Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm Nikāya - Công Năng Cảm Giác Toàn Thân - Tại Sao Phải Nghe Pháp Cách Quán Diệt Ngã

2026-03-03 00:53:50
Pháp Đàm Nikāya

Công Năng Cảm Giác Toàn Thân

Tại Sao Phải Nghe Pháp?

Cách Quán Diệt Ngã

Thích Minh Thành

Ngày 24 tháng 10 năm 2023

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Công năng cảm giác toàn thân PAGEREF _Toc165709458 \h 1

II. Khéo nghe pháp PAGEREF _Toc165709459 \h 9

III. Quán diệt ngã PAGEREF _Toc165709460 \h 12

IV. Trình pháp PAGEREF _Toc165709461 \h 19

1. Sư cô Ấn Đức PAGEREF _Toc165709462 \h 19

2. Sư cô Huệ Quý PAGEREF _Toc165709463 \h 27

I. Công năng cảm giác toàn thân

Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Đức Thế Tôn, Thánh Pháp, chúng Tăng, Thánh Giới.

Bạch chư tôn đức và chư hiền trí, theo con được biết là có các vị sắp sửa xuống núi. Thời gian rất là quý báu được về Linh Quy để mà tu học, nên trước khi quy vị xuống núi, thì cho nhân duyên quý vị có thưa hỏi cái gì còn chưa được rõ trong pháp học, pháp hành, những thắc mắc chưa được sáng tỏ thì quý vị lên hỏi. Cũng như các vị khác cũng vậy, có gì cần hỏi thì chúng ta hỏi. Quý sư cô chuẩn bị xuống núi chúng ta có hỏi gì không?

Phật tử 1:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng các vị hiền trí. Con có điều trong việc pháp học, pháp hành con cũng còn thắc mắc. Là trong 3 pháp để mà thiền quán chiếu về ngũ uẩn, chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tĩnh giác. Ở phần cảm giác toàn thân thì con chưa được rõ, sau khi chánh niệm trước mặt qua cảm giác toàn thân, thì con không biết là mình sẽ quán cảm thọ từ đầu đến chân trong bao lâu và cảm giác thọ như thế nào. Có nghĩa là mình phải cảm giác từng điểm 1 rõ ràng, hay mình phải quán 1 lượt từ đầu đến chân, con chưa rõ nhiều lắm. A di đà Phật con kính bạch trên sư phụ.”

Cách cảm giác toàn thân sư cô có còn gì chưa hiểu không? “Cách cảm giác toàn thân”, có hiểu được các chữ đó không?

“Dạ kính bạch trên sư phụ, bình thường con thực hành thì cảm giác toàn thân con hiểu là con sẽ cảm nhận được từng nơi bộ phận mình từ đầu đến chân, qua mặt qua tai, qua vai ạ. Là cảm giác nóng hay hay lạnh, hay khó chịu như thế nào thì con thực tập như vậy ạ.”

Trong 3 pháp đó thì mình thực tập cảm giác toàn thân mình thực hành cái đó trước cũng được, vì cái đó là phần quan trọng nhất. Đầu tiên mình phải cảm nhận hơi thở, thì bài đó con có chia sẻ nhiều lắm, mình về chịu khó nghe lại. Có bài “Cảm Giác Toàn Thân”, bài “Công Năng, Lợi Ích Cảm Giác Toàn Thân”, hình như cũng 4, 5 bài. Mình chịu khó nghe kỹ những bài có chữ cảm giác, mình về nghe kỹ lại. Phần cảm giác toàn thân thì mình cảm nhận hơi thở trước, từ cảm nhận hơi thở sau đó mình mới cảm nhận cơ thể, từng bộ phận. Sau khi mình cảm nhận từng bộ phận từ đỉnh đầu cho tới gót chân rồi, thì mình cảm nhận tổng quát chung hết cả toàn thân, toàn bộ cơ thể.

Mình cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể như vậy đó, kết hợp với sự rõ biết trươc mặt, bên trong có cái gì sanh khởi lên, hình bóng gì, suy nghĩ gì, cảm giác gì ở trong tâm. Tại vì cái cảm giác của mình có 1 cái gọi là cảm giác của thân, và cảm giác của tâm, hai cái cảm thọ nó khác nhau. Thì mình phải để ý trong tâm có hình bóng, suy nghĩ, cảm giác gì. Thành ra lúc đầu mình thực tập cái pháp này sẽ rất là lọng cọng, rất là khó cho buổi ban đầu. Tại vì mình quen ngồi thiền là mình chỉ theo hơi thở thôi, hoặc mình chỉ biết dục khởi lên là mình không theo vậy thôi. Thường thường quen là người ta ngồi thiền như vậy. Còn bây giờ mình ngồi thiền theo cái pháp hành ngũ uẩn này, thì có rất là nhiều công việc để mình làm.

Chính vì vậy lúc đầu mình không có quen lắm, thì mình chịu khó 1 thời gian thì lần lần mình sẽ quen. Giống như mình lái xe đó, đâu phải mình chỉ làm 1 việc đâu. Con mắt mình có nhìn không? Chân tay mình có điều khiển cái thắng không? Con mắt mình phải quán sát trước sau. Nhiều khi trong đầu mình còn phải suy nghĩ cái này cái nọ, mình làm việc 1 lúc rất là nhiều thứ nhưng mình vẫn làm được mà. Thành ra khi mình tu cũng phải như vậy, sự tu phải đầy đủ sâu sắc nhiều phương diện, nhiều mặt, nhiều khía cạnh trong sự tu của mình. Như mình vừa cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, mình vừa rõ biết trước mặt, vừa tỉnh giác để thấy rõ bên trong nữa.

Rồi bây giờ các vị ngồi lâu đó, chúng ta thấy cái này quen chưa? Rồi từ từ sẽ quen thôi. Rồi bây giờ mình hỏi là ngồi cảm giác toàn thân như vậy bao lâu, thì không có thời gian quy định là bao lâu hết. Thành ra an trú cảm giác toàn thân thì thấy bên trong có những suy nghĩ bất thiện, thì mình đánh đuổi nó, đánh đuổi xong rồi mình quay lại cảm giác toàn thân. Rồi nó có những hình bóng về sân chẳng hạn, khi đánh đuổi cảm giác sân đó rồi thì mình quay về cảm giác toàn thân. Cảm giác toàn thân chính là căn nhà nội tâm của chúng ta, lúc nào quên cái đó tức là mình đi lang thang. Bất cứ khi nào xong rồi là mình trở về cái đó, thường xuyên luôn, bất cứ lúc nào không chỉ lúc ngồi thiền. Mà kể cả đi, đứng, làm việc, nói chuyện, ăn cơm, lúc nào mình cũng an trú trong cảm giác toàn thân hết.

Thì cái đó là căn nhà của mình mà mình không về thì mình đi đâu, đi lang thang. Cho nên có việc gì mà mình làm xong, rồi mình quay trở về cảm giác toàn thân. Thường xuyên ở, an trú trong cảm giác toàn thân, tức là cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể. Khi mình an trú được cảm giác toàn thân, rõ biết trước mặt, nội tâm tĩnh giác. Mình đã có 1 sự an tịnh lắng dịu, mình có 1 sự an trú rất là vững chắc, vững trú. Mà mình không có an trú 3 pháp đó thì con mắt mình sao ạ? Nó dòm qua dòm lại, không có an trú cái rõ biết trước mặt. Rồi cái cảm thọ của mình lúc đó mình quên rồi, mình không biết, không có cảm nhận cảm thọ toàn thân của mình. Còn ở bên trong cũng vậy, có cái gì là mình cắt hướng ngoại, cho nên mình không thấy được.

