Hỷ Vô Lượng Tâm 3
Tinh Hoa Nikāya
Giảng Giải Bài Thiền Quán
Hỷ Vô Lượng Tâm 3
Thích Minh Thành
Ngày 20 tháng 07 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán chiếu dịch bệnh – khuyến tấn tu hành PAGEREF _Toc82246330 \h 1
II. Hiểu về hỷ vô lượng tâm – chán ngán PAGEREF _Toc82246331 \h 4
III. Vui mừng vì sự mong muốn đúng pháp PAGEREF _Toc82246332 \h 15
IV. Vui mừng trong sự tu học PAGEREF _Toc82246333 \h 18
V. Trải rộng tâm hỷ PAGEREF _Toc82246334 \h 24
I. Quán chiếu dịch bệnh – khuyến tấn tu hành
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ bốn Thánh trí ngũ uẩn, bốn Thánh trí lậu hoặc, đưa đến ly tham, giải thoát.
Đảnh lễ bốn đôi tám chúng hiền Thánh tăng, ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Kính bạch quý thầy, quý cô và toàn thể đại chúng, ở trong thời điểm này, chúng ta cố gắng tu học thật nhiều. Vô thường rất chóng vánh, hằng ngày tới bốn năm ngàn ca nhiễm bệnh. Dịch bệnh, lũ lụt, mưa bão, đói thiếu, khổ sở, thiên tai, hỏa hoạn. Ở châu Âu xảy ra một trận lũ lụt trăm năm chưa từng có, chết một trăm bảy mươi người, mất tích bao nhiêu ngàn người. Đầy dẫy trên thế giới là những đại thảm họa của toàn cầu cho nên chúng ta cố gắng tu học thật nhiều. Lúc nào mình tu học được thì cứ tận dụng vì bây giờ chúng ta ngồi đây, biết đâu tối nay không còn nữa.
Hiện nay sự biến thể của virus cực kỳ độc hại, chỉ cần vài giây thoáng ngang qua cũng có thể nhiễm bệnh. Những biến thể ngày càng thay đổi, mạnh và độc hơn. Trong thời gian rất gần đây có tới tám mươi người chết, hôm nay con số trên ba trăm người. Thành ra, chúng ta cố gắng tận dụng thời gian này để tu học, tu học thật nhiều.
“Lang thang trong sanh tử
Lành dữ chẳng tỏ tường
Mượn nghiệp hiền nghiệp thiện
Làm chỗ để náu nương”
Chúng ta càng trú trong pháp nhiều chừng nào thì chúng ta càng có chỗ nương náu, an ổn, an lành, an tịnh, an lạc, an tâm. Sự tu học của chúng ta cũng chia sẻ đến mọi người nên chúng ta phải cố gắng. Thật sự bây giờ mọi chỗ mọi nơi đều tiềm ẩn hiểm họa, tai họa, hiểm nguy khắp toàn cầu. Một ngày ở Sài Gòn có trên ba, bốn ngàn ca bệnh. Hôm nay trên năm mươi lăm ngàn ca nhiễm. Các bác sĩ quằn quại, những người điều dưỡng ngã quỵ xuống, ngất xỉu, và có những vị nhiễm bệnh, gục ngã bất cứ chỗ nào, quá mệt, quá sức, quá ngợp. Mồ hôi còn hơn tắm, ướt đẫm hết bao nhiêu lớp áo bảo hộ, họ ở trong một môi trường hết sức nguy hiểm, bất cứ lúc nào cũng có thể nhiễm bệnh.
Chúng ta hãy nghĩ đến những người nghèo, khổ, những người đang vất vả hy sinh ở tuyến đầu chống dịch, những chiến sĩ, bộ đội, những người có chức trách, ngày đêm trực, chăm lo đưa đón bệnh nhân, chữa trị. Nghĩ đến nỗi khổ của các vị đó, mình càng tinh tấn, cố gắng. Mình chỉ làm được một việc là tu học và cố gắng chia sẻ pháp đến cho mọi người, ít nhất mỗi ngày đều phải có.
Bây giờ nhà nước phải chuẩn bị trước kế hoạch cho ba trăm ngàn ca nhiễm, hiện tại là trên năm mươi lăm ngàn. Những nước láng giềng của chúng ta, Capuchia đặt Thái Lan ba ngàn quan tài, Thái Lan cũng chống dịch và làm quan tài không kịp. Mà mấy ngày trước, con số người chết ở Thái Lan cũng đã một ngàn mấy trăm người rồi, láng giềng sát bên của chúng ta. Cho nên càng trú được trong pháp nhiều chừng nào càng tốt chừng đó.
Chúng ta đặt trường hợp mình là những bác sĩ, điều dưỡng, bây giờ giáo hội chúng ta phải vận động những người biết ngành y, những người xung phong cùng nhau ra tuyến đầu chống dịch. Giáo hội đang kêu gọi tăng ni và Phật tử. Quá tải! Nơi nơi đều sống trong bất an, lo lắng, sợ hãi. Cho nên, chúng ta phải làm sao trú được tâm vào trong pháp, trải lòng từ đến tự thân mình và đến tất cả hữu tình chúng sanh để mình tinh cần, tinh tấn, nỗ lực trong sự tu học.
Chúng ta tiếp tục chia sẻ về bài Hỷ vô lượng tâm,
“Vui vì được nghe pháp
Vì được gặp bạn lành’
Vì biết giữ giới hạnh
Vì biết tập nhìn tâm”
Thật ra còn có một loại virus độc hại hơn nCoV-Corona này: tâm của hữu tình chúng sanh, mà chúng sanh không biết virus gì? Virus của dục tham, ác tham, dục vọng, dục điên cuồng, si mê, nhiệt não. Còn có virus của sân hận, thù địch, khẩu tranh, đấu tranh, chiến tranh, virus của si mê, hắc ám, vô minh, ngu muội, tự làm khổ mình, làm khổ người, tự hại mình, hại người. Ngoài ra, còn một loại virus của bản ngã, của sự ích kỷ, làm đau khổ cho nhau, hãm hại lẫn nhau, virus đó độc hại hơn virus này trăm ngàn vạn lần.
Và cũng chính virus dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã này là nhân, mới sanh ra quả ác nghiệp, quả khổ của ngày nay. Chưa dừng lại, nếu con người không biết giữ giới, làm lành, không biết sống đạo đức, mà cứ tiếp tục sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, hãm hại lẫn nhau, ác tham ác tuệ thì thế giới này ngày càng đi đến chỗ hoại diệt, diệt vong. Chúng ta tu học là để nhìn thấy những loại virus đó tàn phá cơ thể, nội tâm của chính mình. Mà khi thấy rồi, chúng ta có pháp dược, thần dược, diệu dược, thánh dược để trị, cho nên vui thay là chúng ta biết tập nhìn tâm.
Nhìn tâm giống như mình nội soi, rà xét, dòm ngó thật kỹ, dùng kính lúp, kính hiển vi, dùng những máy chụp CT, soi rọi, siêu âm. Đó là thiền quán, thiền quán là sự yên tĩnh, lắng tịnh, lắng dịu để nhìn sâu vào nội tâm. Cho nên, khi chúng ta biết nhìn vô nội tâm để thấy được những nguyên nhân của bệnh tật, những gốc rễ của tâm bệnh, những thứ làm cho lòng mình bất an, làm cho tâm mình rối loạn, điên đảo, si mê, ám chướng, điên cuồng, nổi loạn, phải nhìn thấy được.
Và khi mình thấy được như vậy, mình nhiếp phục, chế ngự, làm cho nó an tịnh, lắng dịu. Điều đó gọi là vui vì biết tập nhìn tâm. Chúng sanh hữu tình không thấy ngũ uẩn, cấu bẩn, lậu hoặc, cấu nhiễm, rác bẩn ở trong tâm. Họ lao theo dòng chảy, dòng xiết, thác đổ của tam độc. Họ bị chìm nổi, trôi lăn, cuốn phăng; họ đau khổ, sầu bi, ưu não. Họ không biết tại sao mình khổ, không biết được nguyên nhân tại sao. Còn mình là người tu đúng theo Chánh pháp của Phật, vui vì biết tập nhìn tâm, câu này hết sức quan trọng. “Vì biết tập nhìn tâm”, biết nhìn thọ, tưởng, hành, ý nghĩ đó mình coi nó như thế nào, tại sao nó sanh khởi lên, từ đâu nó sanh khởi lên, động cơ nó là gì?
Mỗi một cảm giác xuất hiện, có mặt, mình coi nhân duyên sanh diệt của nó. Đó là sự tập khởi, đoạn diệt của ngũ uẩn, phải biết tập nhìn tâm. Không phải chỉ tập nhìn ở trên thiền đường, khi nói chuyện cũng phải tập nhìn vào trong tâm, khi làm việc cũng vậy. Nhất cử nhất động của mình tập nhìn vào trong, không để cho nó buông thả, buông lơi, buông trôi, buông lung. Mình nghĩ giờ này không phải giờ thiền, giờ này là giờ làm việc.
Chính ý nghĩ đó làm quên mình, quên ta, giờ nào cũng là giờ nhìn tâm. Mình không nhìn tâm, lúc đó mình sống một đời sống cô hồn, tấm vất vơ vất vưởng, tâm lang thang, si ám, ngu muội, tâm bất giác, không Chánh Niệm. Cho nên mình biết nhìn được tâm, hay lắm, nhìn từng chút từng chút, từ từ mình sẽ nhìn ra được nhiều khía cạnh, phương diện, ngóc ngách, hóc, xó, kẹt của tâm mà nhìn ra. Khi nhìn ra được rồi mình có hai cảm thọ, mừng và lo, hỷ và ưu.
Mừng là thấy được cái trước giờ mình không thấy, biết được cái trước giờ mình không biết. Mình phơi bày được những gì bị che kín, mình mừng, vui. Nhưng lo vì ôi sao quá xá khủng khiếp như vậy, tại sao tâm mình lại tới mức độ như vậy, đó là lo. Cho nên sanh ra hai cảm thọ hỷ và ưu của thiện pháp, hai cái này đều phải tưới tẩm, tăng trưởng và phát triển nó. Mừng, vui, hoan hỷ để mình tiếp tục tu vì phơi bày những gì bị che kín. Lo vì cấu uế, cấu nhiễm, dơ bẩn, rác rến quá nhiều, những ác bất thiện pháp. Lo để làm gì? Để tẩy rửa, quét dọn, làm sạch, nhiếp phục, đoạn tận.
II. Hiểu về hỷ vô lượng tâm – chán ngán
Cho nên, bài “Hỷ vô lượng tâm” này không phải từ đầu tới đuôi đều cười, đừng nghe chữ hỷ lại nghĩ rằng toàn cười vui. Pháp của bậc Thánh, của Đức Phật truyền trao cho mình là vậy, trung đạo chứ không nghiêng lệch một bên nào, nên vui vì biết tập nhìn tâm. Tại sao chúng ta Chánh quán thọ thực? Tại sao Đức Phật phải dặn Tỳ-kheo rõ biết khi đi, đứng, nằm, ngồi, rõ biết khi nói, khi nín, khi co duỗi, khi đại tiểu tiện đều phải rõ biết hết Chánh Niệm hết, đó là tập nhìn tâm. Quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp, chữ này là tóm thâu Tứ Niệm Xứ. Tập nhìn tâm ở đây là quán tâm trên tâm. Trong tâm có thọ, tưởng, hành, thức.
“Vui vì ta biết ngán
Ngán nhân quả trả vay
Ngán nghiệp lực thúc đẩy
Sanh vào chỗ đắng cay”
Nếu tu đúng theo lời Phật dạy thì thấy rất nhiều điều lạ, “Vui vì ta biết ngán”. Ngao ngán nhưng mình lại vui, ngao ngán này tức người biết nhàm chán, ở trong kinh gọi là yểm ly. Yểm ly là gì? Yểm là chán, ly là lìa, chán ngán, xa lìa. Ta biết chán, biết ngán mà ta lại thấy vui. Điều này mới độc đáo, đại chúng có thấy được điều này, có cảm thọ được chưa? Có vui không khi mình sanh tâm nhàm chán đối với tứ đại, ngũ uẩn này, nhàm chán đối với dục, tham, sân, si, bản ngã này.
Mình khởi lên rồi lại thấy chán ngán nó, nhưng sau đó thấy vui ở trong sự chán đó. Vì mình biết chán, chứ hồi xưa mình không biết chán, không biết ngán. Vui vì đi thiền hành một mình, cười ngắm mây bay, nghe chim hót, nhìn núi đồi. Đi một mình vậy mà thấy ngán chán, mình thấy an lạc, hoan hỷ, đi một mình, ngồi một mình, ngồi một mình, độc hành, độc bộ, độc cư. Cho nên:
“Vui vì ta biết ngán
Ngán nhân quả trả vay”
Mấy câu này là cả một chủ đề thiền quán, ngán nhân quả trả vay, trong bài “Tâm từ” có câu: “Thương thay cảnh nhân quả”, câu đó cũng là chủ đề thiền quán giống như “Ngán nhân quả trả vay”. Cảnh nhân quả rất chán, người này tới nói qua nói lại, nhào vô táng mấy bạt tai nhá lửa xong rồi người này nhào lại lấy con dao lụi vô người kia, ngán không? Thấy nhàm chán không, khủng khiếp không, sợ hãi không, kinh hãi không? Đó là:
“Ngán nhân quả trả vay
Ngán nghiệp lực thúc đẩy
Sanh vào chỗ đắng cay”
Một ông già bảy mươi chín tuổi mà xâm hại đứa bé mới ba tuổi. Bảy mươi chín tuổi! Thấy khủng khiếp và kinh hãi không? Ngao ngán không? Ngày hôm nay chúng ta nhìn thấy không? Con giết mẹ, anh giết em, vợ chặt xác chồng, chồng phanh xác vợ, thầy trò thưa kiện với nhau, huynh đệ tương tàn. Đừng nói chi người đời, ngay cả những người biết tu.
“Ngán nhân quả trả vay
Ngán nghiệp lực thúc đẩy”
Nghiệp tức là sức mạnh của thói quen, thúc đẩy, điều này rất ghê gớm. Nói qua nói lại mấy câu, ai dè đâu chạy về nhà, cầm mã tấu lại, nghiệp lực nó thúc đẩy, cầm dao, cầm kiếm lại, cầm vũ khí lại. Bây giờ trai trẻ rủ nhau mấy chục mạng rồi cầm dao, cầm mã tấu, không thì rủ nhau đua xe, xì ke ma túy hàng chục hàng trăm, bất kể chết thì chết. “Ngán nghiệp lực thúc đẩy”, nghiệp lực bên trong, bản ngã mình thúc đẩy. Nó sai khiến, dẫn dắt, áp đảo, điều khiển, lôi đầu chúng sanh đi mà họ có biết đâu. Rồi tới khi ngã quỵ xuống trong vũng máu, hay ba mươi năm tù, hay chung thân, tử hình, lúc đó đã muộn rồi.
