Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm Sao Báo Đáp Công Ơn Cha Mẹ - Cầu Siêu Cửu Huyền & Những Người Mất Vì Đại Dịch Trên Toàn Cầu

2026-03-03 00:53:49
LÀM SAO BÁO ĐÁP CÔNG ƠN CHA MẸ

CẦU SIÊU CỬU HUYỀN & NHỮNG NGƯỜI MẤT VÌ ĐẠI DỊCH TRÊN TOÀN CẦU

–Thích Minh Thành–

Kính lễ ân đức Thế Tôn.

Kính lễ ân đức chánh pháp.

Kính lễ ân đức chúng Tăng.

Kính lễ ân đức bậc đạo sư.

Kính lễ ân đức cha mẹ, thầy tổ.

Kính lễ ân đức Thánh giới vô thượng.

Kính bạch chư Tăng Ni và tất cả quý Phật tử, hôm nay là ngày tưởng nhớ cửu huyền thất tổ trong gia đình con, ông nội bà nội là cha mẹ thầy Pháp An, cha mẹ của bốn người cô thân thương, đơn độc trong gia đình con. Con xét nghĩ Đức Thế Tôn nói rằng vô thỉ là luân hồi này, không thể nêu rõ khởi điểm mà chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.

"Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc". (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)

Chưa có một người nào mà chưa từng làm cha mẹ mình, thật là hiếm có khó gặp một người mà chưa từng là cha mẹ, anh em, chị em của chúng ta trong vòng luân hồi loanh quanh, xoay vần. Chúng ta từng làm cha, làm mẹ, làm con, làm anh, làm chị cho nên con mới nghĩ thay vì chỉ cúng cầu nguyện cho ông bà, cha mẹ của mình thì mình hãy cầu nguyện cho tất cả ông bà, cha mẹ của chúng sanh, điều này là làm theo tinh thần Đức Phật dạy, hơn nữa hàng triệu người trên thế giới đã ra đi trong đại thảm họa dịch bệnh toàn cầu. Họ ra đi trong đau đớn, khổ sở, lạnh lẽo không có người thân bên cạnh, ra đi trong sự lo lắng, hoảng sợ cho nên đây cũng là nhân duyên để chúng ta có buổi lễ, bằng tất cả tấm lòng của mình đem công đức tu tập chánh pháp, chia sẻ pháp, đọc tụng Thánh pháp để hướng tâm về những vị đã qua đời vì đại dịch toàn cầu. Đó là nguyên do có ngày lễ hôm nay mà chút nữa chúng ta sẽ đọc tụng Thánh điển của Đức Phật, vừa rồi trong buổi lễ Vu Lan thì dòng cảm xúc của quý thầy, quý cô và đại chúng trào dâng, Minh Thành cũng chưa chia sẻ cách báo đáp công ơn cho cha mẹ theo lời Phật dạy trong kinh tạng Nikāya, tuy nhiên trong lúc tụng kinh Minh Thành đã đọc bài kinh Đức Phật nói cách trả ơn đầy đủ cho cha mẹ. Có những Phật tử lớn tuổi ở hàng 70 lo cho mẹ già 90 tuổi, các Phật tử cũng tha thiết thưa hỏi cầu pháp xin quý thầy giảng giải cách để báo hiếu cho cha mẹ dù ở hiện tiền hay đã mất, nhân dịp hôm nay tưởng nhớ ông bà cha mẹ mình sẽ nói về cách báo hiếu ông bà, cha mẹ được Đức Phật dạy.

Phật tử 1: Thưa thầy, nghi thức Vu Lan ở Linh Quy Pháp Ấn đầy ắp tình hiếu kính cha mẹ và ân nghĩa thầy trò. Được nghe quý thầy, quý sư cô bộc bạch lòng hiếu kính, chúng đệ tử cảm mến vô cùng nhưng thưa thầy, đệ tử đã mất cha cũng như bao Phật tử khác không còn đủ song thân vẫn bâng khuâng làm sao để đáp đền ân sâu trong ngày lễ Vu Lan đối với cha mẹ như ngài Mục-kiền-liên cứu mẹ. Đệ tử kính mong thầy chỉ dạy rõ hơn cho hàng chúng đệ tử học theo vững vàng trong cách hành pháp.