Cho nên mất 3 pháp đó tức là lúc đó mình chết, mình mê, mình mờ, mình buông lung phóng dật. Mà mình có 3 pháp đó là lúc đó mình sống, mình tỉnh, mình có sự nhiếp phục, chế ngự, có sự vững trú, vững chải, vững chắc. Chúng ta nhớ 3 pháp đó rất quan trọng, nhớ thực tập, đó là định tâm ở trên thân. Khi chúng ta ngồi, nằm, đứng, đi mà mình có an trú, thực tập, thực hành 3 pháp này, thì lúc đó mình có 1 sự an định ở trong tâm. Cũng như mình nói chuyện cũng vậy, mình không có an trú, không có thực hành cái này thì người ta nói là mình trả lời liền à, không biết đúng hay sai là phản ứng liền. Còn mình có an trú cảm giác toàn thân là mình thấy được liền, tại vì mình an trú toàn bộ cảm giác cơ thể, mà cái chỗ cái miệng giật giật là mình biết không? Ở dưới lồng ngực bốc bốc, dâng dâng lên thì mình biết không?

Bị vì tất cả bên trong cơ thể là mình đang kiểm soát, nếu có cài gì nhúc nhích, cục kịt, sụt sịt, manh nha là mình biết liền. Ngay chỗ đó mình nhiếp phục, an tịnh, lắng dịu, kêu nó: “Thôi mày an tịnh lắng dịu xuống, ngậm cái miệng lại”. Thấycaasi hình con khỉ người ta làm không? Con khỉ bịt miệng, bịt mắt, bịt tai lại. Khi mà mình nhìn thấy người đó có ánh mắt, cử chỉ gì đó lạ là bắt đầu mình quay lại liền, quay trở về cảm giác toàn thân liền. Mình quay trở về phòng hộ, coi chừng, bảo vệ, canh chừng. Cho nên có an trú cảm giác toàn thân là mình quay về căn nhà của mình, mình không bị gió táp mưa sa, không bị bảo, không bị lũ lụt cuốn trôi, không có bị ngoại cảnh tác động nhiều, dù cho có tác động cũng quay trở về liền.

Còn nếu mình không có an trú cảm giác toàn thân, thì chỉ cần gió thổi nhé cái thôi thì Đức Phật ví dụ như là cái bông gòn, được đem ra ngã bảy, ngã tám. Cầm 1 nắm ra bị gió thổi bay tứ tung hết trơn, hết trọi. Còn người có an trú cảm giác toàn thân thì giống như cái trụ bằng đá, chôn sâu xuống đất 4, 5 thước, vững trú. Cho nên có thực tập cảm giác toàn thân này nó tuyện vời lắm, nó rất là trầm tĩnh, bình tĩnh, điềm tĩnh, trầm lặng, an tịnh. Còn người không có thực tập cảm giác toàn thân, là nhìn vô biết liền. Lúc nào cũng lao chao lắc chắc, lúc nào cũng dao động, lăn xăn, tức là không có an trú trong cảm giác toàn thân. Còn ánh nhìn thì ngó qua, ngó lại, liếc tới, liếc lui. Cái thân thì đi tới đâu cũng ầm ầm, rầm rầm tới đó, lẹp xẹp, chưa đi đã nghe tiếng chân, không có an trú cảm giác toàn thân.

Còn tâm thì thôi, ngồi kế bên là nghe đủ nhức đầu, mệt, không có kiểm soát. Không có thực hành 3 pháo thì nó như vậy đó, sống vất vơ, vất vưởng, sống lơ thơ, lửng thửng, lang thang. Sống ma trơ, cái thây chết lê lếch chỗ này chỗ kia, khổ không? Cho nên an trú cảm giác toàn thân, là quay trở về căn nhà nội tâm của mình. Rất là bình an, rất là an ổn, rất là an tịnh, an lạc, an yên, an lành, an vui là cảm giác toàn thân. Khi mình trở về cảm giác toàn thân, có mặt trong căn nhà nội tâm của mình. Thì mình có cái gì dơ, cái gì hôi, cái bẩn, cấu nhiễm là mình thấy nhanh, phát hiện ra rất lẹ. Với 1 người tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm, chế đoạn tu trì, thì cái người này đâu có để yên cho đống phân này.

Bởi vì 1 người rất là kỹ, sạch sẽ, nhiệt tình lo lắng, mà cái người đó bước vào toilet mà rủi như có cả 1 đống phân, cái hậu quả của người đi trước để lại thì người này có làm lơ không? Người lặp tức sẽ dọn dẹp sạch sẽ. Thì cũng vậy, với 1 người nhiệt tâm, tinh cần trong sự tu học, thì người này khi thấy được sự ô nhiễm, cấu uế, rác bẩn, phân, nước tiểu ở trong căn nhà nội tâm của mình. Thì người này sẽ ra công, dụng hành, dốc sức, cố gắng phải làm, nỗ lực để làm. Như thế người này sẽ mau mau, lẹ lẹ, nhanh nhanh đi đến chỗ sạch sẽ, nhà sạch thì mát, mát mẻ, thanh lương. Cho nên 3 pháp này là đi theo mình suốt cuộc đời, không phải chỉ giờ ngồi thiền mới thực hành.

Cho nên trong khóa tu là con có nhắc các thầy các cô, là buổi họp nhóm thì phần này phải hướng dẫn thiệt là kỹ. Không biết các vị học nhóm thì học phần này có kỹ không? Ngồi im ru hết trơn vậy? Các vị mới về phải nắm thật kỹ, các vị lâu cũng phải nhớ thật kỹ, đừng có quên. Khi quên thì mình là cô hồn đó, nhớ mới là con người. Bây giờ muốn làm người hay làm cô hồn? Cảm giác toàn thân này hay lắm, vi diệu lắm. Bây giờ con nói thí dụ khi đi mà mình đi nhanh 1 chút thôi, lúc đó mình có cảm giác toàn thân không? Mình có là tự động lúc đó mình đạp thắng lại à. Khi mình nhìn con mắt nhìn người khác 1 cách không có thiện cảm, có những ánh nhìn con mà con không dám nhìn lại.

Tức là người đó không có thực tập cảm giác toàn thân, không có ánh nhìn thiện cảm đối với thầy, đối với các vị đồng phạm hạnh, đối với các bậc ân đức của mình. Cho nên trong cái phần niệm thân, khi đi, đứng, khi nói, khi im lặng, khi thức, khi ngủ, khi mặc áo Ăng-già-lê, khi ôm bình bát, khi đại tiểu tiện, tất cả những cái đó là sự biểu hiện của cảm giác toàn thân. Mà nếu không có an trú cảm giác toàn thân, không có an trú, Chánh niệm trong cảm giác toàn thân, thì những cái đó không có thực tập được suốt đời cho đến chết. Tại vì những cái đó là cái cành, cái ngọn, cái nhánh ở ngoài. Nếu mình cứ nhiếp phục cái ngọn, cái cành, cái nhánh thì lúc có người thì nhiếp phục được, lúc mình tinh tấn thì nhiếp phục được.

Mà lúc mình không có người, lúc mình giãi đãi, lúc mình không còn nghe pháp nữa mình mình trở về cái sự buông lung, buông rơi, buông trôi, buông thả. Còn nhớ 4 cái buông đó không? Nhớ không? Còn cái người mà có an trú cảm giác toàn thân thì lần lần thuần thục, thì cái sự nhiếp phục nó nằm ở trong cái cảm thọ, chứ không phải là ở trên mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ở ngoài nữa. Chỗ này chúng ta phân biệt kỹ nha, cái gốc và cái ngọn. Cái người mà họ làm hình thức, họ làm bề ngoài, khi có đông người thì họ khác, khi vắng người thì họ khác, khi ở 1 mình thì họ khác. Tại vì họ tu cái ngọn ở bên ngoài, còn người mà họ tu vào cái cảm thọ là tu từ gốc mà nó phát ra cái cành, cái ngọn, cái lá.

