Tầm và Vọng Tưởng Khác Nhau-Làm Sao Thoát Ra Cảm Giác Thướng Thường-Khi Thiền Tâm Yên Tĩnh-Trí Tuệ Về Ngũ Uẩn
Soi Sáng Nikāya
TẦM VÀ VỌNG TƯỞNG KHÁC NHAU?
LÀM SAO THOÁT RA CẢM GIÁC THƯỜNG THƯỜNG?
KHI THIỀN TÂM YÊN TĨNH?
TRÍ TUỆ VỀ NGŨ UẨN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Duyên khởi buổi pháp thoại PAGEREF _Toc78967163 \h 1
II.Tầm và vọng tưởng PAGEREF _Toc78967164 \h 1
1.Bài kinh “Đế-thích sở vấn” PAGEREF _Toc78967165 \h 2
2. Phân biệt tầm và vọng tưởng PAGEREF _Toc78967166 \h 4
III.Chiếu phá bất khổ bất lạc thọ PAGEREF _Toc78967167 \h 6
IV.Trí tuệ về ngũ uẩn PAGEREF _Toc78967168 \h 12
1.Nhân duyên sanh diệt của ngũ uẩn PAGEREF _Toc78967169 \h 12
2.Nhất hướng ly tham PAGEREF _Toc78967170 \h 15
V.Bất động tâm giải thoát PAGEREF _Toc78967171 \h 17
Duyên khởi buổi pháp thoại
Ngày mai sẽ có quý Ni sư và các Phật tử hạ sơn sau một tuần lễ quy ẩn sơn lâm, trở về núi rừng hòa nhập với trời đất, cây cỏ, núi đồi, trời mây. Hằng ngày khi mở mắt dậy, chúng ta được nghe những pháp âm vang vọng tại Kỳ Viên Tinh Xá, Trúc Lâm Linh Thứu, buổi sáng pháp đàm ở Trúc Lâm viên, buổi chiều nghe trùng tuyên Thánh pháp Nikāya, sống trong tinh thần lục hòa cộng trụ với những tâm hồn hiền thiện, hiền lành, hiền hòa, hiền lương, hiền hậu, hiền đức để chúng ta cùng nhau bước trên con đường của hiền Thánh. Còn một ngày cuối nên Minh Thành cũng mong muốn được đãi tiệc pháp cho quý ngài để được đại viên mãn trong chuyến quy ẩn sơn lâm này.
Còn hạnh phúc nào bằng hạnh phúc khi người tu chúng ta buông xả những công việc của thế gian, buông xả những thế vật, thế lợi, thế lạc ở đời, buông bỏ những vật chất ở đời, buông bỏ những lợi ích thông thường ở đời, buông bỏ những niềm vui tầm thường thấp kém, hạ liệt, để rồi chúng ta có thể trở về núi rừng lắng nghe pháp âm từ bậc Chánh Đẳng Chánh Giác truyền thừa trong vườn trúc trên đỉnh đồi, bên tịnh thất giữa trời mây bao la đại ngàn. Tâm chúng ta rộng mở, hài hòa, hòa nhập với không gian thênh thang, trú vào bốn tâm vô lượng, trải lòng từ vô lượng, tâm bi mẫn vô lượng, tâm hỷ lạc trong giáo pháp, trong thiền định vô lượng và tâm xả bao la vô lượng.
Tầm và vọng tưởng
Ni sư 1: Kính thưa quý thầy, thưa toàn thể quý Phật tử. Như lời của thầy vừa nhắc nhở làm con nhớ câu kinh trong Trung Bộ Kinh, đó là một vị trời Đế-thích hỏi Đức Phật từ tham dục mà khởi sinh suy nghĩ và vị Đế-thích hỏi tiếp suy nghĩ từ đâu sanh ra thì Đức Phật dạy rằng suy nghĩ từ vọng tưởng và hý luận sanh ra. Xin thầy giải thích giùm con sự khác nhau giữa suy nghĩ và vọng tưởng, thế nào gọi là suy nghĩ, thế nào gọi là vọng tưởng. Xin thầy chỉ dạy cho chúng con.
Bài kinh “Đế-thích sở vấn”
Đây là bài kinh số 21, nằm trong Trường Bộ Kinh tập II, chúng ta đã học bài này với tựa "Vua Trời hỏi Phật".
"Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn câu hỏi đầu tiên:
- Bạch Thế Tôn, do kiết sử gì, các loài Thiên, Nhân, Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà, và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: 'Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù'. Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù?
Ðó là hình thức câu hỏi thứ nhất, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn. Và Thế Tôn trả lời câu hỏi ấy như sau:
- Do tật đố và xan tham, các loài Thiên, Nhân Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: 'Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù'. Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù.
Ðó là hình thức Thế Tôn trả lời cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỉ tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói:
- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con diệt tận, do dự của con tiêu tan.
Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỉ, tín thọ câu trả lời Thế Tôn, liền hỏi câu hỏi tiếp:
- Bạch Thế Tôn, tật đố, xan tham, do nhân duyên gì, do tập khởi gì, cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì tật đố, xan tham có mặt? Cái gì không có mặt, thì tật đố xan tham không có mặt?
- Này Thiên chủ, tật đố và xan tham do ưa ghét làm nhân duyên, do ưa ghét làm tập khởi, ưa ghét khiến chúng sanh khởi, ưa ghét khiến chúng hiện hữu, ưa ghét có mặt thì tật đố, xan tham có mặt; ưa ghét không có mặt thì tật đố, xan tham không có mặt.
- Bạch Thế Tôn, ưa ghét do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì ưa ghét có mặt? Cái gì không có mặt thì ưa ghét không có mặt?
- Này Thiên chủ, ưa ghét do dục làm nhân duyên, do dục làm tập khởi, dục khiến chúng sanh khởi, dục khiến chúng hiện hữu. Dục có mặt thì ưa ghét có mặt; dục không có mặt thì ưa ghét không có mặt.
- Bạch Thế Tôn, nhưng dục do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến dục sanh khởi, cái gì khiến dục hiện hữu? Cái gì có mặt thì dục có mặt? Cái gì không có mặt thì dục không có mặt?
- Này Thiên chủ, dục do tầm làm nhân duyên, do tầm làm tập khởi; tầm khiến dục sanh khởi, tầm khiến dục hiện hữu. Tầm có mặt thì dục có mặt; tầm không có mặt thì dục không có mặt". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Thiên chủ Sakka tức là vua trời Đế-thích hỏi Đức Phật, mọi người từ trời, người cho đến các loại chúng sanh ao ước không có hận thù, không có đả thương, sống chung với nhau không hận thù, thế nhưng hận thù, ác ý, đả thương vẫn có mặt, tại sao lại vậy, Đức Phật trả lời là do tật đố và xan tham. Vua trời hỏi do nhân duyên gì có ra tật đố và xan tham, Đức Phật trả lời là do ưa ghét. Ngài Thiên chủ hỏi tiếp tại sao có ra sự ưa ghét này, Đức Phật trả lời do dục khiến cho chúng sanh khởi, hiện hữu. Sau đó Thiên chủ hỏi tiếp tại sao lại có dục, tại sao có ra tham muốn, ưa thích, Đức Phật trả lời "dục do tầm làm nhân duyên, do tầm làm tập khởi; tầm khiến dục sanh khởi, tầm khiến dục hiện hữu. Tầm có mặt thì dục có mặt; tầm không có mặt thì dục không có mặt".
Tầm chính là sự hướng tâm, ví dụ mình ngồi đây nhưng hướng tâm xuống nhà bếp nghĩ xem chiều nay ăn gì, đó là dục tầm tức là sự hướng tâm về cái ham muốn thức ăn, điều này rất sâu sắc. Nếu nhận diện hành uẩn chỉ là suy nghĩ thì đó là cái thô, còn tầm là cái tế của suy nghĩ, tức là tâm hướng đến suy nghĩ đó. Ví dụ hôm nay là ngày chuẩn bị xuống núi, mình sẽ suy nghĩ về nhà làm cái gì, sự hướng tâm đó làm phát sanh ra mong muốn, chính mong muốn đó sanh ra sự thúc giục "về sớm một chút". Có nhiều người lên núi dự định tu bảy ngày nhưng mới hai ba ngày đã xuống núi là do cái dục, mà dục là do tầm, là sự hướng tâm về nhà, hướng tâm về công việc, hướng tâm về chùa. Đối với sự hướng tâm này thì người ta không thấy và nếu không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc sẽ không bao giờ thấy được.
Dục tầm, sân tầm, hại tầm được Đức Phật nói trong kinh nghĩa là nếu chúng ta để tâm nghiêng về chiều hướng của dục, tâm có sự chuyển hướng về chiều hướng đó thì lúc đó dục sanh khởi; nếu tâm mình có chiều hướng nghiêng về sân thì lúc đó những sự sân hận, những sự tức giận sẽ sanh khởi; nếu chiều hướng tâm nghiêng về hại, tức giận người kia nên muốn làm cho người kia bất an thì lúc đó gọi là hại tầm. Từ việc tâm hướng theo những chiều hướng đó thì những cái tâm hướng theo sẽ phát sanh lớn mạnh. Ví dụ, từ dưới chân núi lên Linh Quy thì có người muốn tìm cái gì ăn trước vì đói bụng, chính trong người có sự hướng tâm đến cái gì thì mình sẽ làm cái đó, sự hướng tâm đó làm cho dục có mặt, còn người hướng tâm lên chánh điện lạy Phật, đảnh lễ thì từ cái hướng tâm đó cũng dẫn đến cái dục.
"- Bạch Thế Tôn, tầm lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi? Cái gì khiến tầm sanh khởi, cái gì khiến tầm hiện hữu? Cái gì có mặt thì tầm có mặt? Cái gì không có mặt thì tầm không có mặt?
- Này Thiên chủ, tầm lấy cái loại vọng tưởng hý luận làm nhân duyên, lấy các loại vọng tưởng hý luận làm tập khởi. Các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm sanh khởi, các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm hiện hữu. Do các loại vọng tưởng hý luận có mặt thì tầm có mặt. Do các loại vọng tưởng hý luận không có mặt thì tầm không có mặt". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
2. Phân biệt tầm và vọng tưởng
Như vậy, có sự hướng tâm, suy tầm đó là do có các loại vọng tưởng. Chúng ta phải hiểu từ "vọng tưởng" là một sự dính chùm, không phải chỉ có tưởng mà còn có cả suy nghĩ, hình bóng, cảm giác trong đó. Từ những suy nghĩ, nghĩ tưởng lung tung này làm cho tâm mình có sự suy tầm, tìm kiếm, nghiêng theo chiều hướng nào đó. Sau khi nghiêng theo chiều hướng nào đó thì dục sanh khởi, sau khi có dục sẽ có ưa ghét, cái nào thích thì ưa, cái nào không thích thì ghét. Cho nên, sân và tham là hai mặt của dục chứ đừng nghĩ tham và sân khác nhau. Tham và sân là hai mặt của một bàn tay, nếu thuận với cái dục thì tham, còn nghịch với dục thì sân, từ đó mới có ra yêu hận, thân sơ, thương ghét. Vì vậy có dục là có ưa ghét, có ưa ghét thì có tật đố, xan tham, mà có tật đố, xan tham thì có thù nghịch, hận thù, đả thương, ác ý, có sự bất hòa.
Tóm lại cái gốc của vấn đề tu vẫn là nhận diện ngũ uẩn, nhìn rõ thọ; tưởng; hành. Tức là nhìn lại trong tâm mình xem đang có cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng gì và chiều hướng của nó là chiều hướng gì. Nếu là chiều hướng ly dục tầm, ly sân tầm, ly hại tầm, suy nghĩ xa lìa dục, xa lìa sân giận, xa lìa sự ác ý hãm hại người khác thì đó là chiều hướng thiện pháp, còn ngược lại đi theo tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Suy nghĩ "tu hoài thấy ngán quá", đó là suy nghĩ đi theo vô minh, si ám, buông lung phóng dật, nếu không nắm bắt được suy nghĩ này mà để nó định hình thì sẽ có những tham muốn theo vô minh, vì thế tầm rất sâu sắc.