Mỗi sáng khi nghe pháp đệ tử luôn kính ơn của ân sư cùng quý thầy, quý cô đã dành cho chúng đệ tử thời gian và tâm huyết để khai mở trí huệ cho chúng con. Ân đức này to lớn vô vàn, đệ tử xin khắc ghi và xin làm tấn lực để theo gót chân các vị chân tu này. Đệ tử xin ân sư quan tâm đến sức khỏe vì đệ tử luôn nghe tiếng hít mũi của thầy, đệ tử thầm mong cầu ân sư cùng chư Tăng Ni luôn bình an để chúng đệ tử có cơ duyên học tập tinh tấn trong giáo pháp.

Sư Phụ:

"Này các Tỳ-kheo,

Ai đối với cha mẹ không có lòng tin, khuyến khích, hướng dẫn an trú các vị ấy vào lòng tin;

Đối với mẹ cha theo ác giới, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào thiện giới;

Đối với mẹ cha xan tham, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào bố thí;

Đối với mẹ cha theo ác trí tuệ, khuyến khích, hướng dẫn, an trú các vị ấy vào trí tuệ.

Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha". (Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, IV. Phẩm Tâm Thăng Bằng, 1-11 Ðất)

Những ai có cha mẹ chưa có lòng tin đối với tam bảo thì hãy khuyến khích, làm cho cha mẹ an trú và hướng dẫn cha mẹ phát khởi lòng tin với tam bảo, làm cho cha mẹ có lòng tin đối với Phật, đối với pháp, đối với Tăng. Chúng ta cần nhớ tam bảo ở đây là theo tinh thần chánh pháp chứ không phải hiểu tam bảo theo cách mê tín chỉ cầu xin, cái đó cũng là thiện pháp nhưng không đầy đủ mà phải đi tới chánh pháp, còn ở đây nói đến lòng tin chính là chánh tín, tin một cách đúng đắn nhân quả theo tinh thần Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya, như vậy là báo ơn được cha mẹ còn việc phụng dưỡng vật chất là bổn phận phải làm nhưng ở đây không nói đến cái đó, có nhiều nơi đã nói đến rồi, phần vật chất là phải có rồi còn ở đây đang nói đến phần tinh thần. Ác giới là đi theo điều không đúng chánh pháp, có hành động ác và theo mê tín dị đoan. Những ai có cha mẹ theo ác giới thì hãy khuyến khích họ theo thiện giới, hướng dẫn cha mẹ đi vào thiện giới, an trú cha mẹ vào thiện giới, những giới luật, giới pháp thiện lành như giữ gìn năm giới, tám giới, mười giới, như giới Sa-di, giới Tỳ-kheo. Nếu cha mẹ xan tham, bủn xỉn, keo kiệt thì hãy khuyến khích cha mẹ bố thí, hướng dẫn cha mẹ bố thí, làm cho tâm cha mẹ an trú trong sự bố thí, vui thích, hoan hỉ bố thí. Đức Phật nói người nào làm được như vậy "là làm đủ và trả ơn đủ mẹ và cha", đối với cô dì, chú bác đều làm như vậy, cái này ứng dụng được cho tất cả những người thân thương, ân đức của mình. Với những ai có cha mẹ theo ác trí tuệ thì hãy khuyến khích, hướng dẫn cha mẹ an trú vào trí tuệ lành thiện thì đó là người làm cho đầy đủ và trả ơn đầy đủ đối với mẹ và cha. Ở đây Đức Phật nói bốn điều, thứ nhất là có lòng tin vào tam bảo, thứ hai là giữ các thiện giới, thứ ba là bố thí, thứ tư là trí tuệ, bốn pháp này là đầy đủ để đáp đền an đức của mẹ và cha.