Cho nên tu được cái gốc này, thì tất cả những cái ngoài sẽ được nhiếp phục. Mà việc kết hợp gốc ngọn với nhau luôn, thì như vậy người này lần lần thuần thục trong các oai nghi, tế hạnh. Cho nên lần lần mới trở thành “diệu hạnh là đệ tử của Thế Tôn”. Tức thân hành, khẩu hành, ý hành, mọi cái cử chỉ hành của người này tới cía chỗ rất là thiện xảo, khéo léo, vi diệu, gọi là diệu hạnh. Rồi từ chỗ an trú cảm giác toàn thân, từ chỗ tĩnh giác Chánh niệm đối với những cái thọ, tưởng, hành ở bên trong, nó đâu có rời 3 pháp đâu. Khi nó trở về cảm giác toàn thân rồi, sau đó nội tâm tỉnh giác để mà dòm ngó vô trong.

Khi ở trong nhà thì mới nhìn cái nhà bếp được, khi ở trong nhà thì mới nhìn cái phòng khách, cầu tiêu được. Khi ở trong nhà thì mới vô cái kho coi được chứ ở ngoài đường thì làm sao mà coi, phải không? Cho nên sau khi an trú cảm giác toàn thân rồi là nội tâm tỉnh giác, quay vào bên trong. Còn người không có thực tập cái này, thì tâm hướng ngoại đi dòm người ta không. Thấy đúng thấy sai, thấy phải thấy quấy suốt cuộc đời, dù cho tu Chánh pháp đi nữa mà với cái tâm hướng ngoại, thì không có thành tựu được 1 cái gì hết. Sống với 1 cái tâm không có biết ơn, không có nhớ ơn, phản trắc, lật lộng, bản ngã, hư tưởng. Thì tu đến chết dù có thành được thì cũng thành được những ảo tưởng, bản ngã, tráo trở, phản trắc hết sức là nguy hiểm.

Mấy ngày nay con chiêm nghiệm về cái tâm phản trắc là con rung sợ, con rùng mình hết trơn. Xuyên suốt 3 ngày nay con chiêm nghiệm cái tâm phản trắc, con nhìn lại con nhìn lại tại sao mình là người tu bao nhiêu năm qua, nhìn lại cái tâm của mình, nhìn lại cái tâm của những người tại sao họ không thành công. Mà cái tâm này là khủng khiếp, nó giết chết hết những cái thuở ban đầu tốt đẹp của họ. Khi họ hiểu được chút pháp rồi thì bắt đầu cái tâm cao ngạo, ngạo mạn của họ khinh khi thầy của mình. Thì sau này mới có những cái bất kính, bất nghĩa, vô ơn. Rồi họ coi thường các bậc đồng phạm hạnh, bậc ân đức, mà mới ngày đầu tiên họ được cạo đầu, được dạy dỗ.

Cái tâm phản trắc, tráo trở, vô ơn là phải diệt tận để cho nó không còn 1 cái mầm mống nào nữa hết thì mới tu được. Cái tâm này nó quỷ quái, nghiệp súc, yêu ma dữ lắm, nó còn mầm mống trong đó thì có ngày nó cũng giết mình chết. Hễ nó chạm tới 1 cái là sân si lên, đụng tới 1 chút là bắt đầu bản ngã lên. Được hướng dẫn, chỉ dạy, góp ý 1 chút là tôi ta rồi, không có tu không có hành gì được hết trơn. Bên trong là 1 cái tâm kêu ngạo, ngạo mạn, ngã mạn. Cái này nó sâu sắc trong sự tu Nikāya của chúng ta, phải thiền quán nhiều về cái tâm này mới được. Biết bao nhiêu người rớt hết, mà bây giờ con nhìn thấy được là có những mầm mống chuẩn bị rơi rớt nữa, vì cái tâm đó nó đang có mặt, đang hiện hữu.

Chúng ta phải để ý kỹ, nội tâm phải tỉnh giác. Khi mình đã có được 1 cái tâm biết ơn và nhớ ơn, 1 cái tâm khiêm cung, khiêm hạ, cung kính pháp, cung kính Tam Bảo, vững trú, vững chắc, đầy đủ, sung mãn. Thì những cái tâm đó, không thể nào đánh ngã mình nổi. Khi mình không đầy đủ những cái tính tâm, kính tâm, tri ân, cảm ơn tâm không đầy đủ, không vững trụ, kiên trú vững chắc, thì cái kia đánh 1 cái là mình ngã liền. Giống như là “cây bờ dây giếng”, cái cây mọc kế bên bờ sông, sóng nó đánh riết mà lòi ra bộ rễ, đánh cái nữa là ngã xuống. Cái cây của mình là phải mọc trên núi, rễ phải sâu, gốc phải chắc, không có gió nào thổi mình được hết.

Có nhiều vị bằng cả 1 tâm từ con đến con nhắc nhở bằng cả 1 tình thương, mà đâu 8 năm con mới nhắc 1 lần mà nhắc cái đi luôn, thấy rất là thương. Nhiều khi mình thấy sự tu này nó không có đơn giản chút nào, rất là không đơn giản. Đem 1 cái bản ngã mà tu là không có tu được, chúng ta phải để ý kỹ cái nay ha. Bây giờ chúng ta hỏi tiếp đi ạ.

Phật tử 2:

“Dạ con Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính thưa quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng các bậc hiền trí. Dạ bạch thầy con có 1 câu hỏi là khi con nhận diện thân tâm của con, con cảm thấy con có hình bóng ở trong tâm, nhưng mà con không thấy có cảm giác cũng không có suynghĩ gì về nó hết. Thì như vậy là con có bị si hay không, hay là con chỉ nhìn thấy như vậy thôi.

-Thầy: Hình bóng đó là hình bóng bình thương hay có tham sân si gì không?

-Dạ không, thưa thầy. Nó chỉ hiện lên 1 hình bóng chẳng hạn như 1 cái nhà, 1 cái vật, hoặc 1 cái gương mặt nào đó vậy thôi.”

Thường thường khi có hình bóng sẽ có cảm thọ, sẽ có suy nghĩ. Có thể lúc đó độ tỉnh giác của mình không có sáng, thì mình tưởng đâu không có suy nghĩ, không có cảm giác. Do mình chú tâm vào hình bóng, thì mình chỉ thấy hình bóng thôi. Và những cái hình bóng hiện ra mà nó không phải là ác bất thiện pháp, thì mình cứ kệ nó, tự nó sanh rồi nó diệt, không cần để ý. Nếu mình bóng mà nó là tham, sân si, bản ngã và ác bất thiện pháp thì mình mới diệt. Nó nếu nó là hình bóng bình thường khởi lên thì thôi kệ nó, mình biết nó như vậy rồi thôi. Cũng giống như là có người đi ngang trước mắt mình, mà người quen thì mình mới lại mình nói chuyện, mình mới chào hỏi, còn người dưng thì mình có cần phải lại chào không?

Nếu cái chỗ du lịch mà cả trăm cả ngàn người, mà người nào mình cũng chào hết thì không biết mình sao. Cứ để nó qua, như làn gió thoảng qua thôi, nếu làn gió đó là làn gió độc, gió bão thì phải tránh. Nếu mà làn gió đó là nó có cát, có bụi, có những ô nhiễm trong đó thì mình phải né, phải trốn. Con nhớ hình như là chúng ta có rất nhiều câu hỏi, để con chờ gặp thầy con hỏi. Mà đến khi con mời thì con thấy ở dưới là ngồi thiền định hết, ngộ vậy đó.

