Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

NHÂN QUẢ

2026-03-03 00:52:18
NHÂN QUẢ

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những hoàn cảnh: PAGEREF _Toc75443086 \h 1

II. Chủ nhân của nghiệp: PAGEREF _Toc75443087 \h 6

III. Bốn hạng người: PAGEREF _Toc75443088 \h 7

IV. Như lý tác ý: PAGEREF _Toc75443089 \h 15

V. Nghiệp cũ nghiệp mới: PAGEREF _Toc75443090 \h 16

I. Những hoàn cảnh:

Kính thưa quý Phật tử, giờ đây quý vị được cầm trên tay tập sách này bên một chén trà ấm ở một không gian phù hợp cho việc đọc; quý vị có biết rằng ở ngoài kia có rất nhiều mảnh đời không được may mắn như vậy…

Họ là những người khốn khổ, khố rách ám ôm, không có quần áo để mặc; không có thực phẩm để ăn, không có một nơi để trở về nghỉ ngơi, mệt mỏi, đói khát; lang thang trên đường phố, xin ăn qua ngày. Họ là những người mang trong mình căn bệnh nan y, hiểm nghèo, đau đớn quằn quại, vô phương cứu chữa chỉ còn sống được vài ngày. Cũng tại giờ phút này đây, có những đứa trẻ mồ côi cha mẹ, bơ vơ, lạc lõng; những đứa trẻ khuyết tật, nhiễm chất độc màu da cam, sống cả đời ở trại tâm thần. Những ông bà già cả 70, 80 tuổi phải bắt đầu ngày mới với sấp vé số trên tay. Những gia đình cả đời sống chung với hàng đống rác thải, phải bới móc ve chai, lượm nhặt thức ăn thừa tại bãi rác. Và có người sống trong cảnh giam cầm, ngục tù suốt 20,30 năm. Cảnh vợ nhớ chồng, mẹ nhớ con, sanh ly tử biệt, than khóc đẫm lệ. Hằng ngày, trên thế giới mà ta đang sống, rất nhiều người người phải ra đi, rất nhiều người suy sụp vì phát hiện bản thân mắc ung thư, thật nhiều những đứa trẻ chết trong bụng mẹ hay vừa sinh ra đã không còn mẹ trên đời này nữa…

Không nên lảng tránh những sự thật này mà hãy nhìn kỹ, chiêm nghiệm thật sâu sắc những hoàn cảnh thực tế này ngoài kia để trong tâm ta khởi phát lên sự bi ai, yêu thương, đồng cảm sâu sắc đồng thời phải nhận ra ta đang rất may mắn vì được ngồi lại tại đây, đọc những dòng này. Chính vì nhìn nhận được những điều này mà ta biết trân quý giây phút hiện tại, quyết liệt đánh tan cơn buồn ngủ, sự giải đãi, giãi dượi, quên lãng thực tại.

Những giây phút này là vô giá, dầu cho rất nhiều của cải, tiền bạc, vàng ngọc cũng không đổi được. Dù cho ngoài kia, nhiều người giàu có với đầy đủ mọi tiện nghi vật chất cuộc sống nhưng họ cũng không thể mua được giây phút ngồi đây, đọc những dòng này của ta. Đây là giây phút của sự màu nhiệm, diệu kỳ để ta nếm được hương vị của sự bình an, tự tại, giải thoát. Cần phải phát khởi cảm nhận, cảm thọ mãnh nhiệt, cảm giác thương bản thân mình, thật sự thương bản thân trôi lăn trong vòng luân hồi bất tận này. Trong Tương Ưng Bộ kinh – Phẩm vô thỉ, Đức Thế Tôn dạy:

“Này các Tỷ-kheo, nước mắt mà các vị từng chảy xuống, từng rơi xuống, từng tuôn trào ra, khóc vì cảnh ông chết, bà chết, cha chết, mẹ chết, anh chết, em chết, con cái, những người thân thương mình chết, nước mắt đó nhiều hơn bốn biển”

Cuộc sống này là vô thường, không thể đoán trước được điều gì. Phải kể đến thời gian qua, báo chí đưa tin trường hợp 13 thành viên trong gia đình đi rước dâu trên một chuyến xe, cuối cùng bãi đất dọn dẹp để làm lễ vu quy nay biến thành nơi làm lễ đại tang. Trên các mặt báo điện tử, có ghi hình cảnh tượng đau đớn của người còn sống, một nỗi đâu thấu trời xanh, 13 người thân ra đi trong một khoảnh khắc, cô dâu đau đớn tột cùng chứng kiến cảnh tượng những chiếc quan tài xếp thành một hàng ngang. Trong đêm đi rước dâu, họ không hề biết trước rằng đây là chuyến xe là đêm định mệnh của cuộc đời mình. Trước khi xảy ra tai nạn một tiếng đồng hồ họ cũng không biết tử thần đang chờ đợi, thì đến nửa tiếng hay 10 phút, năm phút trước cũng không hề nghĩ rằng mình sẽ ra đi hôm nay, đến lúc họ nhận ra thì tất cả đã kết thúc. Minh Thành đau như cắt nát tim gan khi đọc, khi xem cảnh tượng đau lòng này, làm sao có thể chịu thấu.

Cuộc sống này bản chất vô thường là vậy, ấy thế mà bao lâu nay ta sống trong sự trốn tránh, quên lãng sự thật, ta đang lãng quên những điều bất ngờ, nguy hiểm, sợ hãi có thể ập đến bất cứ lúc nào. Minh Thành nhắc những điều này với mong muốn chúng ta cảm nhận sâu sắc, khởi phát một cảm giác sợ hãi, kinh sợ, khiếp sợ, hoảng sợ, cảm giác rùng rợn và khủng bố đối với nghiệp quả. Để từ đây bất cứ khi suy nghĩ, phát ngôn, tạo tác bất cứ điều gì đều với một tâm sợ hãi, cẩn thận.

Vì sự thiếu hiểu biết và ngây thơ mà một số cá nhân bình luận rằng “Tại sao không giết ông thầy xem ngày rước dâu?”, khi đọc nhưng dòng này Minh Thành cảm thấy cực kỳ đau lòng và khiếp đảm, họ không biết suy nghĩ này được khởi phát trong mê tín dị đoan và si ám. Bởi những gì xảy ra trên đời này đều do duyên, hoàn cảnh đau lòng ở trên xảy ra cũng là vì nghiệp quả đã chín muồi.

Ở bài viết ngày hôm nay, Minh Thành muốn gửi đến quý vị một thông điệp rằng: chúng ta hãy kinh sợ, hoảng sợ, thật sự sợ hãi đối với ác nghiệp, tuyệt đối không được xem thường tác động của nghiệp quả trong vòng luân hồi bất tận này. Ta luôn cho rằng sự đau khổ của bản thân là do người này, người kia mang lại; nhưng ta đã lầm, nguyên nhân của sự đau khổ nằm ở quả báo của những ác nghiệp, chỉ có nghiệp của ta mới có khả năng làm ta đau khổ, không ai bên ngoài có thể làm điều này; nghiệp trong quá khứ và hiện tại.

Trong bài kinh “Rất là nhẹ” Tăng chi bộ tập III, trang 623, Đức Phật dạy:

“Này các Tỷ-kheo, sát sanh được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của sát sanh là được làm người với tuổi thọ ngắn.”

Đức Phật dạy ở đây là “được” chứ không phải “bị”, rằng quả nhẹ nhất của sự sát sanh, giết người hại mạng là “may mắn” “được” sanh ra làm người; nhưng với tuổi thọ ngắn ngủi, chết yểu, sống không lâu, đây là quả rất nhẹ của nghiệp sát sanh.

Thường ngày, mỗi lần nghe - đọc pháp thì quý Phật tử cảm thấy thích hơn khi được nghe những lời êm ái, chúc tụng, vui vẻ, an lạc, giải thoát. Ở bài viết ngày hôm nay Minh Thành đi ngược lại với điều đó, vì những lời này nếu bàn không khéo sẽ thành vọng ngữ, nghe qua rồi ta gửi gắm tâm hồn ở đó luôn. Trong khi sự thật thực tế nhất, gần gũi nhất là suy nghĩ, lời nói, hành động hằng ngày mà ta không quan tâm, cẩn thận.

Kính thưa quý Phật tử, trong sự nghiệp tu học, mục tiêu sâu sắc của ta chính là thành tựu trí huệ được Đức Phật giải, chính là nhìn ra được những lỗi lầm của ta và biết sợ hãi đối với sai phạm này.

“Này các Tỷ-kheo, lấy của không cho được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của lấy của không cho là được làm người với sự tổn hại tài sản.”

Quả báo nhẹ thật nhẹ của nhân “lấy của không cho", là làm người với sự tổn hại tài sản, tiêu hao, hư hao, sinh con phá gia, thất nghiệp, phá sản… trong cuộc sống khi chứng kiến những điều này thì ta cảm thương cảm, tội nghiệp; tuy nhiên đây là nghiệp quả của họ trong quá khứ đã gây, bây giờ họ phải lãnh lấy.

