Sám Hối Diệt Ngã 10-Hợp Tan Sanh Diệt-Trình Pháp Lợi Ích & Hiệu Quả
Tinh Hoa Nikāya
Giảng Giải Bài Sám Hối Diệt Ngã 10
Hợp Tan Sanh Diệt
Trình Pháp Lợi Ích & Hiệu Quả
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hợp – tan, sanh – diệt PAGEREF _Toc178089917 \h 1
II. Sự nguy hại của bản ngã PAGEREF _Toc178089918 \h 5
I. Hợp – tan, sanh – diệt
Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm về bài sám hối diệt ngã.
Vỡ tan, tan vỡ đã bao lần,
Bao lần bản ngã hợp rồi tan,
Bao lần bản ngã sanh rồi diệt,
Bao lần bản ngã đã khóc than.
Khóc than, than khóc đã bao lần
Bao lần than khóc hỡi tâm mê,
Bao lần say đắm theo danh, lợi,
Bao lần gục ngã trước chức, quyền.
Ở đây chúng ta quán chiếu bốn chữ "hợp tan, sanh diệt" của bản ngã, cung đường lên Linh Quy Pháp Ấn có tảng đá ở bụi trúc vàng ngay chỗ thư viện, mỗi lần khách hay chư tôn đức đến thì Minh Thành đứng ở đó đón và mỗi lần các ngài về thì Minh Thành cũng đứng ở đó đưa cho nên Minh Thành đặt tên tảng đá đó là "Hợp Ly Thành" nghĩa là đá tan hợp, đá hợp tan, gặp nhau tại đó mà chia lìa cũng tại đó.
Trong sách nhà Nho có câu "ca ư tư, khóc ư tư" nghĩa là ca hát, vui cười ở đây, khóc lóc, đau buồn cũng ở đây, nếu chúng ta quán chiếu trong đời sống này sẽ thấy sự tan hợp này diễn ra thường xuyên và liên tục, sự sanh diệt cứ tái diễn, tiếp diễn liên miên không dứt. Đời sống chúng ta là một chuỗi dài của sanh diệt, diệt sanh, tan hợp, ở đây chỉ nêu lên bốn từ và hai tính chất hợp tan, sanh diệt, từ hai cái này phải hiểu ra nhiều khía cạnh khác nữa.
Mới cười đó rồi khóc đó, mới thương đó rồi ghét đó, mới tụ ở đó rồi tan cũng ở đó, cho nên người trí là người nhìn ra được sự việc chưa xảy ra, gọi là tri cơ, khi sắp tụ hội thì người ta đã biết sẽ tan rã, khi mới vừa sanh thì người trí biết rằng nó sẽ đi đến chỗ diệt tận, còn người mê là khi tụ thì ham thích, yêu thích trong sự tụ họp đó, luyến ái, hoan nghênh trong sự tụ họp đó, nắm giữ, chấp thủ, mê say trong sự tụ họp đó và khi sự tụ họp đó không còn nữa mà tan rã, vỡ nát, chia lìa thì người này đau khổ, khóc than.
Người mê sầu bi, khóc than, đau khổ, tâm mê luyến tiếc, đó là sự tan hợp, bèo dạt mây trôi, chỗ chúng ta ngồi gọi là Vân Thủy Đường, những từ đó đều lấy ý từ trong này ra, vân là mây, thủy là nước và chỗ này từ đầu Minh Thành dự tính là cho khách ở. Nếu ghi là nhà khách thì ai cũng hiểu nhưng Minh Thành ghi là Vân Thủy Đường nghĩa là chỗ mây trôi nước chảy, hết người này đến rồi đi. Thế Tôn nói trong thân này có nhiều cảm thọ, có cảm thọ vui, có cảm thọ khổ, có cảm thọ không vui không khổ và ngài ví dụ những cảm thọ đó là khách.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một nhà khách, ở đấy, từ phương Ðông có một người đến ở. Từ phương Tây, có người đến ở. Từ phương Bắc, có người đến ở. Từ phương Nam, có người đến ở. Những người Sát-đế-lỵ đến ở, những người Bà-la-môn đến ở, những người Phệ-xá (Vessa) đến ở, những người Thủ-đà (Suddà) đến ở. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, trong cái thân này có nhiều loại thọ sai biệt khởi lên. Lạc thọ khởi lên, khổ thọ khởi lên, bất khổ bất lạc thọ khởi lên.
Có những lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, IV. Khách Xá)
Người đen đến, người trắng đến, người mập đến, người ốm đến, người khỏe đến, người già đến rồi cuối cùng cũng đi hết cho nên đó chỉ là khách xá, là nhà trọ. Cũng vậy, hãy nhìn căn nhà mình ở chỉ là quán trọ thôi, hãy nhìn quê hương mà mình đang sinh sống chỉ là quán trọ thôi, đừng luyến ái, chấp thủ vào quê hương, cố hương của mình.
Đâu là quê hương thật sự của mình, đâu là nguyên quán thật sự của mình, đâu là địa chỉ thường trú thật sự của mình, đời sống này là bèo dạt mây trôi, nước chảy gió thoảng qua, trước đây mình ở đâu, bây giờ mình ở đâu và sau này mình ở đâu, làm gì có một địa chỉ thường trú thật sự, làm gì có một chỗ ở thật sự. Tất cả chỉ là sự hợp tan rồi lại tan hợp, lại qua rồi qua lại đã bao lần, đi đến rồi đến đi đã bao lần.
