Tà Kiến & Chánh Kiến
Kinh Nikāya Giảng Giải
Tà Kiến & Chánh Kiến?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đối diện với bệnh tật PAGEREF _Toc182930749 \h 1
II. Tà kiến và Chánh Kiến PAGEREF _Toc182930750 \h 4
III. Trình pháp PAGEREF _Toc182930751 \h 11
IV. Người có Chánh Kiến PAGEREF _Toc182930752 \h 14
I. Đối diện với bệnh tật
Sư Phụ: Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, một chút nữa con đi công việc rồi cho nên mình nghe được chút nào hay chút nấy. Mỗi lần con xuống núi con không nghĩ sẽ trở về bình an, mỗi lần lên chia sẻ cho quý thầy cô và đại chúng thì con không nghĩ rằng chắc chắn sẽ có buổi chia sẻ tiếp theo, mỗi lần gặp gỡ con có suy nghĩ có thể đây là lần gặp gỡ cuối cùng, không có gì chắc chắn trong đời sống này, thật sự là không có gì chắc chắn, không có gì bền vững, không có gì đứng yên, tất cả luôn ở trong dòng biến động, biến diệt, biến hoại. Mình phải sự sanh diệt trong từng hoạt động, phải thấy sự sanh diệt trong từng cảm thọ, mình phải tập thấy được sự sanh diệt trong từng suy nghĩ, tập nhìn ra được sự sanh diệt trong các tưởng, những hình bóng trong tâm, tập nhìn ra được sự sanh diệt trong các thức, tập nhìn thấy sự sanh diệt trong các uẩn.
"Người luôn luôn chánh niệm,
Sự sanh diệt các uẩn,
Ðược hoan hỉ, hân hoan,
Chỉ bậc bất tử biết"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 374)
Tại sao người luôn luôn quán chiếu sự sanh diệt các uẩn lại được hoan hỉ, hân hoan? Thấy được sự sanh diệt trong các sắc, thấy được sự sanh diệt trong các thọ, thấy được sự sanh diệt trong các tưởng, thấy được sự sanh diệt trong các hành, thấy được sự sanh diệt trong các thức cũng như có một số vị trình pháp bất thình lình bệnh là xây xẩm mặt mày nhưng mình quán chiếu Thân Hành Niệm, mình thấy được sự vô thường của thân, ngay lúc thấy thì tâm mình hoan hỉ và mình càng tin sâu vào lời Đức Phật. Thầy Pháp Cần có gửi tin nhắn trình pháp khi thầy đang bệnh.
Kính bạch sư phụ, đêm qua cả đêm con bị sốt, cả người lạnh run, mũi thì chảy nước, con nằm lăn qua lăn lại toàn thân ê ẩm vật vã, nửa ngủ nửa thức tâm trí mê man. Con thấy thật là khổ vô cùng, tối qua con mở xem quán chiếu về các nạn nhân Covid ở Ấn Độ, những hình ảnh người chết chôn đầy ở bờ sông, mưa xuống trôi cát hiện ra nửa phần mộ.
Lộ ra thân thể tử thi chứ không phải mộ, bên Ấn Độ người chết vì Covid rất trầm trọng, người ta cứ vùi thây xuống chứ không xây được mồ mả gì cả cho nên khi mưa xuống thì cát bị tuôn chảy làm lộ ra những tử thi.
Lúc thân con lạnh run, con tác ý: Mắt này không phải là ta, tai này, mũi, lưỡi này không phải là ta, không phải của ta, tâm ý này không phải là ta, không phải của ta, cảm giác cũng không phải là ta, không phải của ta. Lúc ấy con suy nghĩ không biết sáng mai mình còn sống được hay không, thật sự có thân là có khổ, có bệnh đau là khổ và nếu không nhờ chánh pháp cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là ta thì sự khổ khi bệnh đến sẽ khủng khiếp đến thế nào.
Nếu không gặp chánh pháp rồi bám chặt vô sắc; thọ; tưởng; hành; thức này cho ta, là của ta thì đau khổ còn đến thế nào nữa?
Sáng nay con ngồi tại chỗ nghe pháp sư phụ giảng về khổ, khi nghe bài thiền quán thật sự rất lợi lạc cho con, tâm con thật lắng dịu hơn và niềm tin vào Phật, pháp, Tăng, tam bảo trong con tăng trưởng. Con xin tri ân sư phụ nhiều ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Những khi chúng ta đang bệnh là đang làm bài tập, đang thi còn hằng ngày là chúng ta đang học, đang thực hành, khi có hữu sự xảy ra dục, tham, ái sanh khởi, sân hận sanh khởi, bản ngã bị người ta chạm tới hoặc là đau bệnh, tai nạn thì lúc đó là làm bài tập, làm bài thi. Như vậy một hành giả Nikāya tu tập thật sự phải lấy bệnh khổ làm tiến đạo, phải lấy tai họa tăng thượng trong pháp, phải lấy những sự biến động, vô thường trên cuộc đời này làm động lực đẩy mình đi về phía trước, làm sự sách tấn. Sách là cây roi quất ngựa, tấn là con ngựa chạy lên. Chúng ta còn nhớ có mấy loại ngựa không? Hạng ngựa thứ nhất chỉ cần thấy bóng roi đã chạy, hạng ngựa thứ hai là chạm vào da là chạy, hạng ngựa thứ ba phải đánh mạnh lên thấy đau mới chạy, hạng ngựa thứ tư là đánh chảy máu mới chạy.
"- Có bốn loài ngựa hiền thiện thuần thục này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa liền bị dao động, kích thích nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục thứ nhất, có mặt, hiện hữu ở đời.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích. Nhưng khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục thứ hai, có mặt, hiện hữu ở đời.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích. Khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó không bị dao động, kích thích. Nhưng khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục thứ ba, có mặt, hiện hữu ở đời.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào lông, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương, bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục thứ tư, có mặt, hiện hữu ở đời.
Này các Tỳ-kheo, có bốn loài ngựa hiền thiện, thuần thục, có mặt, hiện hữu ở đời" (Tăng Chi Bộ, chương IV - Bốn Pháp, XII. Phẩm Kesi, (III). Gậy Thúc Ngựa)
Bốn hạng ngựa này được Đức Phật ví dụ cho bốn hạng người, hạng ngựa thứ nhất thấy bóng roi đã chạy ví dụ cho hạng người thấy bệnh tới đã sợ và lo tu tập. Hạng ngựa thứ hai roi chạm và da đau mới chạy thì ví dụ cho người nhìn thấy hàng xóm chết thì mới lo tu, hạng thứ tư phải thúc mạnh mới chạy là ví dụ cho người phải nhìn thấy người thân họ chết thì họ mới tu tập, hạng ngựa cuối cùng phải đánh cho chảy máu vào xương tủy thì ví dụ cho chính mình bị chết.
Chỉ cần nghe đâu đó có người gặp tai nạn, chết chóc, tai họa thì người này đã lo tu, đã chạy nhanh, bước lẹ trên Thánh đạo. Còn những hạng kế tiếp phải đợi đến trong gia đình cha mẹ, chị em, họ hàng mất thì mới phát tâm tu học hoặc xuất gia, cho đến sau cùng là tự thân mình bị bệnh, bị tai nạn, bị hoạn nạn thì có người thức tỉnh nhưng cũng có người bệnh thì bệnh, chết thì chết cũng không tỉnh ngộ. Cho nên trong bệnh khổ sẽ thấy được công phu tu tập của mình chứ không phải bệnh rồi hờn trách, oán trách, than thở, cái thấy sai đó sẽ đưa đến khổ đau mà cái thấy sai đó chính là tà kiến, là cái thấy lệch lạc, thấy không đúng sự thật nên làm cho mình khổ đau dài lâu.
II. Tà kiến và Chánh Kiến
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại, này các Tỳ-kheo, như tà kiến. Với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại, này các Tỳ-kheo, như chánh kiến. Với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, như tà kiến. Với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn diệt.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh bị đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, như chánh kiến. Với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh bị đoạn diệt." (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, Tà Kiến)
Ở đây chúng ta thấy hai phần là những pháp ác và những pháp thiện, một người thấy sai thì những pháp ác chưa sanh sẽ sanh và nếu đã sanh rồi thì nó sẽ tăng trưởng lớn mạnh trong cái thấy sai, cái thấy lệch lạc, cái thấy tà bại của người đó. Vế thứ hai là pháp thiện, đối với người thấy sai thì pháp thiện chưa sanh sẽ không sanh và nếu đã sanh rồi thì nó sẽ đi đến chấm dứt, đoạn diệt.
