Soi Sáng Pháp Hành NIKAYA - Ái và Từ khác nhau như thế nào
10.1.2021 Bửu Liên. chiều.mp3
Thích Minh Thành
Phật tử A: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Thưa thầy khi con thiền tâm từ theo sự chỉ dẫn thầy cô, con thương xót bản thân con trước sau đó trải rộng tâm từ thương xót cho tất cả chúng sanh. Trong chúng sanh đó có người thân của con, là anh chị em, các con của con, khi thương xót đến các vong linh trong đó có mẹ con. Con cảm nhận được tâm thương xót đó là tâm ái, con kính bạch thầy chỉ dẫn con thêm về tâm từ và tâm ái để con nhiếp phục được tham ái này. Mỗi buổi tối con đọc sám hối diệt ngã và những bài kinh trong Nghi Thức Tu Học, mỗi lần con đọc như vậy thì phần cuối là hồi hướng công đức đến các con của con để các con hướng tâm vào dòng Pháp này tu tập vì con rất muốn như vậy. Khi con hồi hướng như vậy thì ý hành khởi lên "mình không làm gì có công đức mà tại sao lại hồi hướng công đức đến con mình", bản thân con thắc mắc ngay chỗ này, xin thầy chỉ dạy cho con hiểu rõ để hồi hướng cho các con của con hướng vào dòng Pháp này. Con cảm ơn thầy.
Sư Phụ: Kính thưa đại chúng, chúng ta phải trạch Pháp rõ ràng về ái và từ tâm. Tâm ái và tâm từ khác nhau như thế nào? Tâm ái là tâm luyến ái, tham ái, dính mắc, yêu thương có sự ràng buộc, đau khổ, nhớ nhung, ray rứt, lo lắng, sợ hãi trong đó, không muốn xa rời, đó là cảm giác dính mắc, thân ái đối với những người mình yêu thương, mình chỉ thương những người mình thương, mình chỉ yêu những người mình thấy dễ thương, những người có ân tình, huyết thống thân tộc. Tâm từ là từ sự thấy biết được sự vô minh, sự mê lầm, thấy biết được những dục tham, sân hận, si mê, bản ngã đưa đến khổ đau cho chúng ta. Thương chính mình mà thương theo ái là tìm đồ ăn ngon, đòi cái gì là mình phục vụ cái đó, mình nuông chiều nó bằng những tiện nghi, bằng những sự phục vụ cho những tham muốn, đó là tự thể ái, tức là yêu mình, thương mình nhưng thương trong si mê. Còn từ bi với chính mình là sau một ngày làm việc mệt mỏi, tối lạy sám hối diệt ngã, ngồi thiền quán chiếu khiển trách, chỉ trích tâm mình, rầy la tâm sân hận, bản ngã mà mình nhìn thấy được trong ngày, đó là từ bi với chính mình, như vậy gọi là "thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi". Tại sao lại nói chúng ta bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc? Vì mình thương sai cách, mình nghĩ là thương nhưng chính mình đang hại mình, làm dục tham tăng trưởng, vị ngọt phát triển như những con ruồi chết trong hũ mật, những con thiêu thân chết trong ánh đèn, những kẻ nghiệp ngập chết trong chất bột trắng. Cái thương trong vô minh, si mê không phải là thương mà là hại mình, còn từ tâm là từ sự thấy biết đúng đắn về bản chất của thân tâm, đời sống cho nên cái thương mà cứ ngồi nhớ chồng con, cha me rồi nước mắt chảy ra, những sự luyến ái của quá khứ, cảm thọ, hình bóng hiện ra là đang vận hành trong ái chứ không phải trải tâm từ. Những giọt nước mắt tràn ra khi nhớ lại cảm giác, hình bóng đó là ái. Còn từ tâm là thấy được vòng lẩn quẩn của đời sống này, bởi tham ái này, chính sự dính mắc, hệ lụy này mà mình đau khổ, sầu, bi, ưu, não. Chính tham ái sanh ra lo lắng, sợ hãi, khổ đau, nó là tai hại, là sự trói cột, chính tham ái này mà mình không thoát ra khỏi khổ đau. Vì tham ái này mà con mình khổ, cha mẹ mình khổ và mình hướng đến sự cắt đứt, tháo gỡ, đoạn tận tham ái, mình mong muốn tự thân và những người thân cắt được sợi dây tham ái bằng tình thương. Nếu không phân biệt được ái và từ thì cứ nghĩ trải tâm từ nhưng thực chất là trải tâm ái. Xin nhắc lại nếu ngồi mà nhớ lại những hình ảnh, cảm giác, nghĩ tưởng yêu thương, luyến ái, thân thiết của quá khứ rồi khóc lóc thì lúc đó không phải trải tâm từ, ngay cả đối với tình thầy trò cũng là ái. Nếu không đưa đến sự đoạn tận, nhiếp phục, ly tham thì mình ngồi đó nhớ thầy, nhớ huynh đệ, nhớ bạn bè đồng tu, anh chị em, vợ chồng, cha mẹ… những cái đó đều là ái, không phải tâm từ. Vì thế điều quan trọng trong sự tu tập phải phân biệt, giãn trạch được ái và từ, cũng như khi con đi rồi các huynh đệ trên Linh Quy nhớ nên tu không được vậy là thất bại, chừng nào có sư phụ mới tu còn không có sư phụ khỏi tu. Dù cho khóa tu tới con có chết thì quý vị cũng phải chứng nhập sự thật của vô thường, của ly tham, của tận ái. Phụ nữ thì tín tâm cũng mạnh và ái cũng rất nặng nhưng không phải nam giới không như vậy, chỉ là không biểu hiện ra ngoài nhiều. Vì vậy phải nhớ kĩ giáo Pháp của Đức Phật là sự thấy hiểu bản chất thân xác này là bất tịnh, tâm thức là sân si, vô minh, bản ngã, đời sống này là chồng chất của tổ hợp bất an, bất trắc, bất toại nguyện. Chính vì mình thấy điều đó nên khởi lên lòng xót thương sâu sắc và tràn ngập đối với tự thân, đối với tha nhân, không phải riêng đối với người thân mà một tình thương dào dạt, sung mãn tất cả mọi người, một lòng thương cảm vì mỗi người có nỗi khổ, có niềm đau riêng, cho nên hãy thông cảm cho nhau, đừng tạo thêm khổ nữa. Vì thế từ tâm của đạo Phật xuất phát từ chánh tri kiến chứ không phải xuất phát từ người thân quen của chúng ta.