Nhìn sâu sắc vào thì thân này cũng chỉ là quán trọ, thọ; tưởng; hành; thức bám vào đây rồi si mê, vô minh, khát ái, chấp thủ trong thân này cho nên các duyên tụ hội vào thân này, tích tụ, tập hợp trong thân này, rồi tâm mê đó lại tiếp tục chấp thủ. Nhưng giờ mình dùng Thánh trí phá tâm mê đó, phải biết thân này là quán trọ, là nhà trọ, là phòng trọ rồi phải nhìn rộng ra trần thế này.
"Trần thế âu là cảnh tạm nương,
Cũng như chiếc quán dựa bên đường.
Người đời là khách dừng chân tạm,
Rồi vội lui về nẻo viễn phương".
(Thơ văn Phật Giáo – Ly Gia)
Dùng Thánh trí tuệ soi vào chỗ nào thì chỗ đó trở thành quán trọ, chỗ đó trở thành tạm bợ, tạm thời, cả trái đất địa cầu này như quán dựa bên đường, khách đi bên đường thấy mệt mỏi thì tìm quán trọ ngủ qua đêm để mai đi tiếp, cho nên trần thế này, thế gian này chỉ là quán trọ tạm nương thôi. Nẻo viễn phương là nẻo diệt tận, là sự đoạn diệt của hình hài này, sự tan vỡ, tan biến của thân xác này.
Làm gì có một quê hương thật sự, làm gì có một quốc độ, đất nước thật sự, làm gì có một hình hài thật sự kiên trú, thường trú, vững chắc. Nhìn sâu vào bên trong thì những cảm thọ cũng là khách, cảm thọ vui sướng hoặc buồn đau, những cảm thọ hài lòng hoặc không hài lòng, những cảm thọ dễ chịu hay không khó chịu, những cảm thọ bức xúc hay mát dịu thì tất cả mọi cảm thọ chỉ là khách qua đường.
Do duyên tiếp xúc mới sanh khởi ra các cảm thọ, do có thân tứ đại nên mới có sự tiếp xúc của sáu căn, mà cái thân này do tứ đại tác thành, là cái thân sanh diệt, cái thân lắp ráp, kết hợp, cấu tạo, như vậy bản chất của nó là vô thường, là sự lắp ráp thì không thể nào nó tạo ra cái thường còn, thường trú, thường hằng được. Tất cả những cảm thọ sanh khởi lên đều là khách qua đường, cứ sanh lên rồi diệt.
Trong kinh Tứ Niệm Xứ, Thế Tôn dạy mình quán thọ trên các cảm thọ, quán sự sanh diệt của các cảm thọ, nhìn sâu vào bên trong thì lớp thứ nhất mình thấy cảnh vật này là quán trọ, quê hương này là quán trọ, nhìn sâu hơn nữa thì thân xác này, hình hài, cơ thể này là quán trọ, sâu hơn nữa là do có thân xác tiếp xúc mới sanh ra các cảm thọ, các cảm thọ này là hợp tan, là sanh diệt, vô thường, là những người khách qua đường, dù cho cảm thọ đó là vui thích hay sân hận khổ đau thì nó cũng chỉ là mây trôi nước chảy thôi, dù giận dữ, đau khổ, ái luyến cỡ nào, dục vọng, bản ngã cỡ nào thì nó cũng chỉ là khói mây mà thôi, rồi cũng sẽ tan biến cho nên không nắm giữ, chấp thủ cảm xúc đó, không cho cảm xúc đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, phải thấy nó là sự hợp tan, sanh diệt. Những hình bóng, suy nghĩ tham, sân, si, ta đây, ngớ ngẩn, lú lẫn, si ám, vô minh này sanh khởi lên phải thấy nó là khách qua đường, mình không nhận nó là mình, phải đứng ở vị trí là chủ để nhìn khách.
Thánh trí tuệ là chủ những cảm thọ sanh diệt, hợp tan, còn những hình bóng nổi lên, những suy nghĩ xuất hiện là khách. Thánh trí tuệ nhìn thấy ngũ uẩn là chủ, cái nhìn thấy được sự sanh diệt, hợp tan là chủ, cái nhìn thấy được tính chất tập khởi và đoạn diệt, thấy được tính chất cấu tạo, vận hành trong sự ngụy biện của bản ngã, thấy được tính chất ngụy biện của những hình bóng, cảm giác, nhận thức đó, thấy được tính chất xấu xa của tâm thức này thì đó là chủ. Còn những cái xấu xa, xảo trá, ngụy biện đó là khách.
Không ai ngụy biện bằng bản ngã,
Không ai xảo trá bằng cái ta,
Không ai xấu xa bằng cái ngã,
Không ai tố mình bằng tự ta.
Thế Tôn không nói ra những cái này nhưng mình phải hiểu, Thế Tôn chỉ dùng từ khách xá mà thôi, những cảm thọ này chỉ là khách qua đường, sanh lên rồi diệt. Mình phải hiểu cái nhìn thấy được khách là chủ, tức là Thánh trí tuệ, là cái trí mà Thế Tôn truyền trao cho mình, nhận diện ngũ uẩn và thấy được các lậu hoặc, cái trí không bị các lậu hoặc lừa gạt, không bị cái xấu xa, ngụy biện xâm chiếm, áp đảo, trí tuệ rực sáng, chói sáng và tỏa sáng trong pháp thì trí đó là chủ. Có nhiều Phật tử hỏi rằng "tu mà bỏ hết ngũ uẩn thì tâm mình đạt được cái gì", đừng lo chuyện này. Cái gì biết được ngũ uẩn? Ngũ uẩn không thể biết được ngũ uẩn, con mắt không biết được con mắt mà là Thánh trí tuệ nhìn ra năm uẩn đó chính là chủ, thấy được sự sanh diệt là chủ.
