Tỳ Kheo Ni Thời Đức Phật 6- Kỹ Nữ Quyến Rũ Thánh Tăng & Trở Thành Ni La Hán
Tỳ Kheo Ni Thời Đức Phật 6
Kỹ Nữ Quyến Rũ Thánh Tăng & Trở Thành Ni La Hán
Thích Minh Thành
Ngày 21 tháng 06 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hóa độ người con gái PAGEREF _Toc144737955 \h 1
II. Trí tuệ Thánh Tăng PAGEREF _Toc144737956 \h 3
III. Nhàm chán – ly tham PAGEREF _Toc144737957 \h 11
IV. Vì tình thân mà xuất gia PAGEREF _Toc144737958 \h 18
I. Hóa độ người con gái
Kính bạch chư tôn thiền đức, chư vị hiền trí.
Chiều nay chúng ta tiếp tục nghe về cuộc đời và đạo hạnh của chư Tỳ-kheo ni thời Đức Thế Tôn còn tại thế.
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Vesàli làm con gái một người bán sắc đẹp sinh sống. Nàng được đặt tên là Vimalà. Khi nàng lớn lên, và suy tư với những tư tưởng uế nhiễm, nàng thấy Tôn giả Mahà Moggallàna đang đi khất thực ở Vesàli, nàng cảm thấy thương yêu Tôn giả và đi theo về tinh xá để cám dỗ. Có người nói nàng được các ngoại đạo xúi dục nên làm như vậy. Tôn giả chỉ trích hành động không tốt đẹp của nàng và thuyết pháp cho nàng, như đã được ghi trong Trưởng lão Tăng Kệ. (Therà. 1150-57), nàng cảm thấy xấu hổ và trở thành một tín nữ.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ)
Tôn giả Vimala xưa là một kỹ nữ, khi Đức Thế Tôn còn tại thế thì nàng sanh ra ở Vesali và là con gái của một người bán sắc đẹp để sinh sống, là con của kỹ nữ, nàng được đặt tên là Vimala. Cô suy tư với những tư tưởng uế nhiễm, những tư tưởng về dục vọng, ái dục, dâm dục. Khi nàng thấy Tôn giả Mahà Moggallàna đang đi khất thực ở Vesali thì nàng cảm thấy thương yêu tôn giả. Cô đem lòng thương yêu Ngài Mục-kiền-liên và theo về tịnh xá để cám dỗ Ngài ấy.
Chúng ta đã biết Tôn giả Mục-kiền-liên là một bậc chí thượng thanh văn, Thánh tăng, tướng quân Chánh pháp của Đức Phật, Ngài đã hoàn toàn sạch hết những dục vọng, tham ái, những cấu nhiễm nên có người nói với nàng là cô được ngoại đạo xúi dục nên làm như vậy.
Tôn giả chỉ trích hành động không tốt đẹp của nàng và thuyết pháp cho nàng, như đã được ghi trong Trưởng lão Tăng Kệ. (Therà. 1150-57), nàng cảm thấy xấu hổ và trở thành một tín nữ. Về sau cùng nàng xuất gia, tinh tấn tu tập, và không bao lâu chứng quả A-la-hán.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ)
Tôn giả Mục-kiền-liên thấy vậy nên chỉ trích hành động không tốt đẹp của cô và thuyết pháp cho cô nghe như được ghi trong Trưởng lão tăng kệ. Ngài Mục-kiền-liên chỉ trích, quở trách và giảng pháp cho nàng nghe, cô cảm thấy xấu hổ và trở thành một người nữ cư sĩ, trở thành một tín nữ, tức là làm đệ tử, người Phật tử tại gia. Về sau, cô xuất gia, tinh tấn tu tập, nỗ lực và không bao lâu chứng quả A-la-hán. Trong bốn chữ này là mồ hôi, nước mắt, là máu, chúng ta phải tự hiểu điều đó, trong kinh thì chỉ nói là “tinh tấn tu tập, không bao lâu chứng quả A-la-hán”.
Như vậy, người mẹ làm kỹ nữ và cô cũng hành theo nghề đó, buôn bán nhan sắc của mình, với tâm như vậy thì gặp Ngài Mục-kiền-liên, muốn yêu thương và cám dỗ Ngài, đi vào trong tinh xá. Nhưng vì Ngài Mục-kiền-liên là bậc đã đạt được cứu cánh phạm hạnh, không còn sân si, dục ái nữa nên Ngài chẳng những không bị cám dỗ mà còn giáo hóa, giảng dạy cho cô và cô quy y, trở thành Phật tử tại gia, thời gian sau mới xuất gia.
Đây là Trưởng lão tăng kệ, chúng ta đối chiếu trong Tiểu Bộ Kinh tập ba, nói về Ngài Mục-kiền-liên.
Ðời ngài được kể với đời ngài Sàriputta (CCLIX). Sau khi xuất gia một tuần, ở gần làng Kallavàla tại Magadha, trong khi du hành ngài bị hôn trầm thụy miên và được Thế Tôn dạy: 'Này Moggallàna, biếng nhác không giống với im lặng của bậc Thánh'. Ngài liền tinh tấn chế ngự sự yếu đuối của mình. Khi chỉ nghe đề tài về các giới do đức Phật giảng dạy, ngài chứng được quả A-la-hán. Một thời, Thế Tôn ở tại Jetavana, xác chứng ngài là bậc thần thông đệ nhất.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Ý nói, cuộc đời của Ngài Mục-kiền-liên gắn liền với Ngài Xá-lợi-phất, sau khi xuất gia một tuần, ở gần làng Kalavala, tại Ma-kiệt-đà, trong khi du hành thì Ngài bị hôn trầm, tùy miên. Khi ngồi thiền Ngài bị ngủ gục, Ngài được Thế Tôn dạy là biếng nhác, không giống với im lặng của bậc Thánh, Ngài liền tinh cần, chế ngự sự yếu đuối của mình khi chỉ nghe đề tài về các giới do Đức Phật giảng dạy thì Ngài chứng quả A-la-hán.
Khi Ngài nghe chủ đề Đức Phật giảng về các giới, là xứ giới uẩn, giới ở đây không phải là giới luật, giới ở đây là xứ, giới và uẩn, là sáu xứ, năm uẩn và giới là sáu căn, sáu trần, sáu thức. Khi nghe Thế Tôn giảng về các pháp này thì Ngài chứng Thánh quả A-la-hán. Trước đó là Ngài nhờ Đức Phật sách tấn Ngài ngồi thiền bị ngủ gục, bị hôn trầm.
Có một lúc Thế Tôn ở tại Chưtavana, Ngài xác chứng Ngài Mục-kiền-liên là bậc thần thông đệ nhất.
II. Trí tuệ Thánh Tăng
Có một đoạn về cô kỹ nữ trên cám dỗ Ngài Mục-kiền-liên là:
Với một kỹ nữ muốn cám dỗ ngài:
1151. Với am, sườn bằng xương,
May dính với gân thịt,
Gớm thay, đầy hơi thối!
Mang tay chân người khác,
Làm thân thể của mình!
1152. Cái bị đựng đầy phân,
Ðược da bao bọc lại,
Ôi con Quỷ cái kia!
Với vú bị ung nhọt,
Thân Ngươi, chín dòng nước
Luôn luôn được tuôn chảy.
1153. Thân Ngươi chín dòng nước
Hôi thối, tạo trói buộc,
Tỷ-kheo tránh thân ấy,
Như kẻ sạch tránh phân.
1154. Nếu người khác biết Ngươi
Như ta biết được Ngươi,
Người ấy tránh xa Ngươi,
Như khi mưa tránh phân.
Người đàn bà ấy cảm thấy hổ thẹn, đảnh lễ vị Truởng lão rồi thưa:
1155. Thật là vậy, Ðại hùng,
Như Sa-môn, ngài nói:
Ở đây, có kẻ đắm,
Như bò già trong bùn.
Bậc Trưởng lão:
1156. Ai nghĩ có thể nhuộm,
Bầu trời với màu nghệ,
Hoặc với màu sắc khác
Kẻ ấy chỉ thất bại.
1157. Tâm ta giống trời ấy,
Nội tâm khéo định tĩnh,
Chớ đem ác tâm đến
Như chim rơi đống lửa.
1158. Hãy xem bóng trang sức
Nhóm vết thương tích tụ,
Bệnh hoạn nhiều tham tưởng
Nhưng không gì trường cửu.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Chúng ta đã thấy được trí tuệ của bậc Thánh không?
Cô kỹ nữ này yêu thương Ngài Mục-kiền-liên và đi tới tịnh xác muốn cám dỗ thì Ngài đã thành bậc A-la-hán nhưng vẫn chưa được yên thân, đối với các Ngài là không có gì nữa, đối với các Ngài là vô sự, việc cần làm đã làm xong nên dù có một triệu hay một tỉ thùng sơn thì có nhuộm được bầu trời này không? Tâm của các vị A-la-hán là bầu trời, tâm nhiễm của chúng sanh là những thùng sơn, những thùng màu, làm sao có thể nhuộm bầu trời được?
“Với am, sườn bằng xương” là am tranh, thất, cốc. Chúng ta thường làm bằng tre, gỗ, sắt, mà am này được làm bằng xương và “May dính với gân thịt”
Chúng ta có bài kinh Pháp Cú:
Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng thịt máu.
(Kinh Pháp Cú)
Cũng giống với câu trên, tức là khung sườn ở trong là bộ xương và lớp phủ ở ngoài là da, thịt, xương chằng chịt, buộc lại, cột lại, liên kết lại cho dính.
Gớm thay, đầy hơi thối!
Chúng ta thấy các vị Thánh tăng đã chứng nhập Thánh trí bất tịnh viên mãn hết. Còn mình một ngày quán bất tịnh được mấy giờ? Vì mình không quán bất tịnh thì không nhiếp phục được dục. Các Ngài là các bậc chứng đắc hết về diệt dục hoàn toàn.
Gớm thay, đầy hơi thối!
Mang tay chân người khác,
Làm thân thể của mình!
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Ý nói không có tay chân nào là của mình, đều là đồ mượn, vì thân này là do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt. Nói về y học bây giờ là có thế ráp bộ phận cơ thể của người khác vào.
Vậy nên các câu:
Gớm thay, đầy hơi thối!
Mang tay chân người khác,
Làm thân thể của mình!
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Là tất cả không phải mình, nhiều khi mình thấy mình rất tội nghiệp, tự dưng đôi dép ở ngoài tiệm, ra mua về mang rồi nói “Đây là dép tôi!”, áo mới ở ngoài mua về thì ai đụng vào là sân si “Áo này là áo của tôi!” Nhưng nếu trước đó năm phút người ta có quăng, có bỏ vào thùng rác hay đốt thì mình không sân gì nhưng khi gắn vào thì “Đây là của tôi!” Cái gì mình cũng gắn chữ của tôi vào hết, mình lấy đồ của người ta làm của mình.