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, Nanda chánh niệm tỉnh giác.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Nanda rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt ... rõ biết khi các tưởng ... rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt.
Này các Tỳ-kheo, đây là Nanda chánh niệm tỉnh giác". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (XI). Tôn Giả Nanda)
Điểm mấu chốt trong sự tu này là nhận diện thọ; tưởng; hành, xem đang có cảm thọ gì, cảm giác này có dục, sân không, cảm thọ này có tiếp xúc với vô minh không hay là đang xúc với minh trí; xem cái tưởng này sanh khởi lên là tưởng dục tham hay tưởng ly tham, tưởng của sân, bản ngã hay tưởng của ly sân, diệt trừ bản ngã. Nói cho dễ hiểu tầm chính là hành nhưng ở cấp độ vi tế hơn hành, tầm chính là sự suy tầm của tâm, tâm đang hướng về đối tượng gì mình phải thấy rõ.
Chẳng hạn tâm đang hướng về dục thì phải thấy đang có dục tầm xuất hiện, tâm đang hướng đi chơi thì phải thấy điều này và khi hướng như vậy sẽ có ra suy nghĩ đi đâu, làm cái gì, đi như thế nào. Chỉ vừa hướng đến thôi là bắt đầu có các vọng tưởng, mình đang ở trên núi mà tâm hướng đến việc đi Vũng Tàu là bắt đầu có vọng tưởng đi ra Vũng Tàu như thế nào, ra đó ăn gì, đi đâu… bắt đầu sanh ra thọ; tưởng; hành. Vì vậy, những cái này làm nhân làm duyên cho nhau, tầm lấy các loại vọng tưởng làm nhân duyên và hý luận. Hý luận là nói chuyện phù phiếm, nói chuyện không đi đến đâu, vô ích, vô nghĩa, những cái này làm nhân duyên cho sự hướng tâm sanh khởi ra.
Sân tầm cũng giống như vậy, mình đang ngồi mà tâm hướng về người làm mình khó chịu, người này có những hành động, cử chỉ, lời nói làm mình bực mình thì sân tầm xuất hiện. Khi đó, cần phải chánh niệm tỉnh giác xem nó thuộc loại tầm gì thì mình mới có cách quét rác. Rác thường thì lấy chổi quét bình thường, còn rác đọng lâu ngày thì phải lấy bàn chải hoặc thậm chí phải dùng thuốc tẩy. Cho nên tùy vào từng loại rác mà có các cách thức lau chùi, quét dọn, tổng vệ sinh khác nhau.
Như vậy, điều quan trọng là cần nắm thật vững nhận diện năm uẩn, thực hành ba pháp và phân biệt ba loại cảm thọ, ngoài ra còn các cách tác ý để nhiếp phục tham, sân, si vô minh, bản ngã, đây chính là thời khóa công phu hằng ngày của chúng ta.
Chiếu phá bất khổ bất lạc thọ
Ni sư 1: Kính bạch thầy, con xin hỏi trong ba cảm thọ: Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ và bất lạc bất khổ thì cảm thọ dễ chịu có tham, cảm thọ khó chịu có sân và cảm thọ không dễ chịu không khó chịu có si. Con thấy trong trạng thái tâm của con không quá vui cũng không quá khổ, tức là vui nhẹ nhưng không thấy khổ, và con biết rõ tâm con bình an không vui không khổ thì như vậy có phải là tâm si không, thưa thầy?
Nếu có sự rõ biết đây là cảm thọ không vui không khổ thì đó đã là một sự tỉnh giác như bài kinh “Tôn giả Nanda” vừa đọc ở trên. Tức là mình biết thọ sanh khởi, thọ an trú và cảm thọ đó thuộc cảm thọ gì. Đó là cái biết thứ nhất, có một phần chánh niệm tỉnh giác nhưng cái biết đó chưa đủ mà phải tiến thêm một bước trí tuệ quán chiếu nữa: "Cảm thọ này là vô thường, cảm thọ này là duyên sanh, cảm thọ này là pháp hữu vi, cảm thọ này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, tôi không phải cảm thọ này".
Chúng ta không được để cho mình có cảm giác an toàn, thích thú, không được nắm giữ cảm thọ này trong khi nó đang có mặt, phải biết cảm thọ này là pháp sanh diệt, là pháp vô thường, là pháp trống rỗng, vô ngã, tan hoại, cảm thọ này không phải tôi, tôi không phải cảm thọ này, tôi không để cho cảm thọ này trói buộc, không để thích thú và hài lòng cảm thọ này.
Nếu thấy có cảm giác thường thường, yên tĩnh, không khổ không vui mà mình chấp nhận nó và nói rằng "đây là tôi, tôi đang có cảm giác không khổ không vui" thì cái đó là vô minh, si mê, là vô văn phàm phu. Còn biết đây thuộc về thọ uẩn, thọ uẩn này là pháp sanh diệt, vô thường, cảm thọ này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, tôi không bị dính mắc, trói cột, hài lòng, chấp nhận cảm thọ này là tôi thì đó là chánh niệm tỉnh giác của Đức Phật. Ngược lại nếu mình thấy bằng lòng, thấy mình an lạc, an yên thì mình chết ngay đây vì nhận thọ uẩn là mình, đó là thân kiến, chấp ngã, cũng gọi là vô minh, si mê vì không thấy năm uẩn.
Vì thế, trong sự tu học này rất cần chánh kiến, chánh tư duy, phải tác ý rất nhiều vì không tác ý thì minh không sanh khởi, tuệ không sanh khởi, như thật tri kiến không sanh khởi, bởi lẽ chúng ta đã quen sống với vô minh, si ám. Vô minh là nắm chặt năm uẩn này là tôi, là của tôi, còn minh là gỡ cái thấy năm uẩn là tôi, là của tôi ra khỏi thân tâm, xuất ly ra khỏi cái thấy đó, đây là sự tế nhị trong sự tu. Chúng ta rất dễ chấp nhận cái không vui không khổ, thấy im ắng rồi nhưng đây chính là chỗ chết của người tu.
Ni sư 2: Kính bạch thầy, chỗ thầy vừa chia sẻ con thấy mình thường rơi vào trạng thái này mà không biết. Tức là trong cuộc sống đời thường trước khi con lên đây thì con hoàn toàn là người hiền hòa, dễ chấp nhận ngoại cảnh thì con nghĩ mình là người sống có ý thức, biết đối nhân xử thế, không có tâm trạng phải tranh đua, giành giật, con cứ sống đều đều như vậy. Qua lời thầy giảng thì con thấy mình là kẻ nghèo rớt mồng tơi, lên đến đây con mới nhận được tài sản của Đức Thế Tôn và được thầy truyền trao lại. Con xin tri ân và cám ơn thầy rất nhiều.
Ni sư 1: Thưa thầy, tức là sư cô muốn nói rõ với thầy là cô thường ngồi thiền với trạng thái tâm rất yên định và cô rất thích cảnh giới đó, thưa thầy.
Đây chính là chỗ chết của mình, Minh Thành cũng đau khổ lắm mới lãnh được gia tài của Phật. Trong đời sống thì cảm giác vui rất ít, không được nhiều trong một ngày và cảm giác khổ cũng không nhiều nhưng cảm giác không vui không khổ chiếm rất nhiều. Đại đa số người tu chúng ta lầm tưởng mình không xảy ra chuyện gì, cứ bình bình như vậy là mình tu. Tuy nhiên, không phải như vậy, mình chấp nhận sự an yên, hài lòng, vừa lòng này thì mình chết trong đó, vì nếu như vậy sẽ không có sự nhiệt tâm, tinh cần, không có sự hướng thượng, phấn đấu, nỗ lực trong pháp. Chỗ này là nấm mồ, là tử huyệt, là làm cho tất cả chúng sanh không có con đường thoát ra, tất cả người tu phải để ý chỗ này thật kĩ, phải quán sự nguy hại ngay đây. Tại vì sự an yên này không phải cứ như vậy hoài mà bất thình lình, đột ngột, đột biến, đột quỵ và đột tử sẽ xảy ra, sự bất trắc, bất thường, bất toại nguyện sẽ xảy ra. Bất thình lình phát hiện ra ung thư giai đoạn cuối, bất thình lình mình có thể chết.
Có một chuyện đau lòng xảy ra, một tài xế chạy xe bị mắc sợi dây điện, chú cứ nghĩ leo lên gỡ dây ra là xong nhưng trúng ngay dây điện cao thế nên chết tại chỗ. Như vậy trước đó vài phút bác tài có biết mình chết đau đớn, bất thình lình như vậy hay không? Có thời gian báo đưa tin tất cả hơn chục người trên chuyến xe rước dâu gặp tai nạn chết tất cả, tất cả người trên đó có nghĩ rằng đây là chuyến xe vĩnh viễn và mãi mãi không quay lại không? Những người nhiễm dịch bệnh trên toàn thế giới có nghĩ rằng họ sẽ bị nhiễm bệnh rồi chết không? Họ hoàn toàn không có suy nghĩ đó và những điều đó đều đến đột ngột, tất cả cảm giác này là sự biến đổi và hoại diệt, tan hoại và đổ vỡ, đây là pháp sanh diệt, đây là pháp vô thường.
Khi nói đến hai chữ "sanh diệt" thì hai chữ đó phải ngấm vào tim gan của mình. Khi nói "sắc này là vô thường" thì hai chữ "vô thường" đó phải làm cho mình chấn động, có cảm thọ chứ không phải chỉ nói ngoài miệng. Khi nói "đời sống này là khổ đau" thì hai chữ "khổ đau" phải thấm vào từng lỗ chân lông, từng huyết quản mạch máu của mình. Phải làm sao sanh lên cảm thọ thật sự đau khổ, thật sự vô thường, thật sự bất an, còn nói trên miệng chỉ là gió thổi mây bay.
Kẻ vô văn phàm phu có cảm giác lạc thọ cũng giống như người đang bị trói buộc, kẻ vô văn phàm phu có cảm giác khổ thọ nào cũng giống như người bị trói buộc, kẻ vô văn phàm phu không học Chánh Pháp có cảm giác không khổ không vui cũng giống như người bị trói buộc. Hãy quán cảm giác vui sướng này là khổ đau, quán cảm giác đau khổ này là mũi tên, quán cảm giác không khổ không vui này là vô thường.
" Lạc thọ, này các Tỳ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường. Khi nào, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau.
Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, V. Cần Phải Quán Kiến)
Đây chính là đề tài quán chiếu cho chúng ta vì nó rất sâu sắc. Tại sao phải quán cảm giác vui là khổ? Tại sao vui lại là khổ? Vì mình bị say đắm, yêu thích, trói cột và ràng buộc nhưng sau đó mình sẽ khổ. Những người thích tốc độ, thích thể hiện lên xe chạy tốc độ cao sẽ thấy vui, nghiện ma túy sẽ thấy vui vẻ trong cảm giác được phê pha, được chơi game suốt ngày suốt đêm thấy rất vui… đó là những lý do phải quán cảm giác vui sướng là khổ đau. Đó là những cái thô còn cái tế là hôm nay đổ bánh xèo, mai nấu hủ tiếu, mốt là cơm bì sườn chả… suốt ngày chỉ thích vào bếp nấu nướng thì đó là đang bị lạc thọ trói buộc làm bỏ hết thời gian tu học. Cho nên, Đức Phật nói phải quán cảm giác vui sướng là khổ đau vì chúng sanh bị trói buộc trong cảm giác vui sướng đó.