“Ngán nhân quả trả vay
Ngán nghiệp lực thúc đẩy
Sanh vào chỗ đắng cay”
Đâu phải chết là xong, mà sanh vào chỗ đắng cay. Cho nên mình thấy được những điều này, mình nhàm chán, ngao ngán, ê chề, não nề, chán chê, gớm ghê, mình viễn ly, xa lìa, tránh xa, tránh né, lẩn tránh, mình tránh sợ nên mình mới lên núi, vào trong rừng. Chưa dừng lại, ác nghiệp của con người càng khủng khiếp, càng ngày càng tăng trưởng như trong kinh Đức Phật đã nói, chúng ta học rồi.
Thật sự là phải ngao ngán, kinh sợ, khiếp sợ, hoảng sợ, hãi sợ đối với nghiệp quả. Phải tập tránh né, trong bảy pháp đoạn trừ phiền não, tránh né mà được đoạn trừ, tránh né tức viễn ly, xa lìa, bớt sự tiếp xúc, cho nên ngán:
“Ngán nhân quả trả vay
Ngán nghiệp lực thúc đẩy
Sanh vào chỗ đắng cay”
Chúng ta nhìn thấy được điều này sẽ biết lo, biết sợ, biết ngao ngán, nhàm chán này rồi chúng ta vui. Mình biết nhàm, ngao ngán, lo lắng, sợ hãi nên mình mới tránh, tránh được mới có sự bình an, gây ra ác nghiệp, nhân quả, không để cho nghiệp lực thúc đẩy mình nữa thì sẽ có được sự bình an, an lạc, tịnh lạc nơi núi rừng xa vắng để lúc đó mình vui.
Chúng ta thấy niềm vui trong pháp có lạ không? Khác với niềm vui của thế gian. Nhìn ra được những điều đau khổ, nhàm chán, gớm ghê, lo lắng và sợ hãi thì mình vui. Mình sanh khởi được những cái tàm quý, sợ hãi và lo lắng đó, mình lại vui. Không có những điều đó mình không thể vui được, khổ đau.
“Ngán tái sanh chỗ khổ
Sanh chỗ chẳng bình an
Ngán sanh vào địa ngục
Chỉ còn đường khóc than”
Chữ ngán ở đây có nghĩa là ớn lạnh, ngao ngán, ghê sợ, sợ tái sanh vào chỗ khổ, chỗ bất an. Hiện tại chúng ta đang sanh vào chỗ bất an, chúng ta đang ở trong nhà lửa nhưng mình đâu nhìn thấy lửa, nên mới gọi là vô minh. Không thấy, không biết rồi mới yêu thích. Do không hiểu nên mới thích, đó là vô minh và khát ái. Vậy nhưng cũng cười hỉ hả, cũng sống phè phỡn, cũng lơ lửng, cũng thấy giống như không có chuyện gì, chưa tới với mình, cho nên phải ngán.
“Ngán tái sanh chỗ khổ
Sanh chỗ chẳng bình an
Sanh vào đường địa ngục
Chỉ còn đường khóc than”
Chúng ta thấy không, đang học hỷ vô lượng tâm mà qua Khổ Thánh Đế. Pháp này bao trùm hết tất cả, viên mãn, trong một pháp này có hết tất cả các pháp khác. Chúng ta thấy tuyệt vời không? Địa ngục mà chúng ta đã học rồi, vô đó chỉ có khóc than, kêu gào thảm thiết. Những cảm giác thống khổ, kịch liệt, kinh hãi, khiếp đảm, khủng bố trong địa ngục đó.
“Ngán sanh làm súc vật
Đời sống đầy bất an
Ngán sanh làm ngạ quỷ
Đói khổ và lang thang
Ngán làm người khốn khổ
Dị dạng và tật nguyền
Ngán làm người bất hạnh
Nghèo, đói, rách, lang thang”
Thật sự chiêm nghiệm lại mình thấy rất lo sợ. Lon mì mình ăn xong để quên, một hồi kiến bu hằng trăm con, khi mình đổ ra muốn cứu những con còn sống thì kiến đã chết hơn phân nửa bên trong. Có miếng ăn thôi mà nó chết, chỉ một chút như vậy thôi. Thành ra cuộc sanh tử này tích tắc, chóng vánh lắm. Đó là mới nói về mấy con kiến thôi, còn bao nhiêu con đậu lại chích người ta, họ đập một cái là máu đỏ hết. Một giây phút, một thời gian ngắn trong ngày như vậy diễn ra không biết bao nhiêu sống chết của chúng sanh, luân hồi sanh tử.
Chim nhỏ ăn sâu, chim lớn ăn những con chim nhỏ, chim lớn nữa bị những con khác vồ vập. Những con thú nhỏ lo sợ những con thú lớn. Thỏ, hươu, nai bị hổ, báo, sư tử vồ, xé xác, ăn tươi nuốt sống, còn máu nóng. Cho nên,
“Ngán sanh làm súc vật
Đời sống đầy bất an
Nhiều khi mình thấy tội nghiệp những con chuột hay tắc kè, rắn nó phải sống trốn chui trốn nhủi, phải sống chỗ nào không có người thấy, chui vào chỗ thối, chỗ dơ, chỗ tối. Ở trong kinh nói “đọa xứ” là không có ánh sáng mặt trời, rất nhiều năm không ánh sáng. Những lúc Đức Thế Tôn chuyển pháp luân hay đại sự kiện lớn, ánh sáng chiếu tới, những chúng sanh đó mới biết có ánh sáng, vì rất nhiều năm họ không có ánh sáng, sống trong bóng đêm vô lượng kiếp. Đó là đọa xứ, sống trong bóng tối hoài như vậy, trăm năm, ngàn năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm ở trong bóng đêm đọa xứ.
Mình thấy có những con như tắc kè, chuột… nó gặp mình liền chạy trốn vì sợ. Nó phải sống trong sự trốn tránh, tối tăm, dơ bẩn, hôi thối. Nó phải sống trong sự đau đớn, bị thọc huyết, cắt cổ, nhổ lông, bị chặt đầu, lột da, bị trụng nước sôi, bị chiên xào… Phải sống trong nỗi khổ như vậy, chịu đựng trăm ngàn kiếp như vậy, làm sao nghe pháp, làm sao tu tập? Còn mình bây giờ làm người, gặp Chánh Pháp để tu mà còn không chịu nỗ lực, không chịu để tâm vào sự tu học, không chịu học pháp, chấp nhận pháp, nghe rồi bỏ qua, nghe, hiểu biết rồi để đó. Nếu mình lọt vô cảnh này, chúng ta nghĩ đi, giờ đặt mình làm con lợn, người ta thọc huyết mình kêu những tiếng kêu như thế nào? Mà trong nhiều kiếp vừa qua mình đã từng như vậy.
Chúng ta thấy không? Mổ con bò, con trâu, lột da ra, chặt xương, chặt thịt, chặt đầu… Bao nhiêu sự đau đớn, quằn quại, khổ sở. Sanh ra làm kiếp ngựa cho người ta cưỡi, bao nhiêu là nỗi khổ. Nếu mình quán là cả một buổi thiền quán cũng chưa hết nỗi khổ trong loài súc sanh. Ngồi quán cho mình sanh khởi cảm giác run sợ, kinh sợ, hoảng sợ, khiếp sợ để nỗ lực tinh tấn tu. Hãy quán nếu bây giờ mình sanh làm con rắn, mình quán tưởng mình là rắn, kiếp sống lăn lóc, trườn, bò. Xương sống ngang như vậy là bàn sanh, còn con người xương sống thẳng, những loài súc sanh là xương sống nằm ngang, rồi bao nhiêu thống khổ trong đó.
Bữa nào cho đại chúng coi về loài động vật, sẽ thấy nỗi khổ của nó, nó ăn, xé, nuốt với nhau, rất kinh hoàng. Như vậy mà mình ngồi xé thịt ra ăn, cười hỉ hả, chê khen, thậm chí ăn phải lựa con sống, cho nó giãy giụa, những loài hải sản còn sống… Mình ăn trên sự đau khổ của chúng sanh, mình nghĩ tạo nghiệp đó ra như thế nào, mình có biết không? Vô minh, tham ái có biết đâu. Sướng miệng một chút mà hành hạ cho người ta quằn quại, đau đớn, khổ sở. Có khi càng khổ sở chừng nào càng thích thú chừng đó.
Chúng ta nhớ có một người Phật tử kể chuyện vì ăn mà chặt sọ con khỉ còn sống, dạt đầu nó ngang qua một cái, ăn sọ khỉ sống, gọi là bổ. Không biết bổ cái gì mà ác độc như vậy. Chúng ta thấy cái ác của con người rất khủng khiếp, nghiệp ác rất ghê gớm. Thậm chí cho những con vật còn sống lên lò than cho nó bò lòng vòng, nhìn thấy nó đau đớn, quằn quại như vậy rồi thích thú, ăn trong đó. Mà chúng ta đã vô trong loài súc sanh đó nhiều lần lắm rồi, vô lượng lần rồi. Cho nên:
“Ngán sanh làm súc vật
Đời sống đầy bất an
Ngán sanh làm ngạ quỷ
Đói khổ và lang thang”
Quỷ đói cổ giống như cây kim, bụng giống như trống chòi – loài ngạ quỷ, lúc nào cũng thấy khát, mà tâm bỏn xẻn, keo kiệt, ác độc. Không biết bố thí, chia sẻ, giúp đỡ người nghèo khổ.
“Tiền mục lúa hư không cứu đói rét,
Lụa là chất đống nào nào có giúp ai
Được mùa mấy trăm nào cho là nhiều
Mất mình một đồng tưởng như hao lớn
Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai
Khó đụng chất đầy, chưa từng bố thí”
Thà để cho hư vậy chứ không đem cho người khác. Ngạ quỷ sống phải chịu cảnh vất vơ vất vưởng, xấu xí, kinh hãi, người ta thấy người ta hoảng sợ, khiếp vía, lúc nào cũng đói khát, lúc nào cũng khổ. Nhìn thấy nước là nhào nhào lại, rồi nước đó bốc cháy lên thành lửa, uống không được. Cô hồn, ngạ quỷ, quỷ đói vất vơ vất vưởng như vậy.
“Ngán sanh làm ngạ quỷ
Đói khổ và lang thang
Ngán làm người khốn khổ
Dị dạng và tật nguyền
Ngán làm người bất hạnh
Nghèo, đói, rách, lang thang”
“Dị dạng và tật nguyền”
Điều này rất khủng khiếp. Chúng ta phải có một buổi thiền quán về những hình ảnh này. Dị dạng, đầu bự bằng cái chuông này, ngồi dậy không được, không có miệng, mũi, nguyên một cục trên đầu bị dòi ăn. Không thôi là mặt quỷ, trên mặt nổi đầy mục – mặt quỷ, con người mà bị như vậy đó. Những dị dạng, dị hình, dị tật, những chứng bệnh lạ kỳ. Không thì hai người sanh đôi bị dính với nhau, hai đầu, bốn tay, ba chân, mà phải suốt đời sống như vậy, giải phẫu, cắt ra là chết. Vô số những dị dạng, tật nguyền như vậy.
Chúng ta phải quán chiếu, ghê sợ nhân quả, nghiệp lực, nghiệp báo mà không tưởng tượng nổi, bất khả tư nghì. Nghiệp là cái mình không thể tưởng tượng được, quả vị thục của nghiệp. Mình ngồi đây như vậy nhưng ngày mai, tuần sau, tháng hang hay năm bảy năm sau mình không biết mình là cái gì, đừng tưởng rằng mấy năm sau mình cũng ngồi tu như vầy. Có thể ngày hôm sau mình đã trở thành một chúng sanh khác rồi, dị dạng, dị hình ngay ngày hôm sau. Chúng ta phải quán như vậy, mà đó là sự thật.
Chúng ta thấy không, những người bệnh, đang đi trên đường, ngã quỵ xuống, rồi xong, chết, rất nhiều… Những tật nguyền rất nhiều, cụt tay, cụt chân, chột mắt, mù mắt, câm, ngọng, á á nói không được, mù, đui, điếc, câm, ngọng, què quặt, không tay, không chân, nghĩ tới những cảnh đó, ngán!
“ Ngán làm người khốn khổ
Dị dạng và tật nguyền”
Nếu đời nào mình cũng sanh giống vậy thì khỏi cần tu, nếu đời sau mình cũng y như vầy nữa thì tu làm gì? Mình có thể, bất cứ lúc nào, trở thành bò, heo, ruồi, muỗi, chuột, kiến, trở thành ngạ quỷ, súc sanh, trở thành cô hồn, hay ở dưới địa ngục, trở thành những dị dạng, dị hình, dị tật. Cho nên mình mới tu, mới lo lắng, sợ hãi những ác nghiệp, phải ngăn chặn, nhiếp phục, tẩy sạch, đoạn tận nó.
Chỉ một ý nghĩ sanh khởi lên, là đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh như tên bắn, nên chúng ta phải ngán. Cho nên chữ ngán trong kinh được lặp lại liên tục: ngán nhân quả trả vay, ngán nghiệp lực thúc đẩy, ngán tái sanh chỗ khổ, ngán sanh vào địa ngục, ngán sanh làm súc vật, ngán sanh làm ngạ quỷ, ngán làm người khốn khổ, ngán làm người bất hạnh, dị dạng và tật nguyền. Chữ ngán đó là chữ nhàm chán trong kinh Nikāya và chữ yểm ly trong từ Hán Việt.
Hãy làm cho mình sanh khởi lên sự nhàm chán, ngao ngán tột độ, không ưa, không thích, không muốn nữa, “chấm dứt từ đây cuộc tái sanh”, nếu chưa chấm dứt, còn vài đời nữa cũng phải tái sanh trong nhân thiên, trong phước báu, lành lặn, sáng suốt để tu hành. Bây giờ tái sanh làm con chó rồi làm sao học kinh Nikāya, tái sanh làm con dòi làm sao nghe pháp, ngồi thiền?
Chúng ta thấy không, ngán cảnh nghèo, bất hạnh, đói rách, lang thang. Đây là cái thấp nhất trong ba đường, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là không có, thoát khỏi ba đường ác rồi, còn sanh làm loài người cũng không đơn giản, nghèo, đói rách, lang thang. Nhiều khi thấy cảnh đó mình xúc động, nhưng làm người là cao cấp, không bị đọa ba đường ác nhưng có tu được không? Đói rách, lang thang, không đủ ba bữa ăn rồi làm sao tu? Ở ngoài công viên, vỉa hè, gầm cầu, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, đi lang thang, quần áo tả tơi, mặt mày bùn dơ, đầu bù tóc rối…
Ngán, thật ngao ngán, ngao ngán vô cùng. Mà ngán như vậy, mình sanh ra niềm vui, ngán địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ngán loài người, nghèo cùng không phước hoạn, bạc phước, thống khổ, ngán, nhàm chán. Trong sự nhàm chán đó mình thấy vui vì mình biết ngán, biết chán, mà không biết ngán, biết chán là khổ. Chúng ta ngồi đây, trong nhà có cửa kiếng bít bùng lại, bây giờ những người đang bị lũ lụt, bị bão, chết, mất tích, chìm dưới biển, không nhà, không cửa, lạnh lẽo, cơ hàn, đói khát… ngay trong giờ phút này. Phải quán chiếu như vậy, mình quán khổ. Nó đầy dẫy, tràn ngập hết, chứ mình đừng ngồi đây nói rằng tôi mệt quá, tác ý liền cho nó phản phá điều đó. Mình phải biết rằng bao nhiêu chúng sanh còn đau khổ hơn mình gấp trăm ngàn vạn lần mới đuổi được cảm giác nghĩ tưởng đó ra.