Ngược lại với người thấy đúng thì pháp thiện chưa sanh sẽ sanh khởi và nếu đã sanh khởi thì nó sẽ lớn mạnh, tăng trưởng quảng đại, còn pháp ác chưa sanh sẽ không sanh nhưng lỡ như các pháp ác có sanh sẽ bị chánh kiến tiêu diệt, đi đến đoạn diệt. Chúng ta cần nhớ hai vế là thấy đúng và thấy sai, một khi thấy đúng thì các pháp thiện sẽ tăng trưởng, phát triển, còn pháp ác sẽ bị tiêu diệt, đi đến chấm dứt, còn khi đã thấy sai thì lúc đó pháp ác sanh khởi lớn mạnh cho nên lúc đầu con nói là chánh kiến, tức là luôn thấy vô thường, thấy khổ, luôn luôn thấy sự sanh diệt.
"Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn...
Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, thấy như thế nào, tà kiến được đoạn trừ?
-- Tỳ-kheo do biết và thấy mắt là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ. Do biết và thấy nhãn thức là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; do biết và thấy cảm thọ ấy là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ... Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; do biết và thấy cảm thọ ấy là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ.
Này các Tỳ-kheo, do biết như vậy, do thấy như vậy nên tà kiến được đoạn trừ." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ , Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, I. Phẩm Duyệt Hỷ Tiêu Tận, X. Tà Kiến)
Như vậy hằng ngày chúng ta sống với chánh kiến nhiều hay sống với tà kiến nhiều? Nếu không được nghe kinh Nikāya, không được tác ý, quán chiếu, không được chỉ dạy, không được thực hành thì đều sống với tà kiến và tất cả chúng sanh đều sống với tà kiến. Người nào không cho rằng con mắt này là mình, là của mình? Người nào mà không cho gương mặt này là của tôi, bờ vai này là của tôi, đôi chân này là của tôi? Tất cả những cái cho đều là thấy sai, từ cái thấy sai mới đưa đến đau khổ. Người nào không cho căn nhà này là của tôi? Tiền này của tôi?
Con của tôi, cháu của tôi, vợ này của tôi, chồng này tôi của, người nào không cho như vậy trừ bậc Đa văn Thánh đệ tử, qua đây chúng ta mới thấy được giá trị tối tôn, tối thượng của Thánh pháp, gặp được Như Lai và đệ tử của Như Lai mới phá được tà kiến, mới diệt được vô minh, mới cắt được kiết sử, mới đoạn tận lậu hoặc, mới thành tựu chánh trí, mới khai mở chánh kiến, mới chấm dứt sự mù lòa đối với các sự thật. Vì thế nghe pháp và tư duy tác ý là tuyệt đối quan trọng trong sự tu học này, nó là điều quyết định trong sự tu học này.
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, tà kiến chưa sanh được sanh khởi, hay tà kiến đã sanh đi đến tăng trưởng, này các Tỳ-kheo, như không như lý tác ý. Do không như lý tác ý, này các Tỳ-kheo, tà kiến chưa sanh được sanh khởi, hay tà kiến đã sanh được tăng trưởng.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, chánh kiến chưa sanh được sanh khởi, hay chánh kiến đã sanh được tăng trưởng, này các Tỳ-kheo, như như lý tác ý. Do như lý tác ý, này các Tỳ-kheo, chánh kiến chưa sanh được sanh khởi, hay chánh kiến đã sanh được tăng trưởng" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, Tà Kiến)
Tại sao chánh kiến được lớn mạnh viên mãn? Đó là nhờ như lý tác ý, sự tác động tâm ý đúng như chân lý. Mình phải hiểu rằng chớ cho rằng con mắt này là tôi, là của tôi, chớ có suy nghĩ các sắc, chớ có suy nghĩ từ nơi con mắt, chớ có suy nghĩ ở trong con mắt, lỗ tai cũng vậy, chớ có suy nghĩ từ nơi lỗ tai, chớ có suy nghĩ ở trong lỗ tai, chớ có suy nghĩ ở trên lỗ tai. Đừng suy nghĩ con mắt này là tôi, là của tôi, hãy tác ý con mắt này không phải là tôi, không phải của tôi, hãy tác ý lỗ tai này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, hãy tác ý lỗ mũi này, cái lưỡi này, gương mặt này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, hãy thường xuyên nghiền ngẫm quán chiếu hình hài này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi.
Như vậy gọi là như lý tác ý, hãy tác ý, hãy quán chiếu, hãy suy nghĩ cảm thọ này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, nó là khổ, nó là vô thường, nó là duyên sanh, nó là biến hoại, hãy suy nghĩ tất cả tưởng, tất cả hành này, hãy suy nghĩ tất cả suy nghĩ không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Đây gọi là Thánh trí tế nhị thâm sâu mà chỉ có Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Giác mới truyền trao cho mình thôi. Hãy tác ý tất cả những sự suy nghĩ đó không phải là mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình, nó là sự vận hành của khổ.
Khi quăng cục xương xuống thì không còn hòa hợp, vui tươi, tung tăng trước kia nữa mà chỉ còn sự tranh giành, cấu xé nhau. Cục xương đó là khổ, con mắt nhìn thấy cục xương đó là khổ, sự tiếp xúc cục xương đó là khổ, sanh khởi những cảm giác sau khi tiếp xúc là tham, sân cũng là khổ, đó là cả một chuỗi vận hành của khổ và chúng ta cần phải thấy được như vậy thì gọi là thấy khổ thì mới nhàm chán, ly tham, giải thoát. Thấy được như vậy gọi là chánh kiến nhưng muốn được như vậy thì phải nhắc nhở bản thân liên tục vì mình thấy theo thông thường quen rồi, mình thấy cái tôi và của tôi trong vô lượng, vô biên, vô tỷ kiếp, mình đã huân tập cái thấy, cái nghĩ đó, cái suy tư đó, cái cảm thọ đó, tư tưởng đó. Bây giờ mình muốn lật ngược trở lại, lật đổ suy nghĩ ngu si, vô minh, tà kiến đó thì nghe pháp chỉ một lần thì có lật được liền không?
Đó là lý do cần phải nhắc nhở tác ý liên tục cho đến khi nào mình thật sự diệt tận được những suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng, nhận thức kia thì lúc đó mình mới Nhập Lưu vào dòng trí huệ thật sự của bậc Thánh, gọi là tri kiến bậc Thánh, còn nếu không tác ý thì làm sao thể nhập được cái thấy biết này? Cho dù mình vào được đại định không còn suy nghĩ gì nữa, lặng yên như tờ nhưng khi xả định ra vẫn tham, sân, si, vẫn bản ngã vì vô minh chưa phá, khát ái chưa cạn kiệt, tà kiến chưa diệt tận cho nên gốc rễ của nó cũng là điều đầu tiên để vào được dòng pháp này chính là thấy đúng, nếu không thành tựu cái thấy đúng thì tất cả những cái phía sau đều sai hết, nghĩ sai, nói sai, làm sai, sống sai, suy xét sai, tập trung tâm ý cũng sai cho nên đây là giai đoạn chúng ta tu tập chánh kiến.
Tu tập chánh kiến thì một là nghe người khác và hai là tác ý, đó là hai cái nhân để thành tựu chánh tri kiến. Thiền quán chính là tác ý, mỗi buổi nghe pháp chính là tác ý, đó là sự trợ duyên bên ngoài, là tiếng của người khác nói, còn tự lực mình phải nhắc nhở bản thân, tự mình phải suy nghĩ, tự mình phải tác động tâm ý, nếu mình yếu trong cái này thì nghe pháp thường xuyên để tẩy não vì cái não của mình là cái não thường, lạc, ngã, tịnh, nhận thức của mình là cho rằng cứ như vậy mãi, vui sướng, cái ta là quan trọng, sạch sẽ, đẹp đẽ, đó là cái thấy biết của mình, cảm thọ của mình, tư tưởng của mình nằm trong đó.
Còn bây giờ tẩy não từ cái thường còn đi vào vô thường là cả một công cuộc vĩ đại chứ không phải tu chỉ là lạy lục, cầu xin. Từ cái thường còn chuyển qua vô thường, tất cả thọ; tưởng; hành; thức phải chuyển qua vô thường thì mới vào dòng trí huệ được, từ cái vui phải chuyển qua để thấm cái khổ. Chúng ta đã học Khổ Thánh Trí không biết bao nhiêu bài nhưng khi trở ra chúng ta có thấy khổ nhiều không? Trở ra là mất đi cái khổ mà quay lại cái lạc, vui sướng và nếu không như lý tác ý nhắc nhở thì làm sao thành tựu được? Cái não là tôi, là bản ngã thì phải đổi thành vô ngã, không có cái tôi, đó là cả một công trình tác ý nhắc nhở thường xuyên và liên tục. Cái bản vị là sung sướng, vui sướng thì bây giờ đổi thành khổ, cái nhìn của nó là cái nhìn đẹp đẽ thì bây giờ nhìn ra xấu xí, bất tịnh, đó là công năng tác dụng của thiền quán, của nghe pháp.