Cảm giác đau khổ phải quán là mũi tên găm vào thân thể. Chúng ta thử nhìn các người chết vì dịch bệnh, không những người ta thả thây nhiễm dịch bệnh xuống sông Hằng mà họ còn chôn ở hai bên bờ sông Hằng vì không có tiền làm lễ hỏa táng, không đủ gỗ để thiêu xác, thậm chí phải chặt cây trong công viên cũng không đủ nên bây giờ phải đau đớn thả xác người thân xuống sông, đau đớn chôn xác người thân ở bên bờ sông. Vì vậy, cảm giác khổ đau này giống như mũi tên găm vào tim vì thế mình phải quán cảm giác khổ này là mũi tên để mình nhàm chán ngũ uẩn này, nhàm chán sắc uẩn, nhàm chán đời sống này, nhàm chán nhân sinh thế gian, cuộc đời này. Phải làm như vậy đối với mỗi cảm thọ mới làm tăng trưởng Thánh trí huệ của mình, Khổ Thánh Trí mới được xác lập vững trú, còn bằng không chúng ta bị mê muội và chết điên đảo trong ngũ uẩn này, trong cảm giác này.
Cảm giác không khổ không vui phải quán nó là vô thường, hai chữ "vô thường" này phải làm cho nó thấm vào tim gan, vào xương tủy, máu thịt của mình. Cảm giác này là vô thường, là không an ổn chút nào, không an toàn chút nào, không có bất kì sự bảo đảm nào cả. Mình có thể bất thình lình ngã xuống ngay tại đây, đột quỵ, mình có thể bất thình lình bị tai biến mạch máu não, đừng nói gì người lớn tuổi mà ngay cả người trẻ tuổi cũng có thể bị tai biến bất cứ lúc nào. Chính vì mình suy nghĩ như vậy, suy xét như vậy, tư duy, nghiền ngẫm như vậy để tháo gỡ sự hài lòng, bằng lòng, hân hoan, cảm giác an toàn, từ đó thoát ra, nếu không mình sẽ bị nó trói cột. Cảm giác này không phải như vầy hoài, nếu cứ vầy hoài thì mình không cần tu nữa vì nó đã an ổn thì tu làm gì nữa, nhưng nó là hiểm họa, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, nguy nan, nó bị sự tàn khốc của vô thường, nó bị sự khốc liệt của nhân quả, nó bị sự tàn sát của ác nghiệp, của quả báo. Vì thế chúng ta quán như vậy để mình xuất ly, đi ra khỏi nó, nếu không cảm thọ nào mình cũng chết với nó. Cái vui là khỏi nói rồi, đi ăn đám cưới không bao giờ nhớ đến vô thường, đến đám ma thấy khóc lóc đau khổ thì nhớ vô thường được chút ít nhưng về nhà là trở về như cũ, trở lại sự vô minh. Cảm giác không khổ không vui là cứ sống đều đều, sống thả trôi như lục bình cho nên mình ở trong cảm giác đó là chết ngay vì không tăng thượng, không hướng thượng, không nhiệt tâm, tinh cần, nỗ lực, trong khi Đức Phật đã nói chúng ta phải sống như cái khăn đang cháy trên đầu.
"Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy". (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Phải quán như vậy mới đi ra khỏi cảm giác bất khổ bất lạc được. Lúc nào cũng tâm niệm mình sẽ chết đột ngột, phải quán chiếu bằng cách nhắc nhở bản thân có thể bị đụng xe chết, bị rơi máy bay hoặc có thể bị ung thư để đi ra khỏi cảm giác an toàn của bất khổ bất lạc, từ đó mới nỗ lực, tinh cần tinh tấn, hướng thượng trong sự tu học, đó chính là quán sự nguy hiểm và tác hại của đời sống này.
Ni sư 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên thầy, kính bạch quý thầy, kính bạch quý Ni sư cùng đại chúng. Nhân việc Ni sư Trí Đức hỏi rồi con mới thưa ra chỗ vướng mắc của con là cảm giác bất khổ bất lạc. Con ngồi thiền rơi vào không gian rộng lớn bao trùm, chỗ nào cũng thấy Bát Nhã và con cứ ở tư thế hai tay chống lên tấm đơn. Con thấy mình bơi trong Bát Nhã, sống trong Bát Nhã nên hạnh phúc vô cùng, con ngạc nhiên là không có một chữ Bát Nhã nào nhưng chỗ nào cũng đầy Bát Nhã. Sau đó con cảm giác thân rất mỏi và con hạ thân mình từ từ xuống và ngồi tiếp cho đến khi nào con ra khỏi trạng thái đó. Đó là những trạng thái con có từ cách đây ba năm, thế rồi từ đó con sống trong đó. Con có chia sẻ điều này cho vài người nhưng con vẫn chưa nhận được điều gì thật sâu sắc nên con cứ sống như vậy, thế nhưng dần dần con đi ra khỏi trạng thái tâm tĩnh lặng như ban đầu, không còn trạng thái thiền thật sự như vậy. Dần dần con nhận ra mình bị vọng tưởng, con trăn trở và thấy mình chưa biết gì về ngũ uẩn. Khi đến Linh Quy Pháp Ấn được nghe thầy giảng, con đã nhận diện được ngũ uẩn nên con thấy được chỗ thiếu sót của mình. Hôm nay con mạnh dạn chia sẻ những kinh nghiệm, những sai lầm trong sự tu tập của con để thầy thấy chỗ sai và chỉ dạy con ạ.
Ngày xưa Minh Thành cũng trải qua như vậy, chẳng qua là cái tưởng, cái hành của mình an tịnh, cái thọ lúc đó lắng dịu, trong tâm mình không xuất hiện những hình bóng và những lời nói lầm thầm cũng im lặng. Đại đa số người tu thiền dễ bị lầm chỗ này, nghĩ rằng đây là chân tâm nhưng đó chỉ là cái tưởng an tịnh không hoạt động nữa và cái hành cũng giống vậy. Vị tu thiền trong thời gian dài sẽ có kinh nghiệm này ít nhiều nhưng khi chưa nhận diện ngũ uẩn thì sẽ tưởng lầm sự an tịnh này là cái gì cao siêu lắm, thật chất nó rất bình thường, chỉ là trạng thái an tịnh, lắng dịu của thọ; tưởng; hành. Khi trở về thực tại thì nó cũng trở lại bình thường, cái vô minh, chấp ngã, tham, sân, si vẫn còn y nguyên nên không giải quyết được vấn đề.
Cho nên, có sự lắng dịu của tâm nên cũng tốt nhưng không giải quyết được vấn đề thật sự của chúng ta, có người rơi vào trạng thái này bị lầm tưởng nghĩ rằng mình chứng đắc cái gì đó, bản ngã lại tăng lên nên không tốt lành.
Trí tuệ về ngũ uẩn
Trong sự tu theo đường lối nguyên chất Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya là thứ nhất phải nhận diện ngũ uẩn, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là cái gì; thứ hai phải thấy được từ vô lượng vô biên kiếp cho đến nay mình chấp thủ ngũ uẩn này, sắc nào mình cũng nói là tôi, là của tôi, thọ; tưởng; hành; thức nào mình cũng cho nó là tôi, là của tôi; thứ ba là phải thấy được sự tập khởi của ngũ uẩnm, sự đoạn diệt của ngũ uẩn và con đường đưa đến sự đoạn diệt đó. Vì thế cần học thuộc lòng bảy trí về sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Nhân duyên sanh diệt của ngũ uẩn
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc. Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
"Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là sắc". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)
"-- Này Tỳ-kheo, do duyên sắc, khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đó là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với sắc, đó là sự xuất ly của sắc. Do duyên thọ... Do duyên tưởng... Do duyên các hành... Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của thức. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thức, đó là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với thức, đó là sự xuất ly của thức". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm (Tạp 2, Ðại 2,14b) (S.iii,100) (Trung Bộ Kinh, trang 109, 110 Tham chiếu))
Khi học tu theo con đường Nikāya này phải nắm vững trí tuệ về năm uẩn, phải biết được nhân duyên sanh diệt của nó, phải biết mặt mũi, tánh tình, bản chất, tính chất của nó, khi chúng ta đối diện trực tiếp với nó thì chúng ta phải biết nó đang ở trạng thái nào và tùy từng tình huống, trạng thái mà chúng ta xử lý. Còn không biết về nó, không hiểu gì về nó thì chúng ta còn bị vô minh đối với nó vì nếu bị rơi vào những trạng thái đó chúng ta không biết gì cả và sẽ bị lầm tưởng.
Do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt, như vậy sự có mặt của thân xác này là do thức ăn bao gồm cả đất, nước, gió, lửa chứ không đơn thuần thức ăn chỉ là món ăn. Mà để có rau củ quả thì phải trồng từ đất, tưới nước, có gió, ánh sáng, nhiệt độ để cây phát triển, vì vậy mình thấy rõ sắc do có thức ăn mà được tồn tại, minh thấy được vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi nó. Vị ngọt là những gì mình khoan khoái, thích thú, vui sướng trong sắc này thì đó là vị ngọt của nó. Sự nguy hiểm của nó là sắc là vô thường, chịu sự biến hoại, tan hoại, hủy hoại, đó là sự nguy hiểm và tác hại của nó. Sự xuất ly là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham thì đó là mình đi ra khỏi sắc. Mình biết tường tận mọi khía cạnh, góc độ, phương diện, ngõ ngách của sắc thì mình mới có khả năng nhiếp phục được sắc và thoát ra khỏi sắc. Còn không biết nó làm bằng cái gì, nó hoạt động như thế nào, tại sao mình đam mê nó cũng không biết, sự nguy hiểm của nó mình không rành, làm sao để thoát ra cũng mù mờ thì làm sao có thể nhiếp phục được sắc, làm sao có thể thoát ly khỏi sắc? Ở đây chỉ mới là sắc pháp huống chi thọ uẩn còn thâm sâu hơn thế rất nhiều lần, thậm chí các bậc Hiền Thánh còn chưa rành rõ hết tận cùng, cho nên chúng ta bắt buộc phải học.
Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi, do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Có tiếp xúc mới sanh ra cảm thọ, không tiếp xúc thì không có cảm thọ. Vì có thân này nên mới có sự tiếp xúc mà thân này làm từ tứ đại, mình phải hiểu như vậy để quán chiếu buông bỏ, thoát ra từ từ, nếu không mình sẽ chết với cảm thọ vì cái thọ nào sanh khởi mình cũng cho nó là mình. Mình cũng phải biết vị ngọt của thọ, sự nguy hiểm và tác hại của thọ để mình tránh xa nó. Phải biết thọ đó thuộc về thọ nào, nếu là thọ của bản ngã thì nó ra làm sao, thọ của ái lúc đó ra sao, cái thọ lúc ham thích hoặc lúc sân giận, hờn trách ra sao hoặc cảm giác lúc buông lung phóng dật ra sao, mình phải thấy biết hết tất cả trạng thái sanh diệt của các cảm thọ để nó không qua mặt mình được. Phải biết sự nguy hiểm và tác hại của thọ là vô thường, là chịu sự biến hoại, phải nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với thọ thì mới xuất ly ra khỏi thọ. Chỉ cần trạng thái thanh tịnh, nhẹ nhàng là bị dính mắc vào đó và nghĩ mình tu thành công, vậy là chết với nó. Nếu không đủ trí tuệ về các góc độ, khía cạnh, phương diện, sự tập khởi, sự đoạn diệt và con đường đưa đến chấm dứt tham ái, vô minh trong các cảm thọ thì mình phải chết với nó. Mình đi đánh giặc mà không biết giặc ở đâu, mặt mũi, tính chất, đánh bằng vũ khí gì đều không biết thì làm sao diệt giặc được? Đó là lý do tại sao chúng ta phải học Thánh trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác chứng ngộ và phải đưa nó vào trong tâm để đối chiếu, soi rọi, rà soát.