“Vui vì ta biết chán
Chán thân xác vô thường
Chán luân hồi đau khổ
Chán sanh tử, tái sanh”
Vui, thật vui vì ta biết nhàm chán thân xác vô thường này, chán cuộc xoay vòng loanh quanh, lẩn quẩn, khổ đau, sầu bi, ưu não này, chán vòng sống chết lặp tới lặp lui hoài như vậy, chán sống chết tái sanh. Cứ sanh ra, lớn lên, tìm dục lạc, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, già, bệnh, chết. Rồi lại sanh ra tiếp tục nữa, nhưng chưa chắc được tới chữ già. Còn trẻ mà nổi sân, tham dục lên rồi vô tù, tử hình, không thôi bị đâm, bị đốt, bị chém chết.
Cứ sanh ra, dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, rồi chết, cứ quanh đi quẩn lại một vòng như vậy. Rồi thành cô hồn, thú vật, địa ngục, súc sanh, rồi sanh làm người. Giàu có thì buông lung phóng dật; quyền uy thì ức hiếp người ta, rồi đọa xuống, chết, rồi bò lên, làm được chút phước thiện, lại rớt xuống. Cứ lòng vòng như vậy, trăm ngàn ức kiếp, vô thỉ kiếp, không biết chán. Cứ tham dục hoài, sân hận hoài, bản ngã hoài, rồi tìm dục, tìm ái, thúc giục bên trong mà đi tìm hoài như vậy, không biết chán, không biết ngán.
Nói chi đâu xa, việc ăn của mình, ăn mấy chục năm nay rồi có chán chưa? Mỗi lần ăn cảm thọ như thế nào? Có thấy nhòm tởm không? Hằng mấy mươi năm trời rồi chứ không phải không ăn, cái gì cũng ăn hết. Nhưng rồi cũng dục, tham, ái, chúng ta thấy có khủng khiếp không? Tạo nghiệp cũng vì miếng ăn đó. Nhìn mấy mươi năm rồi, giờ vẫn tìm cái đẹp để nhìn, thấy cái đẹp hai con mắt dán vô, khép lại không được, hộ trì căn không được. Chúng ta thấy có khủng khiếp cho sức mạnh của thói quen không? Đó là nghiệp lực, cho nên thật đáng chán, ngán, chán ngán nó, là yểm ly.
Mình thấy hai người thị phi, hơn thua với nhau, mình đừng nhảy vô làm tòa án, bênh người này, nói người kia, mà mình phải sanh khởi lên sự chán ngán cảnh hơn thua, tranh giành . Chán như vậy để mình thoát ra khỏi hai chữ đúng sai hơn thua đó, không bị nó cuốn vô. Còn mình nhào vô làm quan tòa, phân xử đúng sai, có người can bị lụi cho chết, hai người đang đánh nhau mà nhảy vô, trong khi chưa hiểu nguồn cơn như thế nào, tưởng vậy là anh hùng. Cho nên, tưởng là thiện mà không phải thiện, thiện là phải đặt nền tảng của sự thấy biết, đó là bất thiện.
Có nhiều người nói sao trồng nhân lành mà lại gặt lấy quả ác, vì họ không biết cái lành đó có phải là lành, là thiện pháp thật sự không? Hay cái lành đó có mục đích gì bên trong. Cũng như có nhiều người làm từ thiện nhưng trong việc từ thiện có mục đích khác nhau, chúng ta mới thấy được điều đó. Thành ra, làm gì cũng hồi hướng về Niết-bàn, hướng thẳng đến chỗ xuất ly, giải thoát, bất tử. Nếu còn ở trong vòng này sẽ còn đủ thứ ghê sợ. Bao nhiêu thủ đoạn, mánh khóe, mưu mô, mưu sĩ, mưu toan, mưu, tính, mưu ác, mưu hại, rất ghê gớm.
“Bên ngoài thơn thớt nói cười
Mà trong nham hiểm giết người không dao”
Truyện Kiều – Nguyễn Du
Phải nhìn sâu vô bên trong mới thấy bản chất ngũ uẩn rất ghê gớm, chán ngán, cho nên:
“Vui vì ta biết chán
Chán thân xác vô thường
Chán luân hồi đau khổ
Chán sanh tử tái sanh
Vui vì ta biết bỏ
Bỏ thích cái vô thường
Bỏ giận hờn chấp nhặt
Bỏ bản ngã hư danh”
Ở trên là vui vì sự nhàm chán, yểm ly, bây giờ vui vì sự buông bỏ, bỏ ý thích những thứ vô thường, điều này thật vui, thật tuyệt vời. “Vui vì ta biết bỏ”, bỏ cái bô thường, bỏ tâm ý thích thú với những thứ vô thường. Không thích chùa chiền, đệ tử, tiền bạc, đất đai, xe cộ, tài sản gì cả, bỏ được những điều đó là vui tối thượng. Bỏ hết, không thích thú, trau chuốt thân xác này, không thích thú cho những ngũ dục ở bên ngoài, năm dục trưởng dưỡng, biết bỏ những điều đó là ta rất vui.
“Vui vì ta biết bỏ
Bỏ thích cái vô thường”
Bỏ những cái bên ngoài, còn những cái bên trong là gì?
“Bỏ giận hờn chấp nhặt
Bỏ bản ngã hư danh”
Chúng ta thấy không, bỏ những cái này phải từ căn, trần, thức chứ không phải chỉ bỏ bên ngoài. Bỏ tài sản, tiền bạc, nhà cửa, xe cộ không quan trọng, bỏ bên ngoài chưa bỏ bên trong, bỏ giận hờn chấp nhặt. Chữ chấp nhặt này rất hay, chấp từng chút, từng chút, nắm vô, giữ vô, bám vô, chút gì cũng giận, cũng hờn, cũng mát, cũng khó chịu. Người nữ thường bị cái này nặng, bên nam không phải không có, mà bên nữ bị điều này nhiều hơn, mà chấp những điều rất nhỏ.
Ví dụ huynh đệ làm với nhau, lỡ nói một câu mà giận, ngày mai không xuống làm nữa, đó là chấp nhặt, từng chút, từng chút.
“Bỏ thích cái vô thường
Bỏ giận hờn chấp nhặt”
Để tâm vô những điều đó làm gì? Làm cho mình khổ, người khổ, hành hạ mình, hành hạ người, để làm gì? Hở một chút giận, buồn, ghét, chấp? Nếu buông được điều này, mình sống với nhau có vui vẻ, hòa hợp không ạ? Cho nên bỏ cái chấp nhặt mà mình vui, nên mỗi khi nó sanh khởi lên, mình thấy biết nó, buông bỏ nó xuống nên mình vui. Chị em sống hài hòa, huynh đệ sống an vui. Ở trong sáu pháp hòa kính, gia đình, vợ chồng với nhau sống an ổn; mẹ con, anh chị em, bà con sống bằng tâm rộng mở, từ ái, chan hòa, bao dung, tha thứ.
Nếu chấp nhặt sẽ khiến mình giận hoài, buồn hoài, bực hoài, khó chịu hoài, cho nên:
“Bỏ giận hờn chấp nhặt
Bỏ bản ngã hư danh”
Bỏ sám hối diệt ngã hoài như vậy, nhưng đụng vô mới thấy bản ngã còn lớn lắm, bản ngã hư danh, danh tiếng suông, danh rỗng, tên rỗng, tên trống không. Chẳng hạn bây giờ người ta nói chú Nghiệp này nghiệp rất nặng nên mới tên nghiệp, đó là hư danh chứ có gì đâu. Nếu nói nhiều nghiệp nặng thì bây giờ mình làm nhiều nghiệp lành, đó là hư danh thôi. Chứ bây giờ mình dính mắc, nghe tên đó là bắt đầu buồn, ăn không được, ngủ không được, thấy có phải tự làm khổ mình không? Bỏ đi, buông xả xuống đi, đó mới chỉ là ví dụ, phải tập buông bỏ hư danh, những ngôn ngữ, ngôn từ đó không có gì hết, tập quán, như gió thoảng qua, gió bay.
III. Vui mừng vì sự mong muốn đúng pháp
“Bỏ bản ngã hư danh”, tập làm nùi giẻ rách, ai có dậm chân, chùi lên, mình lau cho sạch sẽ, không sao hết. Mà được như vậy mình rất vui, vì mình biết bỏ.
“Vui vì ta biết muốn
Muốn dừng sự khổ đau
Muốn cắt vòng sanh tử
Muốn tâm được lặng yên”
Người hướng dẫn thiền quán phải biết chỗ này vì đó là điểm nhấn làm nổi trội pháp lên, pháp hiển lộ rõ ra. Nếu mình không biết, mình không quán chiếu được làm sao hướng dẫn người khác. Tới chữ chán mình nhấn mạnh, kéo dài ra đề làm nổi bật lên đây là pháp nhàm chán. Chúng ta thấy ngán, chán trước, rồi bỏ, bây giờ tới muốn, chứ không phải chỉ bỏ và buông, mà còn biết muốn:
“Vui vì ta biết muốn
Muốn dừng sự khổ đau”
Cái dục này để diệt khổ, muốn chấm dứt khổ, dừng sự khổ. Ta biết, có sự khao khát, tha thiết, ham muốn, nóng bỏng, rực cháy trong tâm ta, gọi là nhiệt tình lên, tinh cần, Chánh Niệm, tỉnh giác, muốn dừng sự đau khổ, không muốn tiếp tục vậy nữa, muốn nó phải dừng lại, mà phải biết muốn. Phải có sự muốn đó, phát triển sự muốn đó hằng ngày, tưới tẩm để cho cái muốn đó lớn mạnh lên, rực cháy lên.
“Từ ấy trong ta bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim”
Từ ấy – Tố Hữu
Chỗ đó bừng lên, sáng lên, ngày nào cũng bỏ củi vô lò cho nó bừng lên, đốt lên những ngọn lửa mạnh mẽ.
“Muốn dừng sự khổ đau
Muốn cắt vòng sanh tử
Muốn tâm được lặng yên”
Ở đây có tới ba chữ muốn, đây là chỗ đọc thiền quán. Phải biết tâm, biết chỗ nào là cốt lõi của bài quán đó, chữ nào trọng tâm trong đó, chữ đó lớn, rõ, mạnh, dài. Câu ở trên là:
“Vui vì ta biết chán
Chán thân xác vô thường
Chán luân hồi đau khổ
Chán sanh tử tái sanh”
Điều này không chỉ có biết không? Nên tại sao mình phải học là như vậy, chỗ này nhấn mạnh các pháp, còn ở trên nhấn mạnh ngán và chán.
“Vui vì ta biết muốn
Muốn dừng sự khổ đau
Muốn cắt vòng sanh tử
Muốn tâm được lặng yên”
Tới chỗ muốn tâm được lặng yên mình kéo dài ra, xong rồi mình cứ ngồi đó, để một khoảng yên lặng. Chứ không phải mình đọc “Muốn tâm được lặng yên”, rồi qua “Vui vì ta biết tập” là coi như xong, cắt hết dòng cảm thọ, đó là những nghệ thuật của thiền quán nên mình phải coi pháp trong bài thiền quán đó là gì, mình làm cho nó tương thích, tương ứng với pháp đó. Cũng như lúc trước mình có thực tập một bài nói tâm lặng yên, lúc đó mở nhạc lên nên thất bại. Thầy nói ví dụ cho mình biết là không phải mở lúc đó, thành ra những chỗ đó mình phải để ý, tâm mình phải rất vi tế, sự nhạy bén, sắc bén của trí tuệ mình ở đó. Mà điều đó thật sự rất khó chỉ, mình phải để ý. Vì sao?
Tâm mình không bị Năm Triền Cái thì rất trong sáng, như tấm gương trong nên sẽ thấy một cách đúng như sự thật. Còn tâm bị che Năm Triền Cái, không thấy thực tại đang diễn ra. Thầy Nghĩa hoan hỷ lắm hay sao cười hoài vậy thầy, thầy có chia sẻ gì không?
[1:19:00 – 1:20:00 trình pháp]
“Vui vì ta biết muốn
Muốn dừng sự khổ đau
Nếu mình biết muốn dừng sự khổ đau thì tự động tham, sân, si, vô minh, bản ngã của mình sẽ có khả năng lắng dịu xuống, vì tâm mình lúc nào cũng đặt về hướng đó, hướng dừng. Những gì làm cho nó khởi động tham, sân, si, vô minh, bản ngã bị cái muốn này kiểm soát, kềm chế lại, giống như thắng xe vậy. Nếu mình không có cái muốn này làm sao mình dừng được tham, sân, si, vô minh, bản ngã, mình phải có cái muốn cũng như mình muốn tu mới có mặt ở đây. Cho nên cái muốn này rất quan trọng, đầu tiên của Tứ Như Ý Túc, yếu tố quan trọng nhất của sự thành công.
Muốn cắt vòng sanh tử
Muốn tâm được lặng yên”
Cho nên tại sao chúng ta tập đi phải nhẹ nhàng, từ từ, nói cũng phải từ ái, không dao động, muốn tâm được lặng yên, không phải chỉ lúc ngồi thiền. Mà tâm bên trong sôi sục, sôi nổi, sôi động quá thì không được, nó tương ưng với pháp an tịnh và lắng dịu. Thế Tôn là bậc an tịnh, nói pháp an tịnh và hướng dẫn chúng sanh đạt đến cảnh giới an tịnh.
Chúng ta nhớ Đức Thế Tôn có năm trăm Tỳ-kheo mang bát, bồ đoàn, tọa cụ ngồi, Đức Thế Tôn gọi ngài A-nan ra đuổi hết, giống như nhóm chợ, bà hàng tôm, hàng cá. Mà không phải một lần, chúng ta đọc thấy rất nhiều lần, cho tới Phạm Thiên Sahampati rồi Mục Kiền Liên, các vị ở trong dòng họ Thích Ca tới năn nỉ, xin Ngài. Vì sao? Muốn tâm được lặng yên.
Cho nên những chúng ngoại đạo thấy Ngài đi từ xa, nói rằng: tôn giả Gotama gần tới rồi, yên lặng hết, biết đâu Ngài sẽ đến đây, Ngài không ưa thích ồn ào, náo nhiệt, như vậy Đức Phật ghé ngang qua. Cho nên cảnh yên, thân yên, tâm mới yên, muốn như vậy là cả một công phu thâm hậu kiểm soát. Phải muốn được tâm yên lặng, bất động đó, vì cứu cánh của mình là tâm bất động, giải thoát. Bây giờ lúc nào mình cũng dao động hết thì làm sao mình đi tới mục đích của mình được?