II. Khéo nghe pháp

Phật tử 3:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính bạch trên sư phụ, kính bạch chư tôn thiền đức Tăng Ni, kính thưa các bậc hiền trí. Trong con ở dưới núi con hay vọng tưởng, thưa sư phụ con có rất nhiều vấn đề. Khi con lên núi thì con cố gắng cắt hết duyên không có liên lạc gì, nhưng mà ví dụ trong đọc pháp bảo con thấy những lời kinh rất là hay, con đọc rất là chú tâm, nhưng mà có đôi lúc có những tâm tư không có là bất thiện lắm, chỉ là nhẹ. Nhưng mà thoáng qua 1 cái là con 1 câu kinh rất là hay, con sựt lại thì đã qua rồi. Con tác ý liên tục, đã vô là phải chú tâm, nhưng mà vẫn có vẫn có những tư tưởng không kéo dài, nhưng có 1 thoáng trong con.

Dạ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con xin sư phụ giải bày cho con. Làm sao để mà mình chú tâm không có những tư tưởng vào trong cái pháp hành của mình. ”

Cái tâm mình nó đã bị che mờ, yếu ớt trí tuệ tác thành, mù lòa tác thành, không mắt tác thành, vô trí là do 5 cái thứ che đậy. Trong lòng mình có muốn, có khó chịu cái gì đó. Trong lòng, trong tâm, trong thân có sự dao động, bồn chồn. Trong tâm mình có sự ray rắt vấn đế gì đó, cuối cùng mình có sự nghi ngờ về pháp. Năm triền cái là gì? “Tham lam, sân hận, trạo cử, hôn trầm và nghi ngờ”. Có 1 cái nữa là cái lờ đờ, không có tỉnh, buồn ngủ. Thì năm cái này nghĩa là nó che mờ tâm, khi còn có 5 cái này mà nó còn mạnh, thì mình học pháp mình không có đi vào chỗ sâu sắc của pháp được. Cho nên mình muốn cái tâm mình được trọn vẹn trong cái pháp, thì mình phải nỗ lực diệt 5 triền cái. Bình thường hàng ngày, hàng giờ mình phải nỗ lực diệt nó.

Đó là chỗ sâu sắc, còn ngay chỗ hiện tại là mình phải tập trung tâm ý. Cho nên mỗi lần Đức Thế Tôn nói câu: “Này các Tỳ-kheo, ta sẽ giảng các ông hãy lắng nghe và suy nghiệm kỹ hay là khéo léo tác ý”. Lắng nghe là tập trung tâm ý trong khi nghe pháp, tập trung tâm ý, lắng tai nghe pháp, thì mình phải tập. Kính thưa chư tôn đức và chư vị hiền trí, là con tập cái nghe là 10 năm về pháp tu “nhĩ căn viên thông”. Hồi xưa khi con chưa vào Nikāya thì con tập cái nghe 15 năm. Con nên con về mà con nghe các vị nói suốt 3, 4 tiếng đồng hồ, mà từng chữ từng câu là con không có bỏ sót. Mà lâu lâu cũng có 1 chút gì đó thoáng qua 1 cái rất là nhanh, nhưng mà thường thường là nghe được rất là đầy đủ.

Chính vì vậy mà khi mình nghe kinh, nghe đọc pháp bảo, nghe thiền quán là mình không có bỏ sót. Thì cái nghe đó nó ngấm vào trong suy tư, ngấm vào trong cái suy tư như vậy, cái tư duy, nghiền ngẫm như vậy, thì có 1 sự chuyển hóa ở trong cái nhận thức. Thành ra có người nghĩ là nghe pháp không phải tu, làm gì nghe giảng pháp hoài vậy. Như vậy mình nghĩ tu là cái gì? Con nhập thất là 1 ngày con nghe tác ý 8 tiếng, suốt 2 tháng, như vậy đó là con không có tu. Cái tu của mình có 2 phần là chỉ và quán. Một người mà không có tu chỉ được, không có tu định được thì mình cho họ tu quán. Bị vì 1 người mà họ không có ngồi yên được mà mình bắt họ ngồi yên, như vậy thì 3 bữa là họ đi xuống núi rồi.

Mà tại sao khóa tu của mình là gần 200 người, mà cho tới những ngày cuối cũng mà vẫn còn 80% phải không? Bởi vì sao? Bởi mình phải coi hội chúng đó, căn cơ đó, trình độ đó, sở thích đó thì họ phù hợp, học thích là được nghe pháp, được học pháp và được tác ý cho họ trong những bài thiền quán. Nếu chúng ta mà đi ra cổng trăng chúng ta ngồi im ru, đến hết giờ đánh cái “boong” là xong thì chúng ta được những cảm xúc dạt dào, thấm thía, hoan hỉ như vậy không? Cho nên cái tu có mình có 2 phần mà nói gọn là tu tịnh chỉ, và tu quán chiếu. Bây giờ người ta không tu tịnh chỉ được, thì cho người ta tu quán chiếu. Thành ra cái tâm mình nhiều khi nó khổ lắm, cái tâm mình cái nào nó cũng chống đối hết trơn.

Nhiều khi chống đối với sư phụ, với bậc đạo sư luôn, nó khổ như vậy đó. Có những người lên đây nói: “Làm gì cho nghe pháp quài vậy, làm gì nghe quài vậy?” Rồi họ đi luôn rồi. Thật ra thật khó mà chia sẻ được với những cái tâm không có nhu nhuyến, mềm mại, không có khiêm cung, không có kính pháp. Cho nên 4 chữ “đa văn Thánh đệ tử”, chúng ta phải nhớ kỹ. “Đa văn” là nghe nhiều, nghe kinh tạng Nikāya, nghe về Thánh trí tuệ, Thánh pháp, Thánh trí, Thánh đạo. Bây giờ chúng ta không làm được cái thượng căn thì chúng ta làm trung căn, nếu chúng ta mà dẹp cái trung căn này luôn thì làm sao chúng ta tu.

Như bây giờ bản thân con cũng vậy, kêu mà ngồi luôn, ngồi im ra hoài cũng ngồi không nỗi nữa. Con phải nghe pháp, phải tác ý, phải thiền quán, chính vì vậy mà căn cơ chúng ta bây giờ rất là hợp với vấn đề thiền quán, chúng ta có thấy như vậy không? Thành ra chúng ta có 3 cái chúng ta tu đó là văn, tư và tu. Nếu 1 người chưa tới mức độ tu thì tư cũng rất là tốt rồi, cứ chiêm nghiệm những lời Phật dạy, trong lúc chiêm nghiệm thì là tu cho họ rồi đó, ở trong cái căn cơ của họ. Thành ra bay giờ trở lại vấn đề tập trung tâm ý, lắng tai nghe pháp là rất quan trọng. Trong khi nghe pháp mà mình nói rằng những cái pháp này tôi nghe rồi, tôi biết rồi, tôi hiểu rồi thì đó là cái gì nói lớn lên xem? Là bản ngã.

Nghe rồi mà có chứng được cái pháp đó chưa? Cho nên con nhớ hoài ngày xưa con học Hán văn, giáo sư Nguyễn Huê mà ngày xưa có lên đây 1 lần rồi, là giáo sư 50 năm ở trường đại học. Thầy dạy cho tất cả các Tăng Ni, nhiều lắm, từ học viện cho tới cao đẳng, trung cấp, thậm chí là sơ cấp. Ở đây vị nào cũng biết hết, giáo sư Nguyễn Huê. Cứ mỗi lần là tới ngày thi là thầy dặn, mà học với thầy tới năm thứ mười mấy luôn mà thầy đều dặn là: “Bài thi cứ để đó nha, con thưa các thầy cô là con đi đến đâu thì chuyền bài ra, con sẽ cầm từng bài như vậy đó”. Chứ không có cho chạy chạy từng người đưa lên, mà dặn nhiều cái lắm, mà là sẽ có cái đó. Rồi có những vị nói: “Sao cái này nói hoài”.