Tưởng; hành; thức cũng giống như vậy cho nên tu không khéo là chết với cái thức vì nó rất khủng khiếp. Lúc nào cũng nhận hình bóng là tôi, suy nghĩ nào khởi lên cũng là tôi suy nghĩ, nhận thức rõ biết nào cũng tôi biết, biết xong rồi giận, tham, sân. Vì vậy đó là cái biết của tham ái, vô minh chứ không phải cái biết của trí tuệ, không phải là tuệ tri, thắng tri mà là tưởng tri, thức tri, cái biết do tưởng tượng, nhận thức, kinh nghiệm. Thế nên tu một thời gian là sống trong tưởng, nhất là trong thiền định rất dễ đi vào tưởng, nếu không nhận diện rõ ràng, trạch pháp đầy đủ, sáng tỏ, tinh minh về ngũ uẩn là mình sẽ chết trong tưởng uẩn. Khi tu đến những trạng thái tứ thiền bát định, thức vô biên xứ, không vô biên xứ, vô sở hữu xứ là đi ra không được. Dù chứng đạt đến những tầng thiền cao cấp khủng khiếp tức là tâm trú trong trạng thái trống rỗng, trống không bao la vô tận, cứ hễ ngồi vào là tâm trú trạng thái đó, chứng đắc thiền định đó nhưng vẫn là thiền của phàm phu, bản ngã vẫn còn, nhận ngũ uẩn là mình, vô minh, tham ái, chấp thủ vẫn y nguyên. Tuy nhiên, vị đó sẽ được sanh ra các cõi trời rất cao, rất phước báo, vô sắc giới, tuổi thọ dài khủng khiếp nhưng hết phước cũng rơi xuống ba đường ác, ít được vào cõi người.
Vì thế trí ngũ uẩn tuyệt đối quan trọng. Sau khi chúng ta thành tựu trí về ngũ uẩn, thành tựu trí về lậu hoặc để thấy tâm cấu nhiễm, thấy được thủ phạm thật sự, nguyên nhân thật sự, căn nguyên thật sự làm chúng ta đau khổ trên cuộc đời này thì từ từ chúng ta mới gội rửa, tẩy sạch để đi đến tâm thanh tịnh hoàn toàn, tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Tâm giải thoát chỉ khi nào đoạn tận được dục ái thì lúc đó tâm được mở ra. Tuệ giải thoát khi nào đoạn tận được vô minh thì tâm sẽ được bừng sáng. Do vô minh che đậy, do tham ái trói buộc nên chúng sanh mãi mãi và vĩnh viễn ở trong năm uẩn không biết đường ra, chỉ một sắc uẩn thôi đã giết chết chúng ta vô lượng vô biên kiếp rồi chứ đừng nói gì đến thọ; tưởng; hành; thức –tâm mê không biết đường ra này.
Trong suy nghĩ, cảm giác, nhận thức của mình lúc nào cũng cho rằng con mắt này là tôi, cái tai này là tôi, lỗ mũi này là tôi, vóc dáng, hình hài này là tôi… đó là sáu nội xứ. Đến sáu trần bên ngoài là sắc chất nào mình cũng cho rằng cái đó của mình, món đồ đó của tôi, cái nhà của tôi, đất của tôi, bàn ghế của tôi… đó là sáu ngoại xứ. Năm dục trưởng dưỡng bên ngoài và những thọ; tưởng; hành bên trong, từ bên ngoài đem vào trong tâm những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó rồi cái nào mình cũng nhận là mình. Sau đó đến sáu thức là sự rõ biết sắc, rõ biết âm thanh, mùi vị, sự xúc chạm, sự rõ biết những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong và cái rõ biết nào mình cũng cho là tôi.
Khi căn – trần – thức giao thoa là mình mê muội trong đó, sáu xúc mình cũng cho là mình, trong xúc sanh ra sáu cảm thọ: thọ do nhãn xúc sanh là cảm giác do con mắt tiếp xúc sanh ra, hoặc là thích, không thích, hoặc là ưa, ghét, hoặc tham, sân và những cái này mình cũng cho là mình; thọ do nhĩ xúc sanh là cảm giác do tai tiếp xúc; thọ do tỷ xúc sanh là cảm giác do lỗ mũi tiếp xúc sanh ra; thọ do thiệt xúc sanh là cảm giác do lưỡi tiếp xúc sanh ra; thọ do thân xúc sanh là cảm giác do thân tiếp xúc; thọ do ý xúc sanh là cảm giác do ý xúc bên trong, ngồi lại mà những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác lúc trước được hiện lại và tâm mê lẩn quẩn trong đó rồi mình cũng cho nó là mình. Đó là sáu thọ, sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu ái và cái nào mình cũng cho là tôi, là của tôi. Tiếp theo là sáu tầm, sáu tứ là cái tâm truy tầm chạy đuổi theo sáu trần. Như vậy, cả một chuỗi sáu thọ, sáu căn, sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ là sáu mươi pháp vận hành ngày đêm như mê hồn trận mà mình không biết, không thấy nó đang vận hành cái gì. Cái nào mình cũng cho là tôi nên cái tâm mê cứ chồng chất không thấy đường ra.
Nhất hướng ly tham
Con đường đầu tiên của Niết-bàn là chánh kiến, chánh kiến là biết rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức không phải là tôi. Khi nhận diện ngũ uẩn từ từ thì mình sẽ sanh khởi ra trí tuệ được Đức Phật gọi là "thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh". Lúc đó chúng ta mới bắt đầu có chiều hướng xuất ly tầm, tâm hướng về sự thoát ra ngũ uẩn, xuất ly tầm mới bắt đầu được xác lập, khởi động. Vô văn phàm phu không có xuất ly tầm mà rất yêu thích ngũ uẩn, ai động vào là xảy ra chuyện ngay, nó đam mê khủng khiếp trong ngũ uẩn.
Đầu đường Niết-bàn là chánh tri kiến, nhất là các vị mới cần đầu tư thật nhiều vào Đa văn, tức là nghe và học để nhớ nhận diện thì từ mới thành tựu chánh kiến để nhìn nhận ngũ uẩn rồi bắt đầu thấy các lậu hoặc tham, sân, si, vô minh và bản ngã hoạt động như thế nào. Khi thấy được rồi vừa đau lòng vừa vui, thấy rồi chỉ lo tu chứ không nhìn ai nữa, không so đo, đố kỵ, ganh tỵ ai nữa, thấy rồi mình sẽ trú trong tàm quý, hổ thẹn, sợ hãi và trong lòng mình sẽ sanh khởi lên sự hướng về viễn ly, nghiêng về viễn ly, nhập về viễn ly, rời xa đời sống vô thường, giả dối, hư ảo của ngũ uẩn này. Đó là ý nghĩa của câu "nhất hướng nhàn chán, ly tham đoạn diệt, an tịnh thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn".
Một khi thấy bản chất của ngũ uẩn thật sự thì tự động tâm mình sẽ một bề, một mực hoàn toàn nhàm chán đối với sắc, nhàm chán với những cảm giác, nhàm chán với những hình bóng trong tâm, nhàm chán đối với những suy nghĩ, nhận thức, không tham muốn nó nữa mà chỉ muốn ly tham, nó là cái không đáng để mình tham, nó là thứ khổ đau, bệnh hoạn, tai họa, tham nó để khổ cho nên ly tham. An tịnh là tâm bắt đầu sẽ an yên, tịnh lạc vì không chạy theo tham nữa, còn khi nào tâm chạy theo tham mới động, chạy theo dục mới chuyển, còn không tham muốn nữa thì tâm sẽ an yên, dừng lại, an tịnh xuất hiện, an tịnh được đầy đủ thì thắng trí xuất hiện. Đây không phải là trí huệ bình thường, không phải tri thức bình thường của thế gian mà đó là trí huệ của bậc Thánh.
Từ chỉ quán song hành, định huệ song vận, cân bằng thì thắng trí sẽ xuất hiện và chứng ngộ được ngũ uẩn này thật sự là cái khổ đau, thật sự là đáng nhàm chán, thật sự đáng buông bỏ, không đáng tham muốn. Lúc đó tham, sân, si, vô minh, bản ngã đối với năm uẩn hoàn toàn sụp đổ, hoàn toàn tan vỡ, hoàn toàn rã nát, hoàn toàn đoạn tận, đoạn diệt, dập tắt hoàn toàn vô minh, không hiểu biết, tham ái, chấp thủ đối với ngũ uẩn thì đó gọi là Niết-bàn. Đó cũng chính là Thánh pháp ấn của tất cả các chư Phật: "nhất hướng nhàn chán, ly tham đoạn diệt, an tịnh thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn".
Bất động tâm giải thoát
Ni sư 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Từ nãy giờ con nghe thầy đào sâu ngũ uẩn thì con chợt nhớ lại một việc mà con thắc mắc lâu nay. Tất cả những vị Thánh đi đến diệt thọ; tưởng; định thì chứng quả A-la-hán thì như vậy diệt thọ; tưởng; định nhưng còn hành và thức thì ra sao, thưa thầy? Nếu diệt thọ; tưởng thì trở thành người vô cảm hay sao? Tức là sau khi chứng quả thì không còn cảm xúc gì hay sao, con xin thầy chỉ dạy thêm cho chúng con.
Các bậc A-la-hán đã đoạn tận vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn như chúng ta đã nói. Khi các vị vào định thì cái thọ được an định, cái tưởng cũng an định một cách hoàn toàn và các Ngài trú trong các định đó, còn khi nào không muốn thì các Ngài đi ra khỏi định chứ không phải bậc A-la-hán là không còn cảm giác nữa. Tức là, lúc nào muốn thì các ngài vào định còn không muốn thì ra khỏi định, đó là một loại thiền định của các bậc Thánh. Các bậc A-la-hán vẫn có cảm giác khổ nhưng chỉ có cảm giác khổ của thân còn cảm giác khổ của tâm là không có.
Chúng ta cần nhớ để phân biệt cảm thọ thân và cảm thọ tâm. Khi chân đạp miểng chai đau đớn làm mình nghĩ đủ thứ thì cái đau khổ đó tăng rất nhiều do cái nghĩ tưởng và thân kiến, vì mình nghĩ thân này là tôi, tôi bị như vậy, tôi đau như vậy… Còn các ngài A-la-hán có bị thương như vậy thì các Ngài chỉ đau trên thân chứ tâm không khổ, vì các Ngài không thấy rằng cái chân đó là tôi, là tự ngã của tôi mà chỉ thấy đó là sắc uẩn thôi cho nên thân đau nhưng tâm không động. Khi các Ngài ăn ngon cũng có lạc thọ nhưng tâm không bị tham dục, tham ái, dính mắc trong cảm giác vui sướng của món ngon đó. Như vậy, không phải các Ngài không có cảm thọ mà là tất cả cảm thọ không chi phối được các Ngài, bởi vì các Ngài làm chủ các cảm thọ và không xem cảm thọ đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Cho nên, giữa cuộc đời này không có bất cứ cái gì làm khổ tâm được các vị A-la-hán nhưng khổ thân thì có, vì còn mang cái thân này thì còn đói bụng. Cái thân các Ngài có đau thì chỉ là cảm giác của thân còn tâm đã đạt đến cảnh giới bất động gọi là tâm bất động giải thoát.
./.
TẦM VÀ VỌNG TƯỞNG KHÁC NHAU?
LÀM SAO THOÁT RA CẢM GIÁC THƯỜNG THƯỜNG?
KHI THIỀN TÂM YÊN TĨNH?