Chúng ta thấy không, cứu cánh của mình là đạt tới tâm bất động giải thoát, tâm không còn lau chau, lăng xăng, lóc chóc, không còn sôi nổi, rạo rực, sôi động nữa, tâm hoàn toàn tịch tịnh, sự yên lặng. Cho nên phải tập nói nín an nhiên, đến đi vắng lặng, không phải lúc nào mình cũng rần rần, dầu cho một mình hay khi hội tụ đại chúng, phải đúng như pháp yên lặng của bậc Thánh và nói năng Thánh pháp. Do đó mà chúng ta phải muốn tâm được lặng yên. Hay lắm, mình tu mới thấy rất tuyệt diệu, hạnh phúc. Mình hạnh phúc với thiện pháp, Thánh pháp, với vi diệu pháp, nhiều pháp để mình tu.
IV. Vui mừng trong sự tu học
Thật ra những cái này khai triển ra rất nhiều nhưng mình đang học bản trung, tức giảng giải bài này ra bản vừa. Có những buổi chúng ta lên ngồi yên, không nói gì cả, niệm Phật, niệm Tam Bảo xong rồi cứ ngồi vậy. Chúng ta nhớ bài “Bằng tình thương, bằng từ tâm…” mà hôm bữa thiền quán, chỉ cần đọc chậm, có khoảng lặng một chút là thành thiền quán. Tất cả lời kinh trong kinh Nikāya đều là thiền quán, bằng cách yên lặng, lắng lặng liền thành thiền quán.
“Vui vì ta biết tập
Tập các hạnh Thánh hiền
Tập cho tâm yên lặng
Đến gần với bình an”
Chúng ta nhớ, khi mình nói tập cho tâm yên lặng, chữ nói của mình có chất yên lặng ở trong sự nói đó, sau đó mình ngưng một chút, chúng ta thấy pháp không? Khi mình nói hoan hỷ, ở trong thọ mình, lời nói mình có hoan hỷ và nó diễn ra một cảm thọ hoan hỷ. Đó là thiền quán, có chất và lượng, có ngữ và nghĩa, có pháp bên trong. Bây giờ qua biết tập, biết tập tới tập lui, biết tu tập, biết thực tập, biết tập tành, luyện tập.
“Vui vì ta biết tập
Tập các hạnh Thánh hiền”
Hạnh Thánh hiền là hạnh gì? Diệt ngã, buông xả, tha thứ, tâm độ lượng, rất nhiều, nghĩ đến mọi người. Hạnh đó ở trong bảng Đức hạnh Ngài Xá Lợi Phất, là hạnh Thánh hiền. “Vui vì ta biết tập” nên mình lạy đức hạnh Ngài Xá Lợi Phất mình rất vui, tập tâm hiền, tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả, đó là những đức hạnh của Thánh Hiền. Khi tập nó mình phải vui, phải hoan hỷ lên.
“Vui vì ta biết tập
Tập các hạnh Thánh hiền
Tập cho tâm yên lặng
Đến gần với bình an”
Tâm yên lặng là sắp tới rồi, chuyện vui cũng nhẹ nhàng mà chuyện khổ cũng bình an, được cũng an tịnh mà mất cũng lắng dịu, khen vẫn an tịnh lắng dịu mà chê cũng an tịnh, lắng dịu. Như vậy là gần tới chỗ bình an, lấy tám ngọn gió của thế gian tùy chuyển thế giới, lấy đó làm thước đo, lấy năm dục trưởng dưỡng làm thước đo, những khen chê, được lợi hay bị tổn hại. Lấy những thứ đó làm thước đo xem tâm bình chưa, an chưa?
“Vui vì ta biết rõ
Ta có nhiều niềm vui
Những niềm vui chân chánh
Của những người hiền lương”
Niềm vui chán, niềm vui ngán, niềm vui buông bỏ, mong muốn, rất nhiều niềm vui. Vui vì ta biết rõ, ta có nhiều nhiều vui, niềm vui xả ly, viễn ly, xuất ly, niềm vui nhàm chán, buông bỏ, ưa thích, mong muốn, được tâm yên tịnh, yên lặng, chấm dứt mọi khổ đau.
“Những niềm vui chân chánh
Của những người hiền lương”
Đây là những niềm vui chân chánh, đúng pháp, niềm vui của thiện pháp, Thánh pháp. Ta rất vui vì khi tu ta thấy mình hiền hơn lúc trước, dễ thương hơn, thấy tâm ta nhẹ nhàng hơn, chịu lắng dịu, an tịnh, chấp nhận học pháp hơn. Vui vì ta biết từ bi, hỷ xả, biết thực tập, những tâm rộng lớn của bậc hiền Thánh, ta rất vui.
“Vui vì ta tẩm ướp
Niềm vui của xả ly
Niềm vui của an ổn
Niềm vui của an vui”
Trong bài “Giải thoát trí” có mấy câu nói về sơ thiền rất quan trọng. Cái hỷ vô lượng tâm là sự tu tập của sơ thiền, sự hướng tâm đi đến sơ thiền.
“Thiền thứ nhất hướng tâm rõ biết
Hiện tại thân tâm chẳng dục tham
Bình yên an tịnh trong người
Không như lúc bị dục tham làm phiền
Thân bức xúc không yên ổn được
Đứng đi ngồi nằm rất bất an
Giờ đây xả dục ly tham
Nên thân tâm được bình an yên lành”
Đây là niềm vui xả dục ly tham trong lúc mình tu tập.
“Quán hạnh phúc khi mình ly dục
Quán bình an lúc chẳng tham sân
Hân hoan sanh khởi trong lòng
Tâm vui thân lạc vì rời dục tham
Cho lạc hỷ này lan tỏa khắp
Toàn thân này lạc hỷ thấm nhuần
Như xà bông rửa chén dơ
Hỷ lạc này rửa dục nhơ trong lòng”
Tại sao có hỷ lạc này? Mình phải tác ý, xả dục ly tham ngay trong trạng thái lúc ngồi thiền không bị dục tham chi phối. “Quán hạnh phúc khi mình ly dục”, tức mình phải có tầm, có tứ, an lạc hạnh phúc, không dục, không tham, không ái, không bị ràng buộc, đang ngồi yên, an tịnh.
“Quán hạnh phúc khi mình ly dục
Quán bình an lúc chẳng tham sân
Khi ngồi đó, không tham, không sân, mình được bình an. Cũng như ngay lúc này mình ngồi đây, không dục, không sân ai, mình quán, làm sanh khởi lên hạnh phúc, bình an, cảm giác, cảm thọ sanh khởi lên.
Hân hoan sanh khởi trong lòng
Tâm vui thân lạc vì rời dục tham
Cho lạc hỷ này lan tỏa khắp
Toàn thân này lạc hỷ thấm nhuần
Chúng ta thấy không, pháp nào cũng vậy, sanh khởi lên, sau đó rộng mở ra, lan tỏa ra hết, mở rộng ra. Đầu tiên phải khơi gợi, làm cho nó phát khởi cảm thọ đó, cảm thọ hỷ, lạc, hân hoan sanh khởi lên, giống như mình mở vòi nước vậy. Mình vừa mở vòi nước ra, thì nước đã mở rồi, nhưng chưa lớn, mình sẽ mở thêm nữa nó sẽ tuôn trào ra. Cho nên:
Hân hoan sanh khởi trong lòng
Tâm vui thân lạc vì rời dục tham
Thân tâm gì cũng an lạc, cho hỷ lạc này lan tỏa khắp, lúc đầu nó khởi trong lồng ngực, để cho cảm thọ nó lan ra rồi mình tác ý cho hỷ lạc lan hết từ đảnh tóc cho đến gót chân. Nó lan, thấm ra mình thấy rõ ràng, cảm thọ lan ra cùng khắp, hỷ lạc, sự khinh an, nhẹ nhàng, hạnh phúc. Cho lạc hỷ này lan tỏa khắp, tức mình ra pháp lệnh, dẫn dắt, chủ động làm cho cảm thọ đó sung mãn, lan ra.
Như xà bông rửa chén dơ
Hỷ lạc này rửa dục nhơ trong lòng
Giống như xà bông, mình gội tới đâu, những thứ dơ trên người mình sẽ theo đó mà tan biến, hỷ lạc này cũng vậy, nó dội rửa những dục nhơ trong lòng, giống như vòi sen, tưới tới đâu thấm tới đó, từ đỉnh đầu tới gót chân thấm hết. Hỷ lạc cũng thấm giống như vậy, thấm hết toàn thân mình là hỷ lạc, bình an, hạnh phúc, hân hoan, hoan hỷ, vui vẻ, an lạc, lúc mình tác ý về hỷ lạc. Tác ý về hỷ vô lượng tâm phải như vậy, cho nên bài quán “hỷ vô lượng tâm” có thể lấy đoạn này vô được vì nó phù hợp, nhưng phải ngay đoạn này chứ không phải muốn để chỗ nào thì để.Cho hỷ lạc này thấm nhuần, lan tỏa khắp châu thân nên:
“Vui vì ta tẩm ướp
Niềm vui của xả ly
Niềm vui của an ổn
Niềm vui của an vui”
Thấy nội dung giống như không, chứ không phải muốn để cái nào thì để, cùng ý với nhau của sơ thiền, hỷ lạc, ly dục sân.
“Tâm vui này hiền thiện
Tâm vui này hiền hòa
Tâm vui này dễ mến
Tâm vui này dễ thương
Tâm vui này lan tỏa
Lan tràn khắp mọi nơi”
Tới chỗ đó mình phải ngưng lại để cho nó lan ra. Chúng ta thấy không, những câu đầu này là những câu khơi gợi, câu sau là câu mở rộng, lan tỏa.
Tâm vui này hiền thiện
Tâm vui này hiền hòa
Tâm vui này dễ mến
Tâm vui này dễ thương
Mình để cho tâm vui có mặt, lan tỏa ra, bây giờ tâm vui này lan tỏa, khi mình nói chữ lan tỏa kéo dài là mình thấy nó lan tỏa ra.
Tâm vui này lan tỏa
Lan tràn khắp mọi nơi
Mình phải ngưng cho kịp bung ra, sanh khởi chưa? Đại chúng có cảm thọ sanh khởi không? Mình để cho khoảng lặng để cảm thọ này lan tỏa ra, lan ra cùng khắp núi đồi, lan hết ra cả bản đồ hình chữ S, cả năm châu, bốn biển, mười phương, mình phải khéo tác ý.
“Tâm vui vẫy tay mời
Chúng sanh rời đau khổ”
Lúc đó chia ra cho chúng sanh, chúng sanh nhờ tâm vui này, tâm mong muốn để diệt khổ, chúng sanh này mới rời được đau khổ. Đây mới gọi là hỷ vô lượng tâm, thiền tâm hỷ, hoan hỷ trong pháp, trong sự tu, trong sự thực tập, thiền quán, trong sự mong muốn diệt tận tất cả khổ đau, chấm dứt tất cả sầu bi, ưu não.
“Tâm vui tràn thế giới
Tâm vui tràn nhân gian
Tâm vui vẻ nhẹ nhàng
Lan tràn mọi phương hướng”
V. Trải rộng tâm hỷ
Bây giờ mới trải rộng tâm hỷ ra:
“Đây là phương trước mặt
Rộng lớn và bao la
Hòa lẫn khắp phương này
Là tâm vui của ta”
Mình cho cảm thọ đó hòa quyện với hư không, không gian ở phía trước mặt, tận cùng chân trời, quý vị có làm được không? Mình cho cảm thọ vui đó hòa lẫn với không gian ở phía trước, trang trải ra, hòa quyện chung với không gian vô tận ngay chỗ tâm hỷ lạc. Như vậy mới gọi là trải tâm, trải rộng tâm hỷ, mình thực tập từ từ sẽ quen. Mình thấy rõ ràng tâm hỷ mình lan lan tới tận chân trời, cảm giác hỷ lạc, hân hoan của mình, cho nên:
“Hòa lẫn khắp phương này
Là tâm vui của ta
Tâm tràn đầy vui vẻ
Tâm tràn ngập hân hoan
Tâm khoan khoái nhẹ nhàng
Tâm ngập tràn hỷ lạc”
Tràn ngập khắp nơi là cảm giác hỷ lạc, hỷ thọ, hoan hỷ, an lạc, cho nên chúng ta mới biết, hồi đó mình mới đọc mình không biết tại sao trước, sau, phải, trái, trên, dưới, bề ngang, rồi lặp lại giống hệt nhau, chán, ngán… Không phải, đó là để cho thọ sanh, cảm giác, cảm xúc, cảm thọ của mình sanh khởi ra và chúng ta duy trì, an trú trong đó và lan tỏa rộng lớn ra.
Chúng ta thấy không, khi mình ngồi trải tâm thì khác, nhưng khi mình đứng hướng trải thì khác, trải tới đâu hỷ lạc tràn ngập, hòa lẫn không gian.
“Tâm tràn đầy vui vẻ
Tâm ngập tràn hân hoan
Tâm khoan khoái nhẹ nhàng
Tâm ngập tràn hỷ lạc
Đây là phương bên phải
Rộng lớn và bao la
Hòa lẫn khắp phương này
Là tâm vui của ta
Tâm vui này rộng lớn
Vô lượng và vô biên”
Thầy Thiện Tuệ đọc chữ này đúng ý, kéo dài, lan tỏa ra bên phải, bên trái, phía sau, trên dưới, cùng khắp không gian, lan tỏa ra. Mình duy trì cảm thọ đó càng lâu, sự tu tập của mình càng khéo chừng đó. Tức mỗi khi đọc những bài kệ này, thật sự tâm hỷ đang có mặt, đang lan tỏa, rộng lớn cùng khắp. Mình duy trì cái đó dài chừng nào, mình càng khéo léo, thiện xảo trong pháp quán chừng đó. Còn kêu đọc tâm hỷ mà mặt xụ xuống, bản thân mình không hỷ thì trải không được.
“Đây là phương bề ngang
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm vui này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la”
Đại chúng có nhớ khi Minh Thành hướng dẫn có khi đọc điều này ba lần, nhớ không ạ? Có khi đọc hai câu hoặc hết bốn câu cuối ba lần để duy trì và phát triển cảm thọ, cảm giác, cảm xúc đó.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm vui này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
Để cho nó tỏa rộng cùng khắp trời đất này, có khoảng lặng ngưng để cho nó lan tỏa, trải ra. Chứ mình nói tâm vui này tỏa rộng, khắp trời đất bao la, rồi đánh chuông cái boong, xả thiền, không được, phải cho nó lan tỏa. Đại chúng cùng đọc bài cuối này để trải tâm, mời đại chúng.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm vui này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
Quý thầy, quý cô và đại chúng có thấy vui không, có thọ sanh khởi không? Kính chúc tất cả quý vị, tất cả các Phật tử xa gần an trú vào tâm hỷ này suốt ngày hôm nay, thấy được sự hỷ lạc, an lành, bình an trong Chánh pháp.