Phải nhớ rằng khuyến khích cha mẹ có lòng tin chánh tín đối với tam bảo, dù đã quy y nhưng không phải ai quy y cũng có chánh tín, được gặp chánh pháp, có chánh kiến cho nên chúng ta phải hiểu lòng tin chánh tín này là cả một kì công chứ không phải lòng tin thông thường của mê tín. Không thiếu người đi chùa, không thiếu người lạy Phật, rất nhiều người quy y tam bảo nhưng trong cái quy y tam bảo đó ai quy y chánh pháp, Đức Phật và chư Tăng, ai thấy được bốn Thánh đế, thấy Khổ và Khổ Tập, thấy sự vượt qua khổ, thấy Thánh đạo Tám Ngành đưa đến khổ não tận, ai quy y được như vậy mới là quy y an ổn, quy y tối thượng, có quy y như vậy mới chấm dứt khổ đau, chứ không phải chỉ làm lễ quy y, được tấm giấy cầm về là xong, sau đó không học pháp, không nghe pháp, không thực tập pháp hoặc một ngày tụng vài thời kinh thì cho là xong, ngược lại phải tu tập lòng tin, tu tập thiện giới, tu tập bố thí và tu tập trí tuệ đúng theo lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng nguyên chất Nikāya.

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, Thánh đệ tử có lòng tin, tin tưởng ở sự giác ngộ của Như Lai: 'Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán... Phật, Thế Tôn'. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tín tài". (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, I. Phẩm Tài Sản, (VI). Các Tài Sản Rộng Thuyết)

Lòng tin quan trọng nhất là tin vào sự giác ngộ của Đức Phật chứ không phải chỉ biết lạy trên hình tướng, hình vẽ, hình tượng. Phải xác quyết trong tâm sự giác ngộ của Đức Phật là chân lý, là sự thật, khi tin như vậy thì những lời dạy của Phật đương nhiên là sự thật, xác quyết những lời dạy trong kinh tạng Nikāya là chân lý vĩnh hằng, bất diệt, là chân lý tối thượng, là sự thật cứu cánh cùng cực của tất cả nhân thiên tam giới, xác quyết tuyệt đối và thành tựu lòng tin sự chứng ngộ của Đức Phật và thành tựu lòng tin đối với lời dạy của Đức Phật, thành tựu lòng tin với những vị đang đi theo con đường đó, là bốn đôi tám chúng hiền Thánh của Đức Phật, những vị xả bỏ hết tất cả, đem cả sinh mạng cuộc đời dấn thân vào lời dạy của Đức Phật gọi là hiền Thánh Tăng, là những bậc tu hành chân chánh đúng pháp. Mình tin vào sự chứng ngộ của Đức Phật, tin vào lời dạy của Đức Phật tức là tin pháp, tin vào những người đem cả cuộc đời dấn thân hành trì những lời dạy đó thì đó là tin Tăng, ba cái này có liên kết với nhau chặt chẽ. Tin vào Đức Phật, tin vào lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya là một sự thật xác quyết, những gì trong kinh nói không thể sai khác được, phải thấy từng câu từng chữ trong kinh là huyết lệ của Đức Thế Tôn, tin vào những vị đi theo lời dạy này, nhờ những vị đó mà mình mới hiểu, mới tu được. Hôm qua chúng ta tưởng niệm ân đức của cố đại trưởng lão Hòa Thượng Thượng Minh Hạ Châu, Minh Thành thường mở nhạc mời thầy chính là để mọi người tưới tẳm hạt giống tịnh tín với Tăng, thắp sáng lòng tin đối với các bậc tu đúng chánh pháp, hành đúng chánh pháp, có mất mạng cũng không dao động, phải kiên trú vững chắc như cột trụ. Minh Thành rất hoan hỉ khi nhìn thấy bà Diệu Hiền – bà Năm có lòng tin đối với pháp Nikāya, cuối đời được an lành, bây giờ là thầy Pháp An phát khởi được lòng tin, thực hành theo giới pháp Đức Phật, biết chia sẻ bố thí và tu tập trí tuệ theo đạo lộ này. Thứ nhất phải tu tập rồi sau đó mới giúp được cha mẹ, mình không tu, không có kết quả gì cả thì nói không ai nghe, mình không biết gì cả mà kêu gọi mọi người tu trí tuệ thì làm sao người ta tu, mình không có lòng tin tam bảo thì làm sao khuyến khích cha mẹ tin vào tam bảo cho nên muốn báo đáp ân đức cha mẹ thì trước hết bản thân mình phải tu tập, dù không đầy đủ viên mãn nhưng phải tu được phần nào đó thì lúc đó mình mới chia sẻ, khuyến khích, đặt để, hướng dẫn cho cha mẹ được.