“Này các Tỷ-kheo, tà hạnh trong các dục được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của tà hạnh trong các dục là được làm người với sự oán thù của kẻ địch.”

Có nhiều người từ khi sinh thành cho đến ngày nhắm mắt không mảy may có một kẻ thù, người hận, không ai ghét phá; được vậy nghĩa là trong quá khứ người này đã tu tập nhân lành với tà dục. Ngược lại, nếu không có sự hiểu biết và thấu hiểu thì họ sinh lòng oán hận, oán trách người “Tại sao oán hận, thù địch?”, “Tại sao phá hại gia đình của ta?”; cần phải biết rằng đây là nghiệp quả của nhân tà hạnh trong các dục ở quá khứ, đây mới chỉ là quả nhẹ nhất vậy.

“Này các Tỷ-kheo, nói láo được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói láo là được làm người bị vu cáo không đúng sự thật.”

Nghiệp quả nhẹ nhất của nhân nói không đúng sự thật là làm người bị vụ cáo không đúng sự thật, bị vu khống, thậm chí có nhiều trường hợp phải chịu tù oan suốt mấy mươi năm. Những sự kiện này đều do duyên tác thành, không tự nhiên mà việc này xảy đến với ta giữa biết nhiêu người ngoài kia.

“Này các Tỷ-kheo, nói hai lưỡi được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói hai lưỡi là được làm người với bạn bè bị đổ vỡ.”

Nói hai lưỡi đem lại nghiệp quả nhẹ nhất, làm người thì bạn bè bị đổ vỡ, sau khi kết thân một thời gian thì người không muốn làm bạn cùng ta nữa, sau đó bắt đầu bị người đặt điều nói xấu. Quả nghiệp này có lẽ ai trong số chúng ta cũng từng mắc phải, cần phải quán chiếu rằng ở quá khứ ta đã nói hai lưỡi nhiều, nay ta nhận lấy nghiệp quả của chúng.

“Này các Tỷ-kheo, nói ác khẩu được thực hiện, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàng sanh, đưa đến cõi ngạ quỷ. Quả dị thục hết sức nhẹ của nói ác khẩu là được làm người và được nghe những tiếng không khả ý.”

“Lời nói ác khẩu” là nói những lời nặng nề, cay độc, hung ác. Quả báo nhẹ nhất của nhân này là được làm người và “được nghe” những tiếng không vừa ý; nặng hơn sẽ “đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh”. Quý Phật tử thử nhớ lại, những lời hung ác của mình từng nói và của người mà từng được nghe có cảm thấy đau đớn, những lời này như xát muối, xát ớt vào vết thương đang lở loét, cực kỳ cay đắng và xót xa.

Đức Phật với tình thương không lời nào diễn tả, chúng ta lạy Ngài từ năm tám tuổi đến năm 80 tuổi vẫn chưa là bao nhiêu so với tấm lòng của Ngài dành cho ta. Ngài nhận rõ, thấu suốt mọi nguyên nhân sanh khởi của nghiệp quả, rằng: từ đâu nghiệp sanh khởi?, nghiệp tạo ra như thế nào?, nghiệp đưa đến kết quả như thế nào? Chính vì vậy nên bước đầu tu học, Đức Phật dạy ta “Này con, đừng nói dối, đừng nói 2 lưỡi, đừng nói đôi chiều, đừng nói lời hung ác.”, đây là hàng rào được Ngài dựng lên để bảo vệ bình an, hạnh phúc cho ta vậy. Vừa bước đến làm đệ tử của Ngài, chúng ta đã được những lời dạy căn bản này bảo hiểm, bảo hộ, bảo vệ, bảo trì, bảo dưỡng... đây là Tam quy ngũ giới. Tu tập những điều này sẽ mang lại kết quả tuyệt vời, thù thắng không tưởng, vừa bước vào cửa Đạo là ta đã có những lợi ích thực tế là vậy, nhưng ta không hề hay biết mà nghĩ rằng: “Tam quy ngũ giới thường quá” và muốn học gì đó cao siêu hơn nữa. Vì muốn cao siêu nên ta toàn nói về Bát Nhã, nhưng khi trở ra thì không còn thấy Bát Nhã đâu nữa mà chỉ thấy đầy dẫy là tham lam và sân hận. Chính vì vậy, quý Phật tử cần phải biết cách tu học một cách thực tế, hiệu quả nhất.

“Này các Tỷ-kheo, uống rượu men, rượu nấu được thực hiện, được tụ tập, được làm cho sung mãn, đưa đến địa ngục, đưa đến loại bàn sanh, đưa đến ngạ quỹ. Quả dị thục hết sức nhẹ của uống rượu là được làm người với cái tâm điên loạn”

Khi đọc những dòng này, nhất là cánh mày râu sẽ có suy nghĩ rằng: “Tại sao vậy, uống rượu nghiệp quả là có tâm điên loạn, xa xôi quá, có thực tế không vậy?”. Nhưng ta thử nghiền ngẫm một cách chân thực sẽ thấy, mỗi khi có rượu, bia trong người do không kiểm soát mà đánh vợ, mắng con và làm bao nhiêu chuyện khác người, xằng bậy mà khi tỉnh ta sẽ không làm, như vậy có được xem là điên rồ, khùng loạn hay không? Minh Thành từng chứng kiến những người vì say mà quằn quại, nằm mê man không đi đứng được, thậm chí có người cởi hết quần áo mà cũng không hay biết, ngay trong những điều này, ngay trong hiện tại đã thấy điên loạn rồi. “Điên” là đảo lộn sự hiểu biết, không tỉnh táo, lúc đó vì thiếu tỉnh táo mà làm những điều rồ loạn, tiền của mình người khác đến lấy mà không hay, xe của mình người ta chạy luôn cũng không biết, đảo điên thất thường. Trong câu chuyện Lan và Điệp, chàng Điệp vì bị chuốc rượu say, do không làm chủ được bản thân hối hận cả một cuộc đời. Đây là “được làm người với cái tâm điên loạn”. Thực tế trong cuộc sống, có những người lờ khờ, nói gì, nghe gì, làm gì họ cũng quên hết, lớ ngớ, thẫn thờ thì ta biết rằng đời trước họ đã từng uống bia rượu rất nhiều. Đừng nói xa xôi rằng ở tiền kiếp, có khi do họ ngay trong đời này sáng xỉn, chiều say, tối lai rai, ta thấy có điều đó rất rõ.

II. Chủ nhân của nghiệp:

Đức Phật dạy về nhân quả và nghiệp cực kỳ tuyệt vời và thâm sâu, nên quý Phật tử cố gắng đọc kinh Nikaya, nghe pháp, tu tập, nhờ đó mà được an vui trong luân hồi và chỉ có Chánh Pháp của Đức Phật mới hướng dẫn cho ta con đường đưa ra khỏi luân hồi bất tận này, không có con đường khác.

Trong kinh “Sự kiện cần phải quán sát”, bài kinh mà mỗi lần đi đám tang Minh Thành đều đề xuất quý Phật tử chùa Bảo liên tụng, Đức Phật dạy như sau:

“Ta là chủ nhân của nghiệp, ta là thừa tự của nghiệp, nghiệp là bào thai, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác ta sẽ thừa tự nghiệp ấy”

Quý Phật tử nên khắc cốt ghi tâm rằng “Ta là chủ nhân của nghiệp”, không một ai có thể tác động đến nghiệp quả của ta. Ở trên Minh Thành có nhắc về năm giới của đệ tử nhà Phật; bấy lâu nay ta mang nghiệp sát sanh là do đâu, ai có thể quyết định rằng ta phải sát sanh? Cũng vậy với lấy của không, nói dối, lưỡi đôi chiều, nói lời hung ác, nói thiêu dệt là người nào quyết định, ép rằng ta phải làm như vậy?

Chẳng hạn có người đang chịu quả nghiệp câm, điếc hay mù lòa và ta bảo người này suốt ngày từ sáng sớm đến chiều tối cầu nguyện để được lành lặn, liệu điều này có thể thành sự thật? Nếu đây là một tín ngưỡng thì còn có thể chấp nhận, trong khi chúng ta là đệ tử của Đức Phật, tu hành để thành tựu trí huệ mà vẫn cứ làm như vầy là mê tín. Giá trị chân thực của sự cầu nguyện là hướng dẫn cho người này nhận thức được điều mà họ đang lãnh chịu là quả của nhân đời trước gây tạo, do nhân nói dối, nói hai lưỡi, nói đôi chiều, nói lời hung ác mà họ phải nhận lãnh kết quả như vậy. Họ phải biết do nhân trong quá khứ và kết quả bây giờ đang thọ lãnh đi đôi như bóng với hình; không được oán trời, trách người.

Rồi mỗi khi trông thấy những người nghèo đi ăn xin ngoài đường, chẳng hạn ngày xưa khi Minh Thành còn là Tăng sinh ở chùa Phật học, mỗi lần đi ngang ngã tư tại cột đèn tín hiệu giao thông đều trông thấy một người đàn ông ở trần, cụt hai chân, xin ăn bằng một cái lon để trước mặt, trên người xăm hai chữ “HẬN ĐỜI” lớn lắm, ông hận mọi người sinh ra được có tay chân lành lặn, đầy đủ cơ thể, tiền bạc giàu có, tại sao ông sanh ra bị cụt hai chân, tật nguyền, để bây giờ nghèo khổ khốn cùng phải đi xin như vậy. Nếu là mình liệu quý Phật tử có hận hay không?

