang đầu tiên và nếu mình bước lên bậc thang đầu tiên thì mình sẽ bước lên bậc thang thứ hai, nếu mình không bước lên bậc thang thứ hai thì làm sao bước lên bậc thang thứ ba. Sáng này con phụ trách dọn dẹp phòng thì con suy nghĩ cách ở sao cho nó đơn giản lại.

Sư thầy 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy và đại chúng. Dạ như con nãy giờ được học và nghe thầy giảng thì con ngồi con suy nghĩ về một vấn đề thực hành công việc hàng ngày của con. Hằng ngày của con là con nấu cơm cho đại chống dùng, bỗng một hôm thì cái tâm mình không hoan hỉ, con xuống bếp nấu cơm thì bữa đó hơi bị mặn hơn một xíu thôi, có một thầy nói "sao ông nấu cơm mặn thế", lúc đó lòng tức giận của con, con nóng lên con nói "tôi nấu sao thì ông ăn vậy đi, chứ có gì đâu mà ông phải như thế, ông phải nói tôi như vậy".

Lúc sau khi con lên uống chè thì con mới ngồi quán chiếu lại "Ủa sao mình nóng vậy để làm gì, mình tức vẫy để làm gì, mình nói những lời như vậy họ có buồn hay không". Sau đó con mới suy nghĩ lại, con xuống nói chuyện với thầy để cùng nhau hiểu hơn và mình cố gắng hòa chúng hơn để phát triển hơn. Con xin hết thưa thầy.

Sư Phụ: Rất tốt, rất là tốt. Mình nhìn ra được cái lỗi của mình, cái dở của mình, cái sai của mình, người tu chúng ta là cả một cuộc đời để đi tìm cái lỗi của mình, người tu là cả một cuộc đời để đi tìm cái lỗi của mình, người tu là cả một cuộc đời để đi quay lại tìm cái lỗi của chính mình. Sau khi thấy lỗi phải chặn lỗi, sửa lỗi, lần lần nó giảm lỗin nó bớt lỗi rồi đi đến chỗ hết lỗi là mình hoàn thiện, mình trong sạch.

Thầy nghĩ rằng nếu lúc đó là như thế nào để phù hợp, hiện tại bây giờ sau khi thầy đã nhìn ra được vấn đề, quán chiếu lại rồi thì nên nói cái gì cho phù hợp? Thầy cư xử như thế nào trong trường hợp đó cho phù hợp với người tu?

Sư thầy 3: Nam mô A-di-đà Phật, kính thưa thầy và đại chúng theo con thì mình nên suy nghĩ lại lời nói và hành động mình như vậy đã đúng chưa, thứ hai là khi suy nghĩ lại rồi thì mình phải gặp thầy đấy, mình có những lời sám hối trước thầy đấy và lắng nghe thầy đó có những cái tâm tư, tình cảm gì để nói với mình, để chia sẻ cho mình. Khi xong hết rồi thì đối với hai người thầy sẽ hiểu nhau hơn và sẽ có những lời động viên nhau cố gắng tu hơn nữa.

Sư Phụ: Nếu như cho quay trở lại thời điểm đó, khi thầy nghe nói câu góp ý tại sao nấu mặn vậy thì thầy sẽ nói lại như thế nào, cư xử lại như thế nào?

Sư thầy 3: Dạ theo con thì con sẽ chọn cách im lặng, sẽ không nói gì vì lúc đó dù trường hợp như thế nào mình còn là con người, khi nghe câu nói đó mình sẽ có những cái tức ở trong lòng, nhưng mà mình thề mình không nói ra sẽ hay hơn là mình nói ra. Mình nói ra sẽ mất lòng nhiều người, khi mình nóng lên lời nói mình nói không bao giờ chính xác cả nên theo con là con chọn im lặng, con sẽ không nói, thưa thầy.

Sư Phụ: Còn cách nào khác nữa không?

Sư thầy 3: Dạ con sẽ dùng lời nói im dịu hơn, con sẽ nói "thôi thầy cứ dùng đi, bữa sau con sẽ nấu ngon ngon hơn xíu".

Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay đi. Đó là tu đó chứ đâu có cái gì xa đâu, đó là cái tâm hiền thiện, là bậc hiền giả, hiền trí, là con Phật thật sự, tức là một là im lặng thì cũng tốt rồi, hơn cái nãy rồi, coi như được năm sáu điểm, còn điểm lớn hơn nữa là cái thành thật "hôm nay con thưa thầy là con hơi mệt trong người, không được khỏe cho nên cái tâm con hơi bị phiền não, con nấu hơi mặn. Con xin lỗi thầy, để lần sau sẽ điều chỉnh lại cho nó tốt hơn, xin lỗi thầy". Như vậy có đẹp không? Có hiền thiện, hiền trí không? Đó là cách cư xử của người tu, tu ngay cái hành động đó, tu ngay cảm thọ, suy nghĩ của mình chứ đâu có gì xa đâu, không phải đợi lên mở kinh ra tụng lúc đó mới tu mà ngay những lúc đó rất cần tu. Cái tu vận dụng đúng chính là trong lời nói, ngôn ngữ, hành động, suy nghĩ, ứng xử sinh hoạt trong thường nhật của mình, đó là cái tu thật sự của người tu.