TRÍ TUỆ VỀ NGŨ UẨN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Duyên khởi buổi pháp thoại PAGEREF _Toc78967163 \h 1
II.Tầm và vọng tưởng PAGEREF _Toc78967164 \h 1
1.Bài kinh “Đế-thích sở vấn” PAGEREF _Toc78967165 \h 2
2. Phân biệt tầm và vọng tưởng PAGEREF _Toc78967166 \h 4
III.Chiếu phá bất khổ bất lạc thọ PAGEREF _Toc78967167 \h 6
IV.Trí tuệ về ngũ uẩn PAGEREF _Toc78967168 \h 12
1.Nhân duyên sanh diệt của ngũ uẩn PAGEREF _Toc78967169 \h 12
2.Nhất hướng ly tham PAGEREF _Toc78967170 \h 15
V.Bất động tâm giải thoát PAGEREF _Toc78967171 \h 17
Duyên khởi buổi pháp thoại
Ngày mai sẽ có quý Ni sư và các Phật tử hạ sơn sau một tuần lễ quy ẩn sơn lâm, trở về núi rừng hòa nhập với trời đất, cây cỏ, núi đồi, trời mây. Hằng ngày khi mở mắt dậy, chúng ta được nghe những pháp âm vang vọng tại Kỳ Viên Tinh Xá, Trúc Lâm Linh Thứu, buổi sáng pháp đàm ở Trúc Lâm viên, buổi chiều nghe trùng tuyên Thánh pháp Nikāya, sống trong tinh thần lục hòa cộng trụ với những tâm hồn hiền thiện, hiền lành, hiền hòa, hiền lương, hiền hậu, hiền đức để chúng ta cùng nhau bước trên con đường của hiền Thánh. Còn một ngày cuối nên Minh Thành cũng mong muốn được đãi tiệc pháp cho quý ngài để được đại viên mãn trong chuyến quy ẩn sơn lâm này.
Còn hạnh phúc nào bằng hạnh phúc khi người tu chúng ta buông xả những công việc của thế gian, buông xả những thế vật, thế lợi, thế lạc ở đời, buông bỏ những vật chất ở đời, buông bỏ những lợi ích thông thường ở đời, buông bỏ những niềm vui tầm thường thấp kém, hạ liệt, để rồi chúng ta có thể trở về núi rừng lắng nghe pháp âm từ bậc Chánh Đẳng Chánh Giác truyền thừa trong vườn trúc trên đỉnh đồi, bên tịnh thất giữa trời mây bao la đại ngàn. Tâm chúng ta rộng mở, hài hòa, hòa nhập với không gian thênh thang, trú vào bốn tâm vô lượng, trải lòng từ vô lượng, tâm bi mẫn vô lượng, tâm hỷ lạc trong giáo pháp, trong thiền định vô lượng và tâm xả bao la vô lượng.
Tầm và vọng tưởng
Ni sư 1: Kính thưa quý thầy, thưa toàn thể quý Phật tử. Như lời của thầy vừa nhắc nhở làm con nhớ câu kinh trong Trung Bộ Kinh, đó là một vị trời Đế-thích hỏi Đức Phật từ tham dục mà khởi sinh suy nghĩ và vị Đế-thích hỏi tiếp suy nghĩ từ đâu sanh ra thì Đức Phật dạy rằng suy nghĩ từ vọng tưởng và hý luận sanh ra. Xin thầy giải thích giùm con sự khác nhau giữa suy nghĩ và vọng tưởng, thế nào gọi là suy nghĩ, thế nào gọi là vọng tưởng. Xin thầy chỉ dạy cho chúng con.
Bài kinh “Đế-thích sở vấn”
Đây là bài kinh số 21, nằm trong Trường Bộ Kinh tập II, chúng ta đã học bài này với tựa "Vua Trời hỏi Phật".
"Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn câu hỏi đầu tiên:
- Bạch Thế Tôn, do kiết sử gì, các loài Thiên, Nhân, Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà, và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: 'Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù'. Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù?
Ðó là hình thức câu hỏi thứ nhất, Thiên chủ Sakka hỏi Thế Tôn. Và Thế Tôn trả lời câu hỏi ấy như sau:
- Do tật đố và xan tham, các loài Thiên, Nhân Asurà, Nàgà, Càn Thát Bà và tất cả những loài khác, dân chúng ao ước: 'Không hận thù, không đả thương, không thù nghịch, không ác ý, chúng ta sống với nhau không hận thù'. Thế mà với hận thù, với đả thương, với thù nghịch, với ác ý, họ sống với nhau trong hận thù.
Ðó là hình thức Thế Tôn trả lời cho câu hỏi Thiên chủ Sakka. Sung sướng, Thiên chủ Sakka hoan hỉ tín thọ lời dạy Thế Tôn và nói:
- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Khi nghe Thế Tôn trả lời câu hỏi, nghi ngờ của con diệt tận, do dự của con tiêu tan.
Thiên chủ Sakka, sau khi hoan hỉ, tín thọ câu trả lời Thế Tôn, liền hỏi câu hỏi tiếp:
- Bạch Thế Tôn, tật đố, xan tham, do nhân duyên gì, do tập khởi gì, cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì tật đố, xan tham có mặt? Cái gì không có mặt, thì tật đố xan tham không có mặt?
- Này Thiên chủ, tật đố và xan tham do ưa ghét làm nhân duyên, do ưa ghét làm tập khởi, ưa ghét khiến chúng sanh khởi, ưa ghét khiến chúng hiện hữu, ưa ghét có mặt thì tật đố, xan tham có mặt; ưa ghét không có mặt thì tật đố, xan tham không có mặt.
- Bạch Thế Tôn, ưa ghét do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến chúng sanh khởi, cái gì khiến chúng hiện hữu, cái gì có mặt thì ưa ghét có mặt? Cái gì không có mặt thì ưa ghét không có mặt?
- Này Thiên chủ, ưa ghét do dục làm nhân duyên, do dục làm tập khởi, dục khiến chúng sanh khởi, dục khiến chúng hiện hữu. Dục có mặt thì ưa ghét có mặt; dục không có mặt thì ưa ghét không có mặt.
- Bạch Thế Tôn, nhưng dục do nhân duyên gì, do tập khởi gì? Cái gì khiến dục sanh khởi, cái gì khiến dục hiện hữu? Cái gì có mặt thì dục có mặt? Cái gì không có mặt thì dục không có mặt?
- Này Thiên chủ, dục do tầm làm nhân duyên, do tầm làm tập khởi; tầm khiến dục sanh khởi, tầm khiến dục hiện hữu. Tầm có mặt thì dục có mặt; tầm không có mặt thì dục không có mặt". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
Thiên chủ Sakka tức là vua trời Đế-thích hỏi Đức Phật, mọi người từ trời, người cho đến các loại chúng sanh ao ước không có hận thù, không có đả thương, sống chung với nhau không hận thù, thế nhưng hận thù, ác ý, đả thương vẫn có mặt, tại sao lại vậy, Đức Phật trả lời là do tật đố và xan tham. Vua trời hỏi do nhân duyên gì có ra tật đố và xan tham, Đức Phật trả lời là do ưa ghét. Ngài Thiên chủ hỏi tiếp tại sao có ra sự ưa ghét này, Đức Phật trả lời do dục khiến cho chúng sanh khởi, hiện hữu. Sau đó Thiên chủ hỏi tiếp tại sao lại có dục, tại sao có ra tham muốn, ưa thích, Đức Phật trả lời "dục do tầm làm nhân duyên, do tầm làm tập khởi; tầm khiến dục sanh khởi, tầm khiến dục hiện hữu. Tầm có mặt thì dục có mặt; tầm không có mặt thì dục không có mặt".
Tầm chính là sự hướng tâm, ví dụ mình ngồi đây nhưng hướng tâm xuống nhà bếp nghĩ xem chiều nay ăn gì, đó là dục tầm tức là sự hướng tâm về cái ham muốn thức ăn, điều này rất sâu sắc. Nếu nhận diện hành uẩn chỉ là suy nghĩ thì đó là cái thô, còn tầm là cái tế của suy nghĩ, tức là tâm hướng đến suy nghĩ đó. Ví dụ hôm nay là ngày chuẩn bị xuống núi, mình sẽ suy nghĩ về nhà làm cái gì, sự hướng tâm đó làm phát sanh ra mong muốn, chính mong muốn đó sanh ra sự thúc giục "về sớm một chút". Có nhiều người lên núi dự định tu bảy ngày nhưng mới hai ba ngày đã xuống núi là do cái dục, mà dục là do tầm, là sự hướng tâm về nhà, hướng tâm về công việc, hướng tâm về chùa. Đối với sự hướng tâm này thì người ta không thấy và nếu không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc sẽ không bao giờ thấy được.
Dục tầm, sân tầm, hại tầm được Đức Phật nói trong kinh nghĩa là nếu chúng ta để tâm nghiêng về chiều hướng của dục, tâm có sự chuyển hướng về chiều hướng đó thì lúc đó dục sanh khởi; nếu tâm mình có chiều hướng nghiêng về sân thì lúc đó những sự sân hận, những sự tức giận sẽ sanh khởi; nếu chiều hướng tâm nghiêng về hại, tức giận người kia nên muốn làm cho người kia bất an thì lúc đó gọi là hại tầm. Từ việc tâm hướng theo những chiều hướng đó thì những cái tâm hướng theo sẽ phát sanh lớn mạnh. Ví dụ, từ dưới chân núi lên Linh Quy thì có người muốn tìm cái gì ăn trước vì đói bụng, chính trong người có sự hướng tâm đến cái gì thì mình sẽ làm cái đó, sự hướng tâm đó làm cho dục có mặt, còn người hướng tâm lên chánh điện lạy Phật, đảnh lễ thì từ cái hướng tâm đó cũng dẫn đến cái dục.
"- Bạch Thế Tôn, tầm lấy gì làm nhân duyên, lấy gì làm tập khởi? Cái gì khiến tầm sanh khởi, cái gì khiến tầm hiện hữu? Cái gì có mặt thì tầm có mặt? Cái gì không có mặt thì tầm không có mặt?
- Này Thiên chủ, tầm lấy cái loại vọng tưởng hý luận làm nhân duyên, lấy các loại vọng tưởng hý luận làm tập khởi. Các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm sanh khởi, các loại vọng tưởng hý luận khiến tầm hiện hữu. Do các loại vọng tưởng hý luận có mặt thì tầm có mặt. Do các loại vọng tưởng hý luận không có mặt thì tầm không có mặt". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ðế-thích sở vấn)
2. Phân biệt tầm và vọng tưởng
Như vậy, có sự hướng tâm, suy tầm đó là do có các loại vọng tưởng. Chúng ta phải hiểu từ "vọng tưởng" là một sự dính chùm, không phải chỉ có tưởng mà còn có cả suy nghĩ, hình bóng, cảm giác trong đó. Từ những suy nghĩ, nghĩ tưởng lung tung này làm cho tâm mình có sự suy tầm, tìm kiếm, nghiêng theo chiều hướng nào đó. Sau khi nghiêng theo chiều hướng nào đó thì dục sanh khởi, sau khi có dục sẽ có ưa ghét, cái nào thích thì ưa, cái nào không thích thì ghét. Cho nên, sân và tham là hai mặt của dục chứ đừng nghĩ tham và sân khác nhau. Tham và sân là hai mặt của một bàn tay, nếu thuận với cái dục thì tham, còn nghịch với dục thì sân, từ đó mới có ra yêu hận, thân sơ, thương ghét. Vì vậy có dục là có ưa ghét, có ưa ghét thì có tật đố, xan tham, mà có tật đố, xan tham thì có thù nghịch, hận thù, đả thương, ác ý, có sự bất hòa.
Tóm lại cái gốc của vấn đề tu vẫn là nhận diện ngũ uẩn, nhìn rõ thọ; tưởng; hành. Tức là nhìn lại trong tâm mình xem đang có cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng gì và chiều hướng của nó là chiều hướng gì. Nếu là chiều hướng ly dục tầm, ly sân tầm, ly hại tầm, suy nghĩ xa lìa dục, xa lìa sân giận, xa lìa sự ác ý hãm hại người khác thì đó là chiều hướng thiện pháp, còn ngược lại đi theo tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Suy nghĩ "tu hoài thấy ngán quá", đó là suy nghĩ đi theo vô minh, si ám, buông lung phóng dật, nếu không nắm bắt được suy nghĩ này mà để nó định hình thì sẽ có những tham muốn theo vô minh, vì thế tầm rất sâu sắc.
"Ở đây, này các Tỳ-kheo, Nanda chánh niệm tỉnh giác.
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Nanda rõ biết khi các thọ khởi lên, rõ biết khi các thọ an trú, rõ biết khi các thọ chấm dứt ... rõ biết khi các tưởng ... rõ biết khi các tầm khởi lên, rõ biết khi các tầm an trú, rõ biết khi các tầm chấm dứt.