Ví dụ miếng đất trước đó ai ở không biết nhưng mình vừa mua về là “Miếng đất này của tôi.” Đụng vào là có chuyện. Cái nào mình cũng lấy đồ của người ta là của mình. Ví như tấm thân này có phải là của mình không? Đầu tiên là từ cha mẹ, tinh cha huyết mẹ rồi cơm cháu chất chứa, nuôi dưỡng, thân này là của cơm cháo, của tứ đại, đất nước gió lửa.
Ví dụ cây này nằm ở đâu rồi mình mua hay nhổ đem về thì nói cây này của tôi, rồi mình đau khổ, sầu bi, khổ, ưu não. Đó là nói ở ngoài, còn sâu bên trong là những thọ, tưởng, hành, những nhận thức của mình cũng vậy. Ví dụ, lúc mình sinh ra thì biết được gì, rồi mình học được những kiến thức thì nói “Đó là tôi biết, tôi nhận thức, tôi thấy như vậy.” Nhưng tất cả những cái biết đó là mượn hết, không có cái nào của mình. Nếu ai hiểu được điều đó thì người đó mới không khổ đau, hiểu được là không có tôi, không có của tôi, không có tự ngã của tôi thì người đó mới hết khổ đau.
Vậy nên chỗ này Ngài dạy hay cách dại mình tu.
“Cái bị đựng đầy phân” bị là bao hay là cái đãi, đựng đầy phân và nước tiểu bên trong,
Ðược da bao bọc lại,
Ôi con Quỷ cái kia!
Với vú bị ung nhọt,
Thân Ngươi, chín dòng nước
Luôn luôn được tuôn chảy.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Ngài cho những bộ phận cơ thể đó là ung nhọt.
Bài kinh Ung Nhọt:
1. - Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trãi nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
5. Ung nhọt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Một Ung nhọt)
Thân Ngươi, chín dòng nước
Luôn luôn được tuôn chảy.
Trong bài Đảnh lễ đức hạnh Ngài Xá-lợi-phất chúng ta đã học rất kỹ, hai mắt này đổ ra ghèn, hai lỗ mũi chảy nước mũi, miệng này chảy ra nước miếng, hai tai thì có rái tai… Đó là chín lỗ. Khi an trú tâm thường quán chiếu, nhắc nhở mình, tác ý thường xuyên, nhắc nhớ.
Thân Ngươi chín dòng nước
Hôi thối, tạo trói buộc,
Tỷ-kheo tránh thân ấy,
Như kẻ sạch tránh phân.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Nó hôi thối nhưng lại trói, cột, buộc, xiềng xích, làm cho chúng sanh phải chết lên chết xuống, sống không được mà chết không xong, ám ảnh trong tâm là khao khát, thèm khát, khát ái. Vì chín lỗ dơ bẩn, hôi thối, nhơ nhớp, bất tịnh như vậy. Đó là hiện trạng, hiện thực, hiện tại, thực tại của tất cả hữu tình chúng sanh trong thế gian này. Nó dơ bẩn, hôi thối như vậy nhưng người ta lại si mê, điên đảo, khao khát, thèm khát, khát ái. Đây là điều cay đắng và xót xa cho chính mình, cho mọi người, hữu tình, chúng sanh.
Khi nói ra là ai cũng biết dơ, biết hôi, biết bẩn, biết thối, biết gớm ghiếc, ghê sợ nhưng sự đam mê, ham thích, khao khát, thèm khát đó thì ai cũng có. Chúng ta thấy đây là một sự mê hết thức nặng nề.
Nên Ngài Mục-kiền-liên đã nói:
Tỷ-kheo tránh thân ấy,
Như kẻ sạch tránh phân.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Như mình đang đi, người sạch nhưng thấy đống phân, dù là phân của bò, chó mèo hay người thì khi người ở sạch thấy như vậy thì sao? Thì có né nhanh, chạy nhanh, bịt mũi chạy đi không? Vậy sao mình lại không né, không tránh, không sợ? Chúng ta có nhớ bài về
Nhà máy sản xuất phân
Công ty xuất nhập nguồn nước tiểu
Có gì lên mặt với kiêu căng?
Nhà máy nhưng lại sản xuất phân, hằng ngày, ngày nào cũng sản xuất, bày tiết, đào thải ra, nếu không đào thải ra được thì mình cũng bệnh, cũng khổ đau, cũng chết.
Trời ơi đất hỡi thấu cho chăng,
Xác thân nhà máy sản xuất phân
Công ty xuất nhập nguồn nước tiểu
Có gì lên mặt với kiêu căng?
Đó là bài khi Minh Thành nhập thất tác ý về quán thân.
“Trời ơi đất hỡi thấu cho chăng” là một sự tức tưởi nghẹn ngào, đau xót mà mình bị thân này gạt, lừa dối, bị u mê, si ám, bị dối lừa, bị gạt gẫm, bị bít tai, bịt mắt, bị lường gạt không chỉ một đời, mười đời, trăm đời, ngàn đời, nhiều trăm ngàn đời mà là vô lượng vô số vô biên vô thỉ kiếp, tức là không thể tính mình bị gạt từ lúc nào cho tới bây giờ.
Vô thỉ là luân hồi này, chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột trong thân này. Yêu cái này, thích cái này, khoái cái này rồi đam mê những cái bên ngoài kia rồi đau khổ trong đó. Nhảy cầu, nhảy lầu, nhảy sông, thắt cổ, uống thuốc độc… Là cũng vì thân đó, vì thèm, khát, muốn cái thân đó mà không được.
Bậc tướng quân của Chánh pháp là Ngài Mục-kiền-liên nói:
Tỷ-kheo tránh thân ấy,
Như kẻ sạch tránh phân.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Bài kinh như vậy mới làm cho mình sanh ra Thánh trí tuệ, còn học cứ lướt qua, không dám đọc các chữ thì nên nói rõ ra, phơi bày những gì bị che kín.
Cô kỹ nữ này bị Ngài Mục-kiền-liên vạch trần những sự hôi hám, bất tịnh, bẩn thỉu, nhơ nhớp:
Nếu người khác biết Ngươi
Như ta biết được Ngươi,
Người ấy tránh xa Ngươi,
Như khi mưa tránh phân.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Phật tử trình pháp:
“Như khi mưa tránh phân” là rất khó, vì mưa ở trên trời rơi xuống là tự nhiên, không biết đống phân đó ở đâu mà tránh nên việc đó là cực kì khó.
III. Nhàm chán – ly tham
Sư phụ giảng giải:
Ý nói đống phân đó đã dơ bẩn, nhưng khi trời mưa bị dơ hơn, thối hơn, bẩn hơn, nên khi trời khô mình tránh nó dễ hơn còn khi trời mưa thì mình còn tránh xa nó hơn nữa. Ví dụ nó chỉ là một đống nhỏ thì trời khô mình đi sẽ không dính, nhưng trời mưa thì chảy ra nên khi trời mưa là phải tránh xa hơn trời khô. Tức là đã là phân nhưng là đống phân nhầy nhụa, nhơ nhớp, trời mưa chảy ra, bốc mùi, dơ, lan, chảy ra. Khô thì chỉ như vậy nhưng mưa xuống thì nhầy nhụa, chảy ra nên như trời mưa tránh thân là vậy.
Nên các bậc Thánh nhìn thân này giống như đống phân gặp mưa nên các Ngài mới đoạn tận thân, chấp dứt thân, không còn tái sanh trong những thân mà có đống phân, nước tiểu này nữa. Còn mình vì thích thân, ham thân, mê thân, khoái thân, khao khát thân thì lúc gần chết rất sợ mất thân, rất hoảng sợ, hoảng loạn “Mình chết rồi!” Người ta rất sợ. Trong một tâm như vậy thì hữu ái, yêu thích sự hiện hữu của mình như vậy thì đời sau có bất cứ thân nào được thì cứ chụp vào, theo nghiệp mà chụp. Các bậc Thánh từ bỏ, ly tham đối với thân
Nhàm chán, ly tham đoạn diệt thân
Luân hồi sanh tử sẽ xa dần,
Không ưa không thích không muốn nữa,
Chấm dứt từ đây cuộc tái sanh.
Đó là bài Minh Thành làm khi nhập thất. Sự tu của mình là phải nỗ lực để nhìn thấy bản chất nhơ nhớp, bẩn thỉu, xú uế để mình nhàm chán. Mình mới có sự ly tham, không muốn nó nữa, điều đó làm cho mình giải thoát thân. Không ưa không thích không muốn nữa thì chấm dứt từ đây cuộc tái sanh.
Người đàn bà ấy cảm thấy hổ thẹn, đảnh lễ vị Truởng lão rồi thưa:
1155. Thật là vậy, Ðại hùng,
Như Sa-môn, ngài nói:
Ở đây, có kẻ đắm,
Như bò già trong bùn.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ)
Ý nói, ở đây là nói về thân này, có những kẻ say đắm, giống như con bò già nằm trong vũng sình vì nó thích nằm trong đó. Hữu tình chúng sanh thích cái dơ, thấp kém, thấp hèn, hạ liệt, bẩn thỉu, xú uế, như bò già trong bùn, trong đống sình, nằm hoài không chịu đi. Cứ bốc thân này rồi chụp thân kia rồi bắt thân nọ, vô lượng vô số thân mà không chán nhưng chụp vào thân nào là tự kiêu, kiêu ngạo, ngạo mạn, ta đây. Dù cho là thân con chó ghẻ vẫn kiêu căng, ngạo mạn, dù cho thân con sâu.
Khi Minh Thành tắm trong thất, thấy có một chú tắt kè trốn trong cửa, vừa mở ra thấy rất to, khi treo cái khăn lên gần chú ta thì chú ta đưa miệng ra ý nói “Tôi ở đây này nha!” Minh Thành nói “Thôi, không ai làm gì đâu, người ta thương không hết mà làm dữ vậy?” Đó là thân tắc kè, lâu lâu kêu lên “Tắc kè! Tắc kè!” ý nói “Tôi đây. Tôi đây.” Ngày trước có cô nói đó là “Tức nè!” Là sân, giận nên giờ bị như vậy.
Như Sa-môn, ngài nói:
Ở đây, có kẻ đắm,
Như bò già trong bùn.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ)
Hôm nay chúng ta học được nhiều hình ảnh quán chiếu như: phân mắc mưa để làm đề tài thiền quán. Những bậc Tỳ-kheo tránh thân này giống như mưa tránh phân, ngao ngán, mệt mỏi đối với thân này, đói một chút không chịu, ráng một chút không chịu mà no một chút cũng mệt. Đi một chút cũng mỏi, ngồi thì tê chân, mỏi lưng, nằm thì cũng khó chịu. Nằm, đi, đứng hay ngồi hoài cũng không chịu, nó làm cho mình mệt mỏi.