Quý vị nghĩ mình không có công đức gì để hồi hướng, con sẽ nói công đức của quý vị. Khi thấy được thân xác này bất tịnh là công đức, thấy được bản chất đời sống này là đau khổ đó là công đức, thấy được sự hoạt động của tham sân si, bản ngã là công đức, phát khởi được cảm giác nhàm chán, ê chề, não nề, chán chê những thứ đó, muốn rời xa, khỏi thoát, xuất ly khỏi nó thì đó là đại công đức. Quý vị đang khơi được nguồn công đức trí tuệ trong thân tâm, những dòng nước mắt tuôn trào, những dòng cảm thọ dâng lên là khơi nguồn của công đức, trí tuệ, những dòng cảm thọ thấy ngao ngán là công đức, thấy nội tâm đầy rác bẩn và lậu hoặc là công đức, thấy được chính mình khi lúc xưa mình hướng ngoại tìm sắc, thanh, hương, vị, xúc bên ngoài, bây giờ con mắt mù trong vô lượng kiếp được trị liệu nên đã sáng mắt nội tâm thì đó là công đức. Đừng nghĩ rằng tu chỉ thấy khổ, ngao ngán, chính cái đó là đại công đức vì vô lượng kiếp vừa qua mình không thấy khổ, vô biên kiếp vừa qua mình không thấy bất tịnh, không thấy vô thường, và giờ khi nhận diện ngũ uẩn, nhận diện lậu hoặc mới bắt đầu thấy, con mắt trí tuệ bắt đầu mở ra, con mắt Pháp, đạo nhãn, Pháp nhãn, tuệ nhãn được sáng tỏ. Mình đem cái tâm công đức, con mắt công đức để nhìn những người thân thương, những người ân nghĩa, đừng nhìn bằng con mắt thịt, con mắt ái luyến, chấp thủ thường tình mà nhìn bằng thọ nhãn, pháp nhãn đã thọ nhận từ Đức Thế Tôn trong đạo tràng Nikāya, lấy con mắt đó nhìn vào người thân lệ sẽ tuôn rơi, thương một cách sâu sắc, hiểu một cách thấu đáo, cảm thông tận cùng, tha thứ một cách độ lượng bằng con mắt Pháp đó. Đó gọi là hồi hướng, nhìn nội tâm rác bẩn, cấu uế của mình thấy được nội tâm vô minh, tham ái, chấp thủ, đau khổ của người thân gọi là hồi hướng, hướng về họ. Những lời cầu nguyện đó tác động tâm ý để khắc ghi, cảm thông, thấu hiểu, tha thứ nhiều hơn nữa, kiên trì nhiều hơn, tạo nhiều phương tiện, cách thức hơn nữa bằng những lời nói của Chánh Pháp, của từ tâm, bằng những hành động của cảm thông, tha thứ và chuyển tải Pháp Luân đến cho họ trong ly nước, chén cơm, trong những khi quét nhà, trong những hành động, cử chỉ, ấm áp của chánh kiến, của từ tâm, đó là hồi hướng. Hồi hướng bằng lời nói, hồi hướng bằng hành động, hồi hướng bằng lòng thương mến và tình thương này sẽ khơi dậy. Ta khơi dậy trong ta một tình thương, một sự cảm thông với nỗi khổ và niềm đau của những người ân nghĩa, thân tình với chúng ta. Lời nói, hành vi, suy nghĩ, cử chỉ của mình sẽ là Chánh Pháp Luân, bánh xe Chánh Pháp vận chuyển trong gia đình của chúng ta bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng con mắt nhìn thấy sự thật này. "Con nguyện sẽ tưới tẩm những giọt nước mát cho người thân thương của con bằng con mắt trong sáng của Chánh Pháp này, con nguyện nhìn thấy nội tâm đau khổ của người thân con, biết họ cần gì, sân hận ra sao, cố chấp đến mức nào để con có thể bỏ qua, cảm thông, tha thứ và yêu thương họ bằng từ tâm của Chánh Pháp". Đó là ý nghĩa của hồi hướng thật sự của một hành giả Nikāya, không phải chỉ đọc những câu hồi hướng suông trên bàn Phật mà phải thật sự làm cho mình trào dâng cảm xúc, cảm thông chính tự thân, tự tâm mình và những người thân thương với mình. Sau khi bước xuống khỏi bàn Phật, những ngôn ngữ, hành vi, suy nghĩ, việc làm của mình đều hồi hướng, giúp đỡ cho họ, rồi quý vị sẽ thấy công năng và hiệu lực của sự hồi hướng này, rồi quý vị sẽ thấy sự vi diệu của sự hồi hướng này, rồi quý vị sẽ thấy thành quả màu nhiệm của sự hồi hướng này trong từng ngày, từng giờ, trong mỗi tuần, mỗi tháng sẽ diễn ra. Những cảm thọ an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng của quý vị sẽ lan tỏa thấm đượm, từ tâm của quý vị sẽ trang trải mát dịu cho thân tộc. Nhưng phải nhớ trải tâm từ mỗi ngày, suối nguồn bất tận của công đức sẽ giúp quý vị hóa giải những oan gia trái chủ, những món nợ, những nội kết, những sự gắt gỏng, cộc cằn, cau có, dòng nước mát của từ tâm này sẽ tưới tẩm thấm đượm muôn nơi.
Cô đã hiểu rõ được vấn đề chưa?
Phật tử A: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con đã hiểu rồi và sẽ thực tập thêm ạ. Con xin tri ân trên thầy đã giảng dạy cho con.
Phật tử B: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên quý sư phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con có câu hỏi về Pháp hành, để tăng sự nhàm chán thì quán bất tịnh, bộ xương, tứ đại, ba mươi hai thể trược theo lời sư phụ dạy. Trong một tuần con quán một đề mục như vậy có được không ạ, xin sư phụ chỉ dạy thêm.
Sư Phụ: Trong Tăng Chi Bộ kinh, tập II, bài kinh Nhàm Chán số 2, Đức Phật dạy có năm Pháp được tu tập làm cho sung mãn sẽ đưa đến đoạn diệt các lậu hoặc.
Năm pháp này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo trú quán bất tịnh trên thân, với tưởng ghê tởm đối với các món ăn, với tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, quán vô thường đối với tất cả hành, với tưởng về chết, nội tâm khéo an trú.