II. Sự nguy hại của bản ngã
Không ai độc ác bằng bản ngã,
Không ai tị hiềm bằng cái tôi,
Không ai dối lừa bằng cái ngã,
Không ai hại mình bằng cái ta.
Mình phải có sự khéo léo, sự tỉnh thức của chánh niệm và tỉnh giác, nhận diện ngũ uẩn, nhận diện lậu hoặc chính là Thánh trí tuệ chủ, phải giữ được nó, không được để cho nó mờ. Khi mình tỉnh táo, tinh tấn thì nó tỏa sáng, còn khi lơ đễnh, buông lung phóng dật thì nó mất đi, lúc đó mình hòa nhập làm một với ngũ uẩn. Lúc tỉnh táo, nội tâm tỉnh giác, chánh niệm thì mình sẽ có trí tuệ nhìn ngũ uẩn nên ngũ uẩn sẽ trở thành đối tượng của mình, còn khi vô minh, buông lung phóng dật chạy theo sân si, bản ngã thì không còn trí tuệ đó nữa, mình với ngũ uẩn hòa làm một. Cái gì biết được tâm thức này là ngụy biện, xảo trá? Cái gì biết được tâm thức này là ác độc, bản ngã là tị hiềm, dối lừa? Chỉ có trí tuệ mới biết được điều đó, mình phải biết được tâm ngu mê này khóc than, than khóc không biết bao nhiêu lần, hợp tan không biết bao nhiêu lần, sanh diệt không biết bao nhiêu lần.
Ngày xưa mình ở nhà thì chỗ đó là nhà mình, còn xuất gia vào chùa thì cho đây là chùa tôi, thế là chấp thủ vào chỗ mình đang ở, có ai chê chùa mình hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của mình là mình sân si, bản ngã, hơn thua, ngày xưa thì "dám chê nhà tôi hả? Dám chê cha mẹ tôi hả?", còn giờ thì "dám chê chùa tôi hả? Dám chê thầy tôi hả?", tức giận, ngã mạn lên, thế gì có khác gì lúc chưa tu không? Chỉ có đổi tên, đổi chỗ ở, còn tính chất bên trong là một, chỉ đổi chỗ chứ không đổi tánh, chỉ đổi hình chứ không thay trí tuệ, chỉ đổi hoàn cảnh chứ tâm thức không đổi.
Tu như vậy rất uổng phí, phải thành tựu được Thánh trí tuệ, hướng đến sự viễn ly, từ bỏ, chấm dứt những sắc uẩn, sắc pháp vô thường, sanh diệt, tan hoại này, đó mới là sự tu tập của bậc Thánh đệ tử. Nói như vậy không có nghĩa là mình không nhận thức được tình nghĩa, chùa chiền, thầy tổ, ân đức, ngược lại đầy tràn nghĩa tình, ngập tràn ân đức nhưng không đi theo chiều hướng chấp thủ của phàm phu. Điều này đòi hỏi sự khéo léo, sâu sắc, chỉ cần lệch một chút là đi theo phàm phu hoặc lệch một chút là trở thành vô tình, vô nghĩa, không đi vào Thánh trí, đầy nghĩa tình, ân đức, đủ trí tuệ nhưng không chạy theo cái chấp thủ thường tình của thế gian, đó là chỗ sâu sắc.
Danh lợi và chức quyền có thể giết người, tiếng tăm một chút có thể làm người ta say đắm, say mê, cái lợi ích một chút đó có thể làm cho người ta điên đảo, điên cuồng, điên loạn, một chút địa vị, vị trí, chức quyền có thể phá hỏng cả cuộc đời tu, phá nát sự nghiệp đạo hạnh tu hành. Nếu không phải là người chân tu, không có chánh kiến mà được đặt vào vị trí nào đó là bị say đắm, say mê, ta đây trong đó, chìm đắm trong đó, chỉ có một tấm giấy mỏng đưa ra thể hiện chức này chức kia mà điên đảo trong đó, đó là sự gục ngã của người tu. Phải mong cầu tri kiến của bậc Thánh, hãy mong cầu trí tuệ của sự viễn ly, ly tham, hãy mong cầu trí tuệ của sự xuất ly, từ bỏ, hãy mong cầu cái tâm của sự đại bi vô lượng, thương xót tất cả hữu tình chúng sanh, đừng lấy cả mục đích của đời tu vào những danh lợi, chức quyền, cái đó Thái tử Tất-đạt-đa đã quăng bỏ và ra đi, cái đó Bồ-tát Sĩ-đạt-ta đã vứt đi và từ bỏ.
Không ai ngụy biện bằng bản ngã,
Không ai xảo trá bằng cái ta,
Không ai xấu xa bằng cái ngã,
Không ai tố mình bằng tự ta.
Không ai độc ác bằng bản ngã,
Không ai tị hiềm bằng cái tôi,
Không ai dối lừa bằng cái ngã,
Không ai hại mình bằng cái ta.
Những câu trên nêu lên đặc tính của tâm, sự xảo trá, xảo ngụy của tâm, chỉ có mắt Thánh mới nhìn ra được, còn mắt thường không thể nhìn ra nổi điều này. Làm gì sai trật mà có người nói là lập tức ngụy biện "tại cái này, tại cái kia, bị cái này, bị cái kia", vậy đó mà họ không biết cái gì đang ngụy biện, cái gì đang phản ứng, cái gì đang bào chữa. Chính là bản ngã, người ta mới nói chưa hết câu đã nhảy vào phản ứng, bịt miệng không cho người ta nói và cũng không muốn nghe người ta nói, cho nên biết nghe lỗi, nhìn lại và sửa lỗi là cả một công phu tu tập, đó là một nghệ thuật lắng nghe.