Thì thầy mới nói: “Dạ con thưa các thầy các cô, con dặn hoài mà các thầy các cô chưa có làm được cho nên con dặn nữa. Chừng nào làm được thì con không có dặn nữa”. Nói 1 câu đó mà con chấn động thân tâm, con nhớ hoài không có quên. Con học với bậc đạo sư: “Thầy nghe cái này sao thầy? Thầy có nghĩ rằng cái này thầy thường nghe hoài, nghe rồi, nghe hiểu rồi phải không? Con trả lời: “Dạ con nghe”. Thầy nói tiếp: “Thầy nghe thêm 1000 lần nữa”. Thành ra những bậc thiện tri thức là thấm thía lắm, mình có chứng nhập, có thành tựu pháp đó chưa. Nếu mình chứng nhập pháp đó thì khi nói tới pháp đó thì mình có hoan hỉ không ạ? “Dạ có”.

III. Quán diệt ngã

Chúng ta thấy chưa? Chính vì vậy mà bài kinh giữ giới chúng ta nhớ, hay là bài kinh mà mới đây ngồi trên xe con mở con nghe mà 2 chú giới tử đi theo rung động thân tâm, mà con thì cũng nổi da gà, rợn người hết trong cái thiên uẩn. Nhiều khi mình đòi cái gì đó, cái tâm mình là 1 cái tâm nó không có chịu nghe lời. Bài kinh “Vị Giữ Giới”, thì ở đây có nhiều khi nghe rồi nè, bài kinh này nó cũng tương đương như vậy. Bài kinh này là bài kinh ma “Màra”.

“1) Nhân duyên ở Sàvatthi.

2) Rồi Tôn giả Ràdha đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

3) Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:

-“Màra, Màra”, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là Màra?

4) - Nếu có sắc, này Ràdha, thời có chết (Màra) hay có sát giả (Màretà), hay có sự chết (Miiyati). Do vậy, này Ràdha, Ông hãy thấy sắc là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy sắc như vậy là thấy chơn chánh.”

(Tương Ưng Bộ Kinh – trích kinh Màra)

“Thầy Tỳ-kheo Radha hỏi Đức Phật như thế nào là ma. Đức Phật nói nếu có sắc thời có chết, hay có kẻ giết người, hay có sự chết. Như vậy này Radha, ông hãy thấy sắc là sự chết, hãy thấy sắc là kẻ giết người, hãy thấy sắc này là bị chết, thấy sắc này là bệnh hoạn, hãy thấy sắc này là mũi tên, hãy thấy sắc này là bất hạnh, hãy thấy tự tánh của nó là bất hạnh. Những ai thấy sắc như vậy là thấy chơn chánh.”

Chúng ta thấy Đức Phật tác ý khủng khiếp lắm, mình bây giờ tác ý chưa xi-nhê gì hết trơn. Thánh trí tuệ là hãy thấy sắc này là sự chết, kẻ giết người, là cái bị chết, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh. Bản chất, bản tánh của nó là bất hạnh, những ai thấy sắc như vậy là chơn chánh, là được ta ấn chứng. Cái thọ, cái tưởng, cái hành, thức cũng như vậy. Trong bài kinh “Vì Giữ Giới” có hỏi bây giờ phàm phu tu làm sao? Thì tu cũng giống như vậy. Sơ quả, nhị quả, tam quả, tứ quả, chứng Thánh. Rồi bây giờ hỏi quán làm sao? Thì quán cũng giống như vậy. Các vị Thánh A-la-hán mà trú vô cái thấy này là các vị đó hoan hỉ lắm, hiện tại lạc trú. Bây giờ mình tu chưa có bao nhiêu, hiểu pháp chưa có bao nhiêu hết mà nói: “Sao cái này thầy nói quài vậy? Nói gì cao siêu lên.”

Bây giờ con hỏi chúng ta nè, bây giờ nội 4 chữ “an tịnh lắng dịu” chúng ta chứng đắc chưa? Chứng được là con quỳ xuống con lạy tại chỗ liền. Chúng ta đòi cái gì? Bởi vậy, mỗi khi chúng ta ngồi nghe pháp là Đức Phật, các bậc Thánh, các bậc thiện trí thức giúp cho mình tác ý, chúng ta phải nhớ. Giúp cho mình quán chiếu, giúp cho mình khắc ghi, đồ đậm, tô lên, tô cho rõ nét lên đặng nhắc cho mình nhớ. Cho nên nếu nghe được là cứ nghe pháp suốt ngày, giờ nào không nghe thì giờ đó ngồi thiền. Vậy thôi chứ còn làm gì khác nữa? Bây giờ muốn làm cái gì? Bây giờ mình tu Đức Phật dạy mình có 2 cái à, “im lặng bậc Thánh” với “trao đổi pháp”, có bao nhiêu đó thôi chứ không có gì khác nữa hết.

Chứ bây giờ mình muốn cái gì? Nó không muốn cái này nữa thì nó muốn cái gì? Có 2 cái đó thôi. Vậy thì nghe pháp và thiền quán có được coi là tu không? Tại sao mình lại có những tư tưởng như vậy? Mình coi những tư tưởng đó là cái gì? Những tư tưởng chống đối, ngạo mạn, ngã mạn đó. Cho nên thật sự từ ngày con cạo tóc tới bây giờ là 30 năm, lòng tôn kính của con đối với chư Tăng Ni, những oai nghi mà con giữ gìn tới bây giờ vẫn không có dám xem thường. Chẳng những vẫn như vậy mà còn hơn ngày con mới tu rất là nhiều, con thấy trong con tăng trưởng niềm tôn kính.

Ngay cả đối với những vị cư sĩ, những vị giới tử về đây xuất gia ngắn hạn, hay ngay cả đối với 1 vị đệ tử xuất gia, mà lòng tôn kính của con không có suy giảm. Con nghiêm khắc nói với chính mình: “Không có phép có 1 cái tâm bất kính, xem thường đối với Tam Bảo”. Nhờ vậy nhiều khi mình gặp rất nhiều những thử thách, những cái rất là khủng hoảng mà mình vẫn tịnh tính bất động. Cho nên chỗ này là chỗ chúng ta phải để ý, cẩn thận đối với pháp bảo. Hằng ngày mình lạy pháp, mình quy y pháp, mà nhiều khi chống đối pháp, mình bất kính đối với pháp mà nhiều khi mình không biết. Cho nên trong khi mình nghe mà mình nghĩ chuyện này lung tung ngay lúc mình nghe pháp bảo, thì cũng là bất kính pháp, là lúc đó không có quy y pháp.

Tại vì cái tâm mà cung kính tột cùng, tuyệt đối là tự động nó sẽ chú tâm lắng nghe, tập trung tâm ý, như lý tác ý trong cái pháp. Cho nên cung kính này nó hay lắm, cho nên con đề cái bản 4 chữ là “trang nghiêm, tôn trọng, cung kính, biết ơn”, đây là tiêu chí tu học. Chứ mình có kính pháp, tự động tất cả suy nghĩ, lời nói, hành động của mình sẽ đúng. Chúng ta thấy những buổi mình tu học mà đầy những cảm xúc, tràn những cảm thọ, dào dạt những cảm giác là nhờ sự trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính, biết ơn đối với pháp bảo. Nếu không có cái đó đủ, thì không có những cảm thọ, không có sự thay đổi như vậy.