Này các Tỳ-kheo, đây là Nanda chánh niệm tỉnh giác". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII – Tám Pháp, I. Phẩm Từ, (XI). Tôn Giả Nanda)
Điểm mấu chốt trong sự tu này là nhận diện thọ; tưởng; hành, xem đang có cảm thọ gì, cảm giác này có dục, sân không, cảm thọ này có tiếp xúc với vô minh không hay là đang xúc với minh trí; xem cái tưởng này sanh khởi lên là tưởng dục tham hay tưởng ly tham, tưởng của sân, bản ngã hay tưởng của ly sân, diệt trừ bản ngã. Nói cho dễ hiểu tầm chính là hành nhưng ở cấp độ vi tế hơn hành, tầm chính là sự suy tầm của tâm, tâm đang hướng về đối tượng gì mình phải thấy rõ.
Chẳng hạn tâm đang hướng về dục thì phải thấy đang có dục tầm xuất hiện, tâm đang hướng đi chơi thì phải thấy điều này và khi hướng như vậy sẽ có ra suy nghĩ đi đâu, làm cái gì, đi như thế nào. Chỉ vừa hướng đến thôi là bắt đầu có các vọng tưởng, mình đang ở trên núi mà tâm hướng đến việc đi Vũng Tàu là bắt đầu có vọng tưởng đi ra Vũng Tàu như thế nào, ra đó ăn gì, đi đâu… bắt đầu sanh ra thọ; tưởng; hành. Vì vậy, những cái này làm nhân làm duyên cho nhau, tầm lấy các loại vọng tưởng làm nhân duyên và hý luận. Hý luận là nói chuyện phù phiếm, nói chuyện không đi đến đâu, vô ích, vô nghĩa, những cái này làm nhân duyên cho sự hướng tâm sanh khởi ra.
Sân tầm cũng giống như vậy, mình đang ngồi mà tâm hướng về người làm mình khó chịu, người này có những hành động, cử chỉ, lời nói làm mình bực mình thì sân tầm xuất hiện. Khi đó, cần phải chánh niệm tỉnh giác xem nó thuộc loại tầm gì thì mình mới có cách quét rác. Rác thường thì lấy chổi quét bình thường, còn rác đọng lâu ngày thì phải lấy bàn chải hoặc thậm chí phải dùng thuốc tẩy. Cho nên tùy vào từng loại rác mà có các cách thức lau chùi, quét dọn, tổng vệ sinh khác nhau.
Như vậy, điều quan trọng là cần nắm thật vững nhận diện năm uẩn, thực hành ba pháp và phân biệt ba loại cảm thọ, ngoài ra còn các cách tác ý để nhiếp phục tham, sân, si vô minh, bản ngã, đây chính là thời khóa công phu hằng ngày của chúng ta.
Chiếu phá bất khổ bất lạc thọ
Ni sư 1: Kính bạch thầy, con xin hỏi trong ba cảm thọ: Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ và bất lạc bất khổ thì cảm thọ dễ chịu có tham, cảm thọ khó chịu có sân và cảm thọ không dễ chịu không khó chịu có si. Con thấy trong trạng thái tâm của con không quá vui cũng không quá khổ, tức là vui nhẹ nhưng không thấy khổ, và con biết rõ tâm con bình an không vui không khổ thì như vậy có phải là tâm si không, thưa thầy?
Nếu có sự rõ biết đây là cảm thọ không vui không khổ thì đó đã là một sự tỉnh giác như bài kinh “Tôn giả Nanda” vừa đọc ở trên. Tức là mình biết thọ sanh khởi, thọ an trú và cảm thọ đó thuộc cảm thọ gì. Đó là cái biết thứ nhất, có một phần chánh niệm tỉnh giác nhưng cái biết đó chưa đủ mà phải tiến thêm một bước trí tuệ quán chiếu nữa: "Cảm thọ này là vô thường, cảm thọ này là duyên sanh, cảm thọ này là pháp hữu vi, cảm thọ này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, tôi không phải cảm thọ này".
Chúng ta không được để cho mình có cảm giác an toàn, thích thú, không được nắm giữ cảm thọ này trong khi nó đang có mặt, phải biết cảm thọ này là pháp sanh diệt, là pháp vô thường, là pháp trống rỗng, vô ngã, tan hoại, cảm thọ này không phải tôi, tôi không phải cảm thọ này, tôi không để cho cảm thọ này trói buộc, không để thích thú và hài lòng cảm thọ này.
Nếu thấy có cảm giác thường thường, yên tĩnh, không khổ không vui mà mình chấp nhận nó và nói rằng "đây là tôi, tôi đang có cảm giác không khổ không vui" thì cái đó là vô minh, si mê, là vô văn phàm phu. Còn biết đây thuộc về thọ uẩn, thọ uẩn này là pháp sanh diệt, vô thường, cảm thọ này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, tôi không bị dính mắc, trói cột, hài lòng, chấp nhận cảm thọ này là tôi thì đó là chánh niệm tỉnh giác của Đức Phật. Ngược lại nếu mình thấy bằng lòng, thấy mình an lạc, an yên thì mình chết ngay đây vì nhận thọ uẩn là mình, đó là thân kiến, chấp ngã, cũng gọi là vô minh, si mê vì không thấy năm uẩn.
Vì thế, trong sự tu học này rất cần chánh kiến, chánh tư duy, phải tác ý rất nhiều vì không tác ý thì minh không sanh khởi, tuệ không sanh khởi, như thật tri kiến không sanh khởi, bởi lẽ chúng ta đã quen sống với vô minh, si ám. Vô minh là nắm chặt năm uẩn này là tôi, là của tôi, còn minh là gỡ cái thấy năm uẩn là tôi, là của tôi ra khỏi thân tâm, xuất ly ra khỏi cái thấy đó, đây là sự tế nhị trong sự tu. Chúng ta rất dễ chấp nhận cái không vui không khổ, thấy im ắng rồi nhưng đây chính là chỗ chết của người tu.
Ni sư 2: Kính bạch thầy, chỗ thầy vừa chia sẻ con thấy mình thường rơi vào trạng thái này mà không biết. Tức là trong cuộc sống đời thường trước khi con lên đây thì con hoàn toàn là người hiền hòa, dễ chấp nhận ngoại cảnh thì con nghĩ mình là người sống có ý thức, biết đối nhân xử thế, không có tâm trạng phải tranh đua, giành giật, con cứ sống đều đều như vậy. Qua lời thầy giảng thì con thấy mình là kẻ nghèo rớt mồng tơi, lên đến đây con mới nhận được tài sản của Đức Thế Tôn và được thầy truyền trao lại. Con xin tri ân và cám ơn thầy rất nhiều.
Ni sư 1: Thưa thầy, tức là sư cô muốn nói rõ với thầy là cô thường ngồi thiền với trạng thái tâm rất yên định và cô rất thích cảnh giới đó, thưa thầy.
Đây chính là chỗ chết của mình, Minh Thành cũng đau khổ lắm mới lãnh được gia tài của Phật. Trong đời sống thì cảm giác vui rất ít, không được nhiều trong một ngày và cảm giác khổ cũng không nhiều nhưng cảm giác không vui không khổ chiếm rất nhiều. Đại đa số người tu chúng ta lầm tưởng mình không xảy ra chuyện gì, cứ bình bình như vậy là mình tu. Tuy nhiên, không phải như vậy, mình chấp nhận sự an yên, hài lòng, vừa lòng này thì mình chết trong đó, vì nếu như vậy sẽ không có sự nhiệt tâm, tinh cần, không có sự hướng thượng, phấn đấu, nỗ lực trong pháp. Chỗ này là nấm mồ, là tử huyệt, là làm cho tất cả chúng sanh không có con đường thoát ra, tất cả người tu phải để ý chỗ này thật kĩ, phải quán sự nguy hại ngay đây. Tại vì sự an yên này không phải cứ như vậy hoài mà bất thình lình, đột ngột, đột biến, đột quỵ và đột tử sẽ xảy ra, sự bất trắc, bất thường, bất toại nguyện sẽ xảy ra. Bất thình lình phát hiện ra ung thư giai đoạn cuối, bất thình lình mình có thể chết.
Có một chuyện đau lòng xảy ra, một tài xế chạy xe bị mắc sợi dây điện, chú cứ nghĩ leo lên gỡ dây ra là xong nhưng trúng ngay dây điện cao thế nên chết tại chỗ. Như vậy trước đó vài phút bác tài có biết mình chết đau đớn, bất thình lình như vậy hay không? Có thời gian báo đưa tin tất cả hơn chục người trên chuyến xe rước dâu gặp tai nạn chết tất cả, tất cả người trên đó có nghĩ rằng đây là chuyến xe vĩnh viễn và mãi mãi không quay lại không? Những người nhiễm dịch bệnh trên toàn thế giới có nghĩ rằng họ sẽ bị nhiễm bệnh rồi chết không? Họ hoàn toàn không có suy nghĩ đó và những điều đó đều đến đột ngột, tất cả cảm giác này là sự biến đổi và hoại diệt, tan hoại và đổ vỡ, đây là pháp sanh diệt, đây là pháp vô thường.
Khi nói đến hai chữ "sanh diệt" thì hai chữ đó phải ngấm vào tim gan của mình. Khi nói "sắc này là vô thường" thì hai chữ "vô thường" đó phải làm cho mình chấn động, có cảm thọ chứ không phải chỉ nói ngoài miệng. Khi nói "đời sống này là khổ đau" thì hai chữ "khổ đau" phải thấm vào từng lỗ chân lông, từng huyết quản mạch máu của mình. Phải làm sao sanh lên cảm thọ thật sự đau khổ, thật sự vô thường, thật sự bất an, còn nói trên miệng chỉ là gió thổi mây bay.
Kẻ vô văn phàm phu có cảm giác lạc thọ cũng giống như người đang bị trói buộc, kẻ vô văn phàm phu có cảm giác khổ thọ nào cũng giống như người bị trói buộc, kẻ vô văn phàm phu không học Chánh Pháp có cảm giác không khổ không vui cũng giống như người bị trói buộc. Hãy quán cảm giác vui sướng này là khổ đau, quán cảm giác đau khổ này là mũi tên, quán cảm giác không khổ không vui này là vô thường.
" Lạc thọ, này các Tỳ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô thường. Khi nào, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo thấy được lạc thọ là khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỳ-kheo, đây gọi là Tỳ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận, kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau.
Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, V. Cần Phải Quán Kiến)
Đây chính là đề tài quán chiếu cho chúng ta vì nó rất sâu sắc. Tại sao phải quán cảm giác vui là khổ? Tại sao vui lại là khổ? Vì mình bị say đắm, yêu thích, trói cột và ràng buộc nhưng sau đó mình sẽ khổ. Những người thích tốc độ, thích thể hiện lên xe chạy tốc độ cao sẽ thấy vui, nghiện ma túy sẽ thấy vui vẻ trong cảm giác được phê pha, được chơi game suốt ngày suốt đêm thấy rất vui… đó là những lý do phải quán cảm giác vui sướng là khổ đau. Đó là những cái thô còn cái tế là hôm nay đổ bánh xèo, mai nấu hủ tiếu, mốt là cơm bì sườn chả… suốt ngày chỉ thích vào bếp nấu nướng thì đó là đang bị lạc thọ trói buộc làm bỏ hết thời gian tu học. Cho nên, Đức Phật nói phải quán cảm giác vui sướng là khổ đau vì chúng sanh bị trói buộc trong cảm giác vui sướng đó.