Đó là chỉ nói bình thường, chưa nói bệnh hay những chứng bệnh đeo đẳng suốt cuộc đời. Nên các bậc Thánh rất nhàm chán thân này.
Bậc Trưởng lão:
1156. Ai nghĩ có thể nhuộm,
Bầu trời với màu nghệ,
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Ý nói không thể đem màu gì có thể nhuộm được bầu trời này, không lấy sơn nào, màu nào có thể nhuộm được. Tâm của các bậc Thánh như bầu trời, không dính gì, là vô trước bậc A-la-hán, vô trước Chánh Đẳng Giác, vô trước là không dính mắc. Không bị nhiễm hay không bị nhuộm màu. Còn tâm của mình giống như tờ giấy tô màu gì là dính màu đó? Dễ bị dính dễ bị nhuộm?
Hoặc với màu sắc khác
Kẻ ấy chỉ thất bại.
1157. Tâm ta giống trời ấy,
Nội tâm khéo định tĩnh,
Chớ đem ác tâm đến
Như chim rơi đống lửa.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Tâm của các Ngài giống bầu trời với nội tâm khéo định tĩnh, giống như đại trí tuệ, giống đống lửa, ác tâm tới như chim rơi đống lửa là sẽ bị tán thân mất mạng, chết ngay tức khắc. Tâm này Ngài ví như đống lửa lớn, đại trí tuệ, còn ác tâm chỉ như con chim sẻ nhỏ, rơi vào lửa là chết.
1158. Hãy xem bóng trang sức
Nhóm vết thương tích tụ,
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ)
Giống như bài kinh Ratthapala, Trung Bộ Kinh:
Hãy nhìn hình bóng trang sức này,
Một nhóm vết thương được tích tụ,
Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều,
Nhưng không gì kiên cố, thường trú.
Hãy nhìn dung mạo trang sức này,
Với các châu báu, với vòng tai,
Một bộ xương được da bao phủ,
Được y phục làm cho sáng chói.
Chân được sơn với son với sáp,
Mặt được thoa với phấn, với bột,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.
Tóc được uốn bảy vòng, bảy lớp,
Mắt được xoa với thuốc, với son,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.
Như hộp thuốc trang hoàng mới mẻ,
Là uế thân được điểm thời trang,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.
Người thợ săn đặt bày lưới sập,
Loài nai (khôn) chẳng chạm bén chân,
Ăn lúa xong, chúng ta lên đường,
Mặc cho kẻ bắt nai than khóc.
(Trung Bộ Kinh – Bài kinh Ratthapala)
Bốn câu đầu cũng giống như bốn câu sau:
1158. Hãy xem bóng trang sức
Nhóm vết thương tích tụ,
Bệnh hoạn nhiều tham tưởng
Nhưng không gì trường cửu.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ)
Hãy nhìn bong bóng đẹp,
Chỗ chất chứa vết thương,
Bệnh hoạn nhiều suy tư,
Thật không gì trường cửu.
(Kinh Pháp Cú)
Cả ba bài trong các kinh trên đều là một. Ý nói hãy nhìn vào bong bóng đẹp, vẻ đẹp của bong bóng nước đó, chỗ chất chứa vết thương, những bệnh hoạn, nhiều suy tư, nhiều tham tưởng, những tư tưởng tham dục, tham ái, thật không có gì trường cửu, không có gì dài lâu.
Như vậy, cô Vimala này được Ngài Mục-kiền-liên nói như vậy thì cô phát tâm quy y, làm đệ tử của Ngài, được thời gian cô xin xuất gia và nỗ lực tinh cần tinh tấn thì không bao lâu cô chứng quả A-la-hán. Nghĩ đến quả vị chứng ngộ của mình thì cô phấn khởi nói lên bài kệ. Đây là bài kệ chứng ngộ, đắc đạo, chứng đạo kệ của cô:
Say mê với giai cấp,
Với dung sắc tuổi xuân,
Với danh xưng, danh vọng,
Ta ỷ lại tuổi trẻ,
Ðối với những người khác,
Ta khinh bỉ khinh thường.
73. Thân này ta trang điểm,
Ta khêu gợi kẻ ngu,
Ta đứng trong khung cửa,
Tại cửa hàng buôn sắc,
Như thợ săn, ác độc,
Ðang gieo đặt bẫy mồi.
74. Ta khoa trương trang sức,
Phô bày nhiều chỗ kín,
Ðể châm biếm nhiều người,
Ta làm nhiều ảo thuật,
Hôm nay ta khất thực,
Ðầu trọc, đắc đại y,
Ta ngồi dưới gốc cây,
Ta chứng định không tầm.
75. Mọi khổ ách đoạn tận,
Cả cõi trời, cõi người,
Quăng bỏ mọi lậu hoặc,
Ta mát lạnh tịch tịnh.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ)
Chúng ta đứng lên đảnh lễ Tôn giả Mục-kiền-liên và Tôn giả Vimala.
Chúng ta thấy hai bậc Thánh tuyệt vời không?
Trước đó là một kỹ nữ, sau đó trở thành bậc Thánh đệ tử tối thượng. Chúng ta thấy được rất nhiều những giai cấp, hoàn cảnh, khổ đau, mê muội trong xã hội và khi gặp được Thế Tôn hoặc đệ tử của Thế Tôn thì:
Vạn thủy triều đông
Chúng tinh cũng bắc
Ý nói tất cả dòng sông đều chảy về hướng đông, đều ra biển cả giải thoát đại dương của tuệ giác. Nếu cô này không gặp Ngài Mục-kiền-liên mà gặp phải phàm phu, tục tử thì chuyện sẽ ra sao? Làm gì có ngày như vậy, đó cũng là nhân duyên chín mùi của Ngài. Biết bao nhiêu người Ngài không thương mà lại thương trúng bậc A-la-hán thì quả là được Ngài A-la-hán thương lại bằng tình thương cao thượng, thánh thiện, thương tới mức độ mà độ cho cô này thành bậc đại Thánh nhân. Phát huy tình thương thanh cao, cao thượng, thánh thiện này.
Vậy có ai giờ này được hạnh phúc như chúng ta không? Chúng ta hãy cảm thọ. Dạo này chúng ta được nghe về rất nhiều vị, như người ở tận cùng vực thẳm của khổ đau, người thì ăn xin, người treo cổ tự vẫn, hôm nay là một kỹ nữ. Hôm trước có một vị điều dưỡng của di mẫu Ma-ha-ba-xà-ma-đề.
IV. Vì tình thân mà xuất gia
Bài tiếp theo là vì tình thân mà xuất gia, vì thương anh chị em rồi đi tu và cũng chứng đắc Thánh quả.
Bài kinh Sundarì Nandà:
Trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình quý tộc thuộc dòng họ Thích-ca. Ðược tên là Nandà. Nàng có danh là Nandà hoa khôi.
Khi bậc Thế Tôn giác ngộ, đi đến Kapilavatthu và độ cho Nandà và Rahula xuất gia. Khi vua Suddhodana (Tịnh Phạn) mệnh chung và bà Mahàpajàpati xuất gia, nàng Nandà tự nghĩ: 'Anh trưởng của ta đã chối từ không thừa tự quốc độ, xuất gia và trở thành đấng Thế Tôn, một bậc siêu nhân. Con của Ngài là Rahula cũng xuất gia, anh của ta vua Nandà cũng xuất gia. Mẹ của ta Mahàpajàpati, chị của ta, mẹ Rahula cũng xuất gia. Vậy ta ở nhà làm gì? Ta hãy xuất gia'.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Tức nàng suy nghĩ người thân đã đi xuất gia hết thì nàng ở nhà làm gì nữa, vì anh, chị, mẹ và bà con đều đi xuất gia hết rồi thì nàng ở nhà làm gì, hãy đi xuất gia luôn, cho vui, cho thương, cho được thân thiện, gần gũi những người thân của mình, những bậc gần gũi, địa vị cao tột mà dám từ bỏ hết còn mình thì có gì đâu nên đi theo tu luôn.
Trong quý vị có ai như vậy không? Nhiều khi có mẹ hay chị đi tu? Như sau này chúng ta sẽ được học một vị đi tu nhưng mẹ nhắc nhở, khuyên gì nhưng không ngờ mẹ của cô lại chứng A-la-hán trước. Chúng ta cũng thỉnh thoảng thấy trong các gia đình thấy mẹ đi tu nên vì thương mẹ nên cũng đi chùa theo hay đi tu theo luôn, hoặc có anh chị, cô cháu thân thương đi tu thì cũng đi theo đi tu luôn.
Như vậy là bằng tình thương nên mới đi xuất gia.
Vì Đức Như Lai là anh trưởng, vua Tịnh Phạn thì có đến tam cung lục viện nên có nhiều dòng con, không chỉ mình Rahula. Nên là anh trưởng, anh ruột, Rahula, mẹ cũng đi nên giờ mình ở nhà làm gì, cũng đi tu theo.
Nên là chúng ta tu sao để hướng dẫn những người thân của mình thì đó mới là thương thật sự, không phải thương là suốt ngày ở kế bên, cứ lo cho ăn, cho mặc thì cái đó chỉ là cái thương thường tình. Thương làm sao cho các người thân của mình được tịnh tín bất động đối với Phật Pháp Tăng, nhất là dòng pháp tối thượng Nikāya.
Như vậy nàng xuất gia không phải vì lòng tin, mà chính vì lòng thương yêu bà con trong gia đình.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Giống như thầy Pháp An thương Minh Thành, bà Diệu Hiền cũng là thương Minh Thành nên Minh Thành mới dẫn lên núi tu. Nên ai có mẹ, có cha hay có người thân, cô dì mà chịu được, tinh tưởng được dòng pháp này, có thiện duyên căn lành thì nên khuyến khích. Rủ đi vài ngày “Lên đây chơi, có cổng trời đẹp lắm, có mây!” Khoan nói về tu, còn nếu đã hiểu pháp rồi thì hãy nói tu.
Sau đó sẽ được nghe những pháp dễ dễ, nghe các pháp vui, trải hỷ vô lượng tâm. Khi nào thấm rồi thì mới nghe đến Khổ Thánh Trí. Nên cách thuyết pháp của ba đời Chư Phật có phương thức thuyết pháp, có trình tự, đạo lộ.