Nếu không như lý tác ý thì tà kiến chưa sanh sẽ sanh và tà kiến đã sanh sẽ tăng trưởng, do như lý tác ý chánh kiến chưa sanh sẽ sanh khởi và chánh kiến đã có thì nó sẽ tăng trưởng lớn mạnh. Mình phải tác ý "cái đó là đồ giả, cái đó là khổ hỡi tâm mê ơi. Mày cứ chạy theo cái khổ đó để làm gì? Cái đó là bất tịnh, là bẩn thỉu, mày tham muốn cái đó để làm gì?" Mình cứ nhắc như vậy hoài, một từ nhắc mãi chán thì đổi sang từ mới, ví dụ này lấy hoài thì đổi sang ví dụ khác. Tất cả những gì mình học không có gì khác, chỉ khác ở cách truyền đạt, ngôn ngữ mà thôi, cả tạng kinh Nikāya đều cho mình thấy vô thường, khổ, vô ngã trong ngũ uẩn để nhàm chán, ly tham, từ bỏ, giải thoát. Đó là định lý, chỉ bao nhiêu đó mà phải tu suốt đời, nghe suốt đời, quán suốt đời. Trong một ngày 24 tiếng thì có được bao nhiêu tiếng mình thấy vô thường? Được mấy tiếng mình thấy khổ? Được mấy tiếng mình thấy vô ngã? Được mấy tiếng mình thấy bất tịnh?
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, này các Tỳ-kheo, như tà kiến. Các chúng sanh có đầy đủ tà kiến, này các Tỳ-kheo, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi lành, cõi Trời, cõi đời này, này các Tỳ-kheo, như chánh kiến. Các chúng sanh có đầy đủ chánh kiến, này các Tỳ-kheo, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi lành, cõi Trời, cõi đời này.
Ðối với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo tà kiến, phàm mọi khẩu hành... phàm mọi ý hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo tà kiến, phàm có tư tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước nguyện nào, và phàm có các hành nào, tất cả pháp ấy đưa đến không khả lạc, không khả hỷ, không khả ý, đưa đến bất hạnh, đau khổ. Vì cớ sao? Vì tánh ác của tà kiến, này các Tỳ-kheo" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, Tà Kiến)
Một người nhìn thấy sai thì tất cả mọi suy tư, nghĩ tưởng, tất cả mọi toan tính, dự định, mong muốn, ước nguyện của họ đều đưa đến bất hạnh, khổ đau. Mình nghĩ người giàu nhất trên hành tinh này rất sung sướng thì cái nghĩ đó là tà kiến, mình nhìn chỉ thấy tiền chứ mình không biết người đó vẫn còn tham, sân, si, bản ngã, còn khát ái, còn vô minh hoặc là bất cứ một người quyền uy, chức tước nào hay một kẻ ăn mày mà hễ còn cái thấy sai, tà kiến thì tất cả ngôn ngữ, suy nghĩ, hành vi, tất cả toan tính, hi vọng đều đưa đến không vui, không hoan hỉ, không vừa ý, đưa đến bất hạnh và đau khổ vì tính chất xấu ác của cái thấy sai đó.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, hột giống cây nimba, hay hột giống cây Kosàtaki (một loại cây leo), hay hột giống cây mướp đắng, được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy đều đưa đến tánh đắng, tánh cay, tánh không lạc của nó. Vì cớ sao? Vì tánh ác của hột giống, này các Tỳ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành... Vì tánh ác của tà kiến, này các Tỳ-kheo" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, Tà Kiến)
Cây khổ qua (mướp đắng), rau đắng, cây ớt có lấy cái gì từ đất, có lấy cái gì từ nước lên cũng cho cay đắng, cũng vậy, những gì suy nghĩ, nói năng, hành động, suy tư, ước nguyện đều từ nơi tà kiến cho nên tất cả dự toán, dự định, kế hoạch đều là kế hoạch của khổ, kế hoạch của bất an, của tại họa, của vô thường vì tính chất của tà kiến cũng như tính cay trong trái ới hay tính đắng trong khổ qua cho nên có tính toán cái gì, suy tư cái gì, quyết định cái gì thì cũng ở trong đau khổ và bất hạnh.
Con thấy thương mình, thương người, thương hữu tình chúng sanh vì một khi đã thấy sai thì tất cả suy nghĩ, lời nói, hành động đi theo sau đó là bất hạnh và khổ đau. Cái này bao trùm trái đất, một khi không nhìn thấy được ngũ uẩn, một khi không nhìn thấy được tham, sân, si, vô minh, bản ngã, một khi không nhìn thấy được lậu hoặc, tâm mê thì tất cả dự định, dự án, quyết định, ước mơ đều ở trong nước mắt, thành công của mình là thành công trên đóa hoa phù du sớm nở tối tàn và sự xây dựng của mình là sự xây dựng lâu đài trên bãi cát, chỉ đem lại bất hạnh, chỉ đem lại khổ đau, chỉ đem lại tan nát, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, chỉ đem lại những dòng nước mắt tận cùng thương đau. Thấm thía lắm quý vị! Thâm sâu lắm quý vị! Tối thượng lắm quý vị vì được nghe những lời này.
III. Trình pháp
Chú Phật tử: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư cô và quý đạo tràng Nikāya hiền dịu ở chùa Linh Quy Pháp Ấn. Con xin trình pháp trong thời gian qua, ngũ uẩn con hiện tại đang đứng đây, sắc uẩn con đang thu nhận, đang nghe những lời sư phụ giảng lại những lời Phật để lại cho chúng con nghe. Con cảm nhận cuộc đời thật đau khổ, vô cùng đau khổ, khi con thấy được pháp của Đức Phật để lại thì đời con đã sắp hết, con rất tiếc khi con hiểu được, con nghe được thì đã muộn đối với con nhưng con quyết định về chùa Linh Quy Pháp Ấn, còn hơi thở cuối cùng con cũng tu, con cũng sửa bỏ, từ từ con cũng sửa bỏ, lần lần rồi cuộc đời con cũng phải ra đi. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Dòng đời đưa đẩy con, lôi kéo con làm cho con khổ. Con biết được cái khổ, con thấy được cái khổ hiện tại, con biết được sắc uẩn này, thân tứ đại con đứng đây mà con không buông bỏ, con hỏi "tại sao không chịu buông bỏ", vì tham, sân, si, vì sự hơn thua, tranh đấu lôi cuốn nên con chưa buông bỏ được, con rất đau khổ. Con nguyện một duyên lành nhiều đời nhiều kiếp để lại cho con một chút nào đó thì con sẽ về đây xin thầy cho con xuống tóc để con từ bỏ tất cả, con sẽ bỏ tất cả vì nó không phải là thật, vì nó lừa gạt con, vì nó lừa dối con, nó quyến rũ con đi vào con đường đau khổ, thật sự rất đau khổ.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin thầy, quý chư Tăng, chư Ni và quý Phật tử trong đạo tràng Nikāya tại chùa Linh Quy Pháp Ấn hoan hỉ cho con vì những gì con nói lên đều bằng tấm lòng chân thành, bằng trí tuệ mới có được. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Phải thấm thía thật nhiều cái khổ này, phải thấm đẫm thật nhiều cái khổ đau này, không bao giờ cho phép mình quên cái khổ này, phải nhìn cho xuyên thủng được bản chất bất toại nguyện, bản chất dối trá, vô tình vô nghĩa của đời sống này, phải nhìn cho triệt để, phải nhìn cho thấu đáo, phải nhìn cho tận tường để đừng bị nó lừa dối, đừng bị nó gạt gẫm, phải nhìn cho trọn vẹn tất cả những khía cạnh, góc độ của cái khổ đang vây hãm, bao trùm chúng ta.
Tất cả những tâm sự của chúng ta là những dòng nước mắt, tất cả đều làm bằng nước mắt trừ khi nào chúng ta thành tựu được cái thấy đúng trong giáo pháp này, nếu không chỉ là dã tràng xe cát biển đông, dù cho có làm gì, nói gì, nghĩ gì, tính toán gì cũng chỉ đem lại đau khổ, bất an, tất cả chỉ đem lại lo lắng, khổ sầu và kết cuộc của nó là nước mắt, là sầu, bi, khổ, ưu, não. Chúng ta hãy nhìn thật sâu để thấm thía những cảm thọ thần thánh thiêng liêng này, những cảm thọ hy hữu hiếm có trong dòng luân hồi vô lượng kiếp quý vị chưa từng nếm, chưa từng trải, chưa từng sanh khởi được.