Năm pháp này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn diệt các lậu hoặc. (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, VII. Phẩm Tưởng, (X) Nhàm Chán (2))
Năm pháp quán này đưa đến diệt tận các lậu hoặc, thành tựu tâm bất động giải thoát của bậc Thánh vì thế cô quán bất tịnh rất tốt, đây là con đường của các bậc Thánh. Những Pháp này đưa đến nhất hướng nhàn chán, ly tham, đoạn tận hướng đến từ bỏ vì mình thấy thân này sạch sẽ, đẹp đẽ rồi mình hoan hỉ, đắm trước, dính chặt trong đó, cho nó là tôi là của tôi nhưng hỡi ôi, chỉ cần thân này bị cắn bởi vật sắc bén là máu mỡ, gân xương, tủy lộ ra, những bộ đồ lòng không khác gì những bộ đồ lòng của những hàng bán thịt ngoài chợ. Nhưng vì lớp da trơn láng bao phủ bên ngoài che lấp toàn bộ sự thật bất tịnh bên trong, sự thật bị phủ kín trong lớp da trơn láng này, chúng ta thì vô minh, si mê và khát ái. Như vậy quán bất tịnh là sự vạch trần, phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào bóng tối để thấy được bản chất bất tịnh của thể xác này thì lúc đó vô minh bị dập tắt, minh sanh, nhãn sanh, quang sanh, đau khổ được tận trừ, khát ái, tham ái, dục ái được chấm dứt từ trí tuệ thấy được bản chất sự thật. Quán bất tịnh là ngày đêm nhìn lại sự thật của thân mình vì mình sống với sự lòe loẹt bên ngoài, nếu thật sự là đẹp, sạch sẽ thì có bể, có tan hoại cũng là sạch sẽ, thơm tho nhưng đằng này lại là thứ kinh hãi, ghê tởm, khiếp đảm, bị tai nạn giao thông dập nát người, một đống bầy nhầy, nhìn thấy như vậy có người bị sang chấn tâm lý, ảnh hưởng thần kinh nhưng đó là sự thật. Sự quán chiếu chính là tiếp xúc sự thật, sống với sự thật, an trú trong sự thật càng lâu càng tốt, vì trong khi quán vô minh được dập tắt, minh sanh, trí sanh, trong khi quán bất tịnh tham ái được giảm thiểu hoặc chấm dứt ngay lúc quán.
Tại sao phải quán ghê tởm với các món ăn?
Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Mình còn cho ăn thì còn sanh trưởng tiếp tục, còn ưa thích, còn khoan khoái nặng nề trong món ăn thì dòng sanh tử còn tiếp nối vì sanh ra để ăn. Còn thích thú, say mê món ăn thì nhất định mình còn sanh trở lại để tìm kiếm món ăn, Đức Phật dạy quán đoàn thực ra sao?
Và này các Tỳ-kheo, đoàn thực cần phải nhận xét như thế nào?
Ví như, này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.
Rồi này các Tỳ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.
Rồi này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: "Ðồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng ta đều bị chết hại".
Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực, than khóc: "Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở đâu?"
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
-- Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
-- Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Đức Phật dạy chư Tỳ-kheo khi ăn phải quán như vậy để đoạn tâm ái đối với thức ăn, còn ái với bất kì cái gì thì không thể giải thoát khỏi ngũ uẩn, Đức Phật dạy cho các vị tu đạt đến cứu cánh giải thoát vì chư Tỳ-kheo thời xưa khi đi khất thực sẽ có thịt vì người ta ăn gì cúng đó, cho nên khi ăn thịt phải quán thịt đó là xác con mình để đoạn tận tâm tham ái, ham mê, thích thú, ham ăn, sự dạy dỗ của Đức Phật là con đường đoạn tận tham ái, ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, ái đoạn diệt nên tứ thực đoạn diệt.
Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Xúc thực,
Tư niệm thực,
Thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh.
Và này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Bốn loại đồ ăn này do ái làm nhân, do ái tập khởi, do ái tác sanh, do ái làm hiện hữu. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Đồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Cho nên tu mà nặng nề thức ăn là không thể giải thoát được vì thế không hoan hỉ với tất cả sự lòe loẹt của thế giới, nhìn nó bằng một đống đất, nước, gió, lửa, không hơn không kém những lâu đài xây trên cát, những căn nhà chòi của những đứa con nít. Đừng luyến ái căn nhà của mình, đừng luyến ái với hoàn cảnh xung quanh, không hoan hỉ với tất cả thế giới, những thứ huy hoàng tráng lệ đó là sào huyệt của tham sân si, là căn cứ địa của tham dục, tranh đấu, chiến tranh, giết hại, mưu mô. Càng đẹp đẽ chừng nào, càng to lớn chừng nào thì càng đấu tranh mãnh liệt chừng đó, càng nhiều dục vọng, đau khổ, nước mắt đầy mặt chừng đó. Phải nhàm chán với tất cả thế giới, quán vô thường với ngũ uẩn, xác thân bại hoại, cảm giác sanh diệt này, cứ chán ngán rồi cung phụng cho nó, đừng chạy lòng vòng hoài mà hãy ngao ngán và nhàm chán với sự sanh diệt vô thường của ngũ uẩn để đi đến đoạn tận các lậu hoặc, chấm dứt khổ đau.
Nội tâm khéo léo đặt vào sự quán tưởng mình sẽ chết, hãy nhớ mình sẽ chết, thường trực ghi nhớ niệm tử, nếu quên là sẽ sống lãng phí, sống vô tư, hoang phí, vô tích sự, không có giá trị. Mỗi khoảnh khắc, mỗi giờ phút phải sống có ý nghĩa, mình trân trọng sự sống, sử dụng nó một cách thông minh, tuyệt diệu, màu nhiệm trong sự tinh cần, tinh cấn, nỗ lực, nhiệt tâm, nóng bỏng hành trì, trong sự nhàm chán thoát ly, bất cứ lúc nào tấm thân này cũng có thể ngã xuống, không ngồi dậy nữa. Năm pháp này sẽ đưa chúng ta đoạn tận tất cả vô minh, khát ái và lậu hoặc, nếu chưa đoạn tận thì tối thiểu cũng thể nhập vào dòng trí, bắt đầu chấm dứt khổ đau.
Phật tử C: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng trong đạo tràng. Con kính thưa thầy chỉ dẫn cho con trải tâm từ vô lượng, con nghe bài trải tâm từ của thầy rồi thiền quán đến lúc cuối là trải tứ vô lượng tâm, thọ của con là ngọt ngào, từ mẫn, lan tỏa khắp cơ thể và không gian. Khi thầy nói rộng lớn và bao la thì thọ của con cũng tỏa rộng ra phương trước, phương ngang, tưởng về không gian rộng lớn bên ngoài, con trải đều cái thọ ngọt ngào khắp thân và hòa quyện không gian rộng lớn nhưng khi trải xuống phương dưới lại không được. Khi đó con không hình dung được, cho nên con không trải rộng ra phương dưới được, mong sư phụ hướng dẫn khi đó tưởng như thế nào, thức như thế nào để con tu tập.
Sư Phụ: Dạ thưa, mình thực tập tâm từ vô lượng cũng phải có thời gian, từ từ sẽ quen, nhất là những vị mới thì lúc đầu chưa thể trải vô lượng được. Về phương diện phía dưới thì quán xuyên thủng mặt đất, cũng như xung quanh mình có tường vách, phòng ốc thì quán tưởng tâm mình xuyên qua nhà cửa, nóc nhà, vượt qua tất cả sắc chướng ngại để vượt ra ngoài không gian. Vì Trái Đất là hình tròn nên dựa vào đó để quán chiếu xuyên ra khỏi lòng đất ra không gian bao la, không có giới hạn. Phía trên cũng vậy, quán xuyên qua chướng ngại vật, thức lúc đó rõ biết, quán tưởng xuyên qua mọi thứ và cuối cùng ra tới không gian bao la, vô tận. Nhưng chúng ta phải tập từ từ mới quen được, Đức Phật dạy mình tu tâm từ thành căn cứ địa vững chắc, kiên cố.