Khi cha mẹ theo ác giới thì phải hướng dẫn cha mẹ theo thiện giới. Ác giới là không giữ giới, sát sanh, tham lam, trộm cắp, tà dâm, uống rượu hoặc giữ những điều không đúng pháp, giữ những điều mê tín dị đoan, vì thế cần khuyến khích cha mẹ giữ được năm giới, từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói dối, nói lưỡi đôi chiều, nói lời hung ác, nói những lời phù phiếm, từ bỏ các chất nghiện ngập, say sưa. Năm giới này là năm điều kiện, năm nguyên lý để đưa đến cuộc sống hạnh phúc chứ không phải năm điều ngăn cấm, các vị học bên kinh tạng Pali giải thích năm giới này là "năm nguyên lý hạnh phúc", năm điều đưa đến cuộc sống hạnh phúc, an lành chứ không phải năm điều cấm vì thế mình cần khuyến khích cha mẹ thực hiện năm điều này. Từ các vị xuất gia cho đến cư sĩ khi gặp cha mẹ là nhắc nhở họ giữ giới, nhắc nhở giữ lòng tin tam bảo, ôn tập cho cha mẹ về các giới, hỏi họ hiểu như thế nào về giới chứ đừng chỉ hỏi thăm sức khỏe, tình hình gia đình không. Mình phải khéo kéo, thiện xảo dẫn dắt cha mẹ vào pháp để không uổng cuộc gặp gỡ hoặc không uổng cuộc điện thoại, mình nói lời phù phiếm cũng là sai phạm vì nói lời phù phiếm là nói không đâu vào đâu, không có giá trị, không có ý nghĩa, ra quán café ngồi nói mấy tiếng đồng hồ rồi sinh ra phiền não, giận hờn, hơn thua cho nên nói lời phù phiếm sẽ hủy hoại thời gian, đầu óc, tâm thức, sức khỏe của mình, đó cũng là dưỡng sinh tối thượng chi đạo. Khi nói cần suy xét lời nào cần nói, lời nào không cần nói, nói lời này có lợi ích hay không có lợi ích, nói lời này thiện hay bất thiện, nói lời này có đem lại lợi ích, an lạc dài lâu cho người nghe hay không, đó là nghệ thuật chánh niệm tỉnh giác và cũng có bố thí trong đó, có rất nhiều pháp nhưng mình nhớ điều căn bản là không nói lời phù phiếm, không nói huyên thuyên làm mất thời gian, hao hơi tổn tiếng, hao mòn sức khỏe, tâm thức dao động, thần trí không sáng suốt, bị thất niệm. Giữ gìn không nói lời phù phiếm rất khó, chỉ cần không có chánh niệm tỉnh giác là bị rơi vào đây liền, ngoài đời gọi là "bà tám". Chúng ta lâu lắm mới được gặp quý thầy, quý cô, lâu thật lâu mới gặp được những vị biết được đạo lộ Đức Phật, đó là hy hữu hiếm có, là báu vật trên thế gian mà không hỏi pháp, không hỏi cách tu, cứ lo nói chuyện này chuyện nọ, kể chuyện sân si, hờn giận trong gia đình, vậy là tự mình làm cho mình khổ, tự mình làm cho mình đau, tự tìm phiền não cho nên phải đặt tâm đúng hướng, khéo léo trong suy tư, quán xét, người nào hiểu thì thương con còn không hiểu thì con đành chịu, gọi điện mà nói dông dài chuyện này chuyện nọ là con không nghe, có thăm con cũng không muốn gặp, nếu là người cầu pháp, hỏi pháp, người muốn tu thì con sẽ tiếp. Đó là tình thương của mình, thế gian này đầy rẫy đau khổ là vì nói lời phù phiếm, đó là chưa nói đến việc nói lời hung ác, nói lời thiêu dệt, đâm bị thóc thọt bị gạo, chuyện nhỏ xé ra to, chuyện to làm ra chuyện lớn, chuyện lớn ra đại sự, đại sự rồi thành hình sự, chúng sanh bị đau khổ vì không biết nguyên lý của hạnh phúc, không biết điều kiện của bình an. Tự mình làm mình khổ rồi than thở, trách móc, chỉ thích nói xấu người này người kia mà không biết việc nói xấu đó là xấu, nhìn ai cũng thấy họ xấu chỉ có mình tốt thôi thì mình sẽ khổ đau dù cho là vợ chồng, anh chị em, nếu không chịu tu, không quay lại nội soi nội tâm để nhìn nhận mà cứ nhìn bên ngoài, nhìn người này người nọ thì mình đau khổ suốt đời nhiều kiếp về sau. Đọc cầu an trước bàn Phật là một lẽ nhưng đây mới thật sự là cái pháp bình an của Đức Phật dạy, chính là giữ gìn cái miệng, giữ gìn cái tâm, giữ gìn những hành vi, cách cư xử với nhau, sống với nhau bằng sự từ ái, cảm thông, thấu hiểu, yêu thương, bao dung và tha thứ cho nên Linh Quy rất bình an, thanh lương, mát mẻ và ngọt ngào, có rất ít sự buồn giận va chạm, vì thế đây là năm điều kiện đưa đến đời sống bình an, an lành, hòa thuận, hạnh phúc. Nếu không làm theo những điều này thì có ghi cầu an suốt đời trong gia đình vẫn bất an, lục đục, nói câu nào là cự cãi câu đó, nói ra là hơn thua, cao thấp, như vậy làm sao có thể được bình an. Vì thế trong gia đình có ông bà, cha mẹ, anh chị em theo ác giới thì mình phải khuyến khích, hướng dẫn, an trú họ vào thiện giới, thiện giới là năm điều kiện của cuộc sống hạnh phúc và bình an, như vậy mình mới báo ơn được. Họ đem lại cho mình chỗ ở, y áo, thuốc men, gường chõng cho mình tu học thì mình phải đem những cái pháp này lại cho họ, đó chính là lòng từ mẫn của mình.