Người ta chỉ vừa góp ý, chưa nói hết câu đã nhảy vào chen ngang "đâu có đâu", tại cái này, tại người kia, đó là sự ngụy biện. Mình phải nghe người ta nói hết câu rồi vừa nghe vừa nhìn trở vào thân tâm, xét lại những lời nói đó sự thật có như vậy không, thân tâm mình có như vậy không, đó là cả một nghệ thuật chánh niệm và tỉnh giác để lắng nghe, nhìn sâu vào để kiểm tra, rà soát lại quá khứ xem người ta nói có hay không, đằng này nói chưa hết lời đã thanh minh, đổ lỗi lý do này lý do kia, đó là "Không ai ngụy biện bằng bản ngã, Không ai xảo trá bằng cái ta".
Chúa tể của sự gian trá chính là bản ngã, nó vô cùng khôn ngoan, khéo léo, gian trá, xảo ngụy để che đậy, phô trương, khoe khoang. Không ai tố cáo mình ngoài chính mình, đó là sự tố cáo lớn nhất, mình làm sai, làm lỗi thì tự thọ; tưởng; hành của mình sẽ tố cáo mình, nếu mình chịu lắng nghe thọ; tưởng; hành thật kĩ thì nó sẽ tố cáo mình, còn một người hướng ngoại không biết nhận diện ngũ uẩn thì rất khó thấy được điều này, nếu có thấy cũng chỉ phớt qua hoặc là họ che lấp, tìm những thú vui khác ở bên ngoài để tránh né sự tố cáo chính mình trong nội tâm, gọi là tòa án lương tâm cắn rứt, vì thế có những người lầm lỗi hoặc phạm tội giết người rồi phải ra đầu thú vì họ bị ám ảnh, họ bị toà án lương tâm tố cáo chính họ. Những ý hành nói liên tục, những hình bóng đó ám ảnh trong tâm, cho nên phương pháp sám hối rất hay, nói ra hết để giải tỏa những cảm thọ đó, những suy tư đó được giải tỏa, giải phóng, giải thoát ra.
Mỗi lần chúng ta quỳ lạy sám hối, giải bày xong thì tâm được nhẹ nhàng như trút được gánh nặng, giải phóng những cảm thọ bức xúc, nặng nề bên trong nên được thoải mái, nhẹ nhàng. Những sự bất minh, bất chánh trong tâm mình không ai biết nhưng mình biết, tâm mình biết nên không giấu được nó, chính nó sẽ tố cáo mình, cái đó trở thành trạo hối, tâm mình sẽ bị dao động và nó sẽ hối tiếc, hối hận.
Sự phát lồ sám hối là để bày tỏ, giải tỏa những cái đó, những sự bất minh, bất chánh trong tâm sẽ tố cáo mình làm mình không thể ngồi thiền được, không thể vào định được, tâm bất an, vì có khổ nên tâm không hỷ lạc, khinh an, cứ ngồi lại là những tội lỗi, những sự sai quấy hiện ra xử tội mình. Những bậc trong sạch, tâm thanh tịnh là không có lỗi lầm cho nên người ta ngồi thiền được bình an, tâm lạc, hỷ và được khinh an nên vào định dễ dàng, còn có những ác bất thiện pháp, những tội lỗi là ngồi thiền hoặc ở một mình, vào thất không được, những hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ cứ ám ảnh trong tâm, quậy phá, thúc giục, đòi hỏi bên trong phán xét mình ngay trên Bồ-đoàn, ngay lúc mình yên tịnh một mình, đó chính là sự trạo cử làm tâm không vào định được.
Những giới luật dù lớn hay nhỏ đều quan trọng vì nó sẽ giúp bảo hộ cho tâm, bảo hộ thân. Mình lỡ nói điều gì làm người kia đau lòng, buồn giận thì mình vào ngồi thiền hoặc vào phòng tâm cũng không được yên "tại sao mình lại nói như vậy làm người ta buồn giận rồi, bây giờ phải làm sao để người ta hết giận, bình an lại", mình cảm thấy khó chịu mà người bị nói cũng thấy khó chịu, đó là ý nghĩa của câu "Không ai tố mình bằng tự ta", chỉ với một câu nói thôi mà tâm đã có sự trạo hối, hối tiếc, hối hận, hối lỗi, ray rứt, bị dao động, bất an, chuyện nhỏ như vậy đã dao động nhiều đến thế thì phạm những lỗi lớn làm sao tâm an được, cho nên Đức Phật dạy mình những giới đó chính là để cho tâm được bình an, không bị tố cáo, có như vậy mới vào tâm an định được. Vì thế nếu ngồi thiền thấy khó khăn là do có quá nhiều ác bất thiện pháp trong tâm, tạo nghiệp quá nhiều nên khi ngồi thì những việc làm xấu ác đó hiện lên, nó sống lại tố cáo, phán xét mình, người này không thể đối diện với thân tâm chính họ cho nên họ không thể ngồi thiền, người ta thích làm công việc bên ngoài hơn là ngồi thiền.
Cái ngã, cái ta mau cúi xuống,
Cúi xuống cho mau cái ngã này,
Chính ngươi là kẻ làm ta khổ,
Ngươi nhận chìm ta trong tử sanh.
Ngươi dẫn ta đi trong biển khổ,
Dối lừa, gian trá, ngươi dối ta,
Ngươi dụ ta vào trong biển lửa,
Địa ngục, vì ngươi ta phải vào.
Những bài này hướng dẫn cách hạ gục bản ngã cũng như nêu lên những đặc tính gian trá, xảo ngụy, những tội lỗi, những tính chất tiêu cực của tâm thức bản ngã.