Giảng Giải Bài Thiền Quán
Hỷ Vô Lượng Tâm 3
Thích Minh Thành
Ngày 20 tháng 07 năm 2021
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Quán chiếu dịch bệnh – khuyến tấn tu hành PAGEREF _Toc82246330 \h 1
II. Hiểu về hỷ vô lượng tâm – chán ngán PAGEREF _Toc82246331 \h 4
III. Vui mừng vì sự mong muốn đúng pháp PAGEREF _Toc82246332 \h 15
IV. Vui mừng trong sự tu học PAGEREF _Toc82246333 \h 18
V. Trải rộng tâm hỷ PAGEREF _Toc82246334 \h 24
I. Quán chiếu dịch bệnh – khuyến tấn tu hành
Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.
Đảnh lễ bốn Thánh trí ngũ uẩn, bốn Thánh trí lậu hoặc, đưa đến ly tham, giải thoát.
Đảnh lễ bốn đôi tám chúng hiền Thánh tăng, ruộng phước vô thượng ở trên đời.
Kính bạch quý thầy, quý cô và toàn thể đại chúng, ở trong thời điểm này, chúng ta cố gắng tu học thật nhiều. Vô thường rất chóng vánh, hằng ngày tới bốn năm ngàn ca nhiễm bệnh. Dịch bệnh, lũ lụt, mưa bão, đói thiếu, khổ sở, thiên tai, hỏa hoạn. Ở châu Âu xảy ra một trận lũ lụt trăm năm chưa từng có, chết một trăm bảy mươi người, mất tích bao nhiêu ngàn người. Đầy dẫy trên thế giới là những đại thảm họa của toàn cầu cho nên chúng ta cố gắng tu học thật nhiều. Lúc nào mình tu học được thì cứ tận dụng vì bây giờ chúng ta ngồi đây, biết đâu tối nay không còn nữa.
Hiện nay sự biến thể của virus cực kỳ độc hại, chỉ cần vài giây thoáng ngang qua cũng có thể nhiễm bệnh. Những biến thể ngày càng thay đổi, mạnh và độc hơn. Trong thời gian rất gần đây có tới tám mươi người chết, hôm nay con số trên ba trăm người. Thành ra, chúng ta cố gắng tận dụng thời gian này để tu học, tu học thật nhiều.
“Lang thang trong sanh tử
Lành dữ chẳng tỏ tường
Mượn nghiệp hiền nghiệp thiện
Làm chỗ để náu nương”
Chúng ta càng trú trong pháp nhiều chừng nào thì chúng ta càng có chỗ nương náu, an ổn, an lành, an tịnh, an lạc, an tâm. Sự tu học của chúng ta cũng chia sẻ đến mọi người nên chúng ta phải cố gắng. Thật sự bây giờ mọi chỗ mọi nơi đều tiềm ẩn hiểm họa, tai họa, hiểm nguy khắp toàn cầu. Một ngày ở Sài Gòn có trên ba, bốn ngàn ca bệnh. Hôm nay trên năm mươi lăm ngàn ca nhiễm. Các bác sĩ quằn quại, những người điều dưỡng ngã quỵ xuống, ngất xỉu, và có những vị nhiễm bệnh, gục ngã bất cứ chỗ nào, quá mệt, quá sức, quá ngợp. Mồ hôi còn hơn tắm, ướt đẫm hết bao nhiêu lớp áo bảo hộ, họ ở trong một môi trường hết sức nguy hiểm, bất cứ lúc nào cũng có thể nhiễm bệnh.
Chúng ta hãy nghĩ đến những người nghèo, khổ, những người đang vất vả hy sinh ở tuyến đầu chống dịch, những chiến sĩ, bộ đội, những người có chức trách, ngày đêm trực, chăm lo đưa đón bệnh nhân, chữa trị. Nghĩ đến nỗi khổ của các vị đó, mình càng tinh tấn, cố gắng. Mình chỉ làm được một việc là tu học và cố gắng chia sẻ pháp đến cho mọi người, ít nhất mỗi ngày đều phải có.
Bây giờ nhà nước phải chuẩn bị trước kế hoạch cho ba trăm ngàn ca nhiễm, hiện tại là trên năm mươi lăm ngàn. Những nước láng giềng của chúng ta, Capuchia đặt Thái Lan ba ngàn quan tài, Thái Lan cũng chống dịch và làm quan tài không kịp. Mà mấy ngày trước, con số người chết ở Thái Lan cũng đã một ngàn mấy trăm người rồi, láng giềng sát bên của chúng ta. Cho nên càng trú được trong pháp nhiều chừng nào càng tốt chừng đó.
Chúng ta đặt trường hợp mình là những bác sĩ, điều dưỡng, bây giờ giáo hội chúng ta phải vận động những người biết ngành y, những người xung phong cùng nhau ra tuyến đầu chống dịch. Giáo hội đang kêu gọi tăng ni và Phật tử. Quá tải! Nơi nơi đều sống trong bất an, lo lắng, sợ hãi. Cho nên, chúng ta phải làm sao trú được tâm vào trong pháp, trải lòng từ đến tự thân mình và đến tất cả hữu tình chúng sanh để mình tinh cần, tinh tấn, nỗ lực trong sự tu học.
Chúng ta tiếp tục chia sẻ về bài Hỷ vô lượng tâm,
“Vui vì được nghe pháp
Vì được gặp bạn lành’
Vì biết giữ giới hạnh
Vì biết tập nhìn tâm”
Thật ra còn có một loại virus độc hại hơn nCoV-Corona này: tâm của hữu tình chúng sanh, mà chúng sanh không biết virus gì? Virus của dục tham, ác tham, dục vọng, dục điên cuồng, si mê, nhiệt não. Còn có virus của sân hận, thù địch, khẩu tranh, đấu tranh, chiến tranh, virus của si mê, hắc ám, vô minh, ngu muội, tự làm khổ mình, làm khổ người, tự hại mình, hại người. Ngoài ra, còn một loại virus của bản ngã, của sự ích kỷ, làm đau khổ cho nhau, hãm hại lẫn nhau, virus đó độc hại hơn virus này trăm ngàn vạn lần.
Và cũng chính virus dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã này là nhân, mới sanh ra quả ác nghiệp, quả khổ của ngày nay. Chưa dừng lại, nếu con người không biết giữ giới, làm lành, không biết sống đạo đức, mà cứ tiếp tục sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, hãm hại lẫn nhau, ác tham ác tuệ thì thế giới này ngày càng đi đến chỗ hoại diệt, diệt vong. Chúng ta tu học là để nhìn thấy những loại virus đó tàn phá cơ thể, nội tâm của chính mình. Mà khi thấy rồi, chúng ta có pháp dược, thần dược, diệu dược, thánh dược để trị, cho nên vui thay là chúng ta biết tập nhìn tâm.
Nhìn tâm giống như mình nội soi, rà xét, dòm ngó thật kỹ, dùng kính lúp, kính hiển vi, dùng những máy chụp CT, soi rọi, siêu âm. Đó là thiền quán, thiền quán là sự yên tĩnh, lắng tịnh, lắng dịu để nhìn sâu vào nội tâm. Cho nên, khi chúng ta biết nhìn vô nội tâm để thấy được những nguyên nhân của bệnh tật, những gốc rễ của tâm bệnh, những thứ làm cho lòng mình bất an, làm cho tâm mình rối loạn, điên đảo, si mê, ám chướng, điên cuồng, nổi loạn, phải nhìn thấy được.
Và khi mình thấy được như vậy, mình nhiếp phục, chế ngự, làm cho nó an tịnh, lắng dịu. Điều đó gọi là vui vì biết tập nhìn tâm. Chúng sanh hữu tình không thấy ngũ uẩn, cấu bẩn, lậu hoặc, cấu nhiễm, rác bẩn ở trong tâm. Họ lao theo dòng chảy, dòng xiết, thác đổ của tam độc. Họ bị chìm nổi, trôi lăn, cuốn phăng; họ đau khổ, sầu bi, ưu não. Họ không biết tại sao mình khổ, không biết được nguyên nhân tại sao. Còn mình là người tu đúng theo Chánh pháp của Phật, vui vì biết tập nhìn tâm, câu này hết sức quan trọng. “Vì biết tập nhìn tâm”, biết nhìn thọ, tưởng, hành, ý nghĩ đó mình coi nó như thế nào, tại sao nó sanh khởi lên, từ đâu nó sanh khởi lên, động cơ nó là gì?
Mỗi một cảm giác xuất hiện, có mặt, mình coi nhân duyên sanh diệt của nó. Đó là sự tập khởi, đoạn diệt của ngũ uẩn, phải biết tập nhìn tâm. Không phải chỉ tập nhìn ở trên thiền đường, khi nói chuyện cũng phải tập nhìn vào trong tâm, khi làm việc cũng vậy. Nhất cử nhất động của mình tập nhìn vào trong, không để cho nó buông thả, buông lơi, buông trôi, buông lung. Mình nghĩ giờ này không phải giờ thiền, giờ này là giờ làm việc.
Chính ý nghĩ đó làm quên mình, quên ta, giờ nào cũng là giờ nhìn tâm. Mình không nhìn tâm, lúc đó mình sống một đời sống cô hồn, tấm vất vơ vất vưởng, tâm lang thang, si ám, ngu muội, tâm bất giác, không Chánh Niệm. Cho nên mình biết nhìn được tâm, hay lắm, nhìn từng chút từng chút, từ từ mình sẽ nhìn ra được nhiều khía cạnh, phương diện, ngóc ngách, hóc, xó, kẹt của tâm mà nhìn ra. Khi nhìn ra được rồi mình có hai cảm thọ, mừng và lo, hỷ và ưu.
Mừng là thấy được cái trước giờ mình không thấy, biết được cái trước giờ mình không biết. Mình phơi bày được những gì bị che kín, mình mừng, vui. Nhưng lo vì ôi sao quá xá khủng khiếp như vậy, tại sao tâm mình lại tới mức độ như vậy, đó là lo. Cho nên sanh ra hai cảm thọ hỷ và ưu của thiện pháp, hai cái này đều phải tưới tẩm, tăng trưởng và phát triển nó. Mừng, vui, hoan hỷ để mình tiếp tục tu vì phơi bày những gì bị che kín. Lo vì cấu uế, cấu nhiễm, dơ bẩn, rác rến quá nhiều, những ác bất thiện pháp. Lo để làm gì? Để tẩy rửa, quét dọn, làm sạch, nhiếp phục, đoạn tận.
II. Hiểu về hỷ vô lượng tâm – chán ngán
Cho nên, bài “Hỷ vô lượng tâm” này không phải từ đầu tới đuôi đều cười, đừng nghe chữ hỷ lại nghĩ rằng toàn cười vui. Pháp của bậc Thánh, của Đức Phật truyền trao cho mình là vậy, trung đạo chứ không nghiêng lệch một bên nào, nên vui vì biết tập nhìn tâm. Tại sao chúng ta Chánh quán thọ thực? Tại sao Đức Phật phải dặn Tỳ-kheo rõ biết khi đi, đứng, nằm, ngồi, rõ biết khi nói, khi nín, khi co duỗi, khi đại tiểu tiện đều phải rõ biết hết Chánh Niệm hết, đó là tập nhìn tâm. Quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp, chữ này là tóm thâu Tứ Niệm Xứ. Tập nhìn tâm ở đây là quán tâm trên tâm. Trong tâm có thọ, tưởng, hành, thức.
“Vui vì ta biết ngán
Ngán nhân quả trả vay
Ngán nghiệp lực thúc đẩy
Sanh vào chỗ đắng cay”
Nếu tu đúng theo lời Phật dạy thì thấy rất nhiều điều lạ, “Vui vì ta biết ngán”. Ngao ngán nhưng mình lại vui, ngao ngán này tức người biết nhàm chán, ở trong kinh gọi là yểm ly. Yểm ly là gì? Yểm là chán, ly là lìa, chán ngán, xa lìa. Ta biết chán, biết ngán mà ta lại thấy vui. Điều này mới độc đáo, đại chúng có thấy được điều này, có cảm thọ được chưa? Có vui không khi mình sanh tâm nhàm chán đối với tứ đại, ngũ uẩn này, nhàm chán đối với dục, tham, sân, si, bản ngã này.
Mình khởi lên rồi lại thấy chán ngán nó, nhưng sau đó thấy vui ở trong sự chán đó. Vì mình biết chán, chứ hồi xưa mình không biết chán, không biết ngán. Vui vì đi thiền hành một mình, cười ngắm mây bay, nghe chim hót, nhìn núi đồi. Đi một mình vậy mà thấy ngán chán, mình thấy an lạc, hoan hỷ, đi một mình, ngồi một mình, ngồi một mình, độc hành, độc bộ, độc cư. Cho nên:
“Vui vì ta biết ngán
Ngán nhân quả trả vay”
Mấy câu này là cả một chủ đề thiền quán, ngán nhân quả trả vay, trong bài “Tâm từ” có câu: “Thương thay cảnh nhân quả”, câu đó cũng là chủ đề thiền quán giống như “Ngán nhân quả trả vay”. Cảnh nhân quả rất chán, người này tới nói qua nói lại, nhào vô táng mấy bạt tai nhá lửa xong rồi người này nhào lại lấy con dao lụi vô người kia, ngán không? Thấy nhàm chán không, khủng khiếp không, sợ hãi không, kinh hãi không? Đó là:
“Ngán nhân quả trả vay
Ngán nghiệp lực thúc đẩy
Sanh vào chỗ đắng cay”
Một ông già bảy mươi chín tuổi mà xâm hại đứa bé mới ba tuổi. Bảy mươi chín tuổi! Thấy khủng khiếp và kinh hãi không? Ngao ngán không? Ngày hôm nay chúng ta nhìn thấy không? Con giết mẹ, anh giết em, vợ chặt xác chồng, chồng phanh xác vợ, thầy trò thưa kiện với nhau, huynh đệ tương tàn. Đừng nói chi người đời, ngay cả những người biết tu.
“Ngán nhân quả trả vay
Ngán nghiệp lực thúc đẩy”
Nghiệp tức là sức mạnh của thói quen, thúc đẩy, điều này rất ghê gớm. Nói qua nói lại mấy câu, ai dè đâu chạy về nhà, cầm mã tấu lại, nghiệp lực nó thúc đẩy, cầm dao, cầm kiếm lại, cầm vũ khí lại. Bây giờ trai trẻ rủ nhau mấy chục mạng rồi cầm dao, cầm mã tấu, không thì rủ nhau đua xe, xì ke ma túy hàng chục hàng trăm, bất kể chết thì chết. “Ngán nghiệp lực thúc đẩy”, nghiệp lực bên trong, bản ngã mình thúc đẩy. Nó sai khiến, dẫn dắt, áp đảo, điều khiển, lôi đầu chúng sanh đi mà họ có biết đâu. Rồi tới khi ngã quỵ xuống trong vũng máu, hay ba mươi năm tù, hay chung thân, tử hình, lúc đó đã muộn rồi.