"Tất cả những ai, này các Tỳ-kheo, các Ông có lòng từ mẫn, và những người mà các Ông nghĩ cần phải nghe theo, những ai là bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; tất cả những vị ấy, này các Tỳ-kheo, cần phải được khuyến khích, phải được áp đặt, phải được an trú trong bốn Dự lưu phần. Thế nào là bốn?

Họ cần phải được khuyến khích, phải được áp đặt, phải được an trú vào tịnh tín bất động đối với đức Phật: 'Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn'... đối với Pháp... đối với Tăng... đối với các giới được các bậc Thánh ái kính... đưa đến Thiền định.

Những ai mà các Ông có lòng từ mẫn, này các Tỳ-kheo, những ai mà các Ông nghĩ là cần phải nghe theo, các bạn bè, hay thân hữu, hay bà con, hay cùng một huyết thống; các người ấy cần phải được khuyến khích, cần phải được áp đặt, cần phải được an trú trong bốn Dự lưu phần này". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm Chương XI. Tương Ưng Dự Lưu (a), II. Phẩm Một Ngàn, hay Vườn Vua, VI. Thân Hữu)

Đó mới là tình thương sâu xa của lòng đại bi, người phàm thương nhau thì cho ăn, cho uống chứ họ không hiểu được Thánh pháp tối thượng, mình là người tu phải thương một cách thâm sâu và cao thượng. Đức Phật dạy rất đầy đủ, không có thiếu sót gì cả. Ông bà cha mẹ xan tham thì khuyến khích, hướng dẫn, an trú họ vào bố thí, con rất hoan hỉ với các cô vì nhờ thấm pháp này mà xả tài, bố thí, cúng dường, làm các thiện pháp, mình tùy hỷ vui theo nhưng cũng chưa đủ, cần thêm nữa, các cô lo cho cả đại chúng trên đây trong từng miếng ăn giấc ngủ, từng vật phẩm cho nên mình được ngồi đây là có biết bao tấm lòng, biết bao trái tim nhưng cần nhớ rằng đối với cha mẹ, ông bà, cô bác phải khuyến khích, huớng dẫn họ vào bố thí, cúng dường, san sẻ, sớt chia và đừng bao giờ thấy đầy đủ vì nếu thấy đầy đủ là mình sẽ dừng lại. Khi làm xong là buông xả, sau đó làm tiếp và cứ tiếp tục như vậy thì công đức, phước báo càng sâu rộng, những đời sau mình không còn sống ở đây nữa mà lên thiên thượng, thiên giới nhập hội với thiên chúng, trở thành Thánh đệ tử thiên. Phải biết chia sẻ, giúp đỡ với những người khổ đau.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là thí tài?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Thánh đệ tử với tâm từ bỏ cấu uế của xan tham, sống tại gia phóng xả, với bàn tay rộng mở, ưa thích xả bỏ, sẵn sàng để được yêu cầu, ưa thích san sẻ vật bố thí. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thí tài". (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, I. Phẩm Tài Sản, (VI). Các Tài Sản Rộng Thuyết)