./.
Giảng Giải Bài Sám Hối Diệt Ngã 10
Hợp Tan Sanh Diệt
Trình Pháp Lợi Ích & Hiệu Quả
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Hợp – tan, sanh – diệt PAGEREF _Toc178089917 \h 1
II. Sự nguy hại của bản ngã PAGEREF _Toc178089918 \h 5
I. Hợp – tan, sanh – diệt
Kính thưa các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử, chúng ta tiếp tục chiêm nghiệm về bài sám hối diệt ngã.
Vỡ tan, tan vỡ đã bao lần,
Bao lần bản ngã hợp rồi tan,
Bao lần bản ngã sanh rồi diệt,
Bao lần bản ngã đã khóc than.
Khóc than, than khóc đã bao lần
Bao lần than khóc hỡi tâm mê,
Bao lần say đắm theo danh, lợi,
Bao lần gục ngã trước chức, quyền.
Ở đây chúng ta quán chiếu bốn chữ "hợp tan, sanh diệt" của bản ngã, cung đường lên Linh Quy Pháp Ấn có tảng đá ở bụi trúc vàng ngay chỗ thư viện, mỗi lần khách hay chư tôn đức đến thì Minh Thành đứng ở đó đón và mỗi lần các ngài về thì Minh Thành cũng đứng ở đó đưa cho nên Minh Thành đặt tên tảng đá đó là "Hợp Ly Thành" nghĩa là đá tan hợp, đá hợp tan, gặp nhau tại đó mà chia lìa cũng tại đó.
Trong sách nhà Nho có câu "ca ư tư, khóc ư tư" nghĩa là ca hát, vui cười ở đây, khóc lóc, đau buồn cũng ở đây, nếu chúng ta quán chiếu trong đời sống này sẽ thấy sự tan hợp này diễn ra thường xuyên và liên tục, sự sanh diệt cứ tái diễn, tiếp diễn liên miên không dứt. Đời sống chúng ta là một chuỗi dài của sanh diệt, diệt sanh, tan hợp, ở đây chỉ nêu lên bốn từ và hai tính chất hợp tan, sanh diệt, từ hai cái này phải hiểu ra nhiều khía cạnh khác nữa.
Mới cười đó rồi khóc đó, mới thương đó rồi ghét đó, mới tụ ở đó rồi tan cũng ở đó, cho nên người trí là người nhìn ra được sự việc chưa xảy ra, gọi là tri cơ, khi sắp tụ hội thì người ta đã biết sẽ tan rã, khi mới vừa sanh thì người trí biết rằng nó sẽ đi đến chỗ diệt tận, còn người mê là khi tụ thì ham thích, yêu thích trong sự tụ họp đó, luyến ái, hoan nghênh trong sự tụ họp đó, nắm giữ, chấp thủ, mê say trong sự tụ họp đó và khi sự tụ họp đó không còn nữa mà tan rã, vỡ nát, chia lìa thì người này đau khổ, khóc than.
Người mê sầu bi, khóc than, đau khổ, tâm mê luyến tiếc, đó là sự tan hợp, bèo dạt mây trôi, chỗ chúng ta ngồi gọi là Vân Thủy Đường, những từ đó đều lấy ý từ trong này ra, vân là mây, thủy là nước và chỗ này từ đầu Minh Thành dự tính là cho khách ở. Nếu ghi là nhà khách thì ai cũng hiểu nhưng Minh Thành ghi là Vân Thủy Đường nghĩa là chỗ mây trôi nước chảy, hết người này đến rồi đi. Thế Tôn nói trong thân này có nhiều cảm thọ, có cảm thọ vui, có cảm thọ khổ, có cảm thọ không vui không khổ và ngài ví dụ những cảm thọ đó là khách.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một nhà khách, ở đấy, từ phương Ðông có một người đến ở. Từ phương Tây, có người đến ở. Từ phương Bắc, có người đến ở. Từ phương Nam, có người đến ở. Những người Sát-đế-lỵ đến ở, những người Bà-la-môn đến ở, những người Phệ-xá (Vessa) đến ở, những người Thủ-đà (Suddà) đến ở. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, trong cái thân này có nhiều loại thọ sai biệt khởi lên. Lạc thọ khởi lên, khổ thọ khởi lên, bất khổ bất lạc thọ khởi lên.
Có những lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên". (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, IV. Khách Xá)
Người đen đến, người trắng đến, người mập đến, người ốm đến, người khỏe đến, người già đến rồi cuối cùng cũng đi hết cho nên đó chỉ là khách xá, là nhà trọ. Cũng vậy, hãy nhìn căn nhà mình ở chỉ là quán trọ thôi, hãy nhìn quê hương mà mình đang sinh sống chỉ là quán trọ thôi, đừng luyến ái, chấp thủ vào quê hương, cố hương của mình.
Đâu là quê hương thật sự của mình, đâu là nguyên quán thật sự của mình, đâu là địa chỉ thường trú thật sự của mình, đời sống này là bèo dạt mây trôi, nước chảy gió thoảng qua, trước đây mình ở đâu, bây giờ mình ở đâu và sau này mình ở đâu, làm gì có một địa chỉ thường trú thật sự, làm gì có một chỗ ở thật sự. Tất cả chỉ là sự hợp tan rồi lại tan hợp, lại qua rồi qua lại đã bao lần, đi đến rồi đến đi đã bao lần.