“Ngán nhân quả trả vay
Ngán nghiệp lực thúc đẩy
Sanh vào chỗ đắng cay”
Đâu phải chết là xong, mà sanh vào chỗ đắng cay. Cho nên mình thấy được những điều này, mình nhàm chán, ngao ngán, ê chề, não nề, chán chê, gớm ghê, mình viễn ly, xa lìa, tránh xa, tránh né, lẩn tránh, mình tránh sợ nên mình mới lên núi, vào trong rừng. Chưa dừng lại, ác nghiệp của con người càng khủng khiếp, càng ngày càng tăng trưởng như trong kinh Đức Phật đã nói, chúng ta học rồi.
Thật sự là phải ngao ngán, kinh sợ, khiếp sợ, hoảng sợ, hãi sợ đối với nghiệp quả. Phải tập tránh né, trong bảy pháp đoạn trừ phiền não, tránh né mà được đoạn trừ, tránh né tức viễn ly, xa lìa, bớt sự tiếp xúc, cho nên ngán:
“Ngán nhân quả trả vay
Ngán nghiệp lực thúc đẩy
Sanh vào chỗ đắng cay”
Chúng ta nhìn thấy được điều này sẽ biết lo, biết sợ, biết ngao ngán, nhàm chán này rồi chúng ta vui. Mình biết nhàm, ngao ngán, lo lắng, sợ hãi nên mình mới tránh, tránh được mới có sự bình an, gây ra ác nghiệp, nhân quả, không để cho nghiệp lực thúc đẩy mình nữa thì sẽ có được sự bình an, an lạc, tịnh lạc nơi núi rừng xa vắng để lúc đó mình vui.
Chúng ta thấy niềm vui trong pháp có lạ không? Khác với niềm vui của thế gian. Nhìn ra được những điều đau khổ, nhàm chán, gớm ghê, lo lắng và sợ hãi thì mình vui. Mình sanh khởi được những cái tàm quý, sợ hãi và lo lắng đó, mình lại vui. Không có những điều đó mình không thể vui được, khổ đau.
“Ngán tái sanh chỗ khổ
Sanh chỗ chẳng bình an
Ngán sanh vào địa ngục
Chỉ còn đường khóc than”
Chữ ngán ở đây có nghĩa là ớn lạnh, ngao ngán, ghê sợ, sợ tái sanh vào chỗ khổ, chỗ bất an. Hiện tại chúng ta đang sanh vào chỗ bất an, chúng ta đang ở trong nhà lửa nhưng mình đâu nhìn thấy lửa, nên mới gọi là vô minh. Không thấy, không biết rồi mới yêu thích. Do không hiểu nên mới thích, đó là vô minh và khát ái. Vậy nhưng cũng cười hỉ hả, cũng sống phè phỡn, cũng lơ lửng, cũng thấy giống như không có chuyện gì, chưa tới với mình, cho nên phải ngán.
“Ngán tái sanh chỗ khổ
Sanh chỗ chẳng bình an
Sanh vào đường địa ngục
Chỉ còn đường khóc than”
Chúng ta thấy không, đang học hỷ vô lượng tâm mà qua Khổ Thánh Đế. Pháp này bao trùm hết tất cả, viên mãn, trong một pháp này có hết tất cả các pháp khác. Chúng ta thấy tuyệt vời không? Địa ngục mà chúng ta đã học rồi, vô đó chỉ có khóc than, kêu gào thảm thiết. Những cảm giác thống khổ, kịch liệt, kinh hãi, khiếp đảm, khủng bố trong địa ngục đó.
“Ngán sanh làm súc vật
Đời sống đầy bất an
Ngán sanh làm ngạ quỷ
Đói khổ và lang thang
Ngán làm người khốn khổ
Dị dạng và tật nguyền
Ngán làm người bất hạnh
Nghèo, đói, rách, lang thang”
Thật sự chiêm nghiệm lại mình thấy rất lo sợ. Lon mì mình ăn xong để quên, một hồi kiến bu hằng trăm con, khi mình đổ ra muốn cứu những con còn sống thì kiến đã chết hơn phân nửa bên trong. Có miếng ăn thôi mà nó chết, chỉ một chút như vậy thôi. Thành ra cuộc sanh tử này tích tắc, chóng vánh lắm. Đó là mới nói về mấy con kiến thôi, còn bao nhiêu con đậu lại chích người ta, họ đập một cái là máu đỏ hết. Một giây phút, một thời gian ngắn trong ngày như vậy diễn ra không biết bao nhiêu sống chết của chúng sanh, luân hồi sanh tử.
Chim nhỏ ăn sâu, chim lớn ăn những con chim nhỏ, chim lớn nữa bị những con khác vồ vập. Những con thú nhỏ lo sợ những con thú lớn. Thỏ, hươu, nai bị hổ, báo, sư tử vồ, xé xác, ăn tươi nuốt sống, còn máu nóng. Cho nên,
“Ngán sanh làm súc vật
Đời sống đầy bất an
Nhiều khi mình thấy tội nghiệp những con chuột hay tắc kè, rắn nó phải sống trốn chui trốn nhủi, phải sống chỗ nào không có người thấy, chui vào chỗ thối, chỗ dơ, chỗ tối. Ở trong kinh nói “đọa xứ” là không có ánh sáng mặt trời, rất nhiều năm không ánh sáng. Những lúc Đức Thế Tôn chuyển pháp luân hay đại sự kiện lớn, ánh sáng chiếu tới, những chúng sanh đó mới biết có ánh sáng, vì rất nhiều năm họ không có ánh sáng, sống trong bóng đêm vô lượng kiếp. Đó là đọa xứ, sống trong bóng tối hoài như vậy, trăm năm, ngàn năm, nhiều trăm năm, nhiều ngàn năm, nhiều trăm ngàn năm ở trong bóng đêm đọa xứ.
Mình thấy có những con như tắc kè, chuột… nó gặp mình liền chạy trốn vì sợ. Nó phải sống trong sự trốn tránh, tối tăm, dơ bẩn, hôi thối. Nó phải sống trong sự đau đớn, bị thọc huyết, cắt cổ, nhổ lông, bị chặt đầu, lột da, bị trụng nước sôi, bị chiên xào… Phải sống trong nỗi khổ như vậy, chịu đựng trăm ngàn kiếp như vậy, làm sao nghe pháp, làm sao tu tập? Còn mình bây giờ làm người, gặp Chánh Pháp để tu mà còn không chịu nỗ lực, không chịu để tâm vào sự tu học, không chịu học pháp, chấp nhận pháp, nghe rồi bỏ qua, nghe, hiểu biết rồi để đó. Nếu mình lọt vô cảnh này, chúng ta nghĩ đi, giờ đặt mình làm con lợn, người ta thọc huyết mình kêu những tiếng kêu như thế nào? Mà trong nhiều kiếp vừa qua mình đã từng như vậy.
Chúng ta thấy không? Mổ con bò, con trâu, lột da ra, chặt xương, chặt thịt, chặt đầu… Bao nhiêu sự đau đớn, quằn quại, khổ sở. Sanh ra làm kiếp ngựa cho người ta cưỡi, bao nhiêu là nỗi khổ. Nếu mình quán là cả một buổi thiền quán cũng chưa hết nỗi khổ trong loài súc sanh. Ngồi quán cho mình sanh khởi cảm giác run sợ, kinh sợ, hoảng sợ, khiếp sợ để nỗ lực tinh tấn tu. Hãy quán nếu bây giờ mình sanh làm con rắn, mình quán tưởng mình là rắn, kiếp sống lăn lóc, trườn, bò. Xương sống ngang như vậy là bàn sanh, còn con người xương sống thẳng, những loài súc sanh là xương sống nằm ngang, rồi bao nhiêu thống khổ trong đó.
Bữa nào cho đại chúng coi về loài động vật, sẽ thấy nỗi khổ của nó, nó ăn, xé, nuốt với nhau, rất kinh hoàng. Như vậy mà mình ngồi xé thịt ra ăn, cười hỉ hả, chê khen, thậm chí ăn phải lựa con sống, cho nó giãy giụa, những loài hải sản còn sống… Mình ăn trên sự đau khổ của chúng sanh, mình nghĩ tạo nghiệp đó ra như thế nào, mình có biết không? Vô minh, tham ái có biết đâu. Sướng miệng một chút mà hành hạ cho người ta quằn quại, đau đớn, khổ sở. Có khi càng khổ sở chừng nào càng thích thú chừng đó.
Chúng ta nhớ có một người Phật tử kể chuyện vì ăn mà chặt sọ con khỉ còn sống, dạt đầu nó ngang qua một cái, ăn sọ khỉ sống, gọi là bổ. Không biết bổ cái gì mà ác độc như vậy. Chúng ta thấy cái ác của con người rất khủng khiếp, nghiệp ác rất ghê gớm. Thậm chí cho những con vật còn sống lên lò than cho nó bò lòng vòng, nhìn thấy nó đau đớn, quằn quại như vậy rồi thích thú, ăn trong đó. Mà chúng ta đã vô trong loài súc sanh đó nhiều lần lắm rồi, vô lượng lần rồi. Cho nên:
“Ngán sanh làm súc vật
Đời sống đầy bất an
Ngán sanh làm ngạ quỷ
Đói khổ và lang thang”
Quỷ đói cổ giống như cây kim, bụng giống như trống chòi – loài ngạ quỷ, lúc nào cũng thấy khát, mà tâm bỏn xẻn, keo kiệt, ác độc. Không biết bố thí, chia sẻ, giúp đỡ người nghèo khổ.
“Tiền mục lúa hư không cứu đói rét,
Lụa là chất đống nào nào có giúp ai
Được mùa mấy trăm nào cho là nhiều
Mất mình một đồng tưởng như hao lớn
Trên từ châu báu, dưới đến tơ gai
Khó đụng chất đầy, chưa từng bố thí”
Thà để cho hư vậy chứ không đem cho người khác. Ngạ quỷ sống phải chịu cảnh vất vơ vất vưởng, xấu xí, kinh hãi, người ta thấy người ta hoảng sợ, khiếp vía, lúc nào cũng đói khát, lúc nào cũng khổ. Nhìn thấy nước là nhào nhào lại, rồi nước đó bốc cháy lên thành lửa, uống không được. Cô hồn, ngạ quỷ, quỷ đói vất vơ vất vưởng như vậy.
“Ngán sanh làm ngạ quỷ
Đói khổ và lang thang
Ngán làm người khốn khổ
Dị dạng và tật nguyền
Ngán làm người bất hạnh
Nghèo, đói, rách, lang thang”
“Dị dạng và tật nguyền”
Điều này rất khủng khiếp. Chúng ta phải có một buổi thiền quán về những hình ảnh này. Dị dạng, đầu bự bằng cái chuông này, ngồi dậy không được, không có miệng, mũi, nguyên một cục trên đầu bị dòi ăn. Không thôi là mặt quỷ, trên mặt nổi đầy mục – mặt quỷ, con người mà bị như vậy đó. Những dị dạng, dị hình, dị tật, những chứng bệnh lạ kỳ. Không thì hai người sanh đôi bị dính với nhau, hai đầu, bốn tay, ba chân, mà phải suốt đời sống như vậy, giải phẫu, cắt ra là chết. Vô số những dị dạng, tật nguyền như vậy.
Chúng ta phải quán chiếu, ghê sợ nhân quả, nghiệp lực, nghiệp báo mà không tưởng tượng nổi, bất khả tư nghì. Nghiệp là cái mình không thể tưởng tượng được, quả vị thục của nghiệp. Mình ngồi đây như vậy nhưng ngày mai, tuần sau, tháng hang hay năm bảy năm sau mình không biết mình là cái gì, đừng tưởng rằng mấy năm sau mình cũng ngồi tu như vầy. Có thể ngày hôm sau mình đã trở thành một chúng sanh khác rồi, dị dạng, dị hình ngay ngày hôm sau. Chúng ta phải quán như vậy, mà đó là sự thật.
Chúng ta thấy không, những người bệnh, đang đi trên đường, ngã quỵ xuống, rồi xong, chết, rất nhiều… Những tật nguyền rất nhiều, cụt tay, cụt chân, chột mắt, mù mắt, câm, ngọng, á á nói không được, mù, đui, điếc, câm, ngọng, què quặt, không tay, không chân, nghĩ tới những cảnh đó, ngán!
“ Ngán làm người khốn khổ
Dị dạng và tật nguyền”
Nếu đời nào mình cũng sanh giống vậy thì khỏi cần tu, nếu đời sau mình cũng y như vầy nữa thì tu làm gì? Mình có thể, bất cứ lúc nào, trở thành bò, heo, ruồi, muỗi, chuột, kiến, trở thành ngạ quỷ, súc sanh, trở thành cô hồn, hay ở dưới địa ngục, trở thành những dị dạng, dị hình, dị tật. Cho nên mình mới tu, mới lo lắng, sợ hãi những ác nghiệp, phải ngăn chặn, nhiếp phục, tẩy sạch, đoạn tận nó.
Chỉ một ý nghĩ sanh khởi lên, là đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh như tên bắn, nên chúng ta phải ngán. Cho nên chữ ngán trong kinh được lặp lại liên tục: ngán nhân quả trả vay, ngán nghiệp lực thúc đẩy, ngán tái sanh chỗ khổ, ngán sanh vào địa ngục, ngán sanh làm súc vật, ngán sanh làm ngạ quỷ, ngán làm người khốn khổ, ngán làm người bất hạnh, dị dạng và tật nguyền. Chữ ngán đó là chữ nhàm chán trong kinh Nikāya và chữ yểm ly trong từ Hán Việt.
Hãy làm cho mình sanh khởi lên sự nhàm chán, ngao ngán tột độ, không ưa, không thích, không muốn nữa, “chấm dứt từ đây cuộc tái sanh”, nếu chưa chấm dứt, còn vài đời nữa cũng phải tái sanh trong nhân thiên, trong phước báu, lành lặn, sáng suốt để tu hành. Bây giờ tái sanh làm con chó rồi làm sao học kinh Nikāya, tái sanh làm con dòi làm sao nghe pháp, ngồi thiền?
Chúng ta thấy không, ngán cảnh nghèo, bất hạnh, đói rách, lang thang. Đây là cái thấp nhất trong ba đường, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là không có, thoát khỏi ba đường ác rồi, còn sanh làm loài người cũng không đơn giản, nghèo, đói rách, lang thang. Nhiều khi thấy cảnh đó mình xúc động, nhưng làm người là cao cấp, không bị đọa ba đường ác nhưng có tu được không? Đói rách, lang thang, không đủ ba bữa ăn rồi làm sao tu? Ở ngoài công viên, vỉa hè, gầm cầu, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, đi lang thang, quần áo tả tơi, mặt mày bùn dơ, đầu bù tóc rối…
Ngán, thật ngao ngán, ngao ngán vô cùng. Mà ngán như vậy, mình sanh ra niềm vui, ngán địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, ngán loài người, nghèo cùng không phước hoạn, bạc phước, thống khổ, ngán, nhàm chán. Trong sự nhàm chán đó mình thấy vui vì mình biết ngán, biết chán, mà không biết ngán, biết chán là khổ. Chúng ta ngồi đây, trong nhà có cửa kiếng bít bùng lại, bây giờ những người đang bị lũ lụt, bị bão, chết, mất tích, chìm dưới biển, không nhà, không cửa, lạnh lẽo, cơ hàn, đói khát… ngay trong giờ phút này. Phải quán chiếu như vậy, mình quán khổ. Nó đầy dẫy, tràn ngập hết, chứ mình đừng ngồi đây nói rằng tôi mệt quá, tác ý liền cho nó phản phá điều đó. Mình phải biết rằng bao nhiêu chúng sanh còn đau khổ hơn mình gấp trăm ngàn vạn lần mới đuổi được cảm giác nghĩ tưởng đó ra.