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, thời vị ấy rất khó bị phi nhân não hại.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, III. Gia Đình)
Tại sao tâm bực bội, hờn giận còn nhiều? Tại sao hở chút là khó chịu, hở chút là bực bội? Khi ngồi đây mà có âm thanh phía ngoài thì để ý cảm thọ sẽ động chuyển vì cảm thọ rất nhạy, sắc bén. Nó nhạy để tham sân si, bản ngã chứ không phải nhạy để từ bi, trí tuệ vì thế từ tâm cần được tu tập thật nhiều, rèn luyện cho đến nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng. Bất cứ khi nào muốn trải tâm từ là lập tức toàn thân thấm đượm ngọt ngào, dạt dào của từ ái cho nên cần thực tập thường xuyên và liên tục, duy trì dài lâu, không phải đợi đến thời khóa mới trải tâm từ mà bất cứ lúc nào cũng tăng trưởng, phát triển, nhất là những khi bực bội phải tập trung tất cả tâm ý để trải tâm từ vì chỉ cần lơi là sẽ bị giặc bắn chết. Một ngày mình chết trong cảm thọ giận bao nhiêu lần? Cho nên cần tu tập tâm từ thành căn cứ địa. Ngay cả ba mẹ mình cũng giận, con cháu cũng giận, đồng nghiệp cũng giận, bạn đồng tu cũng giận cho nên cái sân này rất khủng khiếp mà tu chút ít thì làm sao từ tâm vô lượng được? Một ngày ăn mấy cữ thì trải tâm từ cũng chừng đó lần, làm sao đi đến đâu cũng hiền lành, ngọt ngào, dễ thương, khả ái, một người như vậy rất ấm áp, mát mẻ, làm sao có ai kiếm chuyện gây sự với mình được, nếu có thì đó là oan gia trái chủ từ đời trước. Cho nên cũng tại mình mới cãi nhau chứ đừng đổ thừa người ta, vì thế lúc nào cũng phải dự trữ nước mát của tự nhiên, ngọt ngào, mát mẽ, thanh lương dào dạt. Từ tâm cũng như máy điều hòa trong những tòa nhà cao tầng, tất cả mọi người đều cần từ tâm và chính mình phải thường mở máy điều hòa của từ tâm cho hoạt động, mở bài Trải Tâm Từ sau đó chú tâm tập trung tâm ý lắng tai nghe Pháp, tác động tâm ý để cảm thọ của từ tâm được khơi dậy thì từ từ sẽ trải được tâm từ. Khi tu tập tâm từ rồi mọi người sẽ thấy phép màu xuất hiện trong gia đình, nếu không tu tập tâm từ sẽ rất khổ sở, bước vào nhà sẽ rất nặng nề, đi làm thể xác đã mệt vào nhà chứng kiến gương mặt nặng nề, nói bóng nói gió, bươi móc thì sẽ đổ vỡ. Vì thế Diệt Khổ Chi Đạo là giáo Pháp của Đức Phật, chính là tâm từ này nhằm chặn đứng đau khổ thô đầu tiên của chúng sanh, trên Linh Quy có ba vị mới xuất gia: Pháp Hòa, Pháp Sĩ, Pháp Tâm thì Minh Thành có đưa cái đãy lọc nước nhưng cái đó biểu hiện cho từ bi tâm, người xuất gia được trao cho đãy lọc nước nhưng chính nó là từ bi tâm, bất cứ đi đâu cũng phải đem theo và sử dụng nó, đó là tâm của Chư Phật, chỉ có tâm đó mới hóa giải được nghiệp chướng, khổ đau, tháo gỡ được nội kết là những sợi dây buộc chặt trong tâm. Phải thường xuyên tác ý liên tục tâm từ, phải tác động tâm ý thì Pháp mới sanh còn đợi đến khi vào tu mới tác ý thì làm sao tu tâm từ thành căn cứ địa được? Người nào trong gia đình mình giận hờn nhiều thì phải trải tâm từ đến họ càng nhiều, trải liên tục từ lúc gặp đến khi đi, miệng nói chuyện nhưng trong tâm thì trải tâm từ, chỉ cần bất cẩn trong lời nói sẽ gặp ngay oan gia trái chủ. Dùng tâm từ bao bọc như cầm tấm vải lụa trắng mịn màng choàng lên người họ, quý vị quán tâm từ cũng giống như vậy, bao trùm đối phương mà mình hay sân hận. Bình an, nhẹ nhàng, hỷ lạc, công đức, hạnh phúc chính là từ tâm.
Phật tử D: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Chúng con kính bạch trên thầy, bằng tất cả tình thương và từ tâm thầy đã tạo điều kiện cho đạo tràng chúng con có một ngày tu học, thầy ban những lời Pháp và giảng dạy để con mắt chúng con thoát cảnh mù lòa, thấy được Chánh Pháp, thực hành Chánh Pháp trong ngày hôm nay. Chúng con không biết lấy gì hơn để cảm ơn ân đức, tỏ lòng tri ân đến thầy, đạo tràng chúng con xin đảnh lễ thầy tam bái.
Sư Phụ: Từ nay về sau con xin tất cả đại chúng đừng lạy con mà lạy Tam Bảo Phật – Pháp – Tăng, nếu quý vị muốn con ở lâu với quý vị lâu dài để chia sẻ Pháp thì xin các Phật tử miễn lạy, các vị Hòa Thượng trưởng lão còn không cho lạy trong khi thọ mạng con không có bao nhiêu thì quý vị hãy nhớ đừng lạy con mà hãy lạy Tam Bảo. Chúng ta hướng tâm về Tam Bảo mỗi khi chúng ta tạ ơn.
Phật tử D: Chúng con xin ghi nhớ lời dạy của thầy, hôm nay chúng con được tỏ lòng biết ơn, tri ơn đến công đức của thầy đã tạo điều kiện tu tập cho đạo tràng chúng con. Chúng con xin khắc ghi trong tâm, nguyện tu học tinh tấn, xin hồi hướng công đức chúng con tu tập được cho thầy có được sức khỏe trụ thế dài lâu để có thể truyền bá Chánh Pháp cho đạo tràng Nikāya chúng con được nghe nhiều Chánh Pháp và tu tập được nhiều hơn.
./.