Nhìn sâu sắc vào thì thân này cũng chỉ là quán trọ, thọ; tưởng; hành; thức bám vào đây rồi si mê, vô minh, khát ái, chấp thủ trong thân này cho nên các duyên tụ hội vào thân này, tích tụ, tập hợp trong thân này, rồi tâm mê đó lại tiếp tục chấp thủ. Nhưng giờ mình dùng Thánh trí phá tâm mê đó, phải biết thân này là quán trọ, là nhà trọ, là phòng trọ rồi phải nhìn rộng ra trần thế này.
"Trần thế âu là cảnh tạm nương,
Cũng như chiếc quán dựa bên đường.
Người đời là khách dừng chân tạm,
Rồi vội lui về nẻo viễn phương".
(Thơ văn Phật Giáo – Ly Gia)
Dùng Thánh trí tuệ soi vào chỗ nào thì chỗ đó trở thành quán trọ, chỗ đó trở thành tạm bợ, tạm thời, cả trái đất địa cầu này như quán dựa bên đường, khách đi bên đường thấy mệt mỏi thì tìm quán trọ ngủ qua đêm để mai đi tiếp, cho nên trần thế này, thế gian này chỉ là quán trọ tạm nương thôi. Nẻo viễn phương là nẻo diệt tận, là sự đoạn diệt của hình hài này, sự tan vỡ, tan biến của thân xác này.
Làm gì có một quê hương thật sự, làm gì có một quốc độ, đất nước thật sự, làm gì có một hình hài thật sự kiên trú, thường trú, vững chắc. Nhìn sâu vào bên trong thì những cảm thọ cũng là khách, cảm thọ vui sướng hoặc buồn đau, những cảm thọ hài lòng hoặc không hài lòng, những cảm thọ dễ chịu hay không khó chịu, những cảm thọ bức xúc hay mát dịu thì tất cả mọi cảm thọ chỉ là khách qua đường.
Do duyên tiếp xúc mới sanh khởi ra các cảm thọ, do có thân tứ đại nên mới có sự tiếp xúc của sáu căn, mà cái thân này do tứ đại tác thành, là cái thân sanh diệt, cái thân lắp ráp, kết hợp, cấu tạo, như vậy bản chất của nó là vô thường, là sự lắp ráp thì không thể nào nó tạo ra cái thường còn, thường trú, thường hằng được. Tất cả những cảm thọ sanh khởi lên đều là khách qua đường, cứ sanh lên rồi diệt.
Trong kinh Tứ Niệm Xứ, Thế Tôn dạy mình quán thọ trên các cảm thọ, quán sự sanh diệt của các cảm thọ, nhìn sâu vào bên trong thì lớp thứ nhất mình thấy cảnh vật này là quán trọ, quê hương này là quán trọ, nhìn sâu hơn nữa thì thân xác này, hình hài, cơ thể này là quán trọ, sâu hơn nữa là do có thân xác tiếp xúc mới sanh ra các cảm thọ, các cảm thọ này là hợp tan, là sanh diệt, vô thường, là những người khách qua đường, dù cho cảm thọ đó là vui thích hay sân hận khổ đau thì nó cũng chỉ là mây trôi nước chảy thôi, dù giận dữ, đau khổ, ái luyến cỡ nào, dục vọng, bản ngã cỡ nào thì nó cũng chỉ là khói mây mà thôi, rồi cũng sẽ tan biến cho nên không nắm giữ, chấp thủ cảm xúc đó, không cho cảm xúc đó là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, phải thấy nó là sự hợp tan, sanh diệt. Những hình bóng, suy nghĩ tham, sân, si, ta đây, ngớ ngẩn, lú lẫn, si ám, vô minh này sanh khởi lên phải thấy nó là khách qua đường, mình không nhận nó là mình, phải đứng ở vị trí là chủ để nhìn khách.
Thánh trí tuệ là chủ những cảm thọ sanh diệt, hợp tan, còn những hình bóng nổi lên, những suy nghĩ xuất hiện là khách. Thánh trí tuệ nhìn thấy ngũ uẩn là chủ, cái nhìn thấy được sự sanh diệt, hợp tan là chủ, cái nhìn thấy được tính chất tập khởi và đoạn diệt, thấy được tính chất cấu tạo, vận hành trong sự ngụy biện của bản ngã, thấy được tính chất ngụy biện của những hình bóng, cảm giác, nhận thức đó, thấy được tính chất xấu xa của tâm thức này thì đó là chủ. Còn những cái xấu xa, xảo trá, ngụy biện đó là khách.
Không ai ngụy biện bằng bản ngã,
Không ai xảo trá bằng cái ta,
Không ai xấu xa bằng cái ngã,
Không ai tố mình bằng tự ta.
Thế Tôn không nói ra những cái này nhưng mình phải hiểu, Thế Tôn chỉ dùng từ khách xá mà thôi, những cảm thọ này chỉ là khách qua đường, sanh lên rồi diệt. Mình phải hiểu cái nhìn thấy được khách là chủ, tức là Thánh trí tuệ, là cái trí mà Thế Tôn truyền trao cho mình, nhận diện ngũ uẩn và thấy được các lậu hoặc, cái trí không bị các lậu hoặc lừa gạt, không bị cái xấu xa, ngụy biện xâm chiếm, áp đảo, trí tuệ rực sáng, chói sáng và tỏa sáng trong pháp thì trí đó là chủ. Có nhiều Phật tử hỏi rằng "tu mà bỏ hết ngũ uẩn thì tâm mình đạt được cái gì", đừng lo chuyện này. Cái gì biết được ngũ uẩn? Ngũ uẩn không thể biết được ngũ uẩn, con mắt không biết được con mắt mà là Thánh trí tuệ nhìn ra năm uẩn đó chính là chủ, thấy được sự sanh diệt là chủ.