“Vui vì ta biết chán
Chán thân xác vô thường
Chán luân hồi đau khổ
Chán sanh tử, tái sanh”
Vui, thật vui vì ta biết nhàm chán thân xác vô thường này, chán cuộc xoay vòng loanh quanh, lẩn quẩn, khổ đau, sầu bi, ưu não này, chán vòng sống chết lặp tới lặp lui hoài như vậy, chán sống chết tái sanh. Cứ sanh ra, lớn lên, tìm dục lạc, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, già, bệnh, chết. Rồi lại sanh ra tiếp tục nữa, nhưng chưa chắc được tới chữ già. Còn trẻ mà nổi sân, tham dục lên rồi vô tù, tử hình, không thôi bị đâm, bị đốt, bị chém chết.
Cứ sanh ra, dục, ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, rồi chết, cứ quanh đi quẩn lại một vòng như vậy. Rồi thành cô hồn, thú vật, địa ngục, súc sanh, rồi sanh làm người. Giàu có thì buông lung phóng dật; quyền uy thì ức hiếp người ta, rồi đọa xuống, chết, rồi bò lên, làm được chút phước thiện, lại rớt xuống. Cứ lòng vòng như vậy, trăm ngàn ức kiếp, vô thỉ kiếp, không biết chán. Cứ tham dục hoài, sân hận hoài, bản ngã hoài, rồi tìm dục, tìm ái, thúc giục bên trong mà đi tìm hoài như vậy, không biết chán, không biết ngán.
Nói chi đâu xa, việc ăn của mình, ăn mấy chục năm nay rồi có chán chưa? Mỗi lần ăn cảm thọ như thế nào? Có thấy nhòm tởm không? Hằng mấy mươi năm trời rồi chứ không phải không ăn, cái gì cũng ăn hết. Nhưng rồi cũng dục, tham, ái, chúng ta thấy có khủng khiếp không? Tạo nghiệp cũng vì miếng ăn đó. Nhìn mấy mươi năm rồi, giờ vẫn tìm cái đẹp để nhìn, thấy cái đẹp hai con mắt dán vô, khép lại không được, hộ trì căn không được. Chúng ta thấy có khủng khiếp cho sức mạnh của thói quen không? Đó là nghiệp lực, cho nên thật đáng chán, ngán, chán ngán nó, là yểm ly.
Mình thấy hai người thị phi, hơn thua với nhau, mình đừng nhảy vô làm tòa án, bênh người này, nói người kia, mà mình phải sanh khởi lên sự chán ngán cảnh hơn thua, tranh giành . Chán như vậy để mình thoát ra khỏi hai chữ đúng sai hơn thua đó, không bị nó cuốn vô. Còn mình nhào vô làm quan tòa, phân xử đúng sai, có người can bị lụi cho chết, hai người đang đánh nhau mà nhảy vô, trong khi chưa hiểu nguồn cơn như thế nào, tưởng vậy là anh hùng. Cho nên, tưởng là thiện mà không phải thiện, thiện là phải đặt nền tảng của sự thấy biết, đó là bất thiện.
Có nhiều người nói sao trồng nhân lành mà lại gặt lấy quả ác, vì họ không biết cái lành đó có phải là lành, là thiện pháp thật sự không? Hay cái lành đó có mục đích gì bên trong. Cũng như có nhiều người làm từ thiện nhưng trong việc từ thiện có mục đích khác nhau, chúng ta mới thấy được điều đó. Thành ra, làm gì cũng hồi hướng về Niết-bàn, hướng thẳng đến chỗ xuất ly, giải thoát, bất tử. Nếu còn ở trong vòng này sẽ còn đủ thứ ghê sợ. Bao nhiêu thủ đoạn, mánh khóe, mưu mô, mưu sĩ, mưu toan, mưu, tính, mưu ác, mưu hại, rất ghê gớm.
“Bên ngoài thơn thớt nói cười
Mà trong nham hiểm giết người không dao”
Truyện Kiều – Nguyễn Du
Phải nhìn sâu vô bên trong mới thấy bản chất ngũ uẩn rất ghê gớm, chán ngán, cho nên:
“Vui vì ta biết chán
Chán thân xác vô thường
Chán luân hồi đau khổ
Chán sanh tử tái sanh
Vui vì ta biết bỏ
Bỏ thích cái vô thường
Bỏ giận hờn chấp nhặt
Bỏ bản ngã hư danh”
Ở trên là vui vì sự nhàm chán, yểm ly, bây giờ vui vì sự buông bỏ, bỏ ý thích những thứ vô thường, điều này thật vui, thật tuyệt vời. “Vui vì ta biết bỏ”, bỏ cái bô thường, bỏ tâm ý thích thú với những thứ vô thường. Không thích chùa chiền, đệ tử, tiền bạc, đất đai, xe cộ, tài sản gì cả, bỏ được những điều đó là vui tối thượng. Bỏ hết, không thích thú, trau chuốt thân xác này, không thích thú cho những ngũ dục ở bên ngoài, năm dục trưởng dưỡng, biết bỏ những điều đó là ta rất vui.
“Vui vì ta biết bỏ
Bỏ thích cái vô thường”
Bỏ những cái bên ngoài, còn những cái bên trong là gì?
“Bỏ giận hờn chấp nhặt
Bỏ bản ngã hư danh”
Chúng ta thấy không, bỏ những cái này phải từ căn, trần, thức chứ không phải chỉ bỏ bên ngoài. Bỏ tài sản, tiền bạc, nhà cửa, xe cộ không quan trọng, bỏ bên ngoài chưa bỏ bên trong, bỏ giận hờn chấp nhặt. Chữ chấp nhặt này rất hay, chấp từng chút, từng chút, nắm vô, giữ vô, bám vô, chút gì cũng giận, cũng hờn, cũng mát, cũng khó chịu. Người nữ thường bị cái này nặng, bên nam không phải không có, mà bên nữ bị điều này nhiều hơn, mà chấp những điều rất nhỏ.
Ví dụ huynh đệ làm với nhau, lỡ nói một câu mà giận, ngày mai không xuống làm nữa, đó là chấp nhặt, từng chút, từng chút.
“Bỏ thích cái vô thường
Bỏ giận hờn chấp nhặt”
Để tâm vô những điều đó làm gì? Làm cho mình khổ, người khổ, hành hạ mình, hành hạ người, để làm gì? Hở một chút giận, buồn, ghét, chấp? Nếu buông được điều này, mình sống với nhau có vui vẻ, hòa hợp không ạ? Cho nên bỏ cái chấp nhặt mà mình vui, nên mỗi khi nó sanh khởi lên, mình thấy biết nó, buông bỏ nó xuống nên mình vui. Chị em sống hài hòa, huynh đệ sống an vui. Ở trong sáu pháp hòa kính, gia đình, vợ chồng với nhau sống an ổn; mẹ con, anh chị em, bà con sống bằng tâm rộng mở, từ ái, chan hòa, bao dung, tha thứ.
Nếu chấp nhặt sẽ khiến mình giận hoài, buồn hoài, bực hoài, khó chịu hoài, cho nên:
“Bỏ giận hờn chấp nhặt
Bỏ bản ngã hư danh”
Bỏ sám hối diệt ngã hoài như vậy, nhưng đụng vô mới thấy bản ngã còn lớn lắm, bản ngã hư danh, danh tiếng suông, danh rỗng, tên rỗng, tên trống không. Chẳng hạn bây giờ người ta nói chú Nghiệp này nghiệp rất nặng nên mới tên nghiệp, đó là hư danh chứ có gì đâu. Nếu nói nhiều nghiệp nặng thì bây giờ mình làm nhiều nghiệp lành, đó là hư danh thôi. Chứ bây giờ mình dính mắc, nghe tên đó là bắt đầu buồn, ăn không được, ngủ không được, thấy có phải tự làm khổ mình không? Bỏ đi, buông xả xuống đi, đó mới chỉ là ví dụ, phải tập buông bỏ hư danh, những ngôn ngữ, ngôn từ đó không có gì hết, tập quán, như gió thoảng qua, gió bay.
III. Vui mừng vì sự mong muốn đúng pháp
“Bỏ bản ngã hư danh”, tập làm nùi giẻ rách, ai có dậm chân, chùi lên, mình lau cho sạch sẽ, không sao hết. Mà được như vậy mình rất vui, vì mình biết bỏ.
“Vui vì ta biết muốn
Muốn dừng sự khổ đau
Muốn cắt vòng sanh tử
Muốn tâm được lặng yên”
Người hướng dẫn thiền quán phải biết chỗ này vì đó là điểm nhấn làm nổi trội pháp lên, pháp hiển lộ rõ ra. Nếu mình không biết, mình không quán chiếu được làm sao hướng dẫn người khác. Tới chữ chán mình nhấn mạnh, kéo dài ra đề làm nổi bật lên đây là pháp nhàm chán. Chúng ta thấy ngán, chán trước, rồi bỏ, bây giờ tới muốn, chứ không phải chỉ bỏ và buông, mà còn biết muốn:
“Vui vì ta biết muốn
Muốn dừng sự khổ đau”
Cái dục này để diệt khổ, muốn chấm dứt khổ, dừng sự khổ. Ta biết, có sự khao khát, tha thiết, ham muốn, nóng bỏng, rực cháy trong tâm ta, gọi là nhiệt tình lên, tinh cần, Chánh Niệm, tỉnh giác, muốn dừng sự đau khổ, không muốn tiếp tục vậy nữa, muốn nó phải dừng lại, mà phải biết muốn. Phải có sự muốn đó, phát triển sự muốn đó hằng ngày, tưới tẩm để cho cái muốn đó lớn mạnh lên, rực cháy lên.
“Từ ấy trong ta bừng nắng hạ
Mặt trời chân lý chói qua tim”
Từ ấy – Tố Hữu
Chỗ đó bừng lên, sáng lên, ngày nào cũng bỏ củi vô lò cho nó bừng lên, đốt lên những ngọn lửa mạnh mẽ.
“Muốn dừng sự khổ đau
Muốn cắt vòng sanh tử
Muốn tâm được lặng yên”
Ở đây có tới ba chữ muốn, đây là chỗ đọc thiền quán. Phải biết tâm, biết chỗ nào là cốt lõi của bài quán đó, chữ nào trọng tâm trong đó, chữ đó lớn, rõ, mạnh, dài. Câu ở trên là:
“Vui vì ta biết chán
Chán thân xác vô thường
Chán luân hồi đau khổ
Chán sanh tử tái sanh”
Điều này không chỉ có biết không? Nên tại sao mình phải học là như vậy, chỗ này nhấn mạnh các pháp, còn ở trên nhấn mạnh ngán và chán.
“Vui vì ta biết muốn
Muốn dừng sự khổ đau
Muốn cắt vòng sanh tử
Muốn tâm được lặng yên”
Tới chỗ muốn tâm được lặng yên mình kéo dài ra, xong rồi mình cứ ngồi đó, để một khoảng yên lặng. Chứ không phải mình đọc “Muốn tâm được lặng yên”, rồi qua “Vui vì ta biết tập” là coi như xong, cắt hết dòng cảm thọ, đó là những nghệ thuật của thiền quán nên mình phải coi pháp trong bài thiền quán đó là gì, mình làm cho nó tương thích, tương ứng với pháp đó. Cũng như lúc trước mình có thực tập một bài nói tâm lặng yên, lúc đó mở nhạc lên nên thất bại. Thầy nói ví dụ cho mình biết là không phải mở lúc đó, thành ra những chỗ đó mình phải để ý, tâm mình phải rất vi tế, sự nhạy bén, sắc bén của trí tuệ mình ở đó. Mà điều đó thật sự rất khó chỉ, mình phải để ý. Vì sao?
Tâm mình không bị Năm Triền Cái thì rất trong sáng, như tấm gương trong nên sẽ thấy một cách đúng như sự thật. Còn tâm bị che Năm Triền Cái, không thấy thực tại đang diễn ra. Thầy Nghĩa hoan hỷ lắm hay sao cười hoài vậy thầy, thầy có chia sẻ gì không?
[1:19:00 – 1:20:00 trình pháp]
“Vui vì ta biết muốn
Muốn dừng sự khổ đau
Nếu mình biết muốn dừng sự khổ đau thì tự động tham, sân, si, vô minh, bản ngã của mình sẽ có khả năng lắng dịu xuống, vì tâm mình lúc nào cũng đặt về hướng đó, hướng dừng. Những gì làm cho nó khởi động tham, sân, si, vô minh, bản ngã bị cái muốn này kiểm soát, kềm chế lại, giống như thắng xe vậy. Nếu mình không có cái muốn này làm sao mình dừng được tham, sân, si, vô minh, bản ngã, mình phải có cái muốn cũng như mình muốn tu mới có mặt ở đây. Cho nên cái muốn này rất quan trọng, đầu tiên của Tứ Như Ý Túc, yếu tố quan trọng nhất của sự thành công.
Muốn cắt vòng sanh tử
Muốn tâm được lặng yên”
Cho nên tại sao chúng ta tập đi phải nhẹ nhàng, từ từ, nói cũng phải từ ái, không dao động, muốn tâm được lặng yên, không phải chỉ lúc ngồi thiền. Mà tâm bên trong sôi sục, sôi nổi, sôi động quá thì không được, nó tương ưng với pháp an tịnh và lắng dịu. Thế Tôn là bậc an tịnh, nói pháp an tịnh và hướng dẫn chúng sanh đạt đến cảnh giới an tịnh.
Chúng ta nhớ Đức Thế Tôn có năm trăm Tỳ-kheo mang bát, bồ đoàn, tọa cụ ngồi, Đức Thế Tôn gọi ngài A-nan ra đuổi hết, giống như nhóm chợ, bà hàng tôm, hàng cá. Mà không phải một lần, chúng ta đọc thấy rất nhiều lần, cho tới Phạm Thiên Sahampati rồi Mục Kiền Liên, các vị ở trong dòng họ Thích Ca tới năn nỉ, xin Ngài. Vì sao? Muốn tâm được lặng yên.
Cho nên những chúng ngoại đạo thấy Ngài đi từ xa, nói rằng: tôn giả Gotama gần tới rồi, yên lặng hết, biết đâu Ngài sẽ đến đây, Ngài không ưa thích ồn ào, náo nhiệt, như vậy Đức Phật ghé ngang qua. Cho nên cảnh yên, thân yên, tâm mới yên, muốn như vậy là cả một công phu thâm hậu kiểm soát. Phải muốn được tâm yên lặng, bất động đó, vì cứu cánh của mình là tâm bất động, giải thoát. Bây giờ lúc nào mình cũng dao động hết thì làm sao mình đi tới mục đích của mình được?