Sư thầy trình pháp:
Con đã từng đọc qua bài kinh và nhớ được trình tự của Đức Phật thuyết pháp, nhất là cho người cư sĩ tại gia. Đầu tiên là Đức Phật tác ý cho họ cảm nhận được niềm vui, hỷ lạc trước, sau đó dạy về bố thí, giữ giới. Sau khi thực hành được bố thí, giữ giới rồi thì Đức Phật dạy cho họ nhận thức rõ được bản chất của cuộc đời này là đau khổ, dần dần cho họ có sự nhận thức khổ để có sự nhàm chán đối với cảnh khổ. Sau đó Đức Phật thuyết giảng những trí tuệ thâm sâu, nếu như vị nào có chí hướng để tu tập giải thoát.
Sư phụ giảng giải:
Đầu tiên là Đức Phật hướng dẫn cho người ta có lòng tin Tam Bảo, giữ giới và có lòng bố thí. Các Phật tử cư sĩ thì Đức Phật thường dạy như vậy thôi. Đối với người thuần thục thì Đức Phật dạy sự nguy hại của các dục. Đối với những Phật tử cận sự, thường xuyên tu tập, thực tập thì Đức Phật nâng cấp lên, dạy cho họ thấy được tính nguy hiểm và tác hại của các dục. Khi các vị đó thuần thục rồi thì Đức Phật thuyết đến Bốn Thánh Đế. Đó là phương thức giáo hóa của Chư Phật.
Nên không phải người nào mới vào mình cũng dạy Tứ Thánh Đế là không được, người ta không chấp nhận.
Nàng xuất gia như vậy sau khi từ bỏ gia đình, nàng vẫn tự kiêu với sắc đẹp của mình và không chịu đến yết kiến đức Phật, sợ đức Phật quở trách nàng.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Vì cũng có những người khác sợ không dám đến lạy Phật, vì sự trang nghiêm, thanh tịnh, oai đức của Đức Phật. Nếu có gì sai đến thì Ngài sẽ nhắc nên sợ không dám tới, sợ bị quở trách.
Nhưng trường hợp của nàng cũng giống như trường hợp với Tỷ-kheo-ni Abhirùpa Nandà (xem kệ XIX) với sự sai khác nhau: khi nàng thấy hóa thân của một nữ nhân do đức Phật hiện ra, nữ nhân ấy dần dần trở thành già xấu, tâm của nàng dựa trên tánh vô thường và đau khổ, hướng đến thiền định.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Tức là, Đức Thế Tôn vì thương xót cô nên dùng linh ảnh để giáo hóa. Là cô nhìn thấy một thiếu nữ đẹp tuyệt trần, đẹp hơn cô gấp nhiều lần thì cô nhìn và tự thấy “Mình tự kêu là mình đẹp mà thấy cô này đẹp hơn mình rất nhiều nên giờ mình so như vậy thì không có gì.” Sau đó cô thiếu nữ này từ từ tiều tụy, xanh xao, vàng vọt, hốc hác rồi tự dưng lại tóc bạc. Da nhăn, tóc bạc, lưng còng, gối mỏi rồi sụm xuống, sụp xuống, ngã xuống, đổ xuống. Cuối cùng thì cô thiếu nữ cực kì đẹp đẽ này thành một bà già và nằm xuống chết ngay tại chỗ trước mặt cô.
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Kapilavatthu, con gái vợ chính của vua Khemaka, dòng họ Thích-ca (Sakya), tên là Nandà. Vì nàng rất đẹp nên được tên là Abhirùpa Nandà (Nandà đẹp). Ngày nàng lựa Carabhùta làm chồng, thời Carabhùta mệnh chung và cha mẹ cưỡng bức nàng xuất gia. Sau khi đã xuất gia, nàng vẫn tự kiêu với sắc đẹp của nàng, và sợ bậc Ðạo Sư quở trách, nàng lẫn tránh Ngài. Thế Tôn biết được hạnh nàng đã thuần thục nên bảo Mahàpajàpati quy tụ mọi Tỷ-kheo-ni lại để Ngài dạy bảo, nàng nhờ người khác đi thế. Ðức Phật không chấp nhận nên nàng phải đến dự. Ðức Phật hóa sanh một nữ nhân rất đẹp, nhưng dần dần bị già nua, yếu hèn và nàng bị xúc động mạnh.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm I – Tập Một Kệ - Bài kinh Abhirùpa Nandà)
Khi cô nhìn thấy hình ảnh như vậy thì:
Tâm của nàng dựa trên tánh vô thường và đau khổ, hướng đến thiền định.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Là suy tư, quán chiếu tâm và triển khai thiền quán.
Mình tưởng đâu là mình đẹp lắm, nhưng giờ cô này còn đẹp hơn mình, mà chỉ trong tích tắc đã ngã xuống.
Như chúng ta thấy trên mạng internet có hình ảnh đứa trẻ, chỉ chớp chớp là lớn, sau đó là đứng tuổi, già, tóc bạc, da nhăn rồi người này ngã xuống, chết thành bộ xương. Chỉ trong vòng bao nhiêu giây thôi, không đầy một phút. Nên Đức Phật cho thấy giống như vậy, dùng linh ảnh, phóng hào quang và hiện ra người con gái đẹp như vậy, đẹp gấp trăm lần cô ấy vì cô ấy kiêu mạng về sắc đẹp.
Hoặc những người đẹp đi tu thì chúng ta cũng thấy vậy, chỉ hơi đẹp, hơi trội hơn người khác là mình thấy họ có vẻ kiêu kỳ, kiêu sa, kiêu hãnh, kiêu ngạo nữa. Không phải ai cũng vậy mà có thể là đa số. Dù là đẹp trai, đẹp gái thì cũng vậy, vào tu nhưng cũng còn nét kiêu sa thì huống chi là Thích nữ, hoàng thân, quốc thích, vương quyền và còn đẹp nữa thì trong ý nghĩ không kiêu sa, kiêu căng, kiêu ngạo một chút được.
Nên khi thấy thì tất cả tâm ngạo mạn, kiêu mạn, kiêu căng sẽ lắng dịu xuống, chìm xuống.
Rồi đức Phật thuyết pháp cho nàng như sau:
82. Nandà, hãy nhìn thân,
Bệnh bất tịnh, hôi thúi,
Hãy tu tâm bất tịnh,
Nhứt tâm khéo định tỉnh.
83. Như thân này thân ấy,
Như thân ấy thân này,
Hôi thối và rữa nát,
Chỉ kẻ ngu thích thú.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Như thân này thân ấy hôi thối, rữa nát, phình lên, trương lên, nứt chảy, những chất dịch chảy ra hôi thối, kinh hoàng khủng khiếp. Những côn trùng, dòi bên trong bò lúc nhúc, ăn hết nội tạng, bò lúc nhúc hai khóe mắt, bò đầy trong nội tạng, ăn từ bên trong rồi tuôn trào ra. Ăn từ trong hai hốc mắt rồi tuôn ra, dần dần còn chút gân, thịt và máu, một lớp da phủ bên ngoài rồi qua năm tháng bị riệu rã, mục ra, nát, rửa ra, còn lại bộ xương trắng màu vỏ ốc.
Một năm, hai năm, ba năm rồi bộ xương này cũng rã ra, bể ra, đây là xương sọ, kia là xương sườn, nọ là xương ống chân, xương mông, rời rạc, rải rác. Cuối cùng thì năm tháng, gió mưa, nắng táp, mưa sa và những khúc xương rời rạc ấy, đầu lâu ấy cũng mòn ra, bể ra, rửa ra, nát ra thành cát bụi.
84. Như vậy quán thân này,
Ngày đêm không mệt mỏi,
Với trí tuệ của con,
Do vậy hãy thoát ly,
Với trí tuệ của con,
Thoát khỏi kiêu sắc đẹp,
Và người si nhìn thấy,
Với cái nhìn như thật.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Ý nói, thân con cũng giống như thân người phụ nữ kia, thân người phụ nữ kia cũng giống như thân của con, chỉ có người mê lầm, ngu muội mới ham thích. Con hãy ngày đêm thiền quán, soi chiếu sự bất tịnh, nhơ nhớp, tan nát, mục rã, hủy hoại, hoại diệt của tấm thân này. Ngày đêm không mệt mỏi thiền quán nha con. Với trí tuệ của con hãy thoát ra sự kiêu căng và vẻ đẹp của chính mình. Hãy nhìn bản chất của thân này đúng sự thật nha con.
Rồi nàng nghe theo lời dạy, với trí tuệ an trú vững chắc trên quả thứ nhất.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Tức là nhập lưu Thánh quả thứ nhất, trong lời dạy đó, nàng đắc pháp nhãn tịnh, trí sanh, quang sanh, mắt pháp được mở sáng. Từ vô lượng kiếp đui mù giờ mắt trí tuệ được mở sáng, chứng vào Thánh quả thứ nhất, Dự lưu Thánh quả.
Muốn giúp nàng đạt được những quả vị cao hơn, Thế Tôn dạy thêm cho nàng: Này Nandà, trong cái thân này không có một chút gì là tinh túy, chỉ là một đống xương và thịt bị già, chết chi phối. Như đã được nói trong tập Pháp cú:
85. Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng máu thịt,
Ở đây già và chết,
Mạn, lừa đảo chất chứa.
(Pháp Cú. 150)
Khi đức Phật nói xong, nàng liền chứng quả A-la-hán.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Ý nói này con, trong thân này không có chút gì tinh túy, chỉ là một đống xương và thịt, nó sẽ bị già và chết chi phối. Thân này làm bằng xương, quét tô bằng thịt máu, ở đây già và chết, ngã mạn, lừa dối chất chứa.
Khi Đức Phật nói vừa xong, Ngài liền đoạn tận tham, sân, si, dứt hết tất cả dục ái, phá tan vô minh, chặt đứt chấp thủ, tất cả tâm mê đều được đánh thức viên mãn, lậu hoặc sạch hết, thành tựu Thánh quả tối cao, đạt được cứu cánh phạm hạnh.
Và nghĩ đến sự chiến thắng của mình, nàng sung sướng với lời dạy của đức Bổn Sư và nói thêm:
86. Với tâm không phóng dật,
Như lý, quán thân ấy,
Tánh như thật thân này,
Ðược thấy trong và ngoài.
Ta nhàm chán thân thể,
Nội tâm được ly tham,
Không phóng dật ly hệ,
Ta an bình tịch tịnh.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Tâm thương này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
01:35:00- Hết: Nhạc
Kỹ Nữ Quyến Rũ Thánh Tăng & Trở Thành Ni La Hán
Thích Minh Thành
Ngày 21 tháng 06 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hóa độ người con gái PAGEREF _Toc144737955 \h 1
II. Trí tuệ Thánh Tăng PAGEREF _Toc144737956 \h 3
III. Nhàm chán – ly tham PAGEREF _Toc144737957 \h 11
IV. Vì tình thân mà xuất gia PAGEREF _Toc144737958 \h 18
I. Hóa độ người con gái
Kính bạch chư tôn thiền đức, chư vị hiền trí.