II. Sự nguy hại của bản ngã
Không ai độc ác bằng bản ngã,
Không ai tị hiềm bằng cái tôi,
Không ai dối lừa bằng cái ngã,
Không ai hại mình bằng cái ta.
Mình phải có sự khéo léo, sự tỉnh thức của chánh niệm và tỉnh giác, nhận diện ngũ uẩn, nhận diện lậu hoặc chính là Thánh trí tuệ chủ, phải giữ được nó, không được để cho nó mờ. Khi mình tỉnh táo, tinh tấn thì nó tỏa sáng, còn khi lơ đễnh, buông lung phóng dật thì nó mất đi, lúc đó mình hòa nhập làm một với ngũ uẩn. Lúc tỉnh táo, nội tâm tỉnh giác, chánh niệm thì mình sẽ có trí tuệ nhìn ngũ uẩn nên ngũ uẩn sẽ trở thành đối tượng của mình, còn khi vô minh, buông lung phóng dật chạy theo sân si, bản ngã thì không còn trí tuệ đó nữa, mình với ngũ uẩn hòa làm một. Cái gì biết được tâm thức này là ngụy biện, xảo trá? Cái gì biết được tâm thức này là ác độc, bản ngã là tị hiềm, dối lừa? Chỉ có trí tuệ mới biết được điều đó, mình phải biết được tâm ngu mê này khóc than, than khóc không biết bao nhiêu lần, hợp tan không biết bao nhiêu lần, sanh diệt không biết bao nhiêu lần.
Ngày xưa mình ở nhà thì chỗ đó là nhà mình, còn xuất gia vào chùa thì cho đây là chùa tôi, thế là chấp thủ vào chỗ mình đang ở, có ai chê chùa mình hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của mình là mình sân si, bản ngã, hơn thua, ngày xưa thì "dám chê nhà tôi hả? Dám chê cha mẹ tôi hả?", còn giờ thì "dám chê chùa tôi hả? Dám chê thầy tôi hả?", tức giận, ngã mạn lên, thế gì có khác gì lúc chưa tu không? Chỉ có đổi tên, đổi chỗ ở, còn tính chất bên trong là một, chỉ đổi chỗ chứ không đổi tánh, chỉ đổi hình chứ không thay trí tuệ, chỉ đổi hoàn cảnh chứ tâm thức không đổi.
Tu như vậy rất uổng phí, phải thành tựu được Thánh trí tuệ, hướng đến sự viễn ly, từ bỏ, chấm dứt những sắc uẩn, sắc pháp vô thường, sanh diệt, tan hoại này, đó mới là sự tu tập của bậc Thánh đệ tử. Nói như vậy không có nghĩa là mình không nhận thức được tình nghĩa, chùa chiền, thầy tổ, ân đức, ngược lại đầy tràn nghĩa tình, ngập tràn ân đức nhưng không đi theo chiều hướng chấp thủ của phàm phu. Điều này đòi hỏi sự khéo léo, sâu sắc, chỉ cần lệch một chút là đi theo phàm phu hoặc lệch một chút là trở thành vô tình, vô nghĩa, không đi vào Thánh trí, đầy nghĩa tình, ân đức, đủ trí tuệ nhưng không chạy theo cái chấp thủ thường tình của thế gian, đó là chỗ sâu sắc.
Danh lợi và chức quyền có thể giết người, tiếng tăm một chút có thể làm người ta say đắm, say mê, cái lợi ích một chút đó có thể làm cho người ta điên đảo, điên cuồng, điên loạn, một chút địa vị, vị trí, chức quyền có thể phá hỏng cả cuộc đời tu, phá nát sự nghiệp đạo hạnh tu hành. Nếu không phải là người chân tu, không có chánh kiến mà được đặt vào vị trí nào đó là bị say đắm, say mê, ta đây trong đó, chìm đắm trong đó, chỉ có một tấm giấy mỏng đưa ra thể hiện chức này chức kia mà điên đảo trong đó, đó là sự gục ngã của người tu. Phải mong cầu tri kiến của bậc Thánh, hãy mong cầu trí tuệ của sự viễn ly, ly tham, hãy mong cầu trí tuệ của sự xuất ly, từ bỏ, hãy mong cầu cái tâm của sự đại bi vô lượng, thương xót tất cả hữu tình chúng sanh, đừng lấy cả mục đích của đời tu vào những danh lợi, chức quyền, cái đó Thái tử Tất-đạt-đa đã quăng bỏ và ra đi, cái đó Bồ-tát Sĩ-đạt-ta đã vứt đi và từ bỏ.
Không ai ngụy biện bằng bản ngã,
Không ai xảo trá bằng cái ta,
Không ai xấu xa bằng cái ngã,
Không ai tố mình bằng tự ta.
Không ai độc ác bằng bản ngã,
Không ai tị hiềm bằng cái tôi,
Không ai dối lừa bằng cái ngã,
Không ai hại mình bằng cái ta.
Những câu trên nêu lên đặc tính của tâm, sự xảo trá, xảo ngụy của tâm, chỉ có mắt Thánh mới nhìn ra được, còn mắt thường không thể nhìn ra nổi điều này. Làm gì sai trật mà có người nói là lập tức ngụy biện "tại cái này, tại cái kia, bị cái này, bị cái kia", vậy đó mà họ không biết cái gì đang ngụy biện, cái gì đang phản ứng, cái gì đang bào chữa. Chính là bản ngã, người ta mới nói chưa hết câu đã nhảy vào phản ứng, bịt miệng không cho người ta nói và cũng không muốn nghe người ta nói, cho nên biết nghe lỗi, nhìn lại và sửa lỗi là cả một công phu tu tập, đó là một nghệ thuật lắng nghe.