Hãy khắc ghi, hãy giữ gìn, hãy đem nó vào tim vào tủy mình, đem nó vào trong cảm thọ sâu thẳm nhất của mình, hãy tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển cái khổ này và đừng bao giờ quên đời sống này là tai họa, đời sống này là bất an, đời sống này đầy hiểm nguy, đầy bệnh khổ. Hiện nay trên toàn cầu xảy ra những việc chưa từng có, biến đổi khí hậu nhiệt độ tăng cao 40-50 độ, dịch bệnh, chiến tranh, những cái tâm ác độc, hung bạo của con người, tất cả càng ngày càng lộ rõ ra tính ác, tính khổ của nó, càng bày ra tính bất an, vô thường, hiểm họa của nó, vậy mà chúng ta còn chưa thức tỉnh thì đợi đến bao giờ mới tỉnh mộng? Đến bao giờ mình mới tỉnh thức? Hãy mạnh mẽ tiến lên, mạnh mẽ vượt ra, vượt thoát.
Cô Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch quý thầy, con kính bạch quý sư cô cùng toàn thể quý Phật tử có mặt hôm nay. Con đến đây được ba ngày, sau khi con nghe pháp nào của thầy cũng đều thấm đẫm nước mắt, mặc dù con không nói ra được những suy nghĩ của con dù nghe rất nhiều bài pháp, từ khi con 18 tuổi con đã được quy y. Do nhân duyên đau khổ của gia đình là dì con mất nên cô dắt con đi quy y, lúc đó chưa biết gì về Phật pháp, sau khi con đi học ra trường thì từ 18 tuổi con đã đi làm cho đến bây giờ, con chưa được nghỉ ngày nào cả. Con nhớ lại những ngày bệnh mà con không dám nằm bệnh, phải đi làm để kiếm tiền dù đời sống con không khổ, con được phước báo là biết mình phải vất vả nhưng tâm không khổ vì con được biết Phật pháp nhưng lúc đó con không hiểu gì cả.
Khi con làm vi tính thì con thường xuyên nghe pháp, lúc đó rất khó chứ không dễ như bây giờ. Con nhớ lại năm 89-90 mới có vi tính thì con đã được học, giờ nghỉ con không nghe nhạc như bạn bè mà con mở pháp rất nhỏ để nghe nhưng nghe mà không hiểu, con chỉ biết là bớt khổ. Khi con khổ là con nghe, con cảm nhận được sự nhẹ nhàng, cho đến giờ cũng như bác Phật tử phát biểu thì con biết là giả nhưng vì trách nhiệm, vì bản thân, vì lòng từ bi mà con nghĩ theo bản thân con là con phải lo cho con của con, lo cho gia đình con.
Con cũng hứa với lòng là sau khi sắp xếp ổn thỏa việc gia đình thì con muốn một lần lên đây quỳ lạy dưới chân thầy, quỳ lạy dưới chân quý thầy, quý cô bảo bọc cho con được học Phật pháp, học được giải thoát cho cuộc đời. Nếu con theo gia đình dù con làm công việc rất lương thiện nhưng sau khi nghe pháp của thầy thì con không thấy gì là lương thiện, con cũng không thấy gì là bền vững, con biết nó rất là giả.
Khi con nghe bác phát biểu giống y như tâm trí con suy nghĩ mấy ngày nay, con cũng nói với mấy chị là sau khi về sẽ sắp xếp công việc, con cái rồi con lên đây sớm nhưng con nghe thầy nói sau khi xuống núi thì chưa chắc còn quay lại hay đây là lần gặp cuối cùng. Nếu con còn phước lành còn được thở, còn được sống thì xin thầy, các quý thầy và Phật tử ở đây dang tay cho con được quay về nương tựa với chánh pháp mà con chưa từng gặp.
Dù thời gian con tiếp xúc pháp rất dài nhưng con chưa từng hiểu, con nghe nhiều dòng kinh nói về khổ nhưng con không hiểu thấm thía như lời thầy giảng, từng lời của thầy thấm trong tim con và khi con được những lời kinh Phật dạy con thấy thật là đúng. Ngày xưa con nghe Phật nói có rất nhiều vô lượng chúng sanh thì đến bây giờ con mới hiểu câu đó là đúng, mặc dù thời Đức Phật không có kính hiển vị gì cả mà Phật dùng huệ nhãn nên thấy được, hồi đó cũng không có vi tính như bây giờ mà Phật nói vũ trụ này nhỏ như hạt cải thì bây giờ con mới biết được đó là USB hoặc là thẻ nhớ rất nhỏ nhưng chứa được toàn cầu cho nên con thấu những lời Đức Phật dạy rất thấm thiết nhưng con không có thời gian học và cũng không đủ trí tuệ để học. Con nhờ thầy dạy kinh pháp thì con mới hiểu được, con xin hết ạ.
Cô Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Trước giờ con chưa đi theo học giáo lý này, con chỉ biết làm từ thiện và làm công quả ở chùa. Ba ngày nay con ở đây học theo thầy con mới thấy, mới hiểu được cái gì là khổ, cái gì là sướng. Con xin thầy chỉ dạy cho con với các cô để con học thêm. Con xin hết ạ.
IV. Người có Chánh Kiến
Sư Phụ:
"Ðối với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo chánh kiến, phàm mọi khẩu hành... phàm mọi ý hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo chánh kiến, phàm có tư tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước nguyện nào, và phàm có các hành nào, tất cả pháp ấy đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, đưa đến hạnh phúc, an lạc. Vì cớ sao? Vì tánh hiền thiện của chánh kiến, này các Tỳ-kheo.
Ví như, này các Tỳ-kheo, hột giống cây mía, hay hột giống cây lúa, hay hột giống cây nho được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy đều đưa đến tánh ngọt, thích ý, tánh ngon ngọt của nó. Vì cớ sao? Vì tánh hiền thiện của hột giống.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành... Vì tánh hiền thiện của chánh kiến, này các Tỳ-kheo" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, Tà Kiến)
Người có chánh kiến, người thành tựu được cái thấy đúng trong pháp thì có suy nghĩ gì, nói năng gì, hành động gì, mong ước gì, quyết định gì thì tất cả các pháp đó đều đưa đến hạnh phúc, đưa đến an lạc, đưa đến bình yên cho nên chúng ta cố gắng tu tập chánh kiến, đừng đi theo tà kiến. Tà kiến là cái thấy lệch, cái thấy sai, cái thấy trật, tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng đều thuộc về tà kiến và những lời dạy của Đức Phật trong Thánh trí tuệ trong tạng kinh Nikāya là chánh kiến. Mình nghe, mình học, mình tác ý, mình quán chiếu, nghiền ngẫm để mình thay đổi cái suy tư lệch lạc, cái nhìn sai lầm của mình, như vậy sẽ dẫn đến hạnh phúc, lợi ích, an lạc cho chúng ta.
Vì lợi ích cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng từ mẫn cho chư thiên và loài người mà bậc Chánh Đẳng Giác đã xuất hiện nói ra Thánh pháp này và chúng ta ngày hôm nay có phước báo, công đức được nghe nên chúng ta cần cố gắng tu tập, nhận thức, tác ý, tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển quảng đại cái thấy đúng này để đưa mình ra khỏi bất hạnh, khổ đau, để đưa mình đến an lạc, hạnh phúc.
Mong tất cả thân an
Mong tất cả tâm lạc
Thân an và tâm lạc
Tâm chân thành cầu mong
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.
Tà Kiến & Chánh Kiến?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đối diện với bệnh tật PAGEREF _Toc182930749 \h 1
II. Tà kiến và Chánh Kiến PAGEREF _Toc182930750 \h 4
III. Trình pháp PAGEREF _Toc182930751 \h 11
IV. Người có Chánh Kiến PAGEREF _Toc182930752 \h 14
I. Đối diện với bệnh tật
Sư Phụ: Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, một chút nữa con đi công việc rồi cho nên mình nghe được chút nào hay chút nấy. Mỗi lần con xuống núi con không nghĩ sẽ trở về bình an, mỗi lần lên chia sẻ cho quý thầy cô và đại chúng thì con không nghĩ rằng chắc chắn sẽ có buổi chia sẻ tiếp theo, mỗi lần gặp gỡ con có suy nghĩ có thể đây là lần gặp gỡ cuối cùng, không có gì chắc chắn trong đời sống này, thật sự là không có gì chắc chắn, không có gì bền vững, không có gì đứng yên, tất cả luôn ở trong dòng biến động, biến diệt, biến hoại. Mình phải sự sanh diệt trong từng hoạt động, phải thấy sự sanh diệt trong từng cảm thọ, mình phải tập thấy được sự sanh diệt trong từng suy nghĩ, tập nhìn ra được sự sanh diệt trong các tưởng, những hình bóng trong tâm, tập nhìn ra được sự sanh diệt trong các thức, tập nhìn thấy sự sanh diệt trong các uẩn.