Thích Minh Thành
Phật tử A: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Thưa thầy khi con thiền tâm từ theo sự chỉ dẫn thầy cô, con thương xót bản thân con trước sau đó trải rộng tâm từ thương xót cho tất cả chúng sanh. Trong chúng sanh đó có người thân của con, là anh chị em, các con của con, khi thương xót đến các vong linh trong đó có mẹ con. Con cảm nhận được tâm thương xót đó là tâm ái, con kính bạch thầy chỉ dẫn con thêm về tâm từ và tâm ái để con nhiếp phục được tham ái này. Mỗi buổi tối con đọc sám hối diệt ngã và những bài kinh trong Nghi Thức Tu Học, mỗi lần con đọc như vậy thì phần cuối là hồi hướng công đức đến các con của con để các con hướng tâm vào dòng Pháp này tu tập vì con rất muốn như vậy. Khi con hồi hướng như vậy thì ý hành khởi lên "mình không làm gì có công đức mà tại sao lại hồi hướng công đức đến con mình", bản thân con thắc mắc ngay chỗ này, xin thầy chỉ dạy cho con hiểu rõ để hồi hướng cho các con của con hướng vào dòng Pháp này. Con cảm ơn thầy.
Sư Phụ: Kính thưa đại chúng, chúng ta phải trạch Pháp rõ ràng về ái và từ tâm. Tâm ái và tâm từ khác nhau như thế nào? Tâm ái là tâm luyến ái, tham ái, dính mắc, yêu thương có sự ràng buộc, đau khổ, nhớ nhung, ray rứt, lo lắng, sợ hãi trong đó, không muốn xa rời, đó là cảm giác dính mắc, thân ái đối với những người mình yêu thương, mình chỉ thương những người mình thương, mình chỉ yêu những người mình thấy dễ thương, những người có ân tình, huyết thống thân tộc. Tâm từ là từ sự thấy biết được sự vô minh, sự mê lầm, thấy biết được những dục tham, sân hận, si mê, bản ngã đưa đến khổ đau cho chúng ta. Thương chính mình mà thương theo ái là tìm đồ ăn ngon, đòi cái gì là mình phục vụ cái đó, mình nuông chiều nó bằng những tiện nghi, bằng những sự phục vụ cho những tham muốn, đó là tự thể ái, tức là yêu mình, thương mình nhưng thương trong si mê. Còn từ bi với chính mình là sau một ngày làm việc mệt mỏi, tối lạy sám hối diệt ngã, ngồi thiền quán chiếu khiển trách, chỉ trích tâm mình, rầy la tâm sân hận, bản ngã mà mình nhìn thấy được trong ngày, đó là từ bi với chính mình, như vậy gọi là "thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi". Tại sao lại nói chúng ta bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc? Vì mình thương sai cách, mình nghĩ là thương nhưng chính mình đang hại mình, làm dục tham tăng trưởng, vị ngọt phát triển như những con ruồi chết trong hũ mật, những con thiêu thân chết trong ánh đèn, những kẻ nghiệp ngập chết trong chất bột trắng. Cái thương trong vô minh, si mê không phải là thương mà là hại mình, còn từ tâm là từ sự thấy biết đúng đắn về bản chất của thân tâm, đời sống cho nên cái thương mà cứ ngồi nhớ chồng con, cha me rồi nước mắt chảy ra, những sự luyến ái của quá khứ, cảm thọ, hình bóng hiện ra là đang vận hành trong ái chứ không phải trải tâm từ. Những giọt nước mắt tràn ra khi nhớ lại cảm giác, hình bóng đó là ái. Còn từ tâm là thấy được vòng lẩn quẩn của đời sống này, bởi tham ái này, chính sự dính mắc, hệ lụy này mà mình đau khổ, sầu, bi, ưu, não. Chính tham ái sanh ra lo lắng, sợ hãi, khổ đau, nó là tai hại, là sự trói cột, chính tham ái này mà mình không thoát ra khỏi khổ đau. Vì tham ái này mà con mình khổ, cha mẹ mình khổ và mình hướng đến sự cắt đứt, tháo gỡ, đoạn tận tham ái, mình mong muốn tự thân và những người thân cắt được sợi dây tham ái bằng tình thương. Nếu không phân biệt được ái và từ thì cứ nghĩ trải tâm từ nhưng thực chất là trải tâm ái. Xin nhắc lại nếu ngồi mà nhớ lại những hình ảnh, cảm giác, nghĩ tưởng yêu thương, luyến ái, thân thiết của quá khứ rồi khóc lóc thì lúc đó không phải trải tâm từ, ngay cả đối với tình thầy trò cũng là ái. Nếu không đưa đến sự đoạn tận, nhiếp phục, ly tham thì mình ngồi đó nhớ thầy, nhớ huynh đệ, nhớ bạn bè đồng tu, anh chị em, vợ chồng, cha mẹ… những cái đó đều là ái, không phải tâm từ. Vì thế điều quan trọng trong sự tu tập phải phân biệt, giãn trạch được ái và từ, cũng như khi con đi rồi các huynh đệ trên Linh Quy nhớ nên tu không được vậy là thất bại, chừng nào có sư phụ mới tu còn không có sư phụ khỏi tu. Dù cho khóa tu tới con có chết thì quý vị cũng phải chứng nhập sự thật của vô thường, của ly tham, của tận ái. Phụ nữ thì tín tâm cũng mạnh và ái cũng rất nặng nhưng không phải nam giới không như vậy, chỉ là không biểu hiện ra ngoài nhiều. Vì vậy phải nhớ kĩ giáo Pháp của Đức Phật là sự thấy hiểu bản chất thân xác này là bất tịnh, tâm thức là sân si, vô minh, bản ngã, đời sống này là chồng chất của tổ hợp bất an, bất trắc, bất toại nguyện. Chính vì mình thấy điều đó nên khởi lên lòng xót thương sâu sắc và tràn ngập đối với tự thân, đối với tha nhân, không phải riêng đối với người thân mà một tình thương dào dạt, sung mãn tất cả mọi người, một lòng thương cảm vì mỗi người có nỗi khổ, có niềm đau riêng, cho nên hãy thông cảm cho nhau, đừng tạo thêm khổ nữa. Vì thế từ tâm của đạo Phật xuất phát từ chánh tri kiến chứ không phải xuất phát từ người thân quen của chúng ta.