Bủn xỉn là cấu uế, tham lam là cấu uế, xan tham là cấu uế, tuy rằng sống tại gia nhưng với tâm buông xả, san sẻ với bàn tay rộng mở. Mình vui thích, thích thú với sự chia sẻ, giúp đỡ chứ không phải làm rồi chấp vào thành quả đó, muốn người ta phải biết ơn, nhớ ơn mình, cái đó cũng có phước nhưng cái phước rất nhỏ. Hãy làm với tâm buông xả, hiểu thương, làm mà không cần người khác phải biết đến, tôn vinh, làm với cả sự thấu hiểu và tình thương của mình, cảm thông với họ, tha thứ cho họ thì điều này rất tuyệt vời, đây gọi là bố thí qua đến bờ bên kia, còn bố thí mà dính mắc là mình sẽ bị phiền não trong việc làm phước đó.

Điều quan trọng trong bài kinh này là nếu cha mẹ theo ác trí tuệ thì cần khuyến khích, hướng dẫn, an trú, đặt để họ vào trí tuệ. Ác trí tuệ là thông minh, lanh lợi, nhạy bén, tri thức nhưng lại theo chiều mê lầm, lầm đường lạc lối, tinh ranh, khôn lanh để lợi dụng người ta, bóc lột người khác, nhạy bén để hại người ta đem lại lợi ích cho bản thân, cái này sẽ đưa đến đau khổ dài lâu. Trí tuệ của đạo Phật là một trí tuệ hiền thiện vì người nào có trí tuệ thì người đó phải hiền thiện, người nào hiền thiện thì người đó mới đạt được trí tuệ trong Thánh pháp này, người hung dữ không thể có được chánh trí tuệ này, người có chánh trí tuệ không thể hung dữ được vì thế trong kinh thường dùng từ "chư hiền", đó là những bậc hiền trí vì chữ hiền và trí đi chung với nhau. Sở dĩ có được tâm hiền lành, hiền thiện, hiền hậu, hiền đức, tâm lương thiện tốt lành, nghĩ đến nỗi khổ của người khác, tâm san sẻ, sớt chia là từ việc hiểu được nỗi khổ của đời sống này, hiểu biết nhân quả rất kinh hoàng, hiểu biết nghiệp báo rất kinh hãi, hiểu biết tội phước, hiểu biết lành dữ, hiểu biết đạo lộ của chư thiên, nhân loại và ba đường ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Từ việc hiểu biết đó họ nuôi lớn, phát triển, thiền tập mở rộng những cảm giác hiền lành, hiền thiện, hiền lương, tu tập trí tuệ thì gọi là bậc hiền trí trong đạo Phật. Con rất sợ người dữ, thấy người dữ là con tránh né dù cho có là người thân trong gia đình, người nào có tâm hung dữ như vậy sẽ đau khổ lâu dài, dù cho có tiếp nhận pháp họ cũng không chịu sửa đổi, vẫn kiêu căng, bản ngã, ngạo mạn với những bậc trưởng thượng, những bậc có đạo hạnh đức độ, thì cái này là nguy hiểm, tai họa, phải kính bậc đáng kính cho nên điều quan trọng trong sự tu này là phải sống có lễ nghĩa, hiền thiện, có đạo đức, đây là nền tảng cho mọi người tu. Không thể một người không có đạo đức, không có tình nghĩa, không có hiền thiện đạt được pháp này, sự kiện đó không thể xảy ra, phải có căn bản đạo đức của một con người thì mới bước lên hiền nhân, từ hiền nhân mới tu tập trí tuệ thành bậc hiền trí, từ hiền trí mới lên hiền Thánh. Con nhìn thấy những vị tu tâm hiền rất dễ thương, rất tuyệt vời, còn không tu tập tâm hiền thì qua thời gian sẽ tự động rời xa pháp, không thể cứu vãn được.