Chiều nay chúng ta tiếp tục nghe về cuộc đời và đạo hạnh của chư Tỳ-kheo ni thời Đức Thế Tôn còn tại thế.
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Vesàli làm con gái một người bán sắc đẹp sinh sống. Nàng được đặt tên là Vimalà. Khi nàng lớn lên, và suy tư với những tư tưởng uế nhiễm, nàng thấy Tôn giả Mahà Moggallàna đang đi khất thực ở Vesàli, nàng cảm thấy thương yêu Tôn giả và đi theo về tinh xá để cám dỗ. Có người nói nàng được các ngoại đạo xúi dục nên làm như vậy. Tôn giả chỉ trích hành động không tốt đẹp của nàng và thuyết pháp cho nàng, như đã được ghi trong Trưởng lão Tăng Kệ. (Therà. 1150-57), nàng cảm thấy xấu hổ và trở thành một tín nữ.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ)
Tôn giả Vimala xưa là một kỹ nữ, khi Đức Thế Tôn còn tại thế thì nàng sanh ra ở Vesali và là con gái của một người bán sắc đẹp để sinh sống, là con của kỹ nữ, nàng được đặt tên là Vimala. Cô suy tư với những tư tưởng uế nhiễm, những tư tưởng về dục vọng, ái dục, dâm dục. Khi nàng thấy Tôn giả Mahà Moggallàna đang đi khất thực ở Vesali thì nàng cảm thấy thương yêu tôn giả. Cô đem lòng thương yêu Ngài Mục-kiền-liên và theo về tịnh xá để cám dỗ Ngài ấy.
Chúng ta đã biết Tôn giả Mục-kiền-liên là một bậc chí thượng thanh văn, Thánh tăng, tướng quân Chánh pháp của Đức Phật, Ngài đã hoàn toàn sạch hết những dục vọng, tham ái, những cấu nhiễm nên có người nói với nàng là cô được ngoại đạo xúi dục nên làm như vậy.
Tôn giả chỉ trích hành động không tốt đẹp của nàng và thuyết pháp cho nàng, như đã được ghi trong Trưởng lão Tăng Kệ. (Therà. 1150-57), nàng cảm thấy xấu hổ và trở thành một tín nữ. Về sau cùng nàng xuất gia, tinh tấn tu tập, và không bao lâu chứng quả A-la-hán.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ)
Tôn giả Mục-kiền-liên thấy vậy nên chỉ trích hành động không tốt đẹp của cô và thuyết pháp cho cô nghe như được ghi trong Trưởng lão tăng kệ. Ngài Mục-kiền-liên chỉ trích, quở trách và giảng pháp cho nàng nghe, cô cảm thấy xấu hổ và trở thành một người nữ cư sĩ, trở thành một tín nữ, tức là làm đệ tử, người Phật tử tại gia. Về sau, cô xuất gia, tinh tấn tu tập, nỗ lực và không bao lâu chứng quả A-la-hán. Trong bốn chữ này là mồ hôi, nước mắt, là máu, chúng ta phải tự hiểu điều đó, trong kinh thì chỉ nói là “tinh tấn tu tập, không bao lâu chứng quả A-la-hán”.
Như vậy, người mẹ làm kỹ nữ và cô cũng hành theo nghề đó, buôn bán nhan sắc của mình, với tâm như vậy thì gặp Ngài Mục-kiền-liên, muốn yêu thương và cám dỗ Ngài, đi vào trong tinh xá. Nhưng vì Ngài Mục-kiền-liên là bậc đã đạt được cứu cánh phạm hạnh, không còn sân si, dục ái nữa nên Ngài chẳng những không bị cám dỗ mà còn giáo hóa, giảng dạy cho cô và cô quy y, trở thành Phật tử tại gia, thời gian sau mới xuất gia.
Đây là Trưởng lão tăng kệ, chúng ta đối chiếu trong Tiểu Bộ Kinh tập ba, nói về Ngài Mục-kiền-liên.
Ðời ngài được kể với đời ngài Sàriputta (CCLIX). Sau khi xuất gia một tuần, ở gần làng Kallavàla tại Magadha, trong khi du hành ngài bị hôn trầm thụy miên và được Thế Tôn dạy: 'Này Moggallàna, biếng nhác không giống với im lặng của bậc Thánh'. Ngài liền tinh tấn chế ngự sự yếu đuối của mình. Khi chỉ nghe đề tài về các giới do đức Phật giảng dạy, ngài chứng được quả A-la-hán. Một thời, Thế Tôn ở tại Jetavana, xác chứng ngài là bậc thần thông đệ nhất.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Ý nói, cuộc đời của Ngài Mục-kiền-liên gắn liền với Ngài Xá-lợi-phất, sau khi xuất gia một tuần, ở gần làng Kalavala, tại Ma-kiệt-đà, trong khi du hành thì Ngài bị hôn trầm, tùy miên. Khi ngồi thiền Ngài bị ngủ gục, Ngài được Thế Tôn dạy là biếng nhác, không giống với im lặng của bậc Thánh, Ngài liền tinh cần, chế ngự sự yếu đuối của mình khi chỉ nghe đề tài về các giới do Đức Phật giảng dạy thì Ngài chứng quả A-la-hán.
Khi Ngài nghe chủ đề Đức Phật giảng về các giới, là xứ giới uẩn, giới ở đây không phải là giới luật, giới ở đây là xứ, giới và uẩn, là sáu xứ, năm uẩn và giới là sáu căn, sáu trần, sáu thức. Khi nghe Thế Tôn giảng về các pháp này thì Ngài chứng Thánh quả A-la-hán. Trước đó là Ngài nhờ Đức Phật sách tấn Ngài ngồi thiền bị ngủ gục, bị hôn trầm.
Có một lúc Thế Tôn ở tại Chưtavana, Ngài xác chứng Ngài Mục-kiền-liên là bậc thần thông đệ nhất.
II. Trí tuệ Thánh Tăng
Có một đoạn về cô kỹ nữ trên cám dỗ Ngài Mục-kiền-liên là:
Với một kỹ nữ muốn cám dỗ ngài:
1151. Với am, sườn bằng xương,
May dính với gân thịt,
Gớm thay, đầy hơi thối!
Mang tay chân người khác,
Làm thân thể của mình!
1152. Cái bị đựng đầy phân,
Ðược da bao bọc lại,
Ôi con Quỷ cái kia!
Với vú bị ung nhọt,
Thân Ngươi, chín dòng nước
Luôn luôn được tuôn chảy.
1153. Thân Ngươi chín dòng nước
Hôi thối, tạo trói buộc,
Tỷ-kheo tránh thân ấy,
Như kẻ sạch tránh phân.
1154. Nếu người khác biết Ngươi
Như ta biết được Ngươi,
Người ấy tránh xa Ngươi,
Như khi mưa tránh phân.
Người đàn bà ấy cảm thấy hổ thẹn, đảnh lễ vị Truởng lão rồi thưa:
1155. Thật là vậy, Ðại hùng,
Như Sa-môn, ngài nói:
Ở đây, có kẻ đắm,
Như bò già trong bùn.
Bậc Trưởng lão:
1156. Ai nghĩ có thể nhuộm,
Bầu trời với màu nghệ,
Hoặc với màu sắc khác
Kẻ ấy chỉ thất bại.
1157. Tâm ta giống trời ấy,
Nội tâm khéo định tĩnh,
Chớ đem ác tâm đến
Như chim rơi đống lửa.
1158. Hãy xem bóng trang sức
Nhóm vết thương tích tụ,
Bệnh hoạn nhiều tham tưởng
Nhưng không gì trường cửu.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Chúng ta đã thấy được trí tuệ của bậc Thánh không?
Cô kỹ nữ này yêu thương Ngài Mục-kiền-liên và đi tới tịnh xác muốn cám dỗ thì Ngài đã thành bậc A-la-hán nhưng vẫn chưa được yên thân, đối với các Ngài là không có gì nữa, đối với các Ngài là vô sự, việc cần làm đã làm xong nên dù có một triệu hay một tỉ thùng sơn thì có nhuộm được bầu trời này không? Tâm của các vị A-la-hán là bầu trời, tâm nhiễm của chúng sanh là những thùng sơn, những thùng màu, làm sao có thể nhuộm bầu trời được?
“Với am, sườn bằng xương” là am tranh, thất, cốc. Chúng ta thường làm bằng tre, gỗ, sắt, mà am này được làm bằng xương và “May dính với gân thịt”
Chúng ta có bài kinh Pháp Cú:
Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng thịt máu.
(Kinh Pháp Cú)
Cũng giống với câu trên, tức là khung sườn ở trong là bộ xương và lớp phủ ở ngoài là da, thịt, xương chằng chịt, buộc lại, cột lại, liên kết lại cho dính.
Gớm thay, đầy hơi thối!
Chúng ta thấy các vị Thánh tăng đã chứng nhập Thánh trí bất tịnh viên mãn hết. Còn mình một ngày quán bất tịnh được mấy giờ? Vì mình không quán bất tịnh thì không nhiếp phục được dục. Các Ngài là các bậc chứng đắc hết về diệt dục hoàn toàn.
Gớm thay, đầy hơi thối!
Mang tay chân người khác,
Làm thân thể của mình!
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Ý nói không có tay chân nào là của mình, đều là đồ mượn, vì thân này là do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt. Nói về y học bây giờ là có thế ráp bộ phận cơ thể của người khác vào.
Vậy nên các câu:
Gớm thay, đầy hơi thối!
Mang tay chân người khác,
Làm thân thể của mình!
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Là tất cả không phải mình, nhiều khi mình thấy mình rất tội nghiệp, tự dưng đôi dép ở ngoài tiệm, ra mua về mang rồi nói “Đây là dép tôi!”, áo mới ở ngoài mua về thì ai đụng vào là sân si “Áo này là áo của tôi!” Nhưng nếu trước đó năm phút người ta có quăng, có bỏ vào thùng rác hay đốt thì mình không sân gì nhưng khi gắn vào thì “Đây là của tôi!” Cái gì mình cũng gắn chữ của tôi vào hết, mình lấy đồ của người ta làm của mình.
Ví dụ miếng đất trước đó ai ở không biết nhưng mình vừa mua về là “Miếng đất này của tôi.” Đụng vào là có chuyện. Cái nào mình cũng lấy đồ của người ta là của mình. Ví như tấm thân này có phải là của mình không? Đầu tiên là từ cha mẹ, tinh cha huyết mẹ rồi cơm cháu chất chứa, nuôi dưỡng, thân này là của cơm cháo, của tứ đại, đất nước gió lửa.