Các vị giới tử khi con về dưới thì đi theo con, đi theo nghe pháp, đi theo tận dưới quê thăm các cô con nước mắt đầy mặt, khóc như 1 đứa con nít. Mà vạm vỡ, thân là bao nhiêu tất rộng? Ai nhớ trong “Truyện Kiều” không? Thân 10 thước cao đó. Là những nam nhi, trượng phu to cao lực lượng, nhưng mà vô tới là đánh vô cảm thọ là nằm liệt luôn, ngồi dậy không nổi, ngồi khóc đầm đìa. Mà về là vô quỳ lạy mẹ liền ngay lập tức, xin lỗi vợ. Thành ra cái vấn đề này cái phần tu tôn kính pháp rất quan trọng, khi có đủ cái cung kính. Mà làm sao mình cung kính pháp? Tại vì mình hiểu được cái ý nghĩa, giá trị, lợi ích, công năng vĩ đại của pháp thì mình mới cung kính pháp đúng mức.

Mà làm sao mình hiểu được ý nghĩa, giá trị, lợi ích vĩ đại của pháp nếu mình không nghe pháp, nếu mình không thực hành pháp thì mình hiểu được không? Cho nên con trước bình quân 1 ngày con nghe 8 tiếng. Cho nên các vị đừng có chán pháp, đừng có nản pháp, lúc nào mình chán pháp, mình nản pháp là lúc đó mình đang thoái đọa. Mình để ý đi, lúc nào mình hoan hỉ, hân hoan, vui sướng, hạnh phúc, phấn khởi, thì lúc đó mình đang tăng thượng không? Mà lúc nào mình: “Thôi thôi ớn quá đi xuống núi, ớn quá chạy về nằm ngủ, ớn quá đi ra đi bộ, đi dạo, ngắm cảnh đi”. Lúc đó dục nó hoạt động đó, tham, ái, vô minh, bản ngã, buông lung, phóng dật nó hoạt động. Là cô hồn nó nhập vô rồi đó, thấy rõ không? Thấy rõ chưa? Thánh đi mất mà cô hồn nó nhập vô đó.

Cho nên con nhiều khi đâu có muốn hét lớn lên làm chi, con mà không hét là ngồi ở dưới ngủ hết trơn. Thành ra lâu lâu phải hét cho tỉnh lên, làm như cái ngủ này là muôn thuở hay sao đó, cứ giờ nào ngày nào cũng ngủ. Mới ngủ thức dậy cũng ngủ, trưa mới ngủ dậy cũng ngủ, mà tối hồi ngủ mà nó cũng ngủ. Cái tâm hôn mê, cái tâm si mê, cái tâm u mê, lúc nào nhìn con mắt cũng lim dim, tội nghiệp lắm, bởi vậy lâu lâu là hét lên 1 tiếng cho tỉnh. Chúng ta để ý thấy lợi ích của pháp, về nghe mấy cái bài lợi ích của việc nghe pháp. Đức Phật nói trong Nikāya con có giảng trong mùa dịch nhiều lắm, những người nghe pháp sẽ đưa đến bước bất thoái chuyển.

Nội cái câu tác ý lúc nãy mà mình nhớ suốt đời của mình, xài vô tận, vô lượng, vô biên, vô cùng là mấy câu này. “Ông hãy thấy sắc này là sự chết, là kẻ giết người”, mà vị dịch này không dám dịch ra, chỉ để “xác giả” thôi. Mình dịch ra luôn “sát giả” là kẻ giết người đó, sát thủ đó, nói sát thủ dễ hiểu hơn, coi phim nhập tâm mà, sát thủ là 1 tay giết người đó. “Hãy thấy sắc này là bị chết, hãy thấy sắc này là bệnh họa, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh”. Cái chữ “bất hạnh” này nó thấm, đọc cái chữ bất hạnh này nó thấm mà Đức Phật phải nhắc lại 2 lần. “Hãy thấy tự tánh là bất hạnh, tự tánh của sắc là bất hạnh”.

Cái chữ “bất hạnh” này nó hay mà bây giờ nó đang thấm vào trong tim, nó đang ngấm toàn thân hết trơn. Bất hạnh, bất hạnh, thật là bất hạnh khi mang cái thân này. Thật là tai họa khi mang giác những cái cảm thọ như vầy, những cái cảm thọ nỗi loạn, phẫn nộ, ngu si, si mê, chìm đắm, trói trăng, trói buột như vầy. Thật là bất hạnh cho ta, thật là bất lợi cho ta, thật là tổn hại cho ta, thật là hoạn cho ta, thật là hiểm nạn, khổ nạn, nguy nan cho ta. Khi trong này còn chất chứa những cảm thọ tồi bại, hèn hạ, bẩn thỉu, nhơ nhớp, u mê, ngu si, bản ngã, vô minh. Rảnh là mình tác ý như vậy đó, giống như mình niệm Phật hồi xưa chúng ta tu vậy đó. Mình dập, mình giết nó rồi cái cảm thọ này nó lắng dịu, hiền ngoan xuống hết. Nó xấu hổ, tàm quý, cuối đầu.

Thật là tuyệt diệu những câu tác ý, đọc tụng riết rồi cũng nhập lưu à. Sáng tụng, trưa tụng, tối tụng, nửa đêm thức dậy tụng. Lúc nào cũng đọc hoài như vậy: “Cái thân này thật là bất hạnh, mày là tai họa, là kẻ giết người”. Cứ thấy ai đẹp đẹp đi tới là: “Trời ơi, kẻ giết người tới rồi, sát thủ tới rồi”. Còn mình không kêu lên là nó chết, nó bị dẫn đi, bị dụ. Có ai tu giống mình không ta? Thú vị không? “Con thưa thầy từ lúc cha sanh mẹ đẻ ra, từ nhỏ bỏ trước cổng chùa ở tới bây giờ con chưa thấy ai dạy tu kiểu này”. Phật dạy, Phật mới dạy cái kiểu này: “Trời ơi giết người tới rồi, sát thủ tới rồi, chạy lẹ. Bất hạnh tới rồi, bất hạnh cho ta, thật là bất an, bất trắc cho ta”.

Cứ nhớ hoài, cứ nhắc hoài, rảnh là nhắc, rảnh là tác ý, rảnh là nhắc hoài vậy đó. Có cần phải lên Chánh điện để nhắc không, hay là ở trong cầu tiêu cũng nhắc được? Dưới bếp cũng nhắc được. Bất cứ chỗ nào, lúc quét nhà, lặt rau, nấu cơm, bất cứ khi nào cũng niệm đi: “Thân này là bất hạnh, tánh chất của nó là bất hạnh”. Cái tham nó khởi lên: “Cái tham này là bất hạnh nè, mình muốn, mình thích, mình khoái, cái này là bất hạnh nè, là tai họa, là khổ nè”. Cái sân khởi lên: “Trời ơi, đốt lửa rồi, hỏa hoạn tới nơi rồi”. Kêu lên liền, mình tác ý như vậy, mình tránh né nó, tránh xa nó, từ bỏ, viễn ly, ly tham nó, thoát ra nó, xuất ly khỏi nó. Tu như vậy là sướng quá xá sướng luôn rồi, chịu không?

Còn có ai tu mà khỏe như mình, tu mà nhìn thấy hết tất cả bộ mặt của những thứ ác độc, nhìn ra được hết trơn. Người ta tu là người ta nâng niu cái thân, người ta khoái đặng mai mốt chết đi về hưởng. “Tu cho mày tan thành mây khói luôn, tao từ giả mày, vĩnh biệt luân hồi”, chịu không? Li dị với tham, sân, si, chịu không? Đập tan cái ảo hưởng về tự ngã ác độc này. Con nhớ cái này hay quá, mình phải nhớ cái này nè. Khi mình chưa thực tập sự quán diệt ngã, thì mình nói: “Một hồi tôi ăn cơm”, thì có hình bóng của mình không? Hình bóng của mình nó cao lồ lộ, nó cao lồng lộng 1 thước 6, 1 thước 7, 1 thước 8, 1 thước 9 phải không? Thì như vậy là chưa có tu gì hết trơn, cái ngã còn chình ình 1 đống.