Đừng nghĩ rằng lên chánh điện mới tu, mở kinh ra tụng mới tu, lên ngồi thiền mới tu, còn lúc nấu cơm thì không tu là không phải, tu ở trong thọ; tưởng; hành; thức, tu trong ngũ uẩn, trong cảm thọ, trong thân, miệng, ý. Mình tu tập để trở thành một bậc hiền trí.

Sư thầy 4: Dạ Thầy con có một cái nỗi lòng của con, con mong thầy chỉ dạy cho con. Lúc trước vô tình con đi đám tang thì con thích ăn đậu phộng, lúc đó trong người con không có tiền nhưng mà con mua năm chục ngàn tiền đậu phộng, con nói "cô lấy cho thầy đi rồi bữa nào đó cô qua chùa", con cũng nói địa chỉ chùa, tên chùa để cô qua nhưng mà sau đó thì không thấy. Sau ba tháng hạ và tới hiện tại bây giờ con cũng tìm mọi cách, con chỉ biết cô đó là có đi ở trong khu vực đó nhưng mà con tìm lại, tìm hết rồi, tìm mọi cách mà không thể nào tìm lại cô để trả lại năm chục ngàn đó. Trước khi hạ đến bây giờ là khoảng năm tháng thì cái tâm con khi chưa có trả được năm mươi ngàn đó cho cô thì tâm con nó vẫn còn ray rứt, còn nói chung là chưa trả được xong cái nợ con thấy điều đó nó làm nặng lòng con và con mong thầy chỉ dạy cho con có một cái phương pháp nào để con giải quyết cái vấn đề này. Nam mô A-di-đà Phật.

Sư Phụ: Thầy cố gắng tu tập trải tâm từ đến cô đó, trả bằng cái tâm thanh tịnh, bằng cái tâm từ bi, bằng cái tâm trí tuệ, bằng cái tâm tinh tấn của mình tu học thì thầy mới trả hết chứ thầy trả năm chục ngày cũng chưa có hết. Thầy đang nợ rất là nhiều, nợ cha, nợ mẹ, nợ ông, nợ bà, nợ thầy, nợ tổ, nợ Đàn-na tín thí, nợ khắp tất cả chúng sanh phải. Mình phải ôm ấp cái tư tưởng mình đang nợ, một món nợ lớn, sâu nặng để mình nỗ lực tu tập để trả nợ, dù thầy có gặp cô đó trả năm chục, năm trăm cũng không hết nợ vì tiền đó không phải tiền của thầy.

Cái món nợ của mình là cái món nợ của cả cha mẹ, thầy tổ, Đàn-na tín thí, tam bảo, tất cả chúng sinh. Hằng ngày phải tự tác ý lên mình là cái kẻ mang nợ rất là nặng, một ly nước mình uống là nợ nè, cái đèn mình học là nợ nè, cái lớp này mình để mình nghe pháp là nợ nè, cái chiếc xe mình chạy là nợ, cái áo mình mặc là nợ, cái chén cơm mình ăn là đợ, y mình đắp trên người là nợ. Mỗi một cái khoảnh khắc mình đều phải nhớ mình là kẻ nợ, nặng nhất của cha mẹ, của thầy tổ, của tất cả chúng sanh. Đem cái tâm niệm đó để tu tập thì thầy trả được cái nợ cho khắp tất cả chúng sanh chứ không phải chỉ cho cô bán đậu phộng.

Mình không tu đúng chánh pháp, không có thành tựu, mình mang nợ nặng nhất là cha mẹ của mình, ông bà, bổn phận làm con, bổn phần là một trò của mình. Bao nhiêu những người đã truyền hết tâm tư, trí tuệ cho mình, các bậc giáo thọ sư, thầy tổ của mình, không được cô phụ bốn cái ơn nặng nhất trên cuộc đời này đang đè trên đầu mình, đè trên vai mình, đè trên thân tâm của mình. Mình phải trả cái món nợ bằng sự tăng thượng giới đức, tăng thượng thiền định, tăng thượng trí tuệ, tăng thượng giải thoát và tri kiến giải thoát thì mới đền các mối nợ to lớn vĩ đại này. Đừng bao giờ quên mối nợ to lớn đó, mỗi phút, mỗi giây, bưng chén cơm lên phải nhớ, uống ly nước phải nhớ, mang dép vô phải nhớ, mặc cá áo vô phải nhớ, lên chiếc xe đi học phải nhớ, ngồi cái bàn phải nhớ.

Tất cả từng giây, từng phút, từng ý niệm phải tu tập tăng để hoàn thành, để trả nợ to lớn bốn ân đè nặng trên đầu, trên vai, trong thân tâm của mình. Đó là đề tài thiền quán, quên cái này là mình sống lơ lơ lửng lửng, ẩn dương nương Phật, qua ngày đoạn tháng, không có ý chí, không có quyết tâm, không có định hướng, không có một cái lý tưởng cao thượng để vượt lên. Cuộc đời của mình sẽ sa đọa, chiền đắm trong cái hưởng thụ, cái an nhàn trong chốn thiền môn thì đó là đại họa cho người xuất gia, là tai họa, là hiểm họa, là thảm họa cho mình về sau nếu mình quên mình là kẻ nợ.

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.