III. Bốn hạng người:

Do si ám không biết nghiệp quả từ đâu hiện hữu, do si ám nên họ không biết, những gì họ đang gánh chịu ở thời điểm hiện tại là do nhân duyên trong quá khứ; do si ám nên không biết rằng họ là thừa tự của nghiệp; cũng giống như người thừa kế tài sản, người thừa kế những nhân ác nghiệp trong quá khứ mà ta đã làm ra chính là bản thân ta, bây giờ ta phải tiếp nhận lấy nó. Nếu không hiểu nhân quả, nghiệp báo này, thời ta oán trời, trách người, hận đời và làm do có những suy nghĩ như vậy nên từ trong bóng tối ta đi vào trong bóng tối.

Đức Phật dạy, có bốn hạng người gồm: thứ nhất từ tối đi vào trong bóng tối, thứ hai từ tối đi vào trong ánh sáng, thứ ba từ sáng đi ngược vào trong bóng tối, cuối cùng từ sáng đi vào trong ánh sáng. Đây là bốn hạng người Đức Phật nhìn thấy trong thế gian này bằng trí huệ Chánh Đẳng Giác.

Từ tối đi vào trong bóng tối là hạng người trong quá khứ từng sát sanh, trộm cấp, tà dâm, nói dối, uống rượu; do làm những tội lỗi như vậy nên sanh ra với nghiệp báo khổ. Do si ám nên họ oán hận, vì oán hận nên tiếp tục tạo tác ác nghiệp. Chẳng hạn có người vừa mới mãn hạn tù lại tiếp tục gây án, trộm cắp, đánh lộn, giết người cướp của... đây là từ tối lại đi vào tối.

Từ tối đi ra ánh sáng, Đức Phật dạy rất kỹ, là những người sanh ra trong gia đình thiếu cơm ăn, áo mặc, phải đi làm thuê làm mướn, khuân vác, mồ côi, tật nguyền, bệnh hoạn... những cảnh khốn khổ như vậy là trong tối nhưng những người này biết làm điều thiện. May mắn gặp được Phật pháp hoặc có người hướng dẫn cho họ biết về nhân quả, nghiệp báo, tội phước. Nên tuy trong hoàn cảnh khổ nhưng họ biết cố gắng gieo thiện duyên, thiện nghiệp, bố thí, giúp đỡ mọi người, tránh những điều ác, như vậy là từ trong tối mà đi ra ánh sáng.

Từ sáng đi ngược vào trong bóng tối, là những cá nhân được sanh ra trong gia đình giàu có, tướng mạo đẹp đẽ, học cao, hiểu rộng; nhưng tự mãn, kiêu ngạo, tạo tác ác nghiệp. Chẳng hạn có những tiến sĩ, bác sĩ gây ra những vụ án khủng khiếp, thậm chí có những cá nhân may mắn được gặp và quy y Tam bảo, tuy nhiên vẫn gây ra những tội nghiệp, duyên ác nghiệp. Đây đều là từ sáng đi vào trong tối.

Từ sáng đi vào trong sáng là những người sống bắt đầu từ thiện lành đi đến nơi thiện thành, từ nơi phước báo đi đến nơi phước báo.

Chúng ta là ai trong bốn hạng người kể trên?

Ở bài viết ngày hôm nay, Minh Thành nhân đây nhắc cho quý Phật tử về bốn chữ “CẨN THẬN NGHIỆP QUẢ”, ta nên nhớ kỹ điều này, không thể cứ tụng đọc “cực lạc, cực lạc” là được cực lạc đâu; cực lạc hay cực khổ, mấu chốt nằm tại nơi ý nghĩ, lời nói và hành vi hằng ngày của ta.

Ta là chủ nhân, ta là người tạo nên nghiệp và ta cũng chính là người thừa kế những nghiệp này; nghiệp là bào thai, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Những suy nghĩ, lời nói, hành động mà ta đã và đang tạo tác từ quá khứ đến hiện tại là bào thai, rồi không sớm thì muộn chúng sẽ chín muồi và trổ quả, lúc đó ta là người nhận trọn những quả nghiệp này. Nghiệp là người thân, lâu nay ta cứ lầm tưởng những người trong họ hàng mới là bà con gần gũi với ta, nhưng trên sự thật người bà con thật sự sâu sắc, gần gũi nhất của ta chính là hành vi, hành động, ý nghĩ; những điều này theo ta như hình với bóng, ta đi đâu thì nó theo đến đó.

Chẳng hạn những người là tay cờ bạc lâu năm, dẫu cho đến Lasvegas đi chăng nữa thì nơi thu hút họ nhất vẫn là sòng bạc; thời gian qua có một nhóm người Việt Nam sang chơi ở Lasvegas rồi kết cục là bốn, năm người bỏ mạng ở bên đó, mà không biết lý do. Tại vì ý nghĩ của họ thích nghĩ về bài bạc, muốn đánh cược, miệng của họ thích nói về cờ bạc, tay chân muốn xếp bài, xem bài thì những thứ này đi theo họ luôn luôn, dẫu cho đi xa nửa vòng trái đất thì họ vẫn phải đến nơi thõa mãn suy nghĩ, lời nói và hành động. Nghiệp là quyến thuộc đi theo ta như hình với bóng, trước đây Minh Thành cũng từng đến Lasvegas, tuy nhiên Minh Thành không đến đây để đánh bạc; thay vào đó Minh Thành đến để giảng pháp bởi vì nghiệp của Minh Thành là giảng pháp, nói pháp, là nghiệp chia sẻ Phật Pháp nên khi đến nơi là thiên đường cờ bạc của thế giới nhưng vẫn không mảy may dính dáng đến. Minh Thành đến và đi dạo ở đó là một người khách, nhưng những người với cơn nghiện trong người thị khác, lúc này những điểm ăn chơi là chủ, họ không thể nào đi ra khỏi đó.

Có những trường hợp vô cùng tội nghiệp, cũng tại Lasvegas một vị Phật tử đến để nghe pháp nhưng vài người bàn tán rằng “chú đó đang bị thần kinh”. Khi hỏi ra thì mới biết, mỗi lần nhận lương xong là chú liền đến sòng bạc. Người Việt ta ở đây rất nhiều, mỗi lần đến chùa của Phật thường thắp nhang và cúng dường toàn tiền lẻ, còn chùa của “cờ bạc” không cần nhang mà toàn cúng bạc chẵn, mỗi lần toàn $500, $1000, $4000, $5000, $10.000, làm được bao nhiêu cúng hết bấy nhiêu, cuối cùng tán gia bại sản, gia đình tan nát, chia lìa và bị ảnh hưởng thần kinh, bởi vì làm được bao nhiêu tiền là cứ phải đem đến sòng bạc, không đến không chịu được, cực kỳ nguy hiểm.

Qua những ví dụ kể trên, quý Phật tử cần phải rõ ràng một điều rằng nghiệp là bào thai, là bà con, là điểm tựa. Chỗ dựa thật sự, sâu sắc nhất trong nội tâm của ta chính là nghiệp của ta chứ không phải là ai khác. Nếu ta cho rằng cha mẹ, vợ chồng là chỗ dựa, thì mỗi lúc sân hận hay đau khổ, ray rứt vì chuyện riêng tư của bản thân, với những nỗi khổ sâu thẳm trong tâm hồn thì lúc đó ta có thể dựa vào ai.

Nếu trước đó ta đã gieo duyên lành, nghiệp lành thì ta còn có chỗ để về rằng: “Thôi về chùa Bảo Liên đi, lên Linh Quy Pháp Ấn đi, ta lên đó tu học một tuần cho khuây khỏa.”, có nghiệp thiện thì thích lên đây. Nhưng lại có người vì thiếu cơ duyên mà không muốn ở đây, chỉ thích lên chơi, du lịch, tắm biển, shopping... có vài Phật tử từng chia sẻ rằng lúc buồn họ toàn nghĩ đến những thứ phù phiếm như vậy chứ không nghĩ đến Linh Quy Pháp Ấn, lên chùa với trời lạnh, với mưa, gió, với mái tôn đập ầm ầm sáng đêm. Chúng ta nghiễn ngẫm sẽ rõ, nghiệp là điểm tựa do ta đã có những ý nghĩ về pháp, về thiện thì khi rảnh rỗi ta tìm đến những chỗ tu tập, và khi gặp chuyện thì “thôi ta gác lại tìm về Linh Quy Pháp Ấn với sự an lạc, thanh tịnh, thanh thoát, được ở cùng quý thầy, được tu học giữa mây trời tiên cảnh”. Những lựa chọn hằng ngày của ta, dù tốt dù xấu, dù thiện dù ác đều là do quyết định tại nơi sâu thẳm bên trong ta, tại nơi ý nghĩ, cảm nhận của ta; cho nên nghiệp thật sự là điểm tựa của cuộc đời ta. Phàm là những nghiệp nào ta đã và đang tạo tác, là thiện hay là ác thì ta sẽ thừa kế nghiệp đó. Đức Phật đã dạy, rằng:

“Các chúng sanh người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp đẽ hay kẻ thô xấu, người may mắn hay kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của chúng”

Hạ liệt là những người sống ở đáy của xã hội, thấp hèn bị khinh khi, chà đạp, khi nhắc đến ta cực kỳ xót thương và đau lòng với những ác nghiệp này của họ. Thử nhìn lại bản thân mà xem, mỗi khi ta nghe một lời nói có một chút động chạm, xúc phạm, xem thường thôi là cơn giận bừng bừng bộc phát làm ta nóng nảy, khó chịu. Có bao giờ ta nghĩ đến những hoàn cảnh phải đi làm tôi tớ cho người, ngày nào cũng phải sống trong cảnh bị người la rầy, sỉ nhục, thậm chí mắng nhiết, chà đạp. Đến những hoàn cảnh xuất khẩu lao động, sang Đài Loan bỏ mạt một lượt tám, chín người; những cảnh đi lấy chồng nước ngoài vừa mới một tháng thôi mà không thể chịu đựng nỗi phải chọn cách tự vẫn, còn rất nhiều cảnh khổ mà ta không kể hết.

Cảm nhận sâu sắc sự đau đớn của những hoàn cảnh đáng thương, khắc nghiệt là vậy nên ta phải luôn nhắc bản thân cố gắng, tinh tấn trên con đường tu tập. Quý Phật tử nghĩ rằng quả của ác nghiệp là xa vời đối với mình, thử nhìn xung quanh, những sự vật sự việc gần gũi mà thôi, nương theo trí huệ của Phật nhìn ra khắp toàn cõi, để cảm thấy sợ hãi đối với nghiệp sai biệt, với vô vàn những cảnh tượng đau lòng, khốn khổ; với muôn hình muôn vẻ của nghiệp báo. Những điều này, ta cần phải học tập, quán chiếu, cảm nhận kỹ lưỡng, cẩn thận để có một cách nhìn đúng đắn.

Chẳng hạn những người phụ nữ lấy chồng nước ngoài một thời gian thì phát cơn điên loạn, lại có hoàn cảnh không phải sang lấy chồng mà bị xem như con vật, thậm chí cha con cùng ăn nằm, bóc lột sức lao động, làm việc một ngày 15 tiếng, những hoàn cảnh như vậy là đau khổ đến cùng cực, là đau khổ như thế nào, làm sao họ có thể chịu đựng.

Lại có trường hợp cả gia đình lên Sài Gòn để ngày mai lên đường sang Mỹ định cư, sau bữa nghỉ trưa, cả nhà thức dậy thì phát hiện bị thất lạc mất đứa con bốn, năm tuổi. Cả nhà đổ ra đi tìm khắp nơi vẫn không thấy, suốt một cuộc đời 40, 50 năm qua luôn sống trong sự đau lòng, dằn vặt, bà mẹ luôn hối hận, trách giận bản thân “tại sao đi ngủ làm gì?”, đến bây giờ 70 tuổi mà vẫn trông mong, thương nhớ con.

Quý Phật tử thân mến, bao nhiêu hoàn cảnh trên cuộc đời này là bấy nhiêu sự sai biệt của nghiệp quả, ta cần phải nhận rõ, thông hiểu toàn bộ, quán chiếu sâu sắc bản chất của cuộc đời trên thế gian này, đừng vì chút xíu đau khổ của mình mà sinh lòng bực bội, khó chịu, tức tối rồi sanh lòng tức giận, hờn trách để rồi tiếp tục gieo rắc ác nghiệp. Quý vị mở rộng tâm mắt để nhìn thấy rằng bản thân còn đỡ hơn người khác rất nhiều, trong đó điều may mắn nhất, thù thắng nhất trong tất cả sự may mắn là Quý Phật tử được biết đến và tu tập Chánh Pháp của Như Lai.

Tứ Thánh Đế của đạo Phật là trí huệ của bậc thánh, trong đó Khổ Thánh Đế là trí tuệ đầu tiên ta cần phải thành tựu, Đức Phật dạy:

“Này các Tỷ-kheo, có một sự thật mà các thầy cần phải cố gắng và nổ lực để rõ biết được đây là khổ. Ai thấy được sự thật này là người đó thể nhập Thánh trí”.

Với trí huệ của bậc thánh, nương theo trí tuệ của Đức Phật chứng ngộ, trên con đường tu học ta sẽ thấu rõ được những sự khổ của chúng sanh. Ở những hoàn cảnh kể trên, Minh Thành mới chỉ bàn về sự khổ đau của thân xác, của sắc uẩn mà thôi, chưa bàn nhiều về nỗi khổ tâm, mới chỉ nhắc đến nỗi khổ tâm của bà mẹ bị mất con 40, 50 năm trời, nếu sống trong cảnh đó quý vị có thể tưởng tượng được không? Thử nghĩ bỗng nhiên con mình đi lạc mất, mà không biết tìm ở đâu cả, không biết con hiện nay đang ở đâu, còn sống hay đã chết, quý Phật tử phải hiểu rằng ngày xưa không hề có các thiết bị thông tin đại chúng như facebook, zalo, viber, tivi như bây giờ, nên lâm vào hoàn cảnh của người mẹ đó là cực kỳ bế tắc và khủng hoảng.

Minh Thành có lưu lại một loạt những bài viết kể về những mảnh đời đau khổ, ở mỗi bài viết Minh Thành sẽ lồng ghép một phần để quý Phật tử cảm thấy thấm thía sự đau khổ, vô thường của cuộc đời. Một bé gái tám tuổi sống tại Lào Cai hay Lạng Sơn ở miền ngoài, mồ côi cả nhẹ, cả gia đình đều đã qua đời, chỉ một mình bé côi cút, tự mình nấu ăn, tắm gội, lo toan mọi việc trong cuộc sống. Lại có một bé khác mới chỉ mười, mười một tuổi phải lo toan chăm sóc, nuôi người cha bị bệnh tâm thần, người mẹ bại liệt nằm bất động, bán thân bất toại, tự thân bé đi làm thuê làm mướn ở xung quanh để mua gạo mắm lo lắng cho cha mẹ. Những hoàn cảnh đau lòng như vậy, một khi rơi vào, làm sao ta có thể chịu thấu…

Cẩn thận, kiểm soát suy nghĩ, lời nói, hành vi của bản thân, tránh mang lại sự đau khổ cho người khác, bởi một khi quả của nhân đó chín mùi thì chính ta là người thọ lãnh những ác quả này, chúng không phải như trái sầu riêng mà là những trái cây cay đắng, độc dược. Có thể ngay khi đọc những dòng này, quý Phật tử cảm thấy sợ hãi, tuy nhiên trong cuộc sống những lúc giận quá, lại mất khôn, rồi lại nghĩ “thôi thôi xử lý nó ngay, cho nó đừng nói nữa”.

Thường ngày Minh Thành ngồi tu học ở trong thất, trong phòng một mình nhưng Minh Thành quán chiếu, chiêm nghiệm được tất cả những chuyện đã và đang diễn ra trên thế giới, bây giờ sự tu học của chúng ta tiện lợi và dễ dàng hơn là vậy. Phải kể đến những cảnh đánh ghen, khốn khổ vô cùng vô tận, khổ sở không thể diễn tả, đó là quả của ác nghiệp, phạm vào giới cấm thứ ba, bị người nắm đầu, đánh đập lột hết quần áo giữa thiên hạ, bị đánh tan tành, tơi tả, bầm thây, bò lếch đi không nổi, cực kỳ khủng khiếp, đau đớn.

Đây là lúc ta thừa kế ác nghiệp, ác quả của nhân duyên ta đã tạo ra trong quá khứ. Xu hướng truyền thông ngày nay, trên báo chí, phim ảnh, sách báo với những câu từ, hình ảnh, âm thanh đều tạo cơ hội cho ta tạo tác những nhân duyên, ác nghiệp. Ngày xưa cách đây tầm 20, 30 năm về trước, lúc ấy hoàn toàn chưa xuất hiện những hiện tượng này; bây giờ đầy dãy là những hình ảnh, âm thanh, khơi gợi, kích động, xúi dục, khuyến khích ta chạy theo mà tạo tác những ác nghiệp, chính vì vậy nên địa ngục, ngạ quỷ súc sanh đầy dẫy, một khi rơi xuống đó rồi thì không biết khi nào mới gặp đường đi lên chỗ thiện.