Khi nói: “Một hồi con đi ăn cơm”, thì trong tâm mình nó hiện ra 1 cái hình cái đầu mình cuối xuống, cái chân mình quỳ xuống dưới đất, là lúc đó bắt đầu tu rồi đó. Khi mình nói chút nữa mình làm, hay đi gì đó là cái hình hiện lên trong tâm mình là 1 cái hình quỳ mộp xuống, cúi cái đầu, thì đó là bắt đầu có 1 sự nhiếp phụ bản ngã. Rồi lần lần mình bắt nó, khi nói: “Chút nữa con đi tu, chút nữa con lên Văn Thủy Đường con tu”, là cái hình mình mộp xuống dưới chân của mọi người nó hiện trên trong tâm của mình, cái đầu của mình đặt dưới chân người ta. Mình an trú, mình quán từ từ cái chỗ đứng, quỳ xuống rồi cuối cùng rạp xuống ở dưới, cái đầu hiện dưới chân người ta.

Cái hình đó hiện ra khi mà nói về mình, tôi, con, Thích, Nữ, Huệ, Quý…gì đó. Thì lúc đó cái hình mình hiện lên là cái hình cái đầu mình, đặt dưới chân của đại chúng hiện lên trong tâm, là lúc đó cũng đỡ đỡ rồi đó. Bây giờ tiến nữa khi mình an trú 1 thời gian là mình cho nó thành cai nùi giẻ luôn. Khi mình nói: “Một hồi nữa con sẽ đi lụm củi về nấu cơm”, thì mình thấy 1 cái nùi giẻ nó chạy, nó đi kiếm củi, chứ khong thấy con người đi kiếm củi. Thì đó là an trú tâm của bậc Thánh, bậc hiền Thánh đó. Cái nùi giẻ từ từ nó hiện ra chưa? Chưa phải không? Từ từ mình tập đi. Khi mình nói về mình, thì lập tức nùi giẻ nó hiện ra, chứ không có cái bóng, cái mặt chình ình, 1 đống hiện ra nữa. Mà là 1 cái nùi giẻ rách, 1 cái tấm dậm chân, đó là sự an trú để chúng ta quán diệt ngã.

Rồi 1 thời gian ta an trú hình bóng nùi giẻ rách, cho tới 1 thời gian sau khi ta nói: “Dạ thưa một chút xíu nữa con ra bụi cây con ngồi thiền”, thì lúc đó mình không thấy 1 hình bóng ngồi thiền, mà mình thấy 1 nắm tro tàn ở dưới bụi trúc. Một bộ xương, 1 nắm tro, thì cái sự an trú về diệt ngã của mình càn ngày càng thâm sâu. Là mình phá ảo tưởng về tự ngã của thân kiến đó, 1 lần 1 mình làm liền thành nắm tro thì nó chưa chịu, cho nên mình cho nó từng bước đi, cho nó chắc. Khi nó nói: “Chiều nay cho đại chúng, mỗi người ngồi thiền tự do. Ra gốc bồ đề, bụi tre, tảng đá ngồi thiền”. Thì lập tức trong tâm mình nó hiện ra 1 bộ xương ngồi thiền dưới khóm trúc, hay là nó hiện ra 1 nắm tro tàn ở dưới gốc cây.

Đó là dùng tưởng diệt tưởng đó, đó là Thánh trí vô ngã đó. Sao Ấn Đức hoan hỉ cười quá vậy? Có muốn chia sẻ gì không?

IV. Trình pháp

1. Sư cô Ấn Đức

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con chân thành đảnh lễ Phật Thích Ca Mâu Ni

Con chân thành đảnh lễ sư phụ tôn kính của chúng con

Con chân thành đảnh lễ quý thầy, quý sư cô cùng các bậc hiền trí.

Con rất là hạnh phúc khi con được sư phụ giảng pháp cho con, trong buổi hôm nay con cũng muốn bày ra 1 cái rác mà con nhận thấy. Về nghe pháp mà bậc đạo sư, sư phụ giảng thì con vẫn như 1 người đói khát sữa pháp. Con thấy rất là thâm sâu, vi diệu, mỗi 1 bài pháp bậc đạo sư giảng, hay sư phụ giảng mà con nghe lại, con cũng thấy được, cảm nhận được sự thâm sâu, vi diệu của Thánh pháp không đơn giảng. Con ví dụ trong 1 bài giảng pháp mà sư phụ giảng, ngay cả 1 phật tử mới đến tu thôi, con nghe có 1 chi tiết là không có nhìn ra ngoài khi nghe pháp, thì đã chứng Thánh quả rồi. Lần đầu tiên con nghe bài đó thì con rất là hoan hỉ, mà chắc ai cũng vậy. Tạo cho chúng con 1 niềm hạnh phúc, 1 niềm tin, 1 ước mơ là nếu mình nghe pháp tập trung thì mình sẽ chứng được Thánh quả.

Thế mà càng nghe thì điều đó thấm rất là sâu, nghe đến bao giờ mà cái tâm của chúng con an trú được trong pháp 1 cách hoàn toàn. Thì điều đấy thật sự chúng con phải cố gắng rất nhiều. Khi con nghe sư phụ và mọi người chia sẻ về nghe pháp, nếu mà khi con nghe mọi người trình pháp trực tiếp như thế này con rất là hạnh phúc. Bất cứ 1 ai, kể người mới đến tu lần đầu tiên, hay mà mới biết đến Thánh pháp. Hay là con nghe trình pháp mà đọc thơ thì con rất là ngưỡng mộ, con bảo sao họ giỏi như vậy. Tức là có 1 cảm thọ rất là sâu sắc về pháp, mới có những lời thơ như vậy. Khi các bài pháp của các hiền giả trình tới sư phụ, rồi sư phụ đưa đến đại chúng thì con cũng thấy rất là hoan hỉ.

Nhưng mà riêng có phần nghe thì con thấy tâm của con nó không có hoan hỉ, nó có phần chán lắm. Bởi vì lúc bấy giờ nó có khởi lên cái ý, cái cảm thọ lúc nào cũng muốn nghe sư phụ với bậc đạo sư giảng thôi. Nó rất thèm, rất khát, rất đói nghe sư phụ bậc đạo sư giảng. Và con rất là nhiều phần chưa nghe được, chưa được nghe. Và những bài mình muốn nghe lại, mình viết lại cũng chưa làm được. Cho nên con nhận ra 1 cái tâm những bài mà của các hiền giả, đại chúng gửi lên bằng cách đọc thì tâm con không đón nhận hoan hỉ. Thậm chí có bài con mở ra con nghe được mấy câu là con tắt, vì con tiếc có những bài mà bậc đạo sư, sư phụ giảng mà con chưa nghe được. Con cũng bộc bạch với sư phụ là như vậy, và con biết đó là rác.

Bởi vì tất cả những bài mà sư phụ đưa lên, cũng có nghĩa là bài tập mà chúng con nghe để rút kinh nghiệm. Con đã nhận ra đấy là 1 cái tâm có sự chống đối ở đó. Thứ 2 con cũng chia sẻ là cái tưởng, khi nghe sư phụ nói là nếu khi có 1 ý hành, hay nhận luồng thông tin khi đi ăn, đi ngồi thiền, đi đâu đó thì cái hình ảnh nùi giẻ rách, bộ xương, đống tro tàn hiện lên thì điều này con rất hoan hỉ. Khi con về đây sư phụ có dạy là ở ngoài đời rất nhiều mưu mô thâm độc, để tham lam, hơn thua, bản ngã. Thì bây giờ trong khi tu cũng phải tìm cách thế nào khi vô minh bao vây mình, thì mình phải tìm cách vây vô minh. Con nói thí dụ như khi quán tưởng bộ xương, trước đây con đã nhận ra cái rác.