Ví dụ cây này nằm ở đâu rồi mình mua hay nhổ đem về thì nói cây này của tôi, rồi mình đau khổ, sầu bi, khổ, ưu não. Đó là nói ở ngoài, còn sâu bên trong là những thọ, tưởng, hành, những nhận thức của mình cũng vậy. Ví dụ, lúc mình sinh ra thì biết được gì, rồi mình học được những kiến thức thì nói “Đó là tôi biết, tôi nhận thức, tôi thấy như vậy.” Nhưng tất cả những cái biết đó là mượn hết, không có cái nào của mình. Nếu ai hiểu được điều đó thì người đó mới không khổ đau, hiểu được là không có tôi, không có của tôi, không có tự ngã của tôi thì người đó mới hết khổ đau.
Vậy nên chỗ này Ngài dạy hay cách dại mình tu.
“Cái bị đựng đầy phân” bị là bao hay là cái đãi, đựng đầy phân và nước tiểu bên trong,
Ðược da bao bọc lại,
Ôi con Quỷ cái kia!
Với vú bị ung nhọt,
Thân Ngươi, chín dòng nước
Luôn luôn được tuôn chảy.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Ngài cho những bộ phận cơ thể đó là ung nhọt.
Bài kinh Ung Nhọt:
1. - Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trãi nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
5. Ung nhọt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này.
(Tăng Chi Bộ Kinh – Chương Chín Pháp - Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử - Bài kinh Một Ung nhọt)
Thân Ngươi, chín dòng nước
Luôn luôn được tuôn chảy.
Trong bài Đảnh lễ đức hạnh Ngài Xá-lợi-phất chúng ta đã học rất kỹ, hai mắt này đổ ra ghèn, hai lỗ mũi chảy nước mũi, miệng này chảy ra nước miếng, hai tai thì có rái tai… Đó là chín lỗ. Khi an trú tâm thường quán chiếu, nhắc nhở mình, tác ý thường xuyên, nhắc nhớ.
Thân Ngươi chín dòng nước
Hôi thối, tạo trói buộc,
Tỷ-kheo tránh thân ấy,
Như kẻ sạch tránh phân.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Nó hôi thối nhưng lại trói, cột, buộc, xiềng xích, làm cho chúng sanh phải chết lên chết xuống, sống không được mà chết không xong, ám ảnh trong tâm là khao khát, thèm khát, khát ái. Vì chín lỗ dơ bẩn, hôi thối, nhơ nhớp, bất tịnh như vậy. Đó là hiện trạng, hiện thực, hiện tại, thực tại của tất cả hữu tình chúng sanh trong thế gian này. Nó dơ bẩn, hôi thối như vậy nhưng người ta lại si mê, điên đảo, khao khát, thèm khát, khát ái. Đây là điều cay đắng và xót xa cho chính mình, cho mọi người, hữu tình, chúng sanh.
Khi nói ra là ai cũng biết dơ, biết hôi, biết bẩn, biết thối, biết gớm ghiếc, ghê sợ nhưng sự đam mê, ham thích, khao khát, thèm khát đó thì ai cũng có. Chúng ta thấy đây là một sự mê hết thức nặng nề.
Nên Ngài Mục-kiền-liên đã nói:
Tỷ-kheo tránh thân ấy,
Như kẻ sạch tránh phân.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Như mình đang đi, người sạch nhưng thấy đống phân, dù là phân của bò, chó mèo hay người thì khi người ở sạch thấy như vậy thì sao? Thì có né nhanh, chạy nhanh, bịt mũi chạy đi không? Vậy sao mình lại không né, không tránh, không sợ? Chúng ta có nhớ bài về
Nhà máy sản xuất phân
Công ty xuất nhập nguồn nước tiểu
Có gì lên mặt với kiêu căng?
Nhà máy nhưng lại sản xuất phân, hằng ngày, ngày nào cũng sản xuất, bày tiết, đào thải ra, nếu không đào thải ra được thì mình cũng bệnh, cũng khổ đau, cũng chết.
Trời ơi đất hỡi thấu cho chăng,
Xác thân nhà máy sản xuất phân
Công ty xuất nhập nguồn nước tiểu
Có gì lên mặt với kiêu căng?
Đó là bài khi Minh Thành nhập thất tác ý về quán thân.
“Trời ơi đất hỡi thấu cho chăng” là một sự tức tưởi nghẹn ngào, đau xót mà mình bị thân này gạt, lừa dối, bị u mê, si ám, bị dối lừa, bị gạt gẫm, bị bít tai, bịt mắt, bị lường gạt không chỉ một đời, mười đời, trăm đời, ngàn đời, nhiều trăm ngàn đời mà là vô lượng vô số vô biên vô thỉ kiếp, tức là không thể tính mình bị gạt từ lúc nào cho tới bây giờ.
Vô thỉ là luân hồi này, chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột trong thân này. Yêu cái này, thích cái này, khoái cái này rồi đam mê những cái bên ngoài kia rồi đau khổ trong đó. Nhảy cầu, nhảy lầu, nhảy sông, thắt cổ, uống thuốc độc… Là cũng vì thân đó, vì thèm, khát, muốn cái thân đó mà không được.
Bậc tướng quân của Chánh pháp là Ngài Mục-kiền-liên nói:
Tỷ-kheo tránh thân ấy,
Như kẻ sạch tránh phân.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Bài kinh như vậy mới làm cho mình sanh ra Thánh trí tuệ, còn học cứ lướt qua, không dám đọc các chữ thì nên nói rõ ra, phơi bày những gì bị che kín.
Cô kỹ nữ này bị Ngài Mục-kiền-liên vạch trần những sự hôi hám, bất tịnh, bẩn thỉu, nhơ nhớp:
Nếu người khác biết Ngươi
Như ta biết được Ngươi,
Người ấy tránh xa Ngươi,
Như khi mưa tránh phân.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Phật tử trình pháp:
“Như khi mưa tránh phân” là rất khó, vì mưa ở trên trời rơi xuống là tự nhiên, không biết đống phân đó ở đâu mà tránh nên việc đó là cực kì khó.
III. Nhàm chán – ly tham
Sư phụ giảng giải:
Ý nói đống phân đó đã dơ bẩn, nhưng khi trời mưa bị dơ hơn, thối hơn, bẩn hơn, nên khi trời khô mình tránh nó dễ hơn còn khi trời mưa thì mình còn tránh xa nó hơn nữa. Ví dụ nó chỉ là một đống nhỏ thì trời khô mình đi sẽ không dính, nhưng trời mưa thì chảy ra nên khi trời mưa là phải tránh xa hơn trời khô. Tức là đã là phân nhưng là đống phân nhầy nhụa, nhơ nhớp, trời mưa chảy ra, bốc mùi, dơ, lan, chảy ra. Khô thì chỉ như vậy nhưng mưa xuống thì nhầy nhụa, chảy ra nên như trời mưa tránh thân là vậy.
Nên các bậc Thánh nhìn thân này giống như đống phân gặp mưa nên các Ngài mới đoạn tận thân, chấp dứt thân, không còn tái sanh trong những thân mà có đống phân, nước tiểu này nữa. Còn mình vì thích thân, ham thân, mê thân, khoái thân, khao khát thân thì lúc gần chết rất sợ mất thân, rất hoảng sợ, hoảng loạn “Mình chết rồi!” Người ta rất sợ. Trong một tâm như vậy thì hữu ái, yêu thích sự hiện hữu của mình như vậy thì đời sau có bất cứ thân nào được thì cứ chụp vào, theo nghiệp mà chụp. Các bậc Thánh từ bỏ, ly tham đối với thân
Nhàm chán, ly tham đoạn diệt thân
Luân hồi sanh tử sẽ xa dần,
Không ưa không thích không muốn nữa,
Chấm dứt từ đây cuộc tái sanh.
Đó là bài Minh Thành làm khi nhập thất. Sự tu của mình là phải nỗ lực để nhìn thấy bản chất nhơ nhớp, bẩn thỉu, xú uế để mình nhàm chán. Mình mới có sự ly tham, không muốn nó nữa, điều đó làm cho mình giải thoát thân. Không ưa không thích không muốn nữa thì chấm dứt từ đây cuộc tái sanh.
Người đàn bà ấy cảm thấy hổ thẹn, đảnh lễ vị Truởng lão rồi thưa:
1155. Thật là vậy, Ðại hùng,
Như Sa-môn, ngài nói:
Ở đây, có kẻ đắm,
Như bò già trong bùn.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ)
Ý nói, ở đây là nói về thân này, có những kẻ say đắm, giống như con bò già nằm trong vũng sình vì nó thích nằm trong đó. Hữu tình chúng sanh thích cái dơ, thấp kém, thấp hèn, hạ liệt, bẩn thỉu, xú uế, như bò già trong bùn, trong đống sình, nằm hoài không chịu đi. Cứ bốc thân này rồi chụp thân kia rồi bắt thân nọ, vô lượng vô số thân mà không chán nhưng chụp vào thân nào là tự kiêu, kiêu ngạo, ngạo mạn, ta đây. Dù cho là thân con chó ghẻ vẫn kiêu căng, ngạo mạn, dù cho thân con sâu.
Khi Minh Thành tắm trong thất, thấy có một chú tắt kè trốn trong cửa, vừa mở ra thấy rất to, khi treo cái khăn lên gần chú ta thì chú ta đưa miệng ra ý nói “Tôi ở đây này nha!” Minh Thành nói “Thôi, không ai làm gì đâu, người ta thương không hết mà làm dữ vậy?” Đó là thân tắc kè, lâu lâu kêu lên “Tắc kè! Tắc kè!” ý nói “Tôi đây. Tôi đây.” Ngày trước có cô nói đó là “Tức nè!” Là sân, giận nên giờ bị như vậy.
Như Sa-môn, ngài nói:
Ở đây, có kẻ đắm,
Như bò già trong bùn.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ)
Hôm nay chúng ta học được nhiều hình ảnh quán chiếu như: phân mắc mưa để làm đề tài thiền quán. Những bậc Tỳ-kheo tránh thân này giống như mưa tránh phân, ngao ngán, mệt mỏi đối với thân này, đói một chút không chịu, ráng một chút không chịu mà no một chút cũng mệt. Đi một chút cũng mỏi, ngồi thì tê chân, mỏi lưng, nằm thì cũng khó chịu. Nằm, đi, đứng hay ngồi hoài cũng không chịu, nó làm cho mình mệt mỏi.