"Người luôn luôn chánh niệm,
Sự sanh diệt các uẩn,
Ðược hoan hỉ, hân hoan,
Chỉ bậc bất tử biết"
(Kinh Pháp Cú 25 – Phẩm Tỳ-kheo, kệ 374)
Tại sao người luôn luôn quán chiếu sự sanh diệt các uẩn lại được hoan hỉ, hân hoan? Thấy được sự sanh diệt trong các sắc, thấy được sự sanh diệt trong các thọ, thấy được sự sanh diệt trong các tưởng, thấy được sự sanh diệt trong các hành, thấy được sự sanh diệt trong các thức cũng như có một số vị trình pháp bất thình lình bệnh là xây xẩm mặt mày nhưng mình quán chiếu Thân Hành Niệm, mình thấy được sự vô thường của thân, ngay lúc thấy thì tâm mình hoan hỉ và mình càng tin sâu vào lời Đức Phật. Thầy Pháp Cần có gửi tin nhắn trình pháp khi thầy đang bệnh.
Kính bạch sư phụ, đêm qua cả đêm con bị sốt, cả người lạnh run, mũi thì chảy nước, con nằm lăn qua lăn lại toàn thân ê ẩm vật vã, nửa ngủ nửa thức tâm trí mê man. Con thấy thật là khổ vô cùng, tối qua con mở xem quán chiếu về các nạn nhân Covid ở Ấn Độ, những hình ảnh người chết chôn đầy ở bờ sông, mưa xuống trôi cát hiện ra nửa phần mộ.
Lộ ra thân thể tử thi chứ không phải mộ, bên Ấn Độ người chết vì Covid rất trầm trọng, người ta cứ vùi thây xuống chứ không xây được mồ mả gì cả cho nên khi mưa xuống thì cát bị tuôn chảy làm lộ ra những tử thi.
Lúc thân con lạnh run, con tác ý: Mắt này không phải là ta, tai này, mũi, lưỡi này không phải là ta, không phải của ta, tâm ý này không phải là ta, không phải của ta, cảm giác cũng không phải là ta, không phải của ta. Lúc ấy con suy nghĩ không biết sáng mai mình còn sống được hay không, thật sự có thân là có khổ, có bệnh đau là khổ và nếu không nhờ chánh pháp cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là ta thì sự khổ khi bệnh đến sẽ khủng khiếp đến thế nào.
Nếu không gặp chánh pháp rồi bám chặt vô sắc; thọ; tưởng; hành; thức này cho ta, là của ta thì đau khổ còn đến thế nào nữa?
Sáng nay con ngồi tại chỗ nghe pháp sư phụ giảng về khổ, khi nghe bài thiền quán thật sự rất lợi lạc cho con, tâm con thật lắng dịu hơn và niềm tin vào Phật, pháp, Tăng, tam bảo trong con tăng trưởng. Con xin tri ân sư phụ nhiều ạ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Những khi chúng ta đang bệnh là đang làm bài tập, đang thi còn hằng ngày là chúng ta đang học, đang thực hành, khi có hữu sự xảy ra dục, tham, ái sanh khởi, sân hận sanh khởi, bản ngã bị người ta chạm tới hoặc là đau bệnh, tai nạn thì lúc đó là làm bài tập, làm bài thi. Như vậy một hành giả Nikāya tu tập thật sự phải lấy bệnh khổ làm tiến đạo, phải lấy tai họa tăng thượng trong pháp, phải lấy những sự biến động, vô thường trên cuộc đời này làm động lực đẩy mình đi về phía trước, làm sự sách tấn. Sách là cây roi quất ngựa, tấn là con ngựa chạy lên. Chúng ta còn nhớ có mấy loại ngựa không? Hạng ngựa thứ nhất chỉ cần thấy bóng roi đã chạy, hạng ngựa thứ hai là chạm vào da là chạy, hạng ngựa thứ ba phải đánh mạnh lên thấy đau mới chạy, hạng ngựa thứ tư là đánh chảy máu mới chạy.
"- Có bốn loài ngựa hiền thiện thuần thục này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa liền bị dao động, kích thích nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loại ngựa hiền thiện thuần thục thứ nhất, có mặt, hiện hữu ở đời.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích. Nhưng khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì, và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục thứ hai, có mặt, hiện hữu ở đời.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích. Khi bị gậy thúc ngựa đâm vào lông, nó không bị dao động, kích thích. Nhưng khi bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, liền bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện thuần thục thứ ba, có mặt, hiện hữu ở đời.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, ở đây có loài ngựa hiền thiện thuần thục, thấy bóng cây gậy thúc ngựa, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào lông, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào thịt, không bị dao động, kích thích; bị cây gậy thúc ngựa đâm vào xương, bị dao động, kích thích, nghĩ rằng: 'Hôm nay, người đánh xe điều ngự ngựa sẽ bảo ta làm gì và ta đáp ứng thế nào?' Như vậy, này các Tỳ-kheo, ở đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục. Này các Tỳ-kheo, đây là loài ngựa hiền thiện, thuần thục thứ tư, có mặt, hiện hữu ở đời.
Này các Tỳ-kheo, có bốn loài ngựa hiền thiện, thuần thục, có mặt, hiện hữu ở đời" (Tăng Chi Bộ, chương IV - Bốn Pháp, XII. Phẩm Kesi, (III). Gậy Thúc Ngựa)
Bốn hạng ngựa này được Đức Phật ví dụ cho bốn hạng người, hạng ngựa thứ nhất thấy bóng roi đã chạy ví dụ cho hạng người thấy bệnh tới đã sợ và lo tu tập. Hạng ngựa thứ hai roi chạm và da đau mới chạy thì ví dụ cho người nhìn thấy hàng xóm chết thì mới lo tu, hạng thứ tư phải thúc mạnh mới chạy là ví dụ cho người phải nhìn thấy người thân họ chết thì họ mới tu tập, hạng ngựa cuối cùng phải đánh cho chảy máu vào xương tủy thì ví dụ cho chính mình bị chết.
Chỉ cần nghe đâu đó có người gặp tai nạn, chết chóc, tai họa thì người này đã lo tu, đã chạy nhanh, bước lẹ trên Thánh đạo. Còn những hạng kế tiếp phải đợi đến trong gia đình cha mẹ, chị em, họ hàng mất thì mới phát tâm tu học hoặc xuất gia, cho đến sau cùng là tự thân mình bị bệnh, bị tai nạn, bị hoạn nạn thì có người thức tỉnh nhưng cũng có người bệnh thì bệnh, chết thì chết cũng không tỉnh ngộ. Cho nên trong bệnh khổ sẽ thấy được công phu tu tập của mình chứ không phải bệnh rồi hờn trách, oán trách, than thở, cái thấy sai đó sẽ đưa đến khổ đau mà cái thấy sai đó chính là tà kiến, là cái thấy lệch lạc, thấy không đúng sự thật nên làm cho mình khổ đau dài lâu.
II. Tà kiến và Chánh Kiến
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại, này các Tỳ-kheo, như tà kiến. Với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại, này các Tỳ-kheo, như chánh kiến. Với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp thiện chưa sanh được sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh đi đến tăng trưởng, quảng đại.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, như tà kiến. Với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp thiện đã sanh bị đoạn diệt.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh bị đoạn diệt, này các Tỳ-kheo, như chánh kiến. Với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, các pháp bất thiện chưa sanh không sanh khởi, và các pháp bất thiện đã sanh bị đoạn diệt." (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, Tà Kiến)
Ở đây chúng ta thấy hai phần là những pháp ác và những pháp thiện, một người thấy sai thì những pháp ác chưa sanh sẽ sanh và nếu đã sanh rồi thì nó sẽ tăng trưởng lớn mạnh trong cái thấy sai, cái thấy lệch lạc, cái thấy tà bại của người đó. Vế thứ hai là pháp thiện, đối với người thấy sai thì pháp thiện chưa sanh sẽ không sanh và nếu đã sanh rồi thì nó sẽ đi đến chấm dứt, đoạn diệt.