Cảm giác đau khổ phải quán là mũi tên găm vào thân thể. Chúng ta thử nhìn các người chết vì dịch bệnh, không những người ta thả thây nhiễm dịch bệnh xuống sông Hằng mà họ còn chôn ở hai bên bờ sông Hằng vì không có tiền làm lễ hỏa táng, không đủ gỗ để thiêu xác, thậm chí phải chặt cây trong công viên cũng không đủ nên bây giờ phải đau đớn thả xác người thân xuống sông, đau đớn chôn xác người thân ở bên bờ sông. Vì vậy, cảm giác khổ đau này giống như mũi tên găm vào tim vì thế mình phải quán cảm giác khổ này là mũi tên để mình nhàm chán ngũ uẩn này, nhàm chán sắc uẩn, nhàm chán đời sống này, nhàm chán nhân sinh thế gian, cuộc đời này. Phải làm như vậy đối với mỗi cảm thọ mới làm tăng trưởng Thánh trí huệ của mình, Khổ Thánh Trí mới được xác lập vững trú, còn bằng không chúng ta bị mê muội và chết điên đảo trong ngũ uẩn này, trong cảm giác này.
Cảm giác không khổ không vui phải quán nó là vô thường, hai chữ "vô thường" này phải làm cho nó thấm vào tim gan, vào xương tủy, máu thịt của mình. Cảm giác này là vô thường, là không an ổn chút nào, không an toàn chút nào, không có bất kì sự bảo đảm nào cả. Mình có thể bất thình lình ngã xuống ngay tại đây, đột quỵ, mình có thể bất thình lình bị tai biến mạch máu não, đừng nói gì người lớn tuổi mà ngay cả người trẻ tuổi cũng có thể bị tai biến bất cứ lúc nào. Chính vì mình suy nghĩ như vậy, suy xét như vậy, tư duy, nghiền ngẫm như vậy để tháo gỡ sự hài lòng, bằng lòng, hân hoan, cảm giác an toàn, từ đó thoát ra, nếu không mình sẽ bị nó trói cột. Cảm giác này không phải như vầy hoài, nếu cứ vầy hoài thì mình không cần tu nữa vì nó đã an ổn thì tu làm gì nữa, nhưng nó là hiểm họa, hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, nguy nan, nó bị sự tàn khốc của vô thường, nó bị sự khốc liệt của nhân quả, nó bị sự tàn sát của ác nghiệp, của quả báo. Vì thế chúng ta quán như vậy để mình xuất ly, đi ra khỏi nó, nếu không cảm thọ nào mình cũng chết với nó. Cái vui là khỏi nói rồi, đi ăn đám cưới không bao giờ nhớ đến vô thường, đến đám ma thấy khóc lóc đau khổ thì nhớ vô thường được chút ít nhưng về nhà là trở về như cũ, trở lại sự vô minh. Cảm giác không khổ không vui là cứ sống đều đều, sống thả trôi như lục bình cho nên mình ở trong cảm giác đó là chết ngay vì không tăng thượng, không hướng thượng, không nhiệt tâm, tinh cần, nỗ lực, trong khi Đức Phật đã nói chúng ta phải sống như cái khăn đang cháy trên đầu.
"Ví như, này chư Hiền, khi khăn bị cháy hay khi đầu bị cháy, cần phải quyết định, ước muốn, tinh tấn, nỗ lực, dõng mãnh, bất thối và chánh niệm, tỉnh giác, để dập tắt khăn hay đầu bị cháy ấy". (Tăng Chi Bộ, Chương X – Mười Pháp, VI. Phẩm Tâm Của Mình, (V) Tổn Giảm)
Phải quán như vậy mới đi ra khỏi cảm giác bất khổ bất lạc được. Lúc nào cũng tâm niệm mình sẽ chết đột ngột, phải quán chiếu bằng cách nhắc nhở bản thân có thể bị đụng xe chết, bị rơi máy bay hoặc có thể bị ung thư để đi ra khỏi cảm giác an toàn của bất khổ bất lạc, từ đó mới nỗ lực, tinh cần tinh tấn, hướng thượng trong sự tu học, đó chính là quán sự nguy hiểm và tác hại của đời sống này.
Ni sư 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên thầy, kính bạch quý thầy, kính bạch quý Ni sư cùng đại chúng. Nhân việc Ni sư Trí Đức hỏi rồi con mới thưa ra chỗ vướng mắc của con là cảm giác bất khổ bất lạc. Con ngồi thiền rơi vào không gian rộng lớn bao trùm, chỗ nào cũng thấy Bát Nhã và con cứ ở tư thế hai tay chống lên tấm đơn. Con thấy mình bơi trong Bát Nhã, sống trong Bát Nhã nên hạnh phúc vô cùng, con ngạc nhiên là không có một chữ Bát Nhã nào nhưng chỗ nào cũng đầy Bát Nhã. Sau đó con cảm giác thân rất mỏi và con hạ thân mình từ từ xuống và ngồi tiếp cho đến khi nào con ra khỏi trạng thái đó. Đó là những trạng thái con có từ cách đây ba năm, thế rồi từ đó con sống trong đó. Con có chia sẻ điều này cho vài người nhưng con vẫn chưa nhận được điều gì thật sâu sắc nên con cứ sống như vậy, thế nhưng dần dần con đi ra khỏi trạng thái tâm tĩnh lặng như ban đầu, không còn trạng thái thiền thật sự như vậy. Dần dần con nhận ra mình bị vọng tưởng, con trăn trở và thấy mình chưa biết gì về ngũ uẩn. Khi đến Linh Quy Pháp Ấn được nghe thầy giảng, con đã nhận diện được ngũ uẩn nên con thấy được chỗ thiếu sót của mình. Hôm nay con mạnh dạn chia sẻ những kinh nghiệm, những sai lầm trong sự tu tập của con để thầy thấy chỗ sai và chỉ dạy con ạ.
Ngày xưa Minh Thành cũng trải qua như vậy, chẳng qua là cái tưởng, cái hành của mình an tịnh, cái thọ lúc đó lắng dịu, trong tâm mình không xuất hiện những hình bóng và những lời nói lầm thầm cũng im lặng. Đại đa số người tu thiền dễ bị lầm chỗ này, nghĩ rằng đây là chân tâm nhưng đó chỉ là cái tưởng an tịnh không hoạt động nữa và cái hành cũng giống vậy. Vị tu thiền trong thời gian dài sẽ có kinh nghiệm này ít nhiều nhưng khi chưa nhận diện ngũ uẩn thì sẽ tưởng lầm sự an tịnh này là cái gì cao siêu lắm, thật chất nó rất bình thường, chỉ là trạng thái an tịnh, lắng dịu của thọ; tưởng; hành. Khi trở về thực tại thì nó cũng trở lại bình thường, cái vô minh, chấp ngã, tham, sân, si vẫn còn y nguyên nên không giải quyết được vấn đề.
Cho nên, có sự lắng dịu của tâm nên cũng tốt nhưng không giải quyết được vấn đề thật sự của chúng ta, có người rơi vào trạng thái này bị lầm tưởng nghĩ rằng mình chứng đắc cái gì đó, bản ngã lại tăng lên nên không tốt lành.
Trí tuệ về ngũ uẩn
Trong sự tu theo đường lối nguyên chất Đức Phật dạy trong kinh tạng Nikāya là thứ nhất phải nhận diện ngũ uẩn, sắc; thọ; tưởng; hành; thức là cái gì; thứ hai phải thấy được từ vô lượng vô biên kiếp cho đến nay mình chấp thủ ngũ uẩn này, sắc nào mình cũng nói là tôi, là của tôi, thọ; tưởng; hành; thức nào mình cũng cho nó là tôi, là của tôi; thứ ba là phải thấy được sự tập khởi của ngũ uẩnm, sự đoạn diệt của ngũ uẩn và con đường đưa đến sự đoạn diệt đó. Vì thế cần học thuộc lòng bảy trí về sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Nhân duyên sanh diệt của ngũ uẩn
"Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc. Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
"Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là sắc? Bị thay đổi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là sắc. Bị thay đổi bởi cái gì? Bị thay đổi bởi lạnh, bị thay đổi bởi nóng, bị thay đổi bởi đói, bị thay đổi bởi khát, bị thay đổi bởi sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng và rắn. Bị thay đổi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là sắc". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Ðược Ăn, VII. Ðáng Ðược Ăn)
"-- Này Tỳ-kheo, do duyên sắc, khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của sắc. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đó là sự nguy hiểm của sắc. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với sắc, đó là sự xuất ly của sắc. Do duyên thọ... Do duyên tưởng... Do duyên các hành... Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của thức. Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thức, đó là sự nguy hiểm của thức. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với thức, đó là sự xuất ly của thức". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm (Tạp 2, Ðại 2,14b) (S.iii,100) (Trung Bộ Kinh, trang 109, 110 Tham chiếu))
Khi học tu theo con đường Nikāya này phải nắm vững trí tuệ về năm uẩn, phải biết được nhân duyên sanh diệt của nó, phải biết mặt mũi, tánh tình, bản chất, tính chất của nó, khi chúng ta đối diện trực tiếp với nó thì chúng ta phải biết nó đang ở trạng thái nào và tùy từng tình huống, trạng thái mà chúng ta xử lý. Còn không biết về nó, không hiểu gì về nó thì chúng ta còn bị vô minh đối với nó vì nếu bị rơi vào những trạng thái đó chúng ta không biết gì cả và sẽ bị lầm tưởng.
Do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt, như vậy sự có mặt của thân xác này là do thức ăn bao gồm cả đất, nước, gió, lửa chứ không đơn thuần thức ăn chỉ là món ăn. Mà để có rau củ quả thì phải trồng từ đất, tưới nước, có gió, ánh sáng, nhiệt độ để cây phát triển, vì vậy mình thấy rõ sắc do có thức ăn mà được tồn tại, minh thấy được vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi nó. Vị ngọt là những gì mình khoan khoái, thích thú, vui sướng trong sắc này thì đó là vị ngọt của nó. Sự nguy hiểm của nó là sắc là vô thường, chịu sự biến hoại, tan hoại, hủy hoại, đó là sự nguy hiểm và tác hại của nó. Sự xuất ly là nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham thì đó là mình đi ra khỏi sắc. Mình biết tường tận mọi khía cạnh, góc độ, phương diện, ngõ ngách của sắc thì mình mới có khả năng nhiếp phục được sắc và thoát ra khỏi sắc. Còn không biết nó làm bằng cái gì, nó hoạt động như thế nào, tại sao mình đam mê nó cũng không biết, sự nguy hiểm của nó mình không rành, làm sao để thoát ra cũng mù mờ thì làm sao có thể nhiếp phục được sắc, làm sao có thể thoát ly khỏi sắc? Ở đây chỉ mới là sắc pháp huống chi thọ uẩn còn thâm sâu hơn thế rất nhiều lần, thậm chí các bậc Hiền Thánh còn chưa rành rõ hết tận cùng, cho nên chúng ta bắt buộc phải học.
Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi, do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Có tiếp xúc mới sanh ra cảm thọ, không tiếp xúc thì không có cảm thọ. Vì có thân này nên mới có sự tiếp xúc mà thân này làm từ tứ đại, mình phải hiểu như vậy để quán chiếu buông bỏ, thoát ra từ từ, nếu không mình sẽ chết với cảm thọ vì cái thọ nào sanh khởi mình cũng cho nó là mình. Mình cũng phải biết vị ngọt của thọ, sự nguy hiểm và tác hại của thọ để mình tránh xa nó. Phải biết thọ đó thuộc về thọ nào, nếu là thọ của bản ngã thì nó ra làm sao, thọ của ái lúc đó ra sao, cái thọ lúc ham thích hoặc lúc sân giận, hờn trách ra sao hoặc cảm giác lúc buông lung phóng dật ra sao, mình phải thấy biết hết tất cả trạng thái sanh diệt của các cảm thọ để nó không qua mặt mình được. Phải biết sự nguy hiểm và tác hại của thọ là vô thường, là chịu sự biến hoại, phải nhiếp phục dục tham và đoạn tận dục tham đối với thọ thì mới xuất ly ra khỏi thọ. Chỉ cần trạng thái thanh tịnh, nhẹ nhàng là bị dính mắc vào đó và nghĩ mình tu thành công, vậy là chết với nó. Nếu không đủ trí tuệ về các góc độ, khía cạnh, phương diện, sự tập khởi, sự đoạn diệt và con đường đưa đến chấm dứt tham ái, vô minh trong các cảm thọ thì mình phải chết với nó. Mình đi đánh giặc mà không biết giặc ở đâu, mặt mũi, tính chất, đánh bằng vũ khí gì đều không biết thì làm sao diệt giặc được? Đó là lý do tại sao chúng ta phải học Thánh trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác chứng ngộ và phải đưa nó vào trong tâm để đối chiếu, soi rọi, rà soát.