Đó là chỉ nói bình thường, chưa nói bệnh hay những chứng bệnh đeo đẳng suốt cuộc đời. Nên các bậc Thánh rất nhàm chán thân này.
Bậc Trưởng lão:
1156. Ai nghĩ có thể nhuộm,
Bầu trời với màu nghệ,
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Ý nói không thể đem màu gì có thể nhuộm được bầu trời này, không lấy sơn nào, màu nào có thể nhuộm được. Tâm của các bậc Thánh như bầu trời, không dính gì, là vô trước bậc A-la-hán, vô trước Chánh Đẳng Giác, vô trước là không dính mắc. Không bị nhiễm hay không bị nhuộm màu. Còn tâm của mình giống như tờ giấy tô màu gì là dính màu đó? Dễ bị dính dễ bị nhuộm?
Hoặc với màu sắc khác
Kẻ ấy chỉ thất bại.
1157. Tâm ta giống trời ấy,
Nội tâm khéo định tĩnh,
Chớ đem ác tâm đến
Như chim rơi đống lửa.
(Tiểu Bộ Kinh tập 3, Trưởng Lão Tăng Kệ - Chương XX – Phẩm Sáu Mươi Kệ - Bài kinh Mahà-Moggallàna)
Tâm của các Ngài giống bầu trời với nội tâm khéo định tĩnh, giống như đại trí tuệ, giống đống lửa, ác tâm tới như chim rơi đống lửa là sẽ bị tán thân mất mạng, chết ngay tức khắc. Tâm này Ngài ví như đống lửa lớn, đại trí tuệ, còn ác tâm chỉ như con chim sẻ nhỏ, rơi vào lửa là chết.
1158. Hãy xem bóng trang sức
Nhóm vết thương tích tụ,
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ)
Giống như bài kinh Ratthapala, Trung Bộ Kinh:
Hãy nhìn hình bóng trang sức này,
Một nhóm vết thương được tích tụ,
Bệnh nhiều, tham tưởng cũng khá nhiều,
Nhưng không gì kiên cố, thường trú.
Hãy nhìn dung mạo trang sức này,
Với các châu báu, với vòng tai,
Một bộ xương được da bao phủ,
Được y phục làm cho sáng chói.
Chân được sơn với son với sáp,
Mặt được thoa với phấn, với bột,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.
Tóc được uốn bảy vòng, bảy lớp,
Mắt được xoa với thuốc, với son,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.
Như hộp thuốc trang hoàng mới mẻ,
Là uế thân được điểm thời trang,
Vừa đủ làm mê hoặc kẻ ngu,
Nhưng vô phương kẻ cầu bờ giác.
Người thợ săn đặt bày lưới sập,
Loài nai (khôn) chẳng chạm bén chân,
Ăn lúa xong, chúng ta lên đường,
Mặc cho kẻ bắt nai than khóc.
(Trung Bộ Kinh – Bài kinh Ratthapala)
Bốn câu đầu cũng giống như bốn câu sau:
1158. Hãy xem bóng trang sức
Nhóm vết thương tích tụ,
Bệnh hoạn nhiều tham tưởng
Nhưng không gì trường cửu.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ)
Hãy nhìn bong bóng đẹp,
Chỗ chất chứa vết thương,
Bệnh hoạn nhiều suy tư,
Thật không gì trường cửu.
(Kinh Pháp Cú)
Cả ba bài trong các kinh trên đều là một. Ý nói hãy nhìn vào bong bóng đẹp, vẻ đẹp của bong bóng nước đó, chỗ chất chứa vết thương, những bệnh hoạn, nhiều suy tư, nhiều tham tưởng, những tư tưởng tham dục, tham ái, thật không có gì trường cửu, không có gì dài lâu.
Như vậy, cô Vimala này được Ngài Mục-kiền-liên nói như vậy thì cô phát tâm quy y, làm đệ tử của Ngài, được thời gian cô xin xuất gia và nỗ lực tinh cần tinh tấn thì không bao lâu cô chứng quả A-la-hán. Nghĩ đến quả vị chứng ngộ của mình thì cô phấn khởi nói lên bài kệ. Đây là bài kệ chứng ngộ, đắc đạo, chứng đạo kệ của cô:
Say mê với giai cấp,
Với dung sắc tuổi xuân,
Với danh xưng, danh vọng,
Ta ỷ lại tuổi trẻ,
Ðối với những người khác,
Ta khinh bỉ khinh thường.
73. Thân này ta trang điểm,
Ta khêu gợi kẻ ngu,
Ta đứng trong khung cửa,
Tại cửa hàng buôn sắc,
Như thợ săn, ác độc,
Ðang gieo đặt bẫy mồi.
74. Ta khoa trương trang sức,
Phô bày nhiều chỗ kín,
Ðể châm biếm nhiều người,
Ta làm nhiều ảo thuật,
Hôm nay ta khất thực,
Ðầu trọc, đắc đại y,
Ta ngồi dưới gốc cây,
Ta chứng định không tầm.
75. Mọi khổ ách đoạn tận,
Cả cõi trời, cõi người,
Quăng bỏ mọi lậu hoặc,
Ta mát lạnh tịch tịnh.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Vimala, Xưa Làm Một Kỹ Nữ)
Chúng ta đứng lên đảnh lễ Tôn giả Mục-kiền-liên và Tôn giả Vimala.
Chúng ta thấy hai bậc Thánh tuyệt vời không?
Trước đó là một kỹ nữ, sau đó trở thành bậc Thánh đệ tử tối thượng. Chúng ta thấy được rất nhiều những giai cấp, hoàn cảnh, khổ đau, mê muội trong xã hội và khi gặp được Thế Tôn hoặc đệ tử của Thế Tôn thì:
Vạn thủy triều đông
Chúng tinh cũng bắc
Ý nói tất cả dòng sông đều chảy về hướng đông, đều ra biển cả giải thoát đại dương của tuệ giác. Nếu cô này không gặp Ngài Mục-kiền-liên mà gặp phải phàm phu, tục tử thì chuyện sẽ ra sao? Làm gì có ngày như vậy, đó cũng là nhân duyên chín mùi của Ngài. Biết bao nhiêu người Ngài không thương mà lại thương trúng bậc A-la-hán thì quả là được Ngài A-la-hán thương lại bằng tình thương cao thượng, thánh thiện, thương tới mức độ mà độ cho cô này thành bậc đại Thánh nhân. Phát huy tình thương thanh cao, cao thượng, thánh thiện này.
Vậy có ai giờ này được hạnh phúc như chúng ta không? Chúng ta hãy cảm thọ. Dạo này chúng ta được nghe về rất nhiều vị, như người ở tận cùng vực thẳm của khổ đau, người thì ăn xin, người treo cổ tự vẫn, hôm nay là một kỹ nữ. Hôm trước có một vị điều dưỡng của di mẫu Ma-ha-ba-xà-ma-đề.
IV. Vì tình thân mà xuất gia
Bài tiếp theo là vì tình thân mà xuất gia, vì thương anh chị em rồi đi tu và cũng chứng đắc Thánh quả.
Bài kinh Sundarì Nandà:
Trong đời đức Phật hiện tại, nàng được sanh trong một gia đình quý tộc thuộc dòng họ Thích-ca. Ðược tên là Nandà. Nàng có danh là Nandà hoa khôi.
Khi bậc Thế Tôn giác ngộ, đi đến Kapilavatthu và độ cho Nandà và Rahula xuất gia. Khi vua Suddhodana (Tịnh Phạn) mệnh chung và bà Mahàpajàpati xuất gia, nàng Nandà tự nghĩ: 'Anh trưởng của ta đã chối từ không thừa tự quốc độ, xuất gia và trở thành đấng Thế Tôn, một bậc siêu nhân. Con của Ngài là Rahula cũng xuất gia, anh của ta vua Nandà cũng xuất gia. Mẹ của ta Mahàpajàpati, chị của ta, mẹ Rahula cũng xuất gia. Vậy ta ở nhà làm gì? Ta hãy xuất gia'.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Tức nàng suy nghĩ người thân đã đi xuất gia hết thì nàng ở nhà làm gì nữa, vì anh, chị, mẹ và bà con đều đi xuất gia hết rồi thì nàng ở nhà làm gì, hãy đi xuất gia luôn, cho vui, cho thương, cho được thân thiện, gần gũi những người thân của mình, những bậc gần gũi, địa vị cao tột mà dám từ bỏ hết còn mình thì có gì đâu nên đi theo tu luôn.
Trong quý vị có ai như vậy không? Nhiều khi có mẹ hay chị đi tu? Như sau này chúng ta sẽ được học một vị đi tu nhưng mẹ nhắc nhở, khuyên gì nhưng không ngờ mẹ của cô lại chứng A-la-hán trước. Chúng ta cũng thỉnh thoảng thấy trong các gia đình thấy mẹ đi tu nên vì thương mẹ nên cũng đi chùa theo hay đi tu theo luôn, hoặc có anh chị, cô cháu thân thương đi tu thì cũng đi theo đi tu luôn.
Như vậy là bằng tình thương nên mới đi xuất gia.
Vì Đức Như Lai là anh trưởng, vua Tịnh Phạn thì có đến tam cung lục viện nên có nhiều dòng con, không chỉ mình Rahula. Nên là anh trưởng, anh ruột, Rahula, mẹ cũng đi nên giờ mình ở nhà làm gì, cũng đi tu theo.
Nên là chúng ta tu sao để hướng dẫn những người thân của mình thì đó mới là thương thật sự, không phải thương là suốt ngày ở kế bên, cứ lo cho ăn, cho mặc thì cái đó chỉ là cái thương thường tình. Thương làm sao cho các người thân của mình được tịnh tín bất động đối với Phật Pháp Tăng, nhất là dòng pháp tối thượng Nikāya.
Như vậy nàng xuất gia không phải vì lòng tin, mà chính vì lòng thương yêu bà con trong gia đình.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Giống như thầy Pháp An thương Minh Thành, bà Diệu Hiền cũng là thương Minh Thành nên Minh Thành mới dẫn lên núi tu. Nên ai có mẹ, có cha hay có người thân, cô dì mà chịu được, tinh tưởng được dòng pháp này, có thiện duyên căn lành thì nên khuyến khích. Rủ đi vài ngày “Lên đây chơi, có cổng trời đẹp lắm, có mây!” Khoan nói về tu, còn nếu đã hiểu pháp rồi thì hãy nói tu.
Sau đó sẽ được nghe những pháp dễ dễ, nghe các pháp vui, trải hỷ vô lượng tâm. Khi nào thấm rồi thì mới nghe đến Khổ Thánh Trí. Nên cách thuyết pháp của ba đời Chư Phật có phương thức thuyết pháp, có trình tự, đạo lộ.