Ngược lại với người thấy đúng thì pháp thiện chưa sanh sẽ sanh khởi và nếu đã sanh khởi thì nó sẽ lớn mạnh, tăng trưởng quảng đại, còn pháp ác chưa sanh sẽ không sanh nhưng lỡ như các pháp ác có sanh sẽ bị chánh kiến tiêu diệt, đi đến đoạn diệt. Chúng ta cần nhớ hai vế là thấy đúng và thấy sai, một khi thấy đúng thì các pháp thiện sẽ tăng trưởng, phát triển, còn pháp ác sẽ bị tiêu diệt, đi đến chấm dứt, còn khi đã thấy sai thì lúc đó pháp ác sanh khởi lớn mạnh cho nên lúc đầu con nói là chánh kiến, tức là luôn thấy vô thường, thấy khổ, luôn luôn thấy sự sanh diệt.
"Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn...
Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, thấy như thế nào, tà kiến được đoạn trừ?
-- Tỳ-kheo do biết và thấy mắt là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ. Do biết và thấy nhãn thức là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ. Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; do biết và thấy cảm thọ ấy là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ... Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; do biết và thấy cảm thọ ấy là vô thường nên tà kiến được đoạn trừ.
Này các Tỳ-kheo, do biết như vậy, do thấy như vậy nên tà kiến được đoạn trừ." (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ , Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (f), Phần Bốn - Năm Mươi Kinh Thứ Tư, I. Phẩm Duyệt Hỷ Tiêu Tận, X. Tà Kiến)
Như vậy hằng ngày chúng ta sống với chánh kiến nhiều hay sống với tà kiến nhiều? Nếu không được nghe kinh Nikāya, không được tác ý, quán chiếu, không được chỉ dạy, không được thực hành thì đều sống với tà kiến và tất cả chúng sanh đều sống với tà kiến. Người nào không cho rằng con mắt này là mình, là của mình? Người nào mà không cho gương mặt này là của tôi, bờ vai này là của tôi, đôi chân này là của tôi? Tất cả những cái cho đều là thấy sai, từ cái thấy sai mới đưa đến đau khổ. Người nào không cho căn nhà này là của tôi? Tiền này của tôi?
Con của tôi, cháu của tôi, vợ này của tôi, chồng này tôi của, người nào không cho như vậy trừ bậc Đa văn Thánh đệ tử, qua đây chúng ta mới thấy được giá trị tối tôn, tối thượng của Thánh pháp, gặp được Như Lai và đệ tử của Như Lai mới phá được tà kiến, mới diệt được vô minh, mới cắt được kiết sử, mới đoạn tận lậu hoặc, mới thành tựu chánh trí, mới khai mở chánh kiến, mới chấm dứt sự mù lòa đối với các sự thật. Vì thế nghe pháp và tư duy tác ý là tuyệt đối quan trọng trong sự tu học này, nó là điều quyết định trong sự tu học này.
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, tà kiến chưa sanh được sanh khởi, hay tà kiến đã sanh đi đến tăng trưởng, này các Tỳ-kheo, như không như lý tác ý. Do không như lý tác ý, này các Tỳ-kheo, tà kiến chưa sanh được sanh khởi, hay tà kiến đã sanh được tăng trưởng.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, chánh kiến chưa sanh được sanh khởi, hay chánh kiến đã sanh được tăng trưởng, này các Tỳ-kheo, như như lý tác ý. Do như lý tác ý, này các Tỳ-kheo, chánh kiến chưa sanh được sanh khởi, hay chánh kiến đã sanh được tăng trưởng" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, Tà Kiến)
Tại sao chánh kiến được lớn mạnh viên mãn? Đó là nhờ như lý tác ý, sự tác động tâm ý đúng như chân lý. Mình phải hiểu rằng chớ cho rằng con mắt này là tôi, là của tôi, chớ có suy nghĩ các sắc, chớ có suy nghĩ từ nơi con mắt, chớ có suy nghĩ ở trong con mắt, lỗ tai cũng vậy, chớ có suy nghĩ từ nơi lỗ tai, chớ có suy nghĩ ở trong lỗ tai, chớ có suy nghĩ ở trên lỗ tai. Đừng suy nghĩ con mắt này là tôi, là của tôi, hãy tác ý con mắt này không phải là tôi, không phải của tôi, hãy tác ý lỗ tai này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, hãy tác ý lỗ mũi này, cái lưỡi này, gương mặt này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, hãy thường xuyên nghiền ngẫm quán chiếu hình hài này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi.
Như vậy gọi là như lý tác ý, hãy tác ý, hãy quán chiếu, hãy suy nghĩ cảm thọ này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, nó là khổ, nó là vô thường, nó là duyên sanh, nó là biến hoại, hãy suy nghĩ tất cả tưởng, tất cả hành này, hãy suy nghĩ tất cả suy nghĩ không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi. Đây gọi là Thánh trí tế nhị thâm sâu mà chỉ có Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Giác mới truyền trao cho mình thôi. Hãy tác ý tất cả những sự suy nghĩ đó không phải là mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình, nó là sự vận hành của khổ.
Khi quăng cục xương xuống thì không còn hòa hợp, vui tươi, tung tăng trước kia nữa mà chỉ còn sự tranh giành, cấu xé nhau. Cục xương đó là khổ, con mắt nhìn thấy cục xương đó là khổ, sự tiếp xúc cục xương đó là khổ, sanh khởi những cảm giác sau khi tiếp xúc là tham, sân cũng là khổ, đó là cả một chuỗi vận hành của khổ và chúng ta cần phải thấy được như vậy thì gọi là thấy khổ thì mới nhàm chán, ly tham, giải thoát. Thấy được như vậy gọi là chánh kiến nhưng muốn được như vậy thì phải nhắc nhở bản thân liên tục vì mình thấy theo thông thường quen rồi, mình thấy cái tôi và của tôi trong vô lượng, vô biên, vô tỷ kiếp, mình đã huân tập cái thấy, cái nghĩ đó, cái suy tư đó, cái cảm thọ đó, tư tưởng đó. Bây giờ mình muốn lật ngược trở lại, lật đổ suy nghĩ ngu si, vô minh, tà kiến đó thì nghe pháp chỉ một lần thì có lật được liền không?
Đó là lý do cần phải nhắc nhở tác ý liên tục cho đến khi nào mình thật sự diệt tận được những suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng, nhận thức kia thì lúc đó mình mới Nhập Lưu vào dòng trí huệ thật sự của bậc Thánh, gọi là tri kiến bậc Thánh, còn nếu không tác ý thì làm sao thể nhập được cái thấy biết này? Cho dù mình vào được đại định không còn suy nghĩ gì nữa, lặng yên như tờ nhưng khi xả định ra vẫn tham, sân, si, vẫn bản ngã vì vô minh chưa phá, khát ái chưa cạn kiệt, tà kiến chưa diệt tận cho nên gốc rễ của nó cũng là điều đầu tiên để vào được dòng pháp này chính là thấy đúng, nếu không thành tựu cái thấy đúng thì tất cả những cái phía sau đều sai hết, nghĩ sai, nói sai, làm sai, sống sai, suy xét sai, tập trung tâm ý cũng sai cho nên đây là giai đoạn chúng ta tu tập chánh kiến.
Tu tập chánh kiến thì một là nghe người khác và hai là tác ý, đó là hai cái nhân để thành tựu chánh tri kiến. Thiền quán chính là tác ý, mỗi buổi nghe pháp chính là tác ý, đó là sự trợ duyên bên ngoài, là tiếng của người khác nói, còn tự lực mình phải nhắc nhở bản thân, tự mình phải suy nghĩ, tự mình phải tác động tâm ý, nếu mình yếu trong cái này thì nghe pháp thường xuyên để tẩy não vì cái não của mình là cái não thường, lạc, ngã, tịnh, nhận thức của mình là cho rằng cứ như vậy mãi, vui sướng, cái ta là quan trọng, sạch sẽ, đẹp đẽ, đó là cái thấy biết của mình, cảm thọ của mình, tư tưởng của mình nằm trong đó.
Còn bây giờ tẩy não từ cái thường còn đi vào vô thường là cả một công cuộc vĩ đại chứ không phải tu chỉ là lạy lục, cầu xin. Từ cái thường còn chuyển qua vô thường, tất cả thọ; tưởng; hành; thức phải chuyển qua vô thường thì mới vào dòng trí huệ được, từ cái vui phải chuyển qua để thấm cái khổ. Chúng ta đã học Khổ Thánh Trí không biết bao nhiêu bài nhưng khi trở ra chúng ta có thấy khổ nhiều không? Trở ra là mất đi cái khổ mà quay lại cái lạc, vui sướng và nếu không như lý tác ý nhắc nhở thì làm sao thành tựu được? Cái não là tôi, là bản ngã thì phải đổi thành vô ngã, không có cái tôi, đó là cả một công trình tác ý nhắc nhở thường xuyên và liên tục. Cái bản vị là sung sướng, vui sướng thì bây giờ đổi thành khổ, cái nhìn của nó là cái nhìn đẹp đẽ thì bây giờ nhìn ra xấu xí, bất tịnh, đó là công năng tác dụng của thiền quán, của nghe pháp.