"Nhân duyên tại Sàvatthi.

Lúc bấy giờ, Bà-la-môn tên Mànatthada trú ở Sàvatthi. Vị này không cung kính mẹ, không cung kính cha, không cung kính Ðạo sư, không cung kính anh trưởng.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp, có đại chúng đoanh vây.

Rồi Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ như sau: 'Sa-môn Gotama nay đang thuyết pháp có đại chúng đoanh vây. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama. Nếu Sa-môn Gotama nói chuyện với ta, ta cũng sẽ nói chuyện với Sa-môn Gotama. Nếu Sa-môn Gotama không nói chuyện với ta, ta cũng sẽ không nói chuyện với Sa-môn Gotama'.

Rồi Bà-la-môn Mànatthada đi đến Thế Tôn; sau khi đến, liền đứng một bên và im lặng.

Và Thế Tôn không nói chuyện với Bà-la-môn ấy.

Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ: 'Sa-môn Gotama này không biết gì hết', bèn muốn trở về.

Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết được tâm tư của Bà-la-môn Mànatthada, liền nói lên bài kệ với Bà-la-môn Mànatthada:

Hỡi này Bà-la-môn,

Kiêu mạn không có tốt,

Ở đây không có ai,

Bà-la-môn nên biết.

Ông đến, mục đích gì,

Hãy nói lên cho biết?

Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ: 'Sa-môn Gotama biết tâm tư của ta', cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, lấy miệng hôn chân Thế Tôn, lấy tay thoa vuốt và nói lên tên của mình:

-- Tôn giả Gotama, con là Mànatthada. Tôn giả Gotama, con là Mànatthada.

Rồi đại chúng ấy tâm khởi lên kinh dị vi diệu: 'Thật là vi diệu, thưa Ngài! Thật là hy hữu, thưa Ngài! Bà-la-môn Mànatthada không bao giờ cung kính mẹ, không bao giờ cung kính cha, không bao giờ cung kính Ðạo sư, không bao giờ cung kính anh trưởng, nay lại hạ mình tột cùng như vậy trước Sa-môn Gotama'.

Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Mànatthada:

-- Thôi vừa rồi Bà-la-môn. Hãy đứng dậy và ngồi lại trên ghế của Ông. Lòng tín thành của Ông đối với Ta từ đâu đến?

Rồi Bà-la-môn Mànatthada sau khi ngồi trên ghế của mình, nói lên bài kệ với Thế Tôn:

Ðối ai không nên kiêu?

Ðối ai nên kính trọng?

Ðối ai nên tôn kính?

Cúng dường ai, tốt lành?

(Thế Tôn):

Với mẹ và với cha,

Với anh nhiều tuổi hơn,

Với thầy là thứ tư,

Không nên sanh kiêu mạn,

Nên kính trọng vị ấy,

Nên tôn kính vị ấy,

Cúng dường họ, tốt lành.

Các bậc A-la-hán,

Thanh lương, lậu hoặc đoạn,

Việc nên làm đã làm,

Hãy nhiếp phục kiêu mạn,

Bậc Vô thượng tôn ấy,

Ông thật nên đảnh lễ.