Trong kinh Nikaya có diễn tả lại, rằng khi thế giới thành hoại thời địa ngục được dời qua thế giới khác, các chúng sinh trong đường ngạ quỷ súc sanh cũng sẽ theo đó mà đi qua cảnh giới khổ khác để tiếp tục chịu đựng. Trái đất này từ khi hình thành, tồn tại, biến đổi cho đến khi hoại diệt đã trải qua không biết bao nhiêu ngàn năm, tỷ năm. Vậy mà có những chúng sanh phải chịu đựng những nghiệp quả của mình tại địa ngục, từ lúc trái đất này thành hình đến khi tan hoại mà ác nghiệp vẫn trả chưa xong. Thời gian qua, tại đạo trạng chùa Bửu Liên, Minh Thành có giảng một bài pháp có tên “Búa ở trong miệng” tức khẩu nghiệp. Quý Phật tử có thể nghe lại qua kênh youtube của Linh Quy Pháp Ấn, đây là một bài pháp hay và độc đáo, bài pháp kể về một vị Tỷ-kheo phỉ báng ngài Xá-lợi-phất và ngài Mục-kiền-liên, đây là hai vị bậc đại A-la-hán, Thánh Tăng, hai vị này bây giờ mỗi khi nghe đến tên là ta dập đầu, quỳ lại với sự kính ngưỡng tột cùng. Nhưng thời đó, vì sống chung với hai vị nên tỷ kheo này không hiểu thấu nên sinh tâm xem thường. Vị Tỷ kheo này vu báng ngài Xá-lợi-phất và ngài Mục-thiền-liên, sau khi bạch với Đức Thế Tôn, chỉ trong vài bước đi mà toàn thân nổi lên những hạt mụn mủ, lúc đầu chúng chỉ nhỏ như hạt mè, vài bước nữa chúng lớn lên giống hạt đậu trắng, sau nó nổi u lên bằng trái chôm chôm, như trái cam, và bể cái những cái mụn đó ra, máu mủ từ đó rỉ chảy, sau khi người này chết, lập tức bị đọa địa ngục.

Nghiệp quả của nhân phỉ báng Tam Bảo cực kỳ khủng khiếp, do si ám mê muội nên không hề hay biết rằng những vị đó là hiền thánh tăng, nghiệp quả phỉ báng những vị tăng chưa phải là bậc hiền thành cũng đủ khủng khiếp, đau khổ cùng cực thì đừng bàn đến hiền thánh tăng. Có một cô Phật tử chia sẻ với Minh Thành rằng “Có nhiều phật tử đi tới nói với cô rằng, vị tăng này xấu, vị tăng nọ xấu, sư cô, sư bà kia xấu”; cô nghe liền gạt qua một bên, không bàn thêm về chuyện này, vì đây là một sự bàn luận cực kỳ nguy hiểm, chúng ta cần phải cẩn thận, cực kỳ cẩn thận. Nên lo lắng, nhìn lại bản thân mình trước, nếu cảm thấy người nào đó không có duyên thì ta đừng đi tới nữa thôi.

Quý Phật tử nên biết rằng, hành động phỉ báng Tam Bảo của ta vô tình không hay biết được, bằng trí tuệ của phàm phu, bằng con mắt thịt này làm sao ta có thể nhìn thấu được sự thật, được mọi việc, bằng trí tuệ này một khi tư duy về bậc thánh sẽ cực kỳ nguy hiểm và khập khiễng. Dẫu cho suy nghĩ đó là đúng thì khi nói ra ta cũng chẳng mang lại lợi ích gì cho mọi người, chỉ gieo thêm ác nghiệp, ác duyên, do đó ta cần phải cẩn thận trong ý nghĩ, lời nói, hành vi.

“Các chúng sanh nào mà làm những cái ác hạnh về thân, lời, ý, phỉ báng các bậc thánh theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa sứ địa ngục, Ngược lại những chúng sanh làm thiện hạnh thì các vị này được sanh ở cõi lành, cõi trời và cõi đời này”.

Ở trong rất nhiều bài kinh, đặc biệt là bài kinh Một pháp môn huyết trạch Đức Phật dạy:

“Phải biết về nghiệp, cần phải biết về duyên khởi của các nghiệp, cần phải biết về các nghiệp sai biệt, cần phải biết các nghiệp dị thục, cần phải biết các nghiệp đoạn diệt, cần phải biết các con đường đưa đến nghiệp đoạn diệt. Này các Tỷ-kheo, ta tuyên bố rằng: Suy tư là nghiệp. Sau khi suy tư, tạo nghiệp về thân, về lời và về ý”.

Đây là đoạn kinh hết sức quan trọng, ta cần phải hiểu rõ về nghiệp, bao lâu nay ta lầm tưởng rằng “người đó tội nghiệp gây ra cái quả vậy đó, bị bệnh bị khổ này kia, không phải”, tuy nhiên những sự khổ này của người là quả của nghiệp. Nghiệp bản chất chính là suy tư, suy nghĩ trong nội tâm ta, đó là nghiệp. Do tồn tại suy nghĩ này, sau khi suy nghĩ này khỏi phát, bị cuốn theo thì ta bắt đầu tạo nghiệp về thân, lời, ý. Hiểu được sự thật, bản chất này của nghiệp sẽ đặt một nền móng cho ta một trí huệ cực kỳ tuyệt vời. Mỗi khi ta suy tư, cần phải dùng trí huệ quán chiếu, quan sát, xem xét sự suy tư của đó, là tốt hay xấu, là thiện hay là bất thiện, là chánh hay tà. Cần phải tác ý mãnh liệt rằng “Đây là suy tư bất thiện, là ác nghiệp, cần phải chấm dứt, dừng dòng suy nghĩ này ngay lập tức”.

IV. Như lý tác ý:

Ở bài viết này, Minh Thành sẽ chia sẻ đến Quý Phật tử một báu vật của Phật Giáo, báu vật này chính là “như lý tác ý”, công cụ này được sử dụng xuyên suốt quá trình thành tựu Thánh Đạo Thánh Quả. “Như lý tác ý” là hành động uốn nắn suy tư, hướng suy tư của ta đi theo Chánh Pháp, hướng về điều tốt, thiện, điều đúng đắn; “như lý tác ý” quyết định tất cả sự tu hành của ta và có khả năng giải quyết tất cả các khổ đau, sầu bi, ưu não.

Chẳng hạn khi ta gặp một người quen, người này nói với ta rằng “bây giờ tôi mới biết bộ mặt thật của anh/chị đó, tôi không ngờ anh/chị là người như vậy.”, ngay khi nghe những lời này, trong cảm giác của ta tức thì cảm thấy khó chịu, ấm ức, bực bội, chuẩn bị cho một cơn giận tanh bành. Lúc bây giờ, bằng “như lý tác ý” ta hướng suy nghĩ, tư duy của ta đi theo hướng đúng đắn, thiện lành nhất; hướng sự suy tư này đi theo cái chiều khác làm ta ít phiền não hơn cho đến không còn phiền não về lời nói này nữa. Nếu không biết về công cụ này thì ta sẽ phiền não, bực bội dữ dội.

Vậy, như thế nào là suy tư đúng lý, suy tư theo pháp, theo chiều hướng thiện, lúc bầy giờ ta cần tác ý rằng “Đây là quà của ác nghiệp ta đã gieo rắc trong quá khứ, bây giờ là lúc quả đã chín muồi, nhận những lời này là do ta đã tạo nghiệp với người ta, bây giờ nghiệp tới rồi thì ta chấp nhận trả.”. Bằng sự suy tư đúng đắn này, ta có thời gian bình tĩnh xem xét lại rằng bản thân đã gieo nhân gì để bây giờ ta phải nhận lãnh những ác quả này, bởi vì lắm lúc ta không nhớ, trong quá khứ bản thân đã nói gì, làm gì với người ta.

Kể từ ngày hôm nay, mỗi khi sự sự không hay xảy đến với bản thân thì đầu tiên ta phải luôn nghĩ đến nghiệp quả trước, làm được điều này thì tâm sân, thứ khiến ta và người đau khổ sẽ được ngăn chặn, giảm bớt. Đây là gia tài ác nghiệp của mà ta được thừa kế, không phải tự nhiên mà giữa biết bao nhiêu con người mà họ lại tới tìm ta để gây sự. Bởi do, nghiệp là điểm tựa, tất cả những ý nghĩ, lời nói, hành động của ta, ta là chủ nhân, là người thừa nhận, tiếp nhận chúng. Những nghiệp quả này là do ta gây ra, bây giờ quả của chúng đã chín muồi, chỉ có ta là người phải tiếp nhận, đây là quả khổ của ta vậy.

Làm được như vậy, “như lý tác ý” được như vậy thì ngay tại lúc đó ta không tiếp tục làm chồng chất thêm oán thù, không hành động bốc đồng; ta có thời gian bình tĩnh, suy xét, chiêm nghiệm lại xem, bản thân trước đây đã phát ngôn, hành động gì sai trái với người đó hay không, ta đã làm gì không đúng, không tốt với họ hay không… Dần dần nhớ lại, ta nhớ lại “à, nhớ rồi, đúng rồi, người đó nói vậy, làm vậy là không sai, là đúng rồi”, do như lý tác ý mà ta bình tĩnh, do bình tĩnh mà sáng suốt. Chứ khi sân ta có biết gì đâu ngoài sự bực tức, khó chịu, người xưa có câu giận quá mất khôn là chỉ sự việc này, lúc ta sân thì trí huệ không sáng. Sau đó trở về, tinh tấn hộ trì căn, canh chừng tạo tác ác nghiệp, giữ gìn lỗ tai, con mắt mắt, giữ gìn tâm ý, hành vi, lời nói… tác ý rằng “Nghiệp tới à nha, ác nghiệp cũ trả chưa xong, giờ lại muốn tạo tác thêm cái nghiệp mới nữa hả tôi ơi?”.