Người ta chỉ vừa góp ý, chưa nói hết câu đã nhảy vào chen ngang "đâu có đâu", tại cái này, tại người kia, đó là sự ngụy biện. Mình phải nghe người ta nói hết câu rồi vừa nghe vừa nhìn trở vào thân tâm, xét lại những lời nói đó sự thật có như vậy không, thân tâm mình có như vậy không, đó là cả một nghệ thuật chánh niệm và tỉnh giác để lắng nghe, nhìn sâu vào để kiểm tra, rà soát lại quá khứ xem người ta nói có hay không, đằng này nói chưa hết lời đã thanh minh, đổ lỗi lý do này lý do kia, đó là "Không ai ngụy biện bằng bản ngã, Không ai xảo trá bằng cái ta".
Chúa tể của sự gian trá chính là bản ngã, nó vô cùng khôn ngoan, khéo léo, gian trá, xảo ngụy để che đậy, phô trương, khoe khoang. Không ai tố cáo mình ngoài chính mình, đó là sự tố cáo lớn nhất, mình làm sai, làm lỗi thì tự thọ; tưởng; hành của mình sẽ tố cáo mình, nếu mình chịu lắng nghe thọ; tưởng; hành thật kĩ thì nó sẽ tố cáo mình, còn một người hướng ngoại không biết nhận diện ngũ uẩn thì rất khó thấy được điều này, nếu có thấy cũng chỉ phớt qua hoặc là họ che lấp, tìm những thú vui khác ở bên ngoài để tránh né sự tố cáo chính mình trong nội tâm, gọi là tòa án lương tâm cắn rứt, vì thế có những người lầm lỗi hoặc phạm tội giết người rồi phải ra đầu thú vì họ bị ám ảnh, họ bị toà án lương tâm tố cáo chính họ. Những ý hành nói liên tục, những hình bóng đó ám ảnh trong tâm, cho nên phương pháp sám hối rất hay, nói ra hết để giải tỏa những cảm thọ đó, những suy tư đó được giải tỏa, giải phóng, giải thoát ra.
Mỗi lần chúng ta quỳ lạy sám hối, giải bày xong thì tâm được nhẹ nhàng như trút được gánh nặng, giải phóng những cảm thọ bức xúc, nặng nề bên trong nên được thoải mái, nhẹ nhàng. Những sự bất minh, bất chánh trong tâm mình không ai biết nhưng mình biết, tâm mình biết nên không giấu được nó, chính nó sẽ tố cáo mình, cái đó trở thành trạo hối, tâm mình sẽ bị dao động và nó sẽ hối tiếc, hối hận.
Sự phát lồ sám hối là để bày tỏ, giải tỏa những cái đó, những sự bất minh, bất chánh trong tâm sẽ tố cáo mình làm mình không thể ngồi thiền được, không thể vào định được, tâm bất an, vì có khổ nên tâm không hỷ lạc, khinh an, cứ ngồi lại là những tội lỗi, những sự sai quấy hiện ra xử tội mình. Những bậc trong sạch, tâm thanh tịnh là không có lỗi lầm cho nên người ta ngồi thiền được bình an, tâm lạc, hỷ và được khinh an nên vào định dễ dàng, còn có những ác bất thiện pháp, những tội lỗi là ngồi thiền hoặc ở một mình, vào thất không được, những hình bóng, suy nghĩ, cảm thọ cứ ám ảnh trong tâm, quậy phá, thúc giục, đòi hỏi bên trong phán xét mình ngay trên Bồ-đoàn, ngay lúc mình yên tịnh một mình, đó chính là sự trạo cử làm tâm không vào định được.
Những giới luật dù lớn hay nhỏ đều quan trọng vì nó sẽ giúp bảo hộ cho tâm, bảo hộ thân. Mình lỡ nói điều gì làm người kia đau lòng, buồn giận thì mình vào ngồi thiền hoặc vào phòng tâm cũng không được yên "tại sao mình lại nói như vậy làm người ta buồn giận rồi, bây giờ phải làm sao để người ta hết giận, bình an lại", mình cảm thấy khó chịu mà người bị nói cũng thấy khó chịu, đó là ý nghĩa của câu "Không ai tố mình bằng tự ta", chỉ với một câu nói thôi mà tâm đã có sự trạo hối, hối tiếc, hối hận, hối lỗi, ray rứt, bị dao động, bất an, chuyện nhỏ như vậy đã dao động nhiều đến thế thì phạm những lỗi lớn làm sao tâm an được, cho nên Đức Phật dạy mình những giới đó chính là để cho tâm được bình an, không bị tố cáo, có như vậy mới vào tâm an định được. Vì thế nếu ngồi thiền thấy khó khăn là do có quá nhiều ác bất thiện pháp trong tâm, tạo nghiệp quá nhiều nên khi ngồi thì những việc làm xấu ác đó hiện lên, nó sống lại tố cáo, phán xét mình, người này không thể đối diện với thân tâm chính họ cho nên họ không thể ngồi thiền, người ta thích làm công việc bên ngoài hơn là ngồi thiền.
Cái ngã, cái ta mau cúi xuống,
Cúi xuống cho mau cái ngã này,
Chính ngươi là kẻ làm ta khổ,
Ngươi nhận chìm ta trong tử sanh.
Ngươi dẫn ta đi trong biển khổ,
Dối lừa, gian trá, ngươi dối ta,
Ngươi dụ ta vào trong biển lửa,
Địa ngục, vì ngươi ta phải vào.
Những bài này hướng dẫn cách hạ gục bản ngã cũng như nêu lên những đặc tính gian trá, xảo ngụy, những tội lỗi, những tính chất tiêu cực của tâm thức bản ngã.
./.