Nếu không như lý tác ý thì tà kiến chưa sanh sẽ sanh và tà kiến đã sanh sẽ tăng trưởng, do như lý tác ý chánh kiến chưa sanh sẽ sanh khởi và chánh kiến đã có thì nó sẽ tăng trưởng lớn mạnh. Mình phải tác ý "cái đó là đồ giả, cái đó là khổ hỡi tâm mê ơi. Mày cứ chạy theo cái khổ đó để làm gì? Cái đó là bất tịnh, là bẩn thỉu, mày tham muốn cái đó để làm gì?" Mình cứ nhắc như vậy hoài, một từ nhắc mãi chán thì đổi sang từ mới, ví dụ này lấy hoài thì đổi sang ví dụ khác. Tất cả những gì mình học không có gì khác, chỉ khác ở cách truyền đạt, ngôn ngữ mà thôi, cả tạng kinh Nikāya đều cho mình thấy vô thường, khổ, vô ngã trong ngũ uẩn để nhàm chán, ly tham, từ bỏ, giải thoát. Đó là định lý, chỉ bao nhiêu đó mà phải tu suốt đời, nghe suốt đời, quán suốt đời. Trong một ngày 24 tiếng thì có được bao nhiêu tiếng mình thấy vô thường? Được mấy tiếng mình thấy khổ? Được mấy tiếng mình thấy vô ngã? Được mấy tiếng mình thấy bất tịnh?
"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục, này các Tỳ-kheo, như tà kiến. Các chúng sanh có đầy đủ tà kiến, này các Tỳ-kheo, sau khi thân hoại mạng chung, bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, do pháp ấy, các chúng sanh sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào cõi lành, cõi Trời, cõi đời này, này các Tỳ-kheo, như chánh kiến. Các chúng sanh có đầy đủ chánh kiến, này các Tỳ-kheo, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên cõi lành, cõi Trời, cõi đời này.
Ðối với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo tà kiến, phàm mọi khẩu hành... phàm mọi ý hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo tà kiến, phàm có tư tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước nguyện nào, và phàm có các hành nào, tất cả pháp ấy đưa đến không khả lạc, không khả hỷ, không khả ý, đưa đến bất hạnh, đau khổ. Vì cớ sao? Vì tánh ác của tà kiến, này các Tỳ-kheo" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, Tà Kiến)
Một người nhìn thấy sai thì tất cả mọi suy tư, nghĩ tưởng, tất cả mọi toan tính, dự định, mong muốn, ước nguyện của họ đều đưa đến bất hạnh, khổ đau. Mình nghĩ người giàu nhất trên hành tinh này rất sung sướng thì cái nghĩ đó là tà kiến, mình nhìn chỉ thấy tiền chứ mình không biết người đó vẫn còn tham, sân, si, bản ngã, còn khát ái, còn vô minh hoặc là bất cứ một người quyền uy, chức tước nào hay một kẻ ăn mày mà hễ còn cái thấy sai, tà kiến thì tất cả ngôn ngữ, suy nghĩ, hành vi, tất cả toan tính, hi vọng đều đưa đến không vui, không hoan hỉ, không vừa ý, đưa đến bất hạnh và đau khổ vì tính chất xấu ác của cái thấy sai đó.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, hột giống cây nimba, hay hột giống cây Kosàtaki (một loại cây leo), hay hột giống cây mướp đắng, được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy đều đưa đến tánh đắng, tánh cay, tánh không lạc của nó. Vì cớ sao? Vì tánh ác của hột giống, này các Tỳ-kheo.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với người có tà kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành... Vì tánh ác của tà kiến, này các Tỳ-kheo" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, Tà Kiến)
Cây khổ qua (mướp đắng), rau đắng, cây ớt có lấy cái gì từ đất, có lấy cái gì từ nước lên cũng cho cay đắng, cũng vậy, những gì suy nghĩ, nói năng, hành động, suy tư, ước nguyện đều từ nơi tà kiến cho nên tất cả dự toán, dự định, kế hoạch đều là kế hoạch của khổ, kế hoạch của bất an, của tại họa, của vô thường vì tính chất của tà kiến cũng như tính cay trong trái ới hay tính đắng trong khổ qua cho nên có tính toán cái gì, suy tư cái gì, quyết định cái gì thì cũng ở trong đau khổ và bất hạnh.
Con thấy thương mình, thương người, thương hữu tình chúng sanh vì một khi đã thấy sai thì tất cả suy nghĩ, lời nói, hành động đi theo sau đó là bất hạnh và khổ đau. Cái này bao trùm trái đất, một khi không nhìn thấy được ngũ uẩn, một khi không nhìn thấy được tham, sân, si, vô minh, bản ngã, một khi không nhìn thấy được lậu hoặc, tâm mê thì tất cả dự định, dự án, quyết định, ước mơ đều ở trong nước mắt, thành công của mình là thành công trên đóa hoa phù du sớm nở tối tàn và sự xây dựng của mình là sự xây dựng lâu đài trên bãi cát, chỉ đem lại bất hạnh, chỉ đem lại khổ đau, chỉ đem lại tan nát, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, chỉ đem lại những dòng nước mắt tận cùng thương đau. Thấm thía lắm quý vị! Thâm sâu lắm quý vị! Tối thượng lắm quý vị vì được nghe những lời này.
III. Trình pháp
Chú Phật tử: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính trên sư phụ, con kính thưa quý thầy, quý sư cô và quý đạo tràng Nikāya hiền dịu ở chùa Linh Quy Pháp Ấn. Con xin trình pháp trong thời gian qua, ngũ uẩn con hiện tại đang đứng đây, sắc uẩn con đang thu nhận, đang nghe những lời sư phụ giảng lại những lời Phật để lại cho chúng con nghe. Con cảm nhận cuộc đời thật đau khổ, vô cùng đau khổ, khi con thấy được pháp của Đức Phật để lại thì đời con đã sắp hết, con rất tiếc khi con hiểu được, con nghe được thì đã muộn đối với con nhưng con quyết định về chùa Linh Quy Pháp Ấn, còn hơi thở cuối cùng con cũng tu, con cũng sửa bỏ, từ từ con cũng sửa bỏ, lần lần rồi cuộc đời con cũng phải ra đi. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Dòng đời đưa đẩy con, lôi kéo con làm cho con khổ. Con biết được cái khổ, con thấy được cái khổ hiện tại, con biết được sắc uẩn này, thân tứ đại con đứng đây mà con không buông bỏ, con hỏi "tại sao không chịu buông bỏ", vì tham, sân, si, vì sự hơn thua, tranh đấu lôi cuốn nên con chưa buông bỏ được, con rất đau khổ. Con nguyện một duyên lành nhiều đời nhiều kiếp để lại cho con một chút nào đó thì con sẽ về đây xin thầy cho con xuống tóc để con từ bỏ tất cả, con sẽ bỏ tất cả vì nó không phải là thật, vì nó lừa gạt con, vì nó lừa dối con, nó quyến rũ con đi vào con đường đau khổ, thật sự rất đau khổ.
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con xin thầy, quý chư Tăng, chư Ni và quý Phật tử trong đạo tràng Nikāya tại chùa Linh Quy Pháp Ấn hoan hỉ cho con vì những gì con nói lên đều bằng tấm lòng chân thành, bằng trí tuệ mới có được. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Sư Phụ: Phải thấm thía thật nhiều cái khổ này, phải thấm đẫm thật nhiều cái khổ đau này, không bao giờ cho phép mình quên cái khổ này, phải nhìn cho xuyên thủng được bản chất bất toại nguyện, bản chất dối trá, vô tình vô nghĩa của đời sống này, phải nhìn cho triệt để, phải nhìn cho thấu đáo, phải nhìn cho tận tường để đừng bị nó lừa dối, đừng bị nó gạt gẫm, phải nhìn cho trọn vẹn tất cả những khía cạnh, góc độ của cái khổ đang vây hãm, bao trùm chúng ta.