Sư thầy trình pháp:
Con đã từng đọc qua bài kinh và nhớ được trình tự của Đức Phật thuyết pháp, nhất là cho người cư sĩ tại gia. Đầu tiên là Đức Phật tác ý cho họ cảm nhận được niềm vui, hỷ lạc trước, sau đó dạy về bố thí, giữ giới. Sau khi thực hành được bố thí, giữ giới rồi thì Đức Phật dạy cho họ nhận thức rõ được bản chất của cuộc đời này là đau khổ, dần dần cho họ có sự nhận thức khổ để có sự nhàm chán đối với cảnh khổ. Sau đó Đức Phật thuyết giảng những trí tuệ thâm sâu, nếu như vị nào có chí hướng để tu tập giải thoát.
Sư phụ giảng giải:
Đầu tiên là Đức Phật hướng dẫn cho người ta có lòng tin Tam Bảo, giữ giới và có lòng bố thí. Các Phật tử cư sĩ thì Đức Phật thường dạy như vậy thôi. Đối với người thuần thục thì Đức Phật dạy sự nguy hại của các dục. Đối với những Phật tử cận sự, thường xuyên tu tập, thực tập thì Đức Phật nâng cấp lên, dạy cho họ thấy được tính nguy hiểm và tác hại của các dục. Khi các vị đó thuần thục rồi thì Đức Phật thuyết đến Bốn Thánh Đế. Đó là phương thức giáo hóa của Chư Phật.
Nên không phải người nào mới vào mình cũng dạy Tứ Thánh Đế là không được, người ta không chấp nhận.
Nàng xuất gia như vậy sau khi từ bỏ gia đình, nàng vẫn tự kiêu với sắc đẹp của mình và không chịu đến yết kiến đức Phật, sợ đức Phật quở trách nàng.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Vì cũng có những người khác sợ không dám đến lạy Phật, vì sự trang nghiêm, thanh tịnh, oai đức của Đức Phật. Nếu có gì sai đến thì Ngài sẽ nhắc nên sợ không dám tới, sợ bị quở trách.
Nhưng trường hợp của nàng cũng giống như trường hợp với Tỷ-kheo-ni Abhirùpa Nandà (xem kệ XIX) với sự sai khác nhau: khi nàng thấy hóa thân của một nữ nhân do đức Phật hiện ra, nữ nhân ấy dần dần trở thành già xấu, tâm của nàng dựa trên tánh vô thường và đau khổ, hướng đến thiền định.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Tức là, Đức Thế Tôn vì thương xót cô nên dùng linh ảnh để giáo hóa. Là cô nhìn thấy một thiếu nữ đẹp tuyệt trần, đẹp hơn cô gấp nhiều lần thì cô nhìn và tự thấy “Mình tự kêu là mình đẹp mà thấy cô này đẹp hơn mình rất nhiều nên giờ mình so như vậy thì không có gì.” Sau đó cô thiếu nữ này từ từ tiều tụy, xanh xao, vàng vọt, hốc hác rồi tự dưng lại tóc bạc. Da nhăn, tóc bạc, lưng còng, gối mỏi rồi sụm xuống, sụp xuống, ngã xuống, đổ xuống. Cuối cùng thì cô thiếu nữ cực kì đẹp đẽ này thành một bà già và nằm xuống chết ngay tại chỗ trước mặt cô.
Trong thời đức Phật hiện tại, nàng được sanh ở Kapilavatthu, con gái vợ chính của vua Khemaka, dòng họ Thích-ca (Sakya), tên là Nandà. Vì nàng rất đẹp nên được tên là Abhirùpa Nandà (Nandà đẹp). Ngày nàng lựa Carabhùta làm chồng, thời Carabhùta mệnh chung và cha mẹ cưỡng bức nàng xuất gia. Sau khi đã xuất gia, nàng vẫn tự kiêu với sắc đẹp của nàng, và sợ bậc Ðạo Sư quở trách, nàng lẫn tránh Ngài. Thế Tôn biết được hạnh nàng đã thuần thục nên bảo Mahàpajàpati quy tụ mọi Tỷ-kheo-ni lại để Ngài dạy bảo, nàng nhờ người khác đi thế. Ðức Phật không chấp nhận nên nàng phải đến dự. Ðức Phật hóa sanh một nữ nhân rất đẹp, nhưng dần dần bị già nua, yếu hèn và nàng bị xúc động mạnh.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm I – Tập Một Kệ - Bài kinh Abhirùpa Nandà)
Khi cô nhìn thấy hình ảnh như vậy thì:
Tâm của nàng dựa trên tánh vô thường và đau khổ, hướng đến thiền định.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Là suy tư, quán chiếu tâm và triển khai thiền quán.
Mình tưởng đâu là mình đẹp lắm, nhưng giờ cô này còn đẹp hơn mình, mà chỉ trong tích tắc đã ngã xuống.
Như chúng ta thấy trên mạng internet có hình ảnh đứa trẻ, chỉ chớp chớp là lớn, sau đó là đứng tuổi, già, tóc bạc, da nhăn rồi người này ngã xuống, chết thành bộ xương. Chỉ trong vòng bao nhiêu giây thôi, không đầy một phút. Nên Đức Phật cho thấy giống như vậy, dùng linh ảnh, phóng hào quang và hiện ra người con gái đẹp như vậy, đẹp gấp trăm lần cô ấy vì cô ấy kiêu mạng về sắc đẹp.
Hoặc những người đẹp đi tu thì chúng ta cũng thấy vậy, chỉ hơi đẹp, hơi trội hơn người khác là mình thấy họ có vẻ kiêu kỳ, kiêu sa, kiêu hãnh, kiêu ngạo nữa. Không phải ai cũng vậy mà có thể là đa số. Dù là đẹp trai, đẹp gái thì cũng vậy, vào tu nhưng cũng còn nét kiêu sa thì huống chi là Thích nữ, hoàng thân, quốc thích, vương quyền và còn đẹp nữa thì trong ý nghĩ không kiêu sa, kiêu căng, kiêu ngạo một chút được.
Nên khi thấy thì tất cả tâm ngạo mạn, kiêu mạn, kiêu căng sẽ lắng dịu xuống, chìm xuống.
Rồi đức Phật thuyết pháp cho nàng như sau:
82. Nandà, hãy nhìn thân,
Bệnh bất tịnh, hôi thúi,
Hãy tu tâm bất tịnh,
Nhứt tâm khéo định tỉnh.
83. Như thân này thân ấy,
Như thân ấy thân này,
Hôi thối và rữa nát,
Chỉ kẻ ngu thích thú.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Như thân này thân ấy hôi thối, rữa nát, phình lên, trương lên, nứt chảy, những chất dịch chảy ra hôi thối, kinh hoàng khủng khiếp. Những côn trùng, dòi bên trong bò lúc nhúc, ăn hết nội tạng, bò lúc nhúc hai khóe mắt, bò đầy trong nội tạng, ăn từ bên trong rồi tuôn trào ra. Ăn từ trong hai hốc mắt rồi tuôn ra, dần dần còn chút gân, thịt và máu, một lớp da phủ bên ngoài rồi qua năm tháng bị riệu rã, mục ra, nát, rửa ra, còn lại bộ xương trắng màu vỏ ốc.
Một năm, hai năm, ba năm rồi bộ xương này cũng rã ra, bể ra, đây là xương sọ, kia là xương sườn, nọ là xương ống chân, xương mông, rời rạc, rải rác. Cuối cùng thì năm tháng, gió mưa, nắng táp, mưa sa và những khúc xương rời rạc ấy, đầu lâu ấy cũng mòn ra, bể ra, rửa ra, nát ra thành cát bụi.
84. Như vậy quán thân này,
Ngày đêm không mệt mỏi,
Với trí tuệ của con,
Do vậy hãy thoát ly,
Với trí tuệ của con,
Thoát khỏi kiêu sắc đẹp,
Và người si nhìn thấy,
Với cái nhìn như thật.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Ý nói, thân con cũng giống như thân người phụ nữ kia, thân người phụ nữ kia cũng giống như thân của con, chỉ có người mê lầm, ngu muội mới ham thích. Con hãy ngày đêm thiền quán, soi chiếu sự bất tịnh, nhơ nhớp, tan nát, mục rã, hủy hoại, hoại diệt của tấm thân này. Ngày đêm không mệt mỏi thiền quán nha con. Với trí tuệ của con hãy thoát ra sự kiêu căng và vẻ đẹp của chính mình. Hãy nhìn bản chất của thân này đúng sự thật nha con.
Rồi nàng nghe theo lời dạy, với trí tuệ an trú vững chắc trên quả thứ nhất.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Tức là nhập lưu Thánh quả thứ nhất, trong lời dạy đó, nàng đắc pháp nhãn tịnh, trí sanh, quang sanh, mắt pháp được mở sáng. Từ vô lượng kiếp đui mù giờ mắt trí tuệ được mở sáng, chứng vào Thánh quả thứ nhất, Dự lưu Thánh quả.
Muốn giúp nàng đạt được những quả vị cao hơn, Thế Tôn dạy thêm cho nàng: Này Nandà, trong cái thân này không có một chút gì là tinh túy, chỉ là một đống xương và thịt bị già, chết chi phối. Như đã được nói trong tập Pháp cú:
85. Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng máu thịt,
Ở đây già và chết,
Mạn, lừa đảo chất chứa.
(Pháp Cú. 150)
Khi đức Phật nói xong, nàng liền chứng quả A-la-hán.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Ý nói này con, trong thân này không có chút gì tinh túy, chỉ là một đống xương và thịt, nó sẽ bị già và chết chi phối. Thân này làm bằng xương, quét tô bằng thịt máu, ở đây già và chết, ngã mạn, lừa dối chất chứa.
Khi Đức Phật nói vừa xong, Ngài liền đoạn tận tham, sân, si, dứt hết tất cả dục ái, phá tan vô minh, chặt đứt chấp thủ, tất cả tâm mê đều được đánh thức viên mãn, lậu hoặc sạch hết, thành tựu Thánh quả tối cao, đạt được cứu cánh phạm hạnh.
Và nghĩ đến sự chiến thắng của mình, nàng sung sướng với lời dạy của đức Bổn Sư và nói thêm:
86. Với tâm không phóng dật,
Như lý, quán thân ấy,
Tánh như thật thân này,
Ðược thấy trong và ngoài.
Ta nhàm chán thân thể,
Nội tâm được ly tham,
Không phóng dật ly hệ,
Ta an bình tịch tịnh.
(Tiểu Bộ Kinh – Trưởng Lão Ni Kệ - Phẩm V – Tập Năm Kệ - Bài kinh Sundarì Nandà)
Tâm thương này tỏa rộng,
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
01:35:00- Hết: Nhạc