Tưởng; hành; thức cũng giống như vậy cho nên tu không khéo là chết với cái thức vì nó rất khủng khiếp. Lúc nào cũng nhận hình bóng là tôi, suy nghĩ nào khởi lên cũng là tôi suy nghĩ, nhận thức rõ biết nào cũng tôi biết, biết xong rồi giận, tham, sân. Vì vậy đó là cái biết của tham ái, vô minh chứ không phải cái biết của trí tuệ, không phải là tuệ tri, thắng tri mà là tưởng tri, thức tri, cái biết do tưởng tượng, nhận thức, kinh nghiệm. Thế nên tu một thời gian là sống trong tưởng, nhất là trong thiền định rất dễ đi vào tưởng, nếu không nhận diện rõ ràng, trạch pháp đầy đủ, sáng tỏ, tinh minh về ngũ uẩn là mình sẽ chết trong tưởng uẩn. Khi tu đến những trạng thái tứ thiền bát định, thức vô biên xứ, không vô biên xứ, vô sở hữu xứ là đi ra không được. Dù chứng đạt đến những tầng thiền cao cấp khủng khiếp tức là tâm trú trong trạng thái trống rỗng, trống không bao la vô tận, cứ hễ ngồi vào là tâm trú trạng thái đó, chứng đắc thiền định đó nhưng vẫn là thiền của phàm phu, bản ngã vẫn còn, nhận ngũ uẩn là mình, vô minh, tham ái, chấp thủ vẫn y nguyên. Tuy nhiên, vị đó sẽ được sanh ra các cõi trời rất cao, rất phước báo, vô sắc giới, tuổi thọ dài khủng khiếp nhưng hết phước cũng rơi xuống ba đường ác, ít được vào cõi người.
Vì thế trí ngũ uẩn tuyệt đối quan trọng. Sau khi chúng ta thành tựu trí về ngũ uẩn, thành tựu trí về lậu hoặc để thấy tâm cấu nhiễm, thấy được thủ phạm thật sự, nguyên nhân thật sự, căn nguyên thật sự làm chúng ta đau khổ trên cuộc đời này thì từ từ chúng ta mới gội rửa, tẩy sạch để đi đến tâm thanh tịnh hoàn toàn, tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Tâm giải thoát chỉ khi nào đoạn tận được dục ái thì lúc đó tâm được mở ra. Tuệ giải thoát khi nào đoạn tận được vô minh thì tâm sẽ được bừng sáng. Do vô minh che đậy, do tham ái trói buộc nên chúng sanh mãi mãi và vĩnh viễn ở trong năm uẩn không biết đường ra, chỉ một sắc uẩn thôi đã giết chết chúng ta vô lượng vô biên kiếp rồi chứ đừng nói gì đến thọ; tưởng; hành; thức –tâm mê không biết đường ra này.
Trong suy nghĩ, cảm giác, nhận thức của mình lúc nào cũng cho rằng con mắt này là tôi, cái tai này là tôi, lỗ mũi này là tôi, vóc dáng, hình hài này là tôi… đó là sáu nội xứ. Đến sáu trần bên ngoài là sắc chất nào mình cũng cho rằng cái đó của mình, món đồ đó của tôi, cái nhà của tôi, đất của tôi, bàn ghế của tôi… đó là sáu ngoại xứ. Năm dục trưởng dưỡng bên ngoài và những thọ; tưởng; hành bên trong, từ bên ngoài đem vào trong tâm những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó rồi cái nào mình cũng nhận là mình. Sau đó đến sáu thức là sự rõ biết sắc, rõ biết âm thanh, mùi vị, sự xúc chạm, sự rõ biết những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong và cái rõ biết nào mình cũng cho là tôi.
Khi căn – trần – thức giao thoa là mình mê muội trong đó, sáu xúc mình cũng cho là mình, trong xúc sanh ra sáu cảm thọ: thọ do nhãn xúc sanh là cảm giác do con mắt tiếp xúc sanh ra, hoặc là thích, không thích, hoặc là ưa, ghét, hoặc tham, sân và những cái này mình cũng cho là mình; thọ do nhĩ xúc sanh là cảm giác do tai tiếp xúc; thọ do tỷ xúc sanh là cảm giác do lỗ mũi tiếp xúc sanh ra; thọ do thiệt xúc sanh là cảm giác do lưỡi tiếp xúc sanh ra; thọ do thân xúc sanh là cảm giác do thân tiếp xúc; thọ do ý xúc sanh là cảm giác do ý xúc bên trong, ngồi lại mà những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác lúc trước được hiện lại và tâm mê lẩn quẩn trong đó rồi mình cũng cho nó là mình. Đó là sáu thọ, sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu ái và cái nào mình cũng cho là tôi, là của tôi. Tiếp theo là sáu tầm, sáu tứ là cái tâm truy tầm chạy đuổi theo sáu trần. Như vậy, cả một chuỗi sáu thọ, sáu căn, sáu căn, sáu trần, sáu xúc, sáu ái, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ là sáu mươi pháp vận hành ngày đêm như mê hồn trận mà mình không biết, không thấy nó đang vận hành cái gì. Cái nào mình cũng cho là tôi nên cái tâm mê cứ chồng chất không thấy đường ra.
Nhất hướng ly tham
Con đường đầu tiên của Niết-bàn là chánh kiến, chánh kiến là biết rằng sắc; thọ; tưởng; hành; thức không phải là tôi. Khi nhận diện ngũ uẩn từ từ thì mình sẽ sanh khởi ra trí tuệ được Đức Phật gọi là "thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng, xứng đáng bậc Thánh". Lúc đó chúng ta mới bắt đầu có chiều hướng xuất ly tầm, tâm hướng về sự thoát ra ngũ uẩn, xuất ly tầm mới bắt đầu được xác lập, khởi động. Vô văn phàm phu không có xuất ly tầm mà rất yêu thích ngũ uẩn, ai động vào là xảy ra chuyện ngay, nó đam mê khủng khiếp trong ngũ uẩn.
Đầu đường Niết-bàn là chánh tri kiến, nhất là các vị mới cần đầu tư thật nhiều vào Đa văn, tức là nghe và học để nhớ nhận diện thì từ mới thành tựu chánh kiến để nhìn nhận ngũ uẩn rồi bắt đầu thấy các lậu hoặc tham, sân, si, vô minh và bản ngã hoạt động như thế nào. Khi thấy được rồi vừa đau lòng vừa vui, thấy rồi chỉ lo tu chứ không nhìn ai nữa, không so đo, đố kỵ, ganh tỵ ai nữa, thấy rồi mình sẽ trú trong tàm quý, hổ thẹn, sợ hãi và trong lòng mình sẽ sanh khởi lên sự hướng về viễn ly, nghiêng về viễn ly, nhập về viễn ly, rời xa đời sống vô thường, giả dối, hư ảo của ngũ uẩn này. Đó là ý nghĩa của câu "nhất hướng nhàn chán, ly tham đoạn diệt, an tịnh thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn".
Một khi thấy bản chất của ngũ uẩn thật sự thì tự động tâm mình sẽ một bề, một mực hoàn toàn nhàm chán đối với sắc, nhàm chán với những cảm giác, nhàm chán với những hình bóng trong tâm, nhàm chán đối với những suy nghĩ, nhận thức, không tham muốn nó nữa mà chỉ muốn ly tham, nó là cái không đáng để mình tham, nó là thứ khổ đau, bệnh hoạn, tai họa, tham nó để khổ cho nên ly tham. An tịnh là tâm bắt đầu sẽ an yên, tịnh lạc vì không chạy theo tham nữa, còn khi nào tâm chạy theo tham mới động, chạy theo dục mới chuyển, còn không tham muốn nữa thì tâm sẽ an yên, dừng lại, an tịnh xuất hiện, an tịnh được đầy đủ thì thắng trí xuất hiện. Đây không phải là trí huệ bình thường, không phải tri thức bình thường của thế gian mà đó là trí huệ của bậc Thánh.
Từ chỉ quán song hành, định huệ song vận, cân bằng thì thắng trí sẽ xuất hiện và chứng ngộ được ngũ uẩn này thật sự là cái khổ đau, thật sự là đáng nhàm chán, thật sự đáng buông bỏ, không đáng tham muốn. Lúc đó tham, sân, si, vô minh, bản ngã đối với năm uẩn hoàn toàn sụp đổ, hoàn toàn tan vỡ, hoàn toàn rã nát, hoàn toàn đoạn tận, đoạn diệt, dập tắt hoàn toàn vô minh, không hiểu biết, tham ái, chấp thủ đối với ngũ uẩn thì đó gọi là Niết-bàn. Đó cũng chính là Thánh pháp ấn của tất cả các chư Phật: "nhất hướng nhàn chán, ly tham đoạn diệt, an tịnh thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn".
Bất động tâm giải thoát
Ni sư 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Từ nãy giờ con nghe thầy đào sâu ngũ uẩn thì con chợt nhớ lại một việc mà con thắc mắc lâu nay. Tất cả những vị Thánh đi đến diệt thọ; tưởng; định thì chứng quả A-la-hán thì như vậy diệt thọ; tưởng; định nhưng còn hành và thức thì ra sao, thưa thầy? Nếu diệt thọ; tưởng thì trở thành người vô cảm hay sao? Tức là sau khi chứng quả thì không còn cảm xúc gì hay sao, con xin thầy chỉ dạy thêm cho chúng con.
Các bậc A-la-hán đã đoạn tận vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn như chúng ta đã nói. Khi các vị vào định thì cái thọ được an định, cái tưởng cũng an định một cách hoàn toàn và các Ngài trú trong các định đó, còn khi nào không muốn thì các Ngài đi ra khỏi định chứ không phải bậc A-la-hán là không còn cảm giác nữa. Tức là, lúc nào muốn thì các ngài vào định còn không muốn thì ra khỏi định, đó là một loại thiền định của các bậc Thánh. Các bậc A-la-hán vẫn có cảm giác khổ nhưng chỉ có cảm giác khổ của thân còn cảm giác khổ của tâm là không có.
Chúng ta cần nhớ để phân biệt cảm thọ thân và cảm thọ tâm. Khi chân đạp miểng chai đau đớn làm mình nghĩ đủ thứ thì cái đau khổ đó tăng rất nhiều do cái nghĩ tưởng và thân kiến, vì mình nghĩ thân này là tôi, tôi bị như vậy, tôi đau như vậy… Còn các ngài A-la-hán có bị thương như vậy thì các Ngài chỉ đau trên thân chứ tâm không khổ, vì các Ngài không thấy rằng cái chân đó là tôi, là tự ngã của tôi mà chỉ thấy đó là sắc uẩn thôi cho nên thân đau nhưng tâm không động. Khi các Ngài ăn ngon cũng có lạc thọ nhưng tâm không bị tham dục, tham ái, dính mắc trong cảm giác vui sướng của món ngon đó. Như vậy, không phải các Ngài không có cảm thọ mà là tất cả cảm thọ không chi phối được các Ngài, bởi vì các Ngài làm chủ các cảm thọ và không xem cảm thọ đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Cho nên, giữa cuộc đời này không có bất cứ cái gì làm khổ tâm được các vị A-la-hán nhưng khổ thân thì có, vì còn mang cái thân này thì còn đói bụng. Cái thân các Ngài có đau thì chỉ là cảm giác của thân còn tâm đã đạt đến cảnh giới bất động gọi là tâm bất động giải thoát.
./.