Tất cả những tâm sự của chúng ta là những dòng nước mắt, tất cả đều làm bằng nước mắt trừ khi nào chúng ta thành tựu được cái thấy đúng trong giáo pháp này, nếu không chỉ là dã tràng xe cát biển đông, dù cho có làm gì, nói gì, nghĩ gì, tính toán gì cũng chỉ đem lại đau khổ, bất an, tất cả chỉ đem lại lo lắng, khổ sầu và kết cuộc của nó là nước mắt, là sầu, bi, khổ, ưu, não. Chúng ta hãy nhìn thật sâu để thấm thía những cảm thọ thần thánh thiêng liêng này, những cảm thọ hy hữu hiếm có trong dòng luân hồi vô lượng kiếp quý vị chưa từng nếm, chưa từng trải, chưa từng sanh khởi được.
Hãy khắc ghi, hãy giữ gìn, hãy đem nó vào tim vào tủy mình, đem nó vào trong cảm thọ sâu thẳm nhất của mình, hãy tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển cái khổ này và đừng bao giờ quên đời sống này là tai họa, đời sống này là bất an, đời sống này đầy hiểm nguy, đầy bệnh khổ. Hiện nay trên toàn cầu xảy ra những việc chưa từng có, biến đổi khí hậu nhiệt độ tăng cao 40-50 độ, dịch bệnh, chiến tranh, những cái tâm ác độc, hung bạo của con người, tất cả càng ngày càng lộ rõ ra tính ác, tính khổ của nó, càng bày ra tính bất an, vô thường, hiểm họa của nó, vậy mà chúng ta còn chưa thức tỉnh thì đợi đến bao giờ mới tỉnh mộng? Đến bao giờ mình mới tỉnh thức? Hãy mạnh mẽ tiến lên, mạnh mẽ vượt ra, vượt thoát.
Cô Phật tử 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch quý thầy, con kính bạch quý sư cô cùng toàn thể quý Phật tử có mặt hôm nay. Con đến đây được ba ngày, sau khi con nghe pháp nào của thầy cũng đều thấm đẫm nước mắt, mặc dù con không nói ra được những suy nghĩ của con dù nghe rất nhiều bài pháp, từ khi con 18 tuổi con đã được quy y. Do nhân duyên đau khổ của gia đình là dì con mất nên cô dắt con đi quy y, lúc đó chưa biết gì về Phật pháp, sau khi con đi học ra trường thì từ 18 tuổi con đã đi làm cho đến bây giờ, con chưa được nghỉ ngày nào cả. Con nhớ lại những ngày bệnh mà con không dám nằm bệnh, phải đi làm để kiếm tiền dù đời sống con không khổ, con được phước báo là biết mình phải vất vả nhưng tâm không khổ vì con được biết Phật pháp nhưng lúc đó con không hiểu gì cả.
Khi con làm vi tính thì con thường xuyên nghe pháp, lúc đó rất khó chứ không dễ như bây giờ. Con nhớ lại năm 89-90 mới có vi tính thì con đã được học, giờ nghỉ con không nghe nhạc như bạn bè mà con mở pháp rất nhỏ để nghe nhưng nghe mà không hiểu, con chỉ biết là bớt khổ. Khi con khổ là con nghe, con cảm nhận được sự nhẹ nhàng, cho đến giờ cũng như bác Phật tử phát biểu thì con biết là giả nhưng vì trách nhiệm, vì bản thân, vì lòng từ bi mà con nghĩ theo bản thân con là con phải lo cho con của con, lo cho gia đình con.
Con cũng hứa với lòng là sau khi sắp xếp ổn thỏa việc gia đình thì con muốn một lần lên đây quỳ lạy dưới chân thầy, quỳ lạy dưới chân quý thầy, quý cô bảo bọc cho con được học Phật pháp, học được giải thoát cho cuộc đời. Nếu con theo gia đình dù con làm công việc rất lương thiện nhưng sau khi nghe pháp của thầy thì con không thấy gì là lương thiện, con cũng không thấy gì là bền vững, con biết nó rất là giả.
Khi con nghe bác phát biểu giống y như tâm trí con suy nghĩ mấy ngày nay, con cũng nói với mấy chị là sau khi về sẽ sắp xếp công việc, con cái rồi con lên đây sớm nhưng con nghe thầy nói sau khi xuống núi thì chưa chắc còn quay lại hay đây là lần gặp cuối cùng. Nếu con còn phước lành còn được thở, còn được sống thì xin thầy, các quý thầy và Phật tử ở đây dang tay cho con được quay về nương tựa với chánh pháp mà con chưa từng gặp.
Dù thời gian con tiếp xúc pháp rất dài nhưng con chưa từng hiểu, con nghe nhiều dòng kinh nói về khổ nhưng con không hiểu thấm thía như lời thầy giảng, từng lời của thầy thấm trong tim con và khi con được những lời kinh Phật dạy con thấy thật là đúng. Ngày xưa con nghe Phật nói có rất nhiều vô lượng chúng sanh thì đến bây giờ con mới hiểu câu đó là đúng, mặc dù thời Đức Phật không có kính hiển vị gì cả mà Phật dùng huệ nhãn nên thấy được, hồi đó cũng không có vi tính như bây giờ mà Phật nói vũ trụ này nhỏ như hạt cải thì bây giờ con mới biết được đó là USB hoặc là thẻ nhớ rất nhỏ nhưng chứa được toàn cầu cho nên con thấu những lời Đức Phật dạy rất thấm thiết nhưng con không có thời gian học và cũng không đủ trí tuệ để học. Con nhờ thầy dạy kinh pháp thì con mới hiểu được, con xin hết ạ.
Cô Phật tử 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Trước giờ con chưa đi theo học giáo lý này, con chỉ biết làm từ thiện và làm công quả ở chùa. Ba ngày nay con ở đây học theo thầy con mới thấy, mới hiểu được cái gì là khổ, cái gì là sướng. Con xin thầy chỉ dạy cho con với các cô để con học thêm. Con xin hết ạ.
IV. Người có Chánh Kiến
Sư Phụ:
"Ðối với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo chánh kiến, phàm mọi khẩu hành... phàm mọi ý hành hoàn toàn được thực hiện, được chấp nhận theo chánh kiến, phàm có tư tâm sở nào, phàm có quyết định nào, phàm có ước nguyện nào, và phàm có các hành nào, tất cả pháp ấy đưa đến khả lạc, khả hỷ, khả ý, đưa đến hạnh phúc, an lạc. Vì cớ sao? Vì tánh hiền thiện của chánh kiến, này các Tỳ-kheo.
Ví như, này các Tỳ-kheo, hột giống cây mía, hay hột giống cây lúa, hay hột giống cây nho được gieo vào đất ướt. Phàm vị gì nó lấy lên từ đất, phàm vị gì nó lấy lên từ nước, tất cả vị ấy đều đưa đến tánh ngọt, thích ý, tánh ngon ngọt của nó. Vì cớ sao? Vì tánh hiền thiện của hột giống.
Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với người có chánh kiến, này các Tỳ-kheo, phàm mọi thân hành... Vì tánh hiền thiện của chánh kiến, này các Tỳ-kheo" (Tăng Chi Bộ, Chương I – Một Pháp, XVII. Phẩm Chủng Tử, Tà Kiến)
Người có chánh kiến, người thành tựu được cái thấy đúng trong pháp thì có suy nghĩ gì, nói năng gì, hành động gì, mong ước gì, quyết định gì thì tất cả các pháp đó đều đưa đến hạnh phúc, đưa đến an lạc, đưa đến bình yên cho nên chúng ta cố gắng tu tập chánh kiến, đừng đi theo tà kiến. Tà kiến là cái thấy lệch, cái thấy sai, cái thấy trật, tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng đều thuộc về tà kiến và những lời dạy của Đức Phật trong Thánh trí tuệ trong tạng kinh Nikāya là chánh kiến. Mình nghe, mình học, mình tác ý, mình quán chiếu, nghiền ngẫm để mình thay đổi cái suy tư lệch lạc, cái nhìn sai lầm của mình, như vậy sẽ dẫn đến hạnh phúc, lợi ích, an lạc cho chúng ta.
Vì lợi ích cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng từ mẫn cho chư thiên và loài người mà bậc Chánh Đẳng Giác đã xuất hiện nói ra Thánh pháp này và chúng ta ngày hôm nay có phước báo, công đức được nghe nên chúng ta cần cố gắng tu tập, nhận thức, tác ý, tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển quảng đại cái thấy đúng này để đưa mình ra khỏi bất hạnh, khổ đau, để đưa mình đến an lạc, hạnh phúc.
Mong tất cả thân an
Mong tất cả tâm lạc
Thân an và tâm lạc
Tâm chân thành cầu mong
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm thương này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la.
./.