Quý vị nghĩ mình không có công đức gì để hồi hướng, con sẽ nói công đức của quý vị. Khi thấy được thân xác này bất tịnh là công đức, thấy được bản chất đời sống này là đau khổ đó là công đức, thấy được sự hoạt động của tham sân si, bản ngã là công đức, phát khởi được cảm giác nhàm chán, ê chề, não nề, chán chê những thứ đó, muốn rời xa, khỏi thoát, xuất ly khỏi nó thì đó là đại công đức. Quý vị đang khơi được nguồn công đức trí tuệ trong thân tâm, những dòng nước mắt tuôn trào, những dòng cảm thọ dâng lên là khơi nguồn của công đức, trí tuệ, những dòng cảm thọ thấy ngao ngán là công đức, thấy nội tâm đầy rác bẩn và lậu hoặc là công đức, thấy được chính mình khi lúc xưa mình hướng ngoại tìm sắc, thanh, hương, vị, xúc bên ngoài, bây giờ con mắt mù trong vô lượng kiếp được trị liệu nên đã sáng mắt nội tâm thì đó là công đức. Đừng nghĩ rằng tu chỉ thấy khổ, ngao ngán, chính cái đó là đại công đức vì vô lượng kiếp vừa qua mình không thấy khổ, vô biên kiếp vừa qua mình không thấy bất tịnh, không thấy vô thường, và giờ khi nhận diện ngũ uẩn, nhận diện lậu hoặc mới bắt đầu thấy, con mắt trí tuệ bắt đầu mở ra, con mắt Pháp, đạo nhãn, Pháp nhãn, tuệ nhãn được sáng tỏ. Mình đem cái tâm công đức, con mắt công đức để nhìn những người thân thương, những người ân nghĩa, đừng nhìn bằng con mắt thịt, con mắt ái luyến, chấp thủ thường tình mà nhìn bằng thọ nhãn, pháp nhãn đã thọ nhận từ Đức Thế Tôn trong đạo tràng Nikāya, lấy con mắt đó nhìn vào người thân lệ sẽ tuôn rơi, thương một cách sâu sắc, hiểu một cách thấu đáo, cảm thông tận cùng, tha thứ một cách độ lượng bằng con mắt Pháp đó. Đó gọi là hồi hướng, nhìn nội tâm rác bẩn, cấu uế của mình thấy được nội tâm vô minh, tham ái, chấp thủ, đau khổ của người thân gọi là hồi hướng, hướng về họ. Những lời cầu nguyện đó tác động tâm ý để khắc ghi, cảm thông, thấu hiểu, tha thứ nhiều hơn nữa, kiên trì nhiều hơn, tạo nhiều phương tiện, cách thức hơn nữa bằng những lời nói của Chánh Pháp, của từ tâm, bằng những hành động của cảm thông, tha thứ và chuyển tải Pháp Luân đến cho họ trong ly nước, chén cơm, trong những khi quét nhà, trong những hành động, cử chỉ, ấm áp của chánh kiến, của từ tâm, đó là hồi hướng. Hồi hướng bằng lời nói, hồi hướng bằng hành động, hồi hướng bằng lòng thương mến và tình thương này sẽ khơi dậy. Ta khơi dậy trong ta một tình thương, một sự cảm thông với nỗi khổ và niềm đau của những người ân nghĩa, thân tình với chúng ta. Lời nói, hành vi, suy nghĩ, cử chỉ của mình sẽ là Chánh Pháp Luân, bánh xe Chánh Pháp vận chuyển trong gia đình của chúng ta bằng từ tâm, bằng tình thương, bằng con mắt nhìn thấy sự thật này. "Con nguyện sẽ tưới tẩm những giọt nước mát cho người thân thương của con bằng con mắt trong sáng của Chánh Pháp này, con nguyện nhìn thấy nội tâm đau khổ của người thân con, biết họ cần gì, sân hận ra sao, cố chấp đến mức nào để con có thể bỏ qua, cảm thông, tha thứ và yêu thương họ bằng từ tâm của Chánh Pháp". Đó là ý nghĩa của hồi hướng thật sự của một hành giả Nikāya, không phải chỉ đọc những câu hồi hướng suông trên bàn Phật mà phải thật sự làm cho mình trào dâng cảm xúc, cảm thông chính tự thân, tự tâm mình và những người thân thương với mình. Sau khi bước xuống khỏi bàn Phật, những ngôn ngữ, hành vi, suy nghĩ, việc làm của mình đều hồi hướng, giúp đỡ cho họ, rồi quý vị sẽ thấy công năng và hiệu lực của sự hồi hướng này, rồi quý vị sẽ thấy sự vi diệu của sự hồi hướng này, rồi quý vị sẽ thấy thành quả màu nhiệm của sự hồi hướng này trong từng ngày, từng giờ, trong mỗi tuần, mỗi tháng sẽ diễn ra. Những cảm thọ an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng của quý vị sẽ lan tỏa thấm đượm, từ tâm của quý vị sẽ trang trải mát dịu cho thân tộc. Nhưng phải nhớ trải tâm từ mỗi ngày, suối nguồn bất tận của công đức sẽ giúp quý vị hóa giải những oan gia trái chủ, những món nợ, những nội kết, những sự gắt gỏng, cộc cằn, cau có, dòng nước mát của từ tâm này sẽ tưới tẩm thấm đượm muôn nơi.
Cô đã hiểu rõ được vấn đề chưa?
Phật tử A: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con đã hiểu rồi và sẽ thực tập thêm ạ. Con xin tri ân trên thầy đã giảng dạy cho con.
Phật tử B: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên quý sư phụ, con kính bạch trên quý thầy, quý sư cô và đại chúng. Con có câu hỏi về Pháp hành, để tăng sự nhàm chán thì quán bất tịnh, bộ xương, tứ đại, ba mươi hai thể trược theo lời sư phụ dạy. Trong một tuần con quán một đề mục như vậy có được không ạ, xin sư phụ chỉ dạy thêm.
Sư Phụ: Trong Tăng Chi Bộ kinh, tập II, bài kinh Nhàm Chán số 2, Đức Phật dạy có năm Pháp được tu tập làm cho sung mãn sẽ đưa đến đoạn diệt các lậu hoặc.
Năm pháp này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn diệt các lậu hoặc. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo trú quán bất tịnh trên thân, với tưởng ghê tởm đối với các món ăn, với tưởng không hoan hỷ đối với tất cả thế giới, quán vô thường đối với tất cả hành, với tưởng về chết, nội tâm khéo an trú.