Khi được nghe nói vậy, Bà-la-môn Mànatthada bạch Thế Tôn:

-- Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!" (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, III. Phẩm Cư Sĩ, V. Mànatthada)

Vô thượng tôn là những bậc không còn ai cao hơn được nữa, tức là sự tôn kính cùng tột, những bậc đó là những bậc đáng cung kính nhất trên thế gian này, nên phải đem đầu của mình đặt dưới chân những vị đó đảnh lễ. Những bậc chân tu đức độ, những bậc hiền Thánh, những bậc đã hoàn toàn trong sạch, thanh tịnh, mát mẻ, tất cả những phiền não, cấu uế đã tẩy sạch, các ngài đã làm xong việc đã làm rồi nên ông hãy bẻ gãy tâm kiêu mạn, ngã mạn, kiêu căng đối với những vị đó, đó là những bậc tôn kính tối thượng ở trên đời trong cả ba cõi chứ không phải chỉ trong thế giới hành tinh này, đó là những bậc tôn kính nhất trong tam giới này. Vì thế hãy nên đem đầu của mình đặt dưới chân những vị đó đảnh lễ, tôn kính, tôn trọng vì họ là những ruộng phước vô thượng ở trên đời, gọi là vô thượng phước điền, là mảnh ruộng mà phước đức to lớn và vĩ đại nhất trong mười ngàn thế giới này. Tôn trọng, cung kính, cúng dường, đảnh lễ những vị đó ông sẽ được lợi lạc lớn, lợi ích lớn, hạnh phúc và an lạc dài lâu. Vị Bà-la-môn khi nghe Thế Tôn nói như vậy tràn đầy xúc động nên đã tán thán Đức Thế Tôn và mong muốn được làm đệ tử Thế Tôn, "từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng". Vì thế đạo đức căn bản là tuyệt đối quan trọng trong sự tu tập, dù cho có làm bất cứ cái gì đi nữa mà không có đạo đức, không có sự hiếu thuận, không có sự tôn kính với thầy, không có sự hiếu thảo với mẹ cha, không có tình thương với anh chị, huynh đệ bằng từ ái, sự cảm thông, hòa hợp thì sự tu hành sẽ không có nền tảng, dù cho có dựng lên bao nhiêu tầng thì chỉ là dã tràng xe cát biển đông, nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì, thậm chí với người mà mình thi ân họ còn oán hận lại nữa, mình phải biết rằng do mình chưa đủ công đức cho nên mình phải cố gắng chứ đừng trách móc ai, mình hãy cứ làm và nếu có gì chưa được thì hãy quay lại kiểm điểm bản thân chứ đừng kiểm tra người ta vì kiểm tra người ta là mình sẽ tham, sân, si, kiểm tra người ta rồi chỉ thấy người ta có lỗi chứ không thấy mình sai, phải xem lại bản thân thì mới tu sửa được, phải hoàn thiện tự thân, thành tựu cho bản thân là điểm quan trọng trong sự tu học.

"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là tuệ lực?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Thánh đệ tử có trí tuệ, có trí tuệ về sanh diệt, thành tựu Thánh thể nhập (quyết trạch) đưa đến chơn chánh đoạn diệt khổ đau. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tuệ lực". (Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, I. Phẩm Tài Sản, (VI). Các Tài Sản Rộng Thuyết)

Thành tựu trí tuệ về sự sanh diệt của năm uẩn, hướng dẫn ông bà, cha mẹ nhận diện ngũ uẩn, biết được cảm thọ, thấy được tham, sân, si, nhìn thấy sự sanh diệt của các cảm thọ đó, sự sanh diệt của các dục, tham, sân, si, vô minh, bản ngã để nhiếp phục, đoạn tận, nỗ lực hành trì trong sự thấy biết chân chánh về năm uẩn, đó là làm đủ và trả ơn đầy đủ đối với mẹ và cha. Tự thân mình phải tu tập lòng tin, giới hạnh, sự bố thí và trí huệ, rồi khuyến khích, hướng dẫn, đặt để ông bà, cha mẹ, anh chị em thân thương, những người có thể nghe theo mình, những người tin tưởng mình, những người chịu nghe theo mình, như vậy mình sẽ báo ơn được những người có ơn với mình. Ơn cha, ơn mẹ, ơn thầy phải khắc ghi không được quên, không được quên những người có ơn với mình, đền trả họ bằng lòng tin, giới hạnh, sự bố thí và trí tuệ, đó là cách báo ơn chân chánh nhất mà Đức Phật đã dạy trong kinh tạng Nikāya. Kính chúc quý vị trở thành những người con thảo, học trò ngoan, gia đình bình an, hạnh phúc.

./.