Chúng ta thấy không, cứu cánh của mình là đạt tới tâm bất động giải thoát, tâm không còn lau chau, lăng xăng, lóc chóc, không còn sôi nổi, rạo rực, sôi động nữa, tâm hoàn toàn tịch tịnh, sự yên lặng. Cho nên phải tập nói nín an nhiên, đến đi vắng lặng, không phải lúc nào mình cũng rần rần, dầu cho một mình hay khi hội tụ đại chúng, phải đúng như pháp yên lặng của bậc Thánh và nói năng Thánh pháp. Do đó mà chúng ta phải muốn tâm được lặng yên. Hay lắm, mình tu mới thấy rất tuyệt diệu, hạnh phúc. Mình hạnh phúc với thiện pháp, Thánh pháp, với vi diệu pháp, nhiều pháp để mình tu.
IV. Vui mừng trong sự tu học
Thật ra những cái này khai triển ra rất nhiều nhưng mình đang học bản trung, tức giảng giải bài này ra bản vừa. Có những buổi chúng ta lên ngồi yên, không nói gì cả, niệm Phật, niệm Tam Bảo xong rồi cứ ngồi vậy. Chúng ta nhớ bài “Bằng tình thương, bằng từ tâm…” mà hôm bữa thiền quán, chỉ cần đọc chậm, có khoảng lặng một chút là thành thiền quán. Tất cả lời kinh trong kinh Nikāya đều là thiền quán, bằng cách yên lặng, lắng lặng liền thành thiền quán.
“Vui vì ta biết tập
Tập các hạnh Thánh hiền
Tập cho tâm yên lặng
Đến gần với bình an”
Chúng ta nhớ, khi mình nói tập cho tâm yên lặng, chữ nói của mình có chất yên lặng ở trong sự nói đó, sau đó mình ngưng một chút, chúng ta thấy pháp không? Khi mình nói hoan hỷ, ở trong thọ mình, lời nói mình có hoan hỷ và nó diễn ra một cảm thọ hoan hỷ. Đó là thiền quán, có chất và lượng, có ngữ và nghĩa, có pháp bên trong. Bây giờ qua biết tập, biết tập tới tập lui, biết tu tập, biết thực tập, biết tập tành, luyện tập.
“Vui vì ta biết tập
Tập các hạnh Thánh hiền”
Hạnh Thánh hiền là hạnh gì? Diệt ngã, buông xả, tha thứ, tâm độ lượng, rất nhiều, nghĩ đến mọi người. Hạnh đó ở trong bảng Đức hạnh Ngài Xá Lợi Phất, là hạnh Thánh hiền. “Vui vì ta biết tập” nên mình lạy đức hạnh Ngài Xá Lợi Phất mình rất vui, tập tâm hiền, tâm từ, tâm bi, tâm hỷ, tâm xả, đó là những đức hạnh của Thánh Hiền. Khi tập nó mình phải vui, phải hoan hỷ lên.
“Vui vì ta biết tập
Tập các hạnh Thánh hiền
Tập cho tâm yên lặng
Đến gần với bình an”
Tâm yên lặng là sắp tới rồi, chuyện vui cũng nhẹ nhàng mà chuyện khổ cũng bình an, được cũng an tịnh mà mất cũng lắng dịu, khen vẫn an tịnh lắng dịu mà chê cũng an tịnh, lắng dịu. Như vậy là gần tới chỗ bình an, lấy tám ngọn gió của thế gian tùy chuyển thế giới, lấy đó làm thước đo, lấy năm dục trưởng dưỡng làm thước đo, những khen chê, được lợi hay bị tổn hại. Lấy những thứ đó làm thước đo xem tâm bình chưa, an chưa?
“Vui vì ta biết rõ
Ta có nhiều niềm vui
Những niềm vui chân chánh
Của những người hiền lương”
Niềm vui chán, niềm vui ngán, niềm vui buông bỏ, mong muốn, rất nhiều niềm vui. Vui vì ta biết rõ, ta có nhiều nhiều vui, niềm vui xả ly, viễn ly, xuất ly, niềm vui nhàm chán, buông bỏ, ưa thích, mong muốn, được tâm yên tịnh, yên lặng, chấm dứt mọi khổ đau.
“Những niềm vui chân chánh
Của những người hiền lương”
Đây là những niềm vui chân chánh, đúng pháp, niềm vui của thiện pháp, Thánh pháp. Ta rất vui vì khi tu ta thấy mình hiền hơn lúc trước, dễ thương hơn, thấy tâm ta nhẹ nhàng hơn, chịu lắng dịu, an tịnh, chấp nhận học pháp hơn. Vui vì ta biết từ bi, hỷ xả, biết thực tập, những tâm rộng lớn của bậc hiền Thánh, ta rất vui.
“Vui vì ta tẩm ướp
Niềm vui của xả ly
Niềm vui của an ổn
Niềm vui của an vui”
Trong bài “Giải thoát trí” có mấy câu nói về sơ thiền rất quan trọng. Cái hỷ vô lượng tâm là sự tu tập của sơ thiền, sự hướng tâm đi đến sơ thiền.
“Thiền thứ nhất hướng tâm rõ biết
Hiện tại thân tâm chẳng dục tham
Bình yên an tịnh trong người
Không như lúc bị dục tham làm phiền
Thân bức xúc không yên ổn được
Đứng đi ngồi nằm rất bất an
Giờ đây xả dục ly tham
Nên thân tâm được bình an yên lành”
Đây là niềm vui xả dục ly tham trong lúc mình tu tập.
“Quán hạnh phúc khi mình ly dục
Quán bình an lúc chẳng tham sân
Hân hoan sanh khởi trong lòng
Tâm vui thân lạc vì rời dục tham
Cho lạc hỷ này lan tỏa khắp
Toàn thân này lạc hỷ thấm nhuần
Như xà bông rửa chén dơ
Hỷ lạc này rửa dục nhơ trong lòng”
Tại sao có hỷ lạc này? Mình phải tác ý, xả dục ly tham ngay trong trạng thái lúc ngồi thiền không bị dục tham chi phối. “Quán hạnh phúc khi mình ly dục”, tức mình phải có tầm, có tứ, an lạc hạnh phúc, không dục, không tham, không ái, không bị ràng buộc, đang ngồi yên, an tịnh.
“Quán hạnh phúc khi mình ly dục
Quán bình an lúc chẳng tham sân
Khi ngồi đó, không tham, không sân, mình được bình an. Cũng như ngay lúc này mình ngồi đây, không dục, không sân ai, mình quán, làm sanh khởi lên hạnh phúc, bình an, cảm giác, cảm thọ sanh khởi lên.
Hân hoan sanh khởi trong lòng
Tâm vui thân lạc vì rời dục tham
Cho lạc hỷ này lan tỏa khắp
Toàn thân này lạc hỷ thấm nhuần
Chúng ta thấy không, pháp nào cũng vậy, sanh khởi lên, sau đó rộng mở ra, lan tỏa ra hết, mở rộng ra. Đầu tiên phải khơi gợi, làm cho nó phát khởi cảm thọ đó, cảm thọ hỷ, lạc, hân hoan sanh khởi lên, giống như mình mở vòi nước vậy. Mình vừa mở vòi nước ra, thì nước đã mở rồi, nhưng chưa lớn, mình sẽ mở thêm nữa nó sẽ tuôn trào ra. Cho nên:
Hân hoan sanh khởi trong lòng
Tâm vui thân lạc vì rời dục tham
Thân tâm gì cũng an lạc, cho hỷ lạc này lan tỏa khắp, lúc đầu nó khởi trong lồng ngực, để cho cảm thọ nó lan ra rồi mình tác ý cho hỷ lạc lan hết từ đảnh tóc cho đến gót chân. Nó lan, thấm ra mình thấy rõ ràng, cảm thọ lan ra cùng khắp, hỷ lạc, sự khinh an, nhẹ nhàng, hạnh phúc. Cho lạc hỷ này lan tỏa khắp, tức mình ra pháp lệnh, dẫn dắt, chủ động làm cho cảm thọ đó sung mãn, lan ra.
Như xà bông rửa chén dơ
Hỷ lạc này rửa dục nhơ trong lòng
Giống như xà bông, mình gội tới đâu, những thứ dơ trên người mình sẽ theo đó mà tan biến, hỷ lạc này cũng vậy, nó dội rửa những dục nhơ trong lòng, giống như vòi sen, tưới tới đâu thấm tới đó, từ đỉnh đầu tới gót chân thấm hết. Hỷ lạc cũng thấm giống như vậy, thấm hết toàn thân mình là hỷ lạc, bình an, hạnh phúc, hân hoan, hoan hỷ, vui vẻ, an lạc, lúc mình tác ý về hỷ lạc. Tác ý về hỷ vô lượng tâm phải như vậy, cho nên bài quán “hỷ vô lượng tâm” có thể lấy đoạn này vô được vì nó phù hợp, nhưng phải ngay đoạn này chứ không phải muốn để chỗ nào thì để.Cho hỷ lạc này thấm nhuần, lan tỏa khắp châu thân nên:
“Vui vì ta tẩm ướp
Niềm vui của xả ly
Niềm vui của an ổn
Niềm vui của an vui”
Thấy nội dung giống như không, chứ không phải muốn để cái nào thì để, cùng ý với nhau của sơ thiền, hỷ lạc, ly dục sân.
“Tâm vui này hiền thiện
Tâm vui này hiền hòa
Tâm vui này dễ mến
Tâm vui này dễ thương
Tâm vui này lan tỏa
Lan tràn khắp mọi nơi”
Tới chỗ đó mình phải ngưng lại để cho nó lan ra. Chúng ta thấy không, những câu đầu này là những câu khơi gợi, câu sau là câu mở rộng, lan tỏa.
Tâm vui này hiền thiện
Tâm vui này hiền hòa
Tâm vui này dễ mến
Tâm vui này dễ thương
Mình để cho tâm vui có mặt, lan tỏa ra, bây giờ tâm vui này lan tỏa, khi mình nói chữ lan tỏa kéo dài là mình thấy nó lan tỏa ra.
Tâm vui này lan tỏa
Lan tràn khắp mọi nơi
Mình phải ngưng cho kịp bung ra, sanh khởi chưa? Đại chúng có cảm thọ sanh khởi không? Mình để cho khoảng lặng để cảm thọ này lan tỏa ra, lan ra cùng khắp núi đồi, lan hết ra cả bản đồ hình chữ S, cả năm châu, bốn biển, mười phương, mình phải khéo tác ý.
“Tâm vui vẫy tay mời
Chúng sanh rời đau khổ”
Lúc đó chia ra cho chúng sanh, chúng sanh nhờ tâm vui này, tâm mong muốn để diệt khổ, chúng sanh này mới rời được đau khổ. Đây mới gọi là hỷ vô lượng tâm, thiền tâm hỷ, hoan hỷ trong pháp, trong sự tu, trong sự thực tập, thiền quán, trong sự mong muốn diệt tận tất cả khổ đau, chấm dứt tất cả sầu bi, ưu não.
“Tâm vui tràn thế giới
Tâm vui tràn nhân gian
Tâm vui vẻ nhẹ nhàng
Lan tràn mọi phương hướng”
V. Trải rộng tâm hỷ
Bây giờ mới trải rộng tâm hỷ ra:
“Đây là phương trước mặt
Rộng lớn và bao la
Hòa lẫn khắp phương này
Là tâm vui của ta”
Mình cho cảm thọ đó hòa quyện với hư không, không gian ở phía trước mặt, tận cùng chân trời, quý vị có làm được không? Mình cho cảm thọ vui đó hòa lẫn với không gian ở phía trước, trang trải ra, hòa quyện chung với không gian vô tận ngay chỗ tâm hỷ lạc. Như vậy mới gọi là trải tâm, trải rộng tâm hỷ, mình thực tập từ từ sẽ quen. Mình thấy rõ ràng tâm hỷ mình lan lan tới tận chân trời, cảm giác hỷ lạc, hân hoan của mình, cho nên:
“Hòa lẫn khắp phương này
Là tâm vui của ta
Tâm tràn đầy vui vẻ
Tâm tràn ngập hân hoan
Tâm khoan khoái nhẹ nhàng
Tâm ngập tràn hỷ lạc”
Tràn ngập khắp nơi là cảm giác hỷ lạc, hỷ thọ, hoan hỷ, an lạc, cho nên chúng ta mới biết, hồi đó mình mới đọc mình không biết tại sao trước, sau, phải, trái, trên, dưới, bề ngang, rồi lặp lại giống hệt nhau, chán, ngán… Không phải, đó là để cho thọ sanh, cảm giác, cảm xúc, cảm thọ của mình sanh khởi ra và chúng ta duy trì, an trú trong đó và lan tỏa rộng lớn ra.
Chúng ta thấy không, khi mình ngồi trải tâm thì khác, nhưng khi mình đứng hướng trải thì khác, trải tới đâu hỷ lạc tràn ngập, hòa lẫn không gian.
“Tâm tràn đầy vui vẻ
Tâm ngập tràn hân hoan
Tâm khoan khoái nhẹ nhàng
Tâm ngập tràn hỷ lạc
Đây là phương bên phải
Rộng lớn và bao la
Hòa lẫn khắp phương này
Là tâm vui của ta
Tâm vui này rộng lớn
Vô lượng và vô biên”
Thầy Thiện Tuệ đọc chữ này đúng ý, kéo dài, lan tỏa ra bên phải, bên trái, phía sau, trên dưới, cùng khắp không gian, lan tỏa ra. Mình duy trì cảm thọ đó càng lâu, sự tu tập của mình càng khéo chừng đó. Tức mỗi khi đọc những bài kệ này, thật sự tâm hỷ đang có mặt, đang lan tỏa, rộng lớn cùng khắp. Mình duy trì cái đó dài chừng nào, mình càng khéo léo, thiện xảo trong pháp quán chừng đó. Còn kêu đọc tâm hỷ mà mặt xụ xuống, bản thân mình không hỷ thì trải không được.
“Đây là phương bề ngang
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm vui này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la”
Đại chúng có nhớ khi Minh Thành hướng dẫn có khi đọc điều này ba lần, nhớ không ạ? Có khi đọc hai câu hoặc hết bốn câu cuối ba lần để duy trì và phát triển cảm thọ, cảm giác, cảm xúc đó.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm vui này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
Để cho nó tỏa rộng cùng khắp trời đất này, có khoảng lặng ngưng để cho nó lan tỏa, trải ra. Chứ mình nói tâm vui này tỏa rộng, khắp trời đất bao la, rồi đánh chuông cái boong, xả thiền, không được, phải cho nó lan tỏa. Đại chúng cùng đọc bài cuối này để trải tâm, mời đại chúng.
Tâm vui này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này
Tâm vui này tỏa rộng
Khắp trời đất bao la
Quý thầy, quý cô và đại chúng có thấy vui không, có thọ sanh khởi không? Kính chúc tất cả quý vị, tất cả các Phật tử xa gần an trú vào tâm hỷ này suốt ngày hôm nay, thấy được sự hỷ lạc, an lành, bình an trong Chánh pháp.