V. Nghiệp cũ nghiệp mới:

Trong bài kinh Nghiệp - Tương ưng bộ, ở chương sáu xứ Đức Phật dạy:

“Này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp cũ?

- Mắt, này các Tỷ-kheo, cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ.

- Tai…

- Mũi…

- Lưỡi…

- Thân…

- Ý cần phải quán là nghiệp cũ, được tác thành, được tư niệm, được cảm thọ.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nghiệp mới? Này các Tỷ-kheo, hiện tại phàm làm việc gì với thân, với lời nói, hay với ý. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là nghiệp mới”

Nhiều người từ khi sinh thành được sở hữu đôi mắt đẹp vô cùng, trong dân gian thường ví như là mắt bồ câu, lại có người mắt một mí. Ngày xưa lúc xã hội chưa cho rằng mắt một mí giống Hàn Quốc là đẹp, thì từ một mí người ta đi cắt thành hai mí, cho đến khi có mốt mắt một mí Hàn Quốc thì đang hai mí lại muốn thành một mí. Khi sanh ra được sở hữu đôi mắt đẹp, mộng mơ, lúc nào cũng có vẻ lờ đờ giống như đang buồn ngủ, người ta gọi là đôi mắt đa tình, đa sầu, đa cảm; mắt càng đẹp thì càng đa sầu, nhìn vào lúc nào cũng thấy trầm ngâm. Cũng có người sanh ra với đôi mắt xấu, một bên mắt bị chột, lé hay mù bẩm sinh. Chính vì lẽ đó mà Đức Phật dạy rằng đôi mắt là nghiệp cũ; bởi nếu được thì con người luôn luôn chọn cho mình đôi mắt đẹp nhất, không bao giờ chọn sinh ra với đôi mắt lé, mù lòa hay khuyết tật. Như vậy đôi mắt là nghiệp cũ của chúng ta.

Cũng như thế đối với lỗ tai, vì là nghiệp cũ của bản thân cho nên mới có sự khác biệt khi người thì sinh ra với đôi tai rất thính, có thể nghe được âm thanh xa hàng 20, 30 mét; nhưng lại có người sinh ra với đôi tai bị khuyết tật, với những đôi tai nặng nề, nghe không rõ tiếng lại phải cần tới bác sĩ mổ chữa…

Cho đến lỗ mũi cũng không khác hơn, có người sinh ra với cánh mũi đẹp tự nhiên nhưng vẫn không cảm thấy hài lòng, phẫu thuật thẩm mỹ để nâng cho cao hơn, nghĩ rằng sẽ đẹp hơn nhưng cuối cùng lại trở thành thảm họa của phẩu thuật thẩm mỹ, vì thất bại trở nên phù nề mà không dám ra ngoài. Lại có nhiều người sinh ra với cánh mũi tẹt, mũi to, mũi vừa, mũi diều hâu…

Sở dĩ có sự khác nhau trong hình tướng của người đẹp và người xấu, người ở Châu Âu da trắng, Châu Phi da đen, Châu Á da vàng đều là do sự khác biệt trong nghiệp cũ, nên khi nghiệp quả chín muồi liền biểu hiện nên sự khác nhau trong hình tướng, thân thể của chúng sinh. Chính bản thân Minh Thành đây cũng là nghiệp cũ, với khuôn mặt xấu xí, lúc Minh Thành còn nhỏ mỗi lần tháo mắt kính nhìn vào trong gương luôn cảm thấy tủi thân, tại sao người ta sinh ra được đẹp đẽ mà mình sanh ra với khuôn mặt khó coi thế này. Sau này mới nhận ra, đây là nghiệp cũ mà bản thân không biết đó thôi.

Bởi vì sự khác biệt trong nghiệp cũ của mỗi người nên khi sinh ra có khuôn miệng vuông vức, lăng giác đầy đủ; lại có đôi môi bị méo, lại có những người hở lợi, sứt môi... Quý Phật tử cần phải quán chiếu sâu sắc rằng đây là sự sai biệt của nghiệp; thậm chí có những người sinh với hoàn cảnh đáng thương cực kỳ khi sinh ra mà không có miệng, phải giải phẫu, cắt bỏ, ghép nối; có những đứa bé sinh ra với 2 cái đầu do cá thể dính vào nhau, cực kỳ bất hạnh và đau đớn. Những cảnh tượng này, nếu không nhìn bằng trí huệ nhà Phật thì không làm sao giải thích được, không làm sao tưởng tượng được, rồi cho rằng cuộc đời không công bằng, hận người, hận đời. Chính vì lẽ đó mà ta cần phải nương nhờ nơi Đức Phật, người thấy hết nguồn gốc căn nguyên, đã chứng thiên nhãn minh. Ngài thuyết rằng:

“Ta giống như người đứng ở trên lầu cao tại ngã tư đường, nhìn thấy chúng sanh, kẻ bần tiện, người cao sang, kẻ nghèo cùng, người giàu có, kẻ thấp hèn, thô, xấu, đẹp đẽ... ta đều thấy rõ hết nhân duyên nghiệp quả từ đâu có ra, như thế nào, chấm dứt ra làm sao, ta thấy tất cả hết”.

Đức Phật là bậc Chánh Đẳng Giác, ngài đã thấu triệt về nhân quả và nghiệp báo, quý Phật tử đón đọc cuốn sách “Quán chiếu về nghiệp” dự kiến sắp tới Minh Thành sẽ xuất bản. Quý Phật tử sẽ nhận ra rằng tất cả mọi điều về nghiệp đều đã được Đức Phật giảng dạy trong kinh Nikaya, ta hiểu được sự nguy hiểm, khủng khiếp, đau đơn của ác nghiệp, biết được rồi thì ta cẩn thận, tạo nghiệp một cách có chọn lựa, gieo trồng toàn những hạt giống của cây ngon trái ngọt để cuối cùng thành quả của ta là những loại trái tốt tươi, xanh mát, sống được an lạc, sức khỏe. Ngược lại, vì không mà trên mảnh vườn nghiệp ta gieo trồng hỗn tạp các loại cây trái độc dược, cuối cùng khi vừa mới 50 tuổi mà trong người chất chứa 15 thứ bệnh.

Ở trên Minh Thành đã bàn về nghiệp cũ, vậy nghiệp mới là gì? Đức Phật dạy:

“Này các Tỷ-kheo, hiện tại làm việc gì với thân, nói với lời hay với ý thì gọi là nghiệp mới”.

Trở lại “như ý tác ý”, mỗi khi nghe một câu nói khó chịu khiến bản thân cảm thấy tức tối, sốc hông, cảm thấy cần phải nói ra cho hả giận, đôi co, hơn thua đến cũng với người; một người tám lạng, người nửa cân, thì đây là ác nghiệp mới được ta gieo xuống vậy. Trong trường hợp kể trên nghiệp cũ thành hình, ta liền gieo xuống ác nghiệp mới, chúng được cộng lại rồi bình phương lên, lời lãi theo đó mà tăng lên thêm, giống như cách tính của người cho vay nặng lãi hay nhẹ hơn là của ngân hàng, điều này quý Phật tử có lẽ rành rẽ hơn Minh Thành, lãi bao nhiêu Minh Thành không nắm rõ, tuy nhiên ác quả lần tới sẽ đau khổ hơn là điều chắc chắn. Ở trường hợp kể trên, quý Phật tử phải bĩnh tĩnh quán chiếu sâu sắc ra mới có thể nhận thấy được rằng “là do nghiệp cũ của ta, bởi vì hôm trước ta có nói, làm điều sai trái với người nên bây giờ người khó chịu với ta là điều dễ hiểu”. Vì không có sự quán chiếu, ta không có sự bình tĩnh ngay lúc đó, thì sẽ đâm đầu theo cơn giận, để nó chi phối và xảy ra những điều không mong muốn.

Chính vì vậy mà những cá nhân co sức tu tập niệm, định, tuệ sẽ cực kỳ hữu dụng, thiết thực trong đời sống; người càng phản ứng vội vàng với tác nhân kích thích từ bên ngoài chừng nào thì người đó càng có nhiều hối hận. Quý Phật tử cần phải nằm lòng câu phản tỉnh sau: “phản ứng vội vàng, hối hận muộn màng”. Người xưa cũng có câu “Hãy suy nghĩ cho chín chắn, cho thật kỹ rồi mới quyết định. Nếu không may quyết định đó là sai thì sau này ta cũng không hối hận vì đã suy nghĩ kĩ rồi. Nếu như hấp tập vội vàng phản ứng rồi quyết định, nếu sai thì ta sẽ hối hận suốt cuộc đời”. Có những người chỉ một lần quyết định bốc đồng là phải hối hận suốt cả một đời, như vì giận mà đánh đập vợ con dẫn đến ly dị, con cái sống trong cảnh thiếu cha, thiếu mẹ, đôi lúc nhớ thương vợ con nhưng sỹ diện, không thể đi xin lỗi vợ con nên đành mặc kệ; thương nhớ đầy vơi, sống trong hối hận tiếc nuối.