Năm pháp này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến đoạn diệt các lậu hoặc. (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, VII. Phẩm Tưởng, (X) Nhàm Chán (2))
Năm pháp quán này đưa đến diệt tận các lậu hoặc, thành tựu tâm bất động giải thoát của bậc Thánh vì thế cô quán bất tịnh rất tốt, đây là con đường của các bậc Thánh. Những Pháp này đưa đến nhất hướng nhàn chán, ly tham, đoạn tận hướng đến từ bỏ vì mình thấy thân này sạch sẽ, đẹp đẽ rồi mình hoan hỉ, đắm trước, dính chặt trong đó, cho nó là tôi là của tôi nhưng hỡi ôi, chỉ cần thân này bị cắn bởi vật sắc bén là máu mỡ, gân xương, tủy lộ ra, những bộ đồ lòng không khác gì những bộ đồ lòng của những hàng bán thịt ngoài chợ. Nhưng vì lớp da trơn láng bao phủ bên ngoài che lấp toàn bộ sự thật bất tịnh bên trong, sự thật bị phủ kín trong lớp da trơn láng này, chúng ta thì vô minh, si mê và khát ái. Như vậy quán bất tịnh là sự vạch trần, phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào bóng tối để thấy được bản chất bất tịnh của thể xác này thì lúc đó vô minh bị dập tắt, minh sanh, nhãn sanh, quang sanh, đau khổ được tận trừ, khát ái, tham ái, dục ái được chấm dứt từ trí tuệ thấy được bản chất sự thật. Quán bất tịnh là ngày đêm nhìn lại sự thật của thân mình vì mình sống với sự lòe loẹt bên ngoài, nếu thật sự là đẹp, sạch sẽ thì có bể, có tan hoại cũng là sạch sẽ, thơm tho nhưng đằng này lại là thứ kinh hãi, ghê tởm, khiếp đảm, bị tai nạn giao thông dập nát người, một đống bầy nhầy, nhìn thấy như vậy có người bị sang chấn tâm lý, ảnh hưởng thần kinh nhưng đó là sự thật. Sự quán chiếu chính là tiếp xúc sự thật, sống với sự thật, an trú trong sự thật càng lâu càng tốt, vì trong khi quán vô minh được dập tắt, minh sanh, trí sanh, trong khi quán bất tịnh tham ái được giảm thiểu hoặc chấm dứt ngay lúc quán.
Tại sao phải quán ghê tởm với các món ăn?
Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Mình còn cho ăn thì còn sanh trưởng tiếp tục, còn ưa thích, còn khoan khoái nặng nề trong món ăn thì dòng sanh tử còn tiếp nối vì sanh ra để ăn. Còn thích thú, say mê món ăn thì nhất định mình còn sanh trở lại để tìm kiếm món ăn, Đức Phật dạy quán đoàn thực ra sao?
Và này các Tỳ-kheo, đoàn thực cần phải nhận xét như thế nào?
Ví như, này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.
Rồi này các Tỳ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.
Rồi này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: "Ðồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng ta đều bị chết hại".
Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực, than khóc: "Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở đâu?"
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
-- Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
-- Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Ðại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Đức Phật dạy chư Tỳ-kheo khi ăn phải quán như vậy để đoạn tâm ái đối với thức ăn, còn ái với bất kì cái gì thì không thể giải thoát khỏi ngũ uẩn, Đức Phật dạy cho các vị tu đạt đến cứu cánh giải thoát vì chư Tỳ-kheo thời xưa khi đi khất thực sẽ có thịt vì người ta ăn gì cúng đó, cho nên khi ăn thịt phải quán thịt đó là xác con mình để đoạn tận tâm tham ái, ham mê, thích thú, ham ăn, sự dạy dỗ của Đức Phật là con đường đoạn tận tham ái, ái tập khởi nên tứ thực tập khởi, ái đoạn diệt nên tứ thực đoạn diệt.
Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?
Đoàn thực hoặc thô hoặc tế,
Xúc thực,
Tư niệm thực,
Thức thực.
Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh.
Và này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Bốn loại đồ ăn này do ái làm nhân, do ái tập khởi, do ái tác sanh, do ái làm hiện hữu. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Đồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)
Cho nên tu mà nặng nề thức ăn là không thể giải thoát được vì thế không hoan hỉ với tất cả sự lòe loẹt của thế giới, nhìn nó bằng một đống đất, nước, gió, lửa, không hơn không kém những lâu đài xây trên cát, những căn nhà chòi của những đứa con nít. Đừng luyến ái căn nhà của mình, đừng luyến ái với hoàn cảnh xung quanh, không hoan hỉ với tất cả thế giới, những thứ huy hoàng tráng lệ đó là sào huyệt của tham sân si, là căn cứ địa của tham dục, tranh đấu, chiến tranh, giết hại, mưu mô. Càng đẹp đẽ chừng nào, càng to lớn chừng nào thì càng đấu tranh mãnh liệt chừng đó, càng nhiều dục vọng, đau khổ, nước mắt đầy mặt chừng đó. Phải nhàm chán với tất cả thế giới, quán vô thường với ngũ uẩn, xác thân bại hoại, cảm giác sanh diệt này, cứ chán ngán rồi cung phụng cho nó, đừng chạy lòng vòng hoài mà hãy ngao ngán và nhàm chán với sự sanh diệt vô thường của ngũ uẩn để đi đến đoạn tận các lậu hoặc, chấm dứt khổ đau.
Nội tâm khéo léo đặt vào sự quán tưởng mình sẽ chết, hãy nhớ mình sẽ chết, thường trực ghi nhớ niệm tử, nếu quên là sẽ sống lãng phí, sống vô tư, hoang phí, vô tích sự, không có giá trị. Mỗi khoảnh khắc, mỗi giờ phút phải sống có ý nghĩa, mình trân trọng sự sống, sử dụng nó một cách thông minh, tuyệt diệu, màu nhiệm trong sự tinh cần, tinh cấn, nỗ lực, nhiệt tâm, nóng bỏng hành trì, trong sự nhàm chán thoát ly, bất cứ lúc nào tấm thân này cũng có thể ngã xuống, không ngồi dậy nữa. Năm pháp này sẽ đưa chúng ta đoạn tận tất cả vô minh, khát ái và lậu hoặc, nếu chưa đoạn tận thì tối thiểu cũng thể nhập vào dòng trí, bắt đầu chấm dứt khổ đau.
Phật tử C: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng trong đạo tràng. Con kính thưa thầy chỉ dẫn cho con trải tâm từ vô lượng, con nghe bài trải tâm từ của thầy rồi thiền quán đến lúc cuối là trải tứ vô lượng tâm, thọ của con là ngọt ngào, từ mẫn, lan tỏa khắp cơ thể và không gian. Khi thầy nói rộng lớn và bao la thì thọ của con cũng tỏa rộng ra phương trước, phương ngang, tưởng về không gian rộng lớn bên ngoài, con trải đều cái thọ ngọt ngào khắp thân và hòa quyện không gian rộng lớn nhưng khi trải xuống phương dưới lại không được. Khi đó con không hình dung được, cho nên con không trải rộng ra phương dưới được, mong sư phụ hướng dẫn khi đó tưởng như thế nào, thức như thế nào để con tu tập.
Sư Phụ: Dạ thưa, mình thực tập tâm từ vô lượng cũng phải có thời gian, từ từ sẽ quen, nhất là những vị mới thì lúc đầu chưa thể trải vô lượng được. Về phương diện phía dưới thì quán xuyên thủng mặt đất, cũng như xung quanh mình có tường vách, phòng ốc thì quán tưởng tâm mình xuyên qua nhà cửa, nóc nhà, vượt qua tất cả sắc chướng ngại để vượt ra ngoài không gian. Vì Trái Đất là hình tròn nên dựa vào đó để quán chiếu xuyên ra khỏi lòng đất ra không gian bao la, không có giới hạn. Phía trên cũng vậy, quán xuyên qua chướng ngại vật, thức lúc đó rõ biết, quán tưởng xuyên qua mọi thứ và cuối cùng ra tới không gian bao la, vô tận. Nhưng chúng ta phải tập từ từ mới quen được, Đức Phật dạy mình tu tâm từ thành căn cứ địa vững chắc, kiên cố.