Mỗi khi cơn giận khởi lên, ngay lúc đó quý Phật tử cần phải biết rằng đây là quyết định thiếu sáng suốt của ta; trong mỗi quan hệ vợ chồng, cha mẹ, anh chị em, đồng nghiệp, tất cả công nhân viên đều phải quán chiếu như vậy như vậy hết, nên bình tĩnh, dập tắt cơn giận. Đức Phật dạy ta bình tĩnh, sáng suốt, soi xét, rồi ta quyết định; đến khi tỉnh táo nhận ra rằng “ta đâu làm gì mà người hành động như vậy?”, biết đâu là do nghiệp cũ trong quá khứ của ta, ta mới chưa truy nguyên ra được cái nhân trong hiện tại, chứ kiếp trước thì ta hoàn toàn mờ mịt, không biết mình đã làm gì sai trái với người ta. Nghĩ được như vậy thì tâm sân hận, sự nóng giận đang bừng bừng trong người được giảm thiểu; ngược lại, nếu có suy nghĩ “tới luôn, ngang ngược với tôi là tôi chơi tới bến luôn”, vén tay áo lên, mặt hừng hực sự giận dữ, “tới luôn đi, không thiết gì nữa hết, muốn tới đâu thì tôi tới đó, cứ việc tới sợ gì, không phải sợ ai cả, cháy nhà cho cháy nhà luôn”. Đây là phi như lý tác ý, là tà tư duy chính nó đưa đến đổ vỡ, tan nhà nát cửa, tù ngục, đau đớn… Ở bài viết này Minh Thành gợi ý cho quý Phật tử rất nhiều cách tư duy đúng đắn, quý Phật tử cần học tập, ứng dụng, sử dụng những sự suy tư đúng đắn này trên con đường tu hành cũng như trong cuộc sống là một điều cực kỳ tuyệt vời.

Có nhiều Phật tử rất hay đọc sách về chữ Nhẫn, ở nhà đọc sách về nhẫn tận 10 cuốn, nguyên một chồng cao, ngày nào cũng bỏ công sức nghiên cứu mà đến khi có bài tập thực hành thì không vận dụng, thực hành sự nhẫn. Phải làm bài tập thật nhiều, rèn luyện nhiều thì ta mới tiến bộ trên con đường tu hành. Rồi có vị tin kính Quán Âm, lần nào đến chùa cũng quỳ lạy trước Phật bà. Nhưng ta phải biết rằng Bồ Tát Quán Âm là tu điều gì? Bồ Tát tu lắng nghe, hiểu, thương và từ bi; Bồ Tát Quán Âm chuyên tu điều này đây. Vậy mà lúc gặp người đang bức xúc thì ta có lắng nghe không?, có đồng cảm với cảm giác bức xúc của người hay không?, ta có thấu hiểu được hoàn cảnh của người hay không?, ta có thực tập tình thương đối với người hay không? Những lúc như vậy, là ta cơ hội được từ bi, thực hành, thực tập, lần nào cũng đến quỳ lạy Phật Bà, “Phước huệ song tu, bi trí song giận, từ bi hỷ xả, đại từ đại bi, thương chúng sanh đại hỷ đại xả...”. Lần nào quỳ trước Phật Bà cũng đọc như vậy thế, trong cuộc sống hằng ngày có rất nhiều cơ hội để ta noi gương, thực tập hạnh của ngài đối với những người đáng để ta phát tâm từ bi nhất, họ là mẹ, là anh, vợ chồng, con cái, thầy bạn, huynh đệ, họ là những người đáng thực tập từ bi, đây là cơ hội ta thực tập. Vậy mà ta không phát sinh lòng yêu thương, thương xót rằng người ta cũng đang khổ, người ta đang bị ngọn lửa sân hận thiêu đốt, đang có hố than hừng hực trong tim, ta cần phải lấy nước mát của từ tâm mà dập tắc ngọn lửa đang thiêu đốt người thân của ta, giúp cho họ lấy ra những hòn than nóng đỏ, cùng nhau dập tắt. Vậy mà lâu nay ta đổ thêm dầu vào ngọn lửa này, khiến ngọn lửa bao trùm ta và người, bao trùm không khí và nhà cửa.

Bởi “như lý tác ý” mà ta học được đức nhẫn nhịn, đức từ bi, đức tha thứ, đức cảm thông định hướng suy tư của mình theo chiều thiện. Kết quả mà điều này đem lại là cực thì thù thắng và mát lành.

Ở trên bàn về tâm sân, cũng vậy đối với tâm tham độc dược. Bấy lâu nay mỗi lúc tâm tham khởi lên trong tâm thì ta đều để nó vận hành, lôi kéo, trói buộc thân và tâm ta, ta làm nô lệ cho nó. Đây là tà tư duy, là sự suy tư gây ra nghiệp, chính suy nghĩ này dẫn dắt ta đi vào đến sự đau khổ của độc dược, của hố than hừng, Đức Phật dạy:

“Dục là hố than hừng, dục giống như giấc mộng thấy nó rồi nó mất tiêu, dục giống như miếng mật trên lưỡi dao bén, khi đứa trẻ không chú ý liếm miếng mật trên lưỡi dao bén chảy máu”.

Chính vì vậy mà bất kỳ lúc nào trong tâm khởi lên sự tham lam, tham dục không hợp lý thì quý vị phải quán chiếu sâu sắc rằng đây là miếng mật dính trên lưỡi dao bén, đây là hố than hừng, là vực thẳm, tội lỗi, chúng sẽ đưa ta xuống địa ngục, ngạ quỷ súc sanh, cần phải tự bảo với bản thân như vậy để sinh khởi một cảm giác khiếp sợ, rùng rợn. Vì quán chiếu đến tột cùng thì tâm tham chỉ là một pháp, chỉ là một cảm giác, một sự suy tư trong nội tâm chứ không thực sự là ta, khi đã nhìn được bản chất thực sự rằng “Đây chỉ là một pháp, hiện tại trong nội tâm tôi đang có tham sanh khởi và đây là tham bất thiện, sự tham này đưa ta xuống vực thẳm, đưa đến chỗ tội lỗi, hố than hừng, chảo dầu sôi, cột đồng, lửa cháy”. Quý Phật tử cần phải rõ một sự thật rằng chính sự tham này giết chết bản thân ta không chỉ đời này mà giết ta ở vô lượng kiếp sau, cần phải quán chiếu, tác ý như vậy thì tâm tham đó Minh Thành chưa nói dứt hẳn nhưng nó sẽ được giảm bớt.

“Như lý tác ý” được Đức Phật giảng dạy cực kỳ sâu sắc và tuyệt vời, mỗi khi tâm tham khởi lên thì ta biết trong nội tâm đang có tham sanh khởi; phải cẩn thận, đề phòng với tâm tham này, đừng nhập cuộc, đồng nhất bản thân với tâm tham này, đừng cho rằng sự ham muốn đó, suy nghĩ đó là ta, đây là sự lầm tưởng sai sự thật. Đây chỉ đơn thuần là sự suy tư trong tâm của ta mà thôi, chính suy tư này sẽ tạo thành nghiệp, vậy kể từ hôm nay, luôn luôn xem lại, quán xét xem cái suy tư này trong tâm ta tốt hay xấu, là thiện hay bất thiện.

Cuối cùng phải kể đến tâm “Si”, tâm si là sự uể oải, ngơ ngác, dãi dượi; khi ngồi thiền, nghe pháp ban đầu tinh tấn, lưng thẳng đầu thẳng, một lúc sau thì sụp xuống, ngủ gà ngủ gật, cổ quẹo sang một bên lúc nào không hay. Đây là ta không chánh niệm, tỉnh giác, không biết, không hay rằng bản thân đang ở đâu, đang làm gì.

Đức Phật dạy rằng muốn phá tâm si ám này cần phải tác ý làm cho thân tâm phấn khởi, mạnh mẽ, dõng mãnh, tinh cần, tinh tấn đồng thời quán chiếu những nỗi khổ của những hoàn cảnh được nhắc đến ở đầu bài viết. Suy tư, quán chiếu rằng “bây giờ biết bao nhiêu người khổ mà ta được may mắn ngồi lại đọc những dòng này, đây là giây phút thiêng liêng, quý báu, tuyệt vời của cuộc đời.” Quý Phật tử nên thường nhắc nhớ như vậy mỗi khi ngồi thiền, đọc sách hay tu tập. Sau đây Minh Thành mạn phép kể hai câu chuyện về sự tinh cần, liên kết với nhau quý Phật tử sẽ cảm nhận được sự tuyệt vời trong từng mẩu chuyện.

Chuyện thứ nhất do một vị sư tốt nghiệp tiến sĩ ở Ấn Độ, sư kể rằng một ngày lúc đang học kinh, do thời tiết oi bức, nóng nực nên sư sinh tâm thối lui, không đọc tiếp nỗi (do thời tiết ở Ấn Độ lúc nóng thì rất nóng mà lạnh thì cũng rất lạnh); khi này sư nhìn ra bên ngoài thấy những đứa trẻ đang chơi đá bóng bên ngoài trời nắng. Sư tự nghĩ rằng “Tại sao bản thân mình trong nhà học kinh như vầy mà ta học không nỗi, trong khi mấy đứa trẻ dân bản xứ, chúng đã quen với khí hậu ở đây nên cũng thấy có gì đâu, tại sao ta không chịu được điều hết sức bình thường của người ta?”. Do suy nghĩ như vậy mà sư tác ý khiến bản thân phải học kinh, chinh phục được cảm thọ, cảm giác. Chính nằm ở sự như lý tác ý, suy tư đúng pháp rằng “Bao nhiêu người cực khổ làm ăn người ta làm được, ở ngoài trời nóng nực, những em bé cởi trần vậy, ta trong nhà mát mẻ như vậy ta chịu không được, tại sao vậy? Đây là ta đang sai, phải điều chỉnh suy tư lại, bắt bẩn thân ngồi lại tu học”. Cuối cùng vị sư này học tới tiến sĩ, đỗ đạt cao trở về Việt Nam làm pháp sư.

Một câu chuyện khác được kinh Nikaya ghi lại, ngày xưa từ thời Đức Phật ở Ấn Độ, có một vị Tỷ-kheo ngồi thiền cảm thấy nóng quá sức chịu đựng trong đầu suy tư dự tính xả thiền, thì lúc bấy giờ vị Tỷ-kheo này nhớ lại và tác ý, quán chiếu theo lời Đức Phật như sau “Cái nóng này so với lửa trong địa ngục đâu có là bao, cái nóng này ta chịu không nổi thì tương lai lửa địa ngục làm sao chịu nổi”. Lúc bây giờ, ngài tinh tấn, dõng mãnh, tinh cần, phát huy ngọn lửa trí huệ đốt cháy phiền não, chứng quả A-la-hán ngay tại chỗ nóng đó, cực kỳ xứng đáng được tán thán.

Còn có một vị Tỷ-kheo khác lạnh run cầm cập, tính xả thiền, tính ngã xuống nằm ngủ “thôi xuống kiếm gì che chắn, đắp lại, lạnh quá chịu không nổi”, nhưng ngài quán chiếu hình ảnh hàn băng địa ngục “Cái lạnh này chịu không nổi thì rơi xuống địa ngục toàn băng giá thì sao ta chịu nổi, giờ chịu không nổi thì cái kia sao chịu nổi, mà không chịu cái này thì phải chịu cái kia.” nên ngài nỗ lực, tinh tấn, mạnh mẽ, quyết chí tu tập rồi ngài chứng đắc thánh quả tối cao.

Qua những câu chuyện kể trên quý Phật tử cần phải nhìn nhận ra sự quan trọng của như lý tác ý, chánh tư duy, sự suy tư đúng pháp, sự suy tư theo chiều hướng tích cực để làm bàn đạp cho bản thân hướng thượng. Còn suy tư ngược lại theo chiều tiêu cực, khiến ta lười biếng, buông lung theo những thói xấu, trong vòng luân hồi tiếp diễn bất tận này. Sự lựa chọn là nằm ở quý Phật tử; lựa chọn trí huệ đốt hết thảy phiền não, chứng thánh quả hay địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh. Mỗi lần nằm ngủ mà trong đầu có suy tư không chịu thức dậy thì tác ý ngay lập tức “bây giờ muốn chảo dầu sôi, ôm cột đồng, nằm trên giường sắt cháy đỏ hay muốn tu học?”, quý vị tác ý mạnh mẽ như vậy, hỏi con ma làm biếng đó chọn cái nào.

Năm giờ thức dậy tu hành mà nó không chịu dậy thì ta hỏi nó “mi muốn xuống với chảo dầu sôi địa ngục, ôm cột đồng, nằm giường sắt cháy đỏ hay mi muốn sanh ở cõi lành, cõi thiện, an lạc, giải thoát, mi muốn cái nào?”, chắc chắn nó muốn cái hay, cái tốt, cái thích hơn rồi. Vậy ta cần phải diệt nó ngay lập tức, diệt sự giãi đãi, làm biếng, buông lung đó của tâm, chúng ta đánh đuổi nó khoảng 10 lần là nó biết sợ, thuận theo chiều tốt hơn, đến lúc tiêu diệt tận cùng để nó không còn trong bản thân của ta nữa, ta giải thoát bản thân khỏi ác ma, khỏi bị ma nhập. Bản thân chúng ta rất dễ bị ma nhập, con ma buồn ngủ, ma làm biếng, thái máy, thái động không chịu ngồi thiền, nó cứ kêu “xả thiền, đi đi, chạy chạy đi, nói đi, làm đi”, đây thêm một con ma trạo cử nữa, nó không chịu ngồi yên, nó háo động, lăng xăng, thích náo nhiệt, không chịu yên tĩnh, chính vì nó mà ta không được yên, được định, được trí tuệ.

Luôn nhớ như lý tác ý, suy tư đúng pháp, hướng suy tư theo điều thiện, điều lành, điêu tốt, làm được điều này thì đời sống của ta sẽ bước sang một trang mới. Chẳng hạn bản thân ta làm chủ, làm giám đốc hay sếp lớn trong công ty một nhân viên phát ngôn động chạm đến bản ngã, bản thân là ta nổi giận, cơn giận khởi phát cực kỳ đơn giản, vì giận dữ mà ta quyết định dùng quyền lực cho nghỉ việc nhân viên đó. Ngẫm lại mà xem, đây là điều hết sức bình thường đối với ta, cực kỳ đơn giản không ảnh hưởng bao nhiêu, nhưng lúc giận dữ mà không khéo, không cẩn thận cho đuổi việc đối với người nắm những vấn đề quan trọng trong công ty hay nắm những vị trí thiết yếu trong công việc thì hậu quả cực kỳ khủng hiếp và to lớn, nếu người đó nắm hết mối lái, họ ra mở công ty và dành hết đối tác, hoặc nhiều khi vì thù hận mà họ phá. Cổ nhân có câu, thêm một người bạn là tốt hơn một người thù, ý nghĩa là nằm ở chỗ này. Dù cho có ra đi thì là cũng ra đi trong sự nhẹ nhàng êm đẹp, không gây nghiệp xấu, thậm chí nếu họ có lỗi ta cùng bao dung “tặng một món quà” cho mọi thứ được êm đẹp; đâu biết chừng họ sẽ là đối tác hay người giúp đỡ ta trong tương lai.

Vừa qua trên các trang báo có đưa tin về cậu bé làm người giúp việc cho một đình, mà bà chủ chửi mắng thậm tệ nên hậu quả năm người trong gia đình thiệt mạng, vụ án này rúng động cả thành phố Hồ Chí Minh. Chính vì lẽ đó mà từ tâm là một món quà luôn luôn tuyệt vời trong tất cả mọi chỗ, mọi nơi, mọi thời, mọi lúc. Không phải là bản thân ta yếu, ta sợ mà đó là nơi bản thân có sự tu dưỡng, có trí tuệ để lắng nghe, thấu hiểu, cảm thông và bao dung; từ đây mà phước báo được tăng tưởng, vững mạnh, rất lớn cho chúng ta; gọi là:

“Trăm năm trước thì không có,

Trăm năm sau có lại hoàn không,

Cuộc đời sắc sắc không không,

Trăm năm còn lại tấm lòng từ bi”.

Mời quý Phật tử nhìn ra thiên nhiên bên ngoài; mời tất cả trải tâm từ, trải tình thương của ta đối với chính ta; thương ta phải biết ngăn chặn nghiệp bất thiện; phải biết cẩn thận thân, miệng, ý; thương ta tránh gây tạo những điều khổ cho người, cho nhau. Mở rộng tình thương, lan tỏa tình thương đến hết tất cả mọi người xung quanh và trời đất này, trải đến sáu hướng đông, tây, nam, bắc, trên, dưới, cùng khắp mười phương vô biên giới, hư không giới. Trải dài tình thương của ta về Sài Gòn, các tỉnh miền Tây, miền Trung; đến những người khổ bị tai nạn, trải tình thương đến với họ; đến với những em bé nghèo, mồ côi, tàn tật, người bệnh nan y liệt giường liệt chiếu; đến các đất nước đang có chiến tranh, những nơi lũ lụt; trải khắp ra đến cha mẹ, ông bà, cô bác, anh chị em, vợ, chồng, con cái; đến những bậc thầy hướng dẫn ta tu tập, những bạn lành dìu dắt ta bước vào đạo. Cảm ơn những người đã có công trong quá trình biên soạn tập sách ta cầm trên tay này đây. Trải tình thương rộng khắp ra, nguyện cho tất cả muôn loài đều có được sự bình an, vui tươi và hạnh phúc.