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo nào tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, thời vị ấy rất khó bị phi nhân não hại.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ địa, an trú, tích lũy và khéo thực hiện". (Tương Ưng Bộ, Tập II – Thiên Nhân Duyên, Chương IX. Tương Ưng Thí Dụ, III. Gia Đình)
Tại sao tâm bực bội, hờn giận còn nhiều? Tại sao hở chút là khó chịu, hở chút là bực bội? Khi ngồi đây mà có âm thanh phía ngoài thì để ý cảm thọ sẽ động chuyển vì cảm thọ rất nhạy, sắc bén. Nó nhạy để tham sân si, bản ngã chứ không phải nhạy để từ bi, trí tuệ vì thế từ tâm cần được tu tập thật nhiều, rèn luyện cho đến nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng. Bất cứ khi nào muốn trải tâm từ là lập tức toàn thân thấm đượm ngọt ngào, dạt dào của từ ái cho nên cần thực tập thường xuyên và liên tục, duy trì dài lâu, không phải đợi đến thời khóa mới trải tâm từ mà bất cứ lúc nào cũng tăng trưởng, phát triển, nhất là những khi bực bội phải tập trung tất cả tâm ý để trải tâm từ vì chỉ cần lơi là sẽ bị giặc bắn chết. Một ngày mình chết trong cảm thọ giận bao nhiêu lần? Cho nên cần tu tập tâm từ thành căn cứ địa. Ngay cả ba mẹ mình cũng giận, con cháu cũng giận, đồng nghiệp cũng giận, bạn đồng tu cũng giận cho nên cái sân này rất khủng khiếp mà tu chút ít thì làm sao từ tâm vô lượng được? Một ngày ăn mấy cữ thì trải tâm từ cũng chừng đó lần, làm sao đi đến đâu cũng hiền lành, ngọt ngào, dễ thương, khả ái, một người như vậy rất ấm áp, mát mẻ, làm sao có ai kiếm chuyện gây sự với mình được, nếu có thì đó là oan gia trái chủ từ đời trước. Cho nên cũng tại mình mới cãi nhau chứ đừng đổ thừa người ta, vì thế lúc nào cũng phải dự trữ nước mát của tự nhiên, ngọt ngào, mát mẽ, thanh lương dào dạt. Từ tâm cũng như máy điều hòa trong những tòa nhà cao tầng, tất cả mọi người đều cần từ tâm và chính mình phải thường mở máy điều hòa của từ tâm cho hoạt động, mở bài Trải Tâm Từ sau đó chú tâm tập trung tâm ý lắng tai nghe Pháp, tác động tâm ý để cảm thọ của từ tâm được khơi dậy thì từ từ sẽ trải được tâm từ. Khi tu tập tâm từ rồi mọi người sẽ thấy phép màu xuất hiện trong gia đình, nếu không tu tập tâm từ sẽ rất khổ sở, bước vào nhà sẽ rất nặng nề, đi làm thể xác đã mệt vào nhà chứng kiến gương mặt nặng nề, nói bóng nói gió, bươi móc thì sẽ đổ vỡ. Vì thế Diệt Khổ Chi Đạo là giáo Pháp của Đức Phật, chính là tâm từ này nhằm chặn đứng đau khổ thô đầu tiên của chúng sanh, trên Linh Quy có ba vị mới xuất gia: Pháp Hòa, Pháp Sĩ, Pháp Tâm thì Minh Thành có đưa cái đãy lọc nước nhưng cái đó biểu hiện cho từ bi tâm, người xuất gia được trao cho đãy lọc nước nhưng chính nó là từ bi tâm, bất cứ đi đâu cũng phải đem theo và sử dụng nó, đó là tâm của Chư Phật, chỉ có tâm đó mới hóa giải được nghiệp chướng, khổ đau, tháo gỡ được nội kết là những sợi dây buộc chặt trong tâm. Phải thường xuyên tác ý liên tục tâm từ, phải tác động tâm ý thì Pháp mới sanh còn đợi đến khi vào tu mới tác ý thì làm sao tu tâm từ thành căn cứ địa được? Người nào trong gia đình mình giận hờn nhiều thì phải trải tâm từ đến họ càng nhiều, trải liên tục từ lúc gặp đến khi đi, miệng nói chuyện nhưng trong tâm thì trải tâm từ, chỉ cần bất cẩn trong lời nói sẽ gặp ngay oan gia trái chủ. Dùng tâm từ bao bọc như cầm tấm vải lụa trắng mịn màng choàng lên người họ, quý vị quán tâm từ cũng giống như vậy, bao trùm đối phương mà mình hay sân hận. Bình an, nhẹ nhàng, hỷ lạc, công đức, hạnh phúc chính là từ tâm.
Phật tử D: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Chúng con kính bạch trên thầy, bằng tất cả tình thương và từ tâm thầy đã tạo điều kiện cho đạo tràng chúng con có một ngày tu học, thầy ban những lời Pháp và giảng dạy để con mắt chúng con thoát cảnh mù lòa, thấy được Chánh Pháp, thực hành Chánh Pháp trong ngày hôm nay. Chúng con không biết lấy gì hơn để cảm ơn ân đức, tỏ lòng tri ân đến thầy, đạo tràng chúng con xin đảnh lễ thầy tam bái.
Sư Phụ: Từ nay về sau con xin tất cả đại chúng đừng lạy con mà lạy Tam Bảo Phật – Pháp – Tăng, nếu quý vị muốn con ở lâu với quý vị lâu dài để chia sẻ Pháp thì xin các Phật tử miễn lạy, các vị Hòa Thượng trưởng lão còn không cho lạy trong khi thọ mạng con không có bao nhiêu thì quý vị hãy nhớ đừng lạy con mà hãy lạy Tam Bảo. Chúng ta hướng tâm về Tam Bảo mỗi khi chúng ta tạ ơn.
Phật tử D: Chúng con xin ghi nhớ lời dạy của thầy, hôm nay chúng con được tỏ lòng biết ơn, tri ơn đến công đức của thầy đã tạo điều kiện tu tập cho đạo tràng chúng con. Chúng con xin khắc ghi trong tâm, nguyện tu học tinh tấn, xin hồi hướng công đức chúng con tu tập được cho thầy có được sức khỏe trụ thế dài lâu để có thể truyền bá Chánh Pháp cho đạo tràng Nikāya chúng con được nghe nhiều Chánh Pháp và tu tập được nhiều hơn.
./.