Ở quê con khi chết thì họ an táng, sau đó cải mộ. Và cái này đã thấm vào cái tâm tham, ngu si, vô minh của con cũng như mọi người, cho nên nghĩ đến việc hỏa táng thì không theo. Đặc biệt là khi con và mọi người chứng kiến, sau khi hỏa táng thì không mang về nhà, mà mang ra ngoài đồn để hạ xuống mộ. Thì nhiều khi nước nó vào, nó tan gần như là cũng không còn gì nữa. Thế con nên vì cái tâm mê mà xót thương là mình sẽ không nhìn lại người thân 1 lần nữa, thế rồi lại tiếc bộ xương thối. Khi về đây tu học thì con biết rằng đây là 1 cái tâm vô minh rất là thâm sâu, nó tham ái cả bộ xương thối, không biết bao giờ mới có thể giải thoát được.

Ba tháng liền con đã quán tưởng về quán thân bất tịnh, trong đó con quán 9 giai đoạn của 1 tử thi 3 tháng liền như vậy. Con cũng tưởng đến khi ở nhà, hay nhặt những lá cây về đun, tiết kiệm vì còn nghèo. Khi đun xong thì những cái lá hình còn nguyên, nhưng là động vào là nó tan hết. Cho nên con vận dụng cái đó vào quán tưởng. Và con quán tưởng đến bộ xương của mình, có 1 lần con có chia sẻ là khi nói về cảm giác toàn thân là cái bộ xương, con thường nói đến thân mình. Bộ xương này nhìn thì thấy hình thế thôi nhưng mà động vào là nó tan rã rất là nhanh, gió thổi cuốn rất là nhanh. Cho nên khi sư phụ nói đến điều này thì con thấy rất là hoan hỉ, bởi cái hình ảnh này ở trong tâm của con cũng khá là lâu rồi.

Khi con nghĩ về con điều biến nó thành pháp nên, như Bố con có nói với con 1 câu là: “Sau này Bố mất, Bố sẽ chết trên tay con”. Chính nhờ sự an trú về bộ xương động 1 cái là nát hết, khi mà câu của Bố con hiện lên, khởi lên ý hành. Thì cái tưởng của con là 1 bộ xương, bế Bố con là 1 bộ xương. Trong 1 lần con mang các cành chè đã vẽ rồi, sư cô Ấn Đông bảo có thì mang lên để cắm vào các chân giàn, thì con có mang lên. Khi con đi gần đến thì cái tưởng của con thấy con là 1 bộ xương vĩ đại, khổng lồ. Và con thấy bộ xương của bố con, con rất là hạnh phúc.

-Thầy: Sao bộ xương mà còn vĩ đại khổng lồ nữa?

Dạ tức là ở đây cái tâm, cái trí, cái lòng tham của con là vô tận, vô biên, vô lượng kiếp.

-Thầy: Thôi quán bộ xương bình thường đi, đừng quán bộ xương khổng lồ gì hết trơn.

Dạ mô Phật con cám ơn sư phụ chỉ dạy cho con. Tức là con đã nghĩ đến người thì hay nghĩ đến bộ xương, ví dụ như bước vào đây, con nhìn hàng ghế này cũng là hình bộ xương. Bởi vì thật sự ra là cái ghế này cũng là tất cả chúng sanh đổ máu, đổ xương cốt ra, cũng có trí tuệ, lòng tham để làm ra những cái ghế, tất cả các đồ vật này. Cho nên trong thời gian này, cái tưởng của con khi con nhìn cũng như sư phụ vừa mới chia sẻ. Thì trí tuệ của con gắn với từ “sắc la kẻ giết người”, kể cả khi con ăn, con vừa ngồi vào 1 cái thôi là nó khởi lên: “Đây là đau khổ, đây là 1 sự sỉ nhục. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là kẻ giết người. Bởi vì là kẻ giết người cho nên bây giờ mình mới còn ngồi đây, để mình ăn những thứ như thế này.”

Nếu thật sự suy ngẫm thì thức ăn rất là bất tịnh, vô cùng bất tịnh. Mà cái thân ngũ uẩn, sắc thọ tưởng hành thức là mù lòa. Cho nên cái tưởng thức ăn này là sạch sẽ, cho nên rất là bất tịnh. Cũng nhân đây con xin chia sẻ 1 chút về thức ăn bất tịnh, mà con cảm nhận được. Thí dụ như 1 lần con nhận được bình bát của sư phụ, mà thức ăn trong ấy bị mốc lên, thì lúc đấy con rất là xót. Con trách chính con, sư phụ rất là nhiều con, trò mà cái bình bát của Ngài thức ăn mốc lên. Con rất là đau đớn, nhưng thật sự con không trách người bê lên, có thể do công việc gì đó mà họ bận, họ quên đi cũng là sự vô mình của ngũ uẩn thôi.

Nhưng mà con nhắc nhở mình, và là lỗi của con trong việc đó rất là nhiều. Thế mà con lúc đó ái về cái bình bát, vì cái tưởng của con khi mà mình các sắc thường là nó nhớ đến sự tan hoại. Ví dụ như thỉnh thoảng con nhìn sắc nếu mà con có thời gian tĩnh tâm, khi tâm con có khởi lên hình ảnh như cái ba lô của con chẳng hạn. Thì trước đây nó là cái bao xương cốt, nó làm bằng xương cốt. Nhưng mà đến thời gian này thì nó đã là xương cốt, là than đỏ dựng lên, và nó tan chảy. Trong giai đoạn này thì cái tâm tưởng của con nó như vậy. Ở đây con muốn nói về quán cái bất tịnh, thức ăn ghê tởm.

Chính quê con đã dùng cái bình bát của sư phụ, khi mà con quán tưởng: “Bây giờ mày lại ái cái bình bát này, trước kia mày không nhìn thấy thì mày như thế nào” Tức là nó cứ khởi lên là nước mắt con tràn ra, con bảo: “Mày rất là ngu, trước khi mày không nhìn thấy cái bình bát thì mày đâu có cái cảm thọ này. Bây giờ mày phải biến cái cảm thọ này thành việc làm, đừng để hiện tượng này xảy ra như vậy nữa”. Thứ 2 là nó có nhớ về ở quê con khi làm tương, thì họ làm cơm cũng để mốc đúng như vậy. Con bảo cái tâm mê: “Mày đã thấy là mày ngu chưa, mày mê chưa? Mày vẫn đã từng ăn tương, mà tương ở quê mày hay tất cả các nơi làm là họ đều nấu cơm và họ để mốc meo lên, mốc dài lên có khi bằng nửa đốt tay.

Nó có thể là rêu vàng, rêu xanh, rêu đen, rồi họ phơi ra nắng cho nó khô. Tức là cái cơm này nó từ bột nó chuyển thành đường, cho nên khi mà làm tương thì ăn nó ngọt và mọi người khen ngon. Con đã đập ngay vào cái tâm mê: “Mày đã thấy quá là ngu chưa? Mày đã thấy thức ăn là dơ bẩn chưa? Mà vẫn khen ngon. Hay là 1 cốc sữa chua, hay là họ lên men muối dưa, đều vô vàn những con vi khuẩn, như vậy mình cũng ăn biết bao nhiêu là chúng sanh. Chứ không có cái gì mà vỗ ngực là mình ăn chay mà mình ăn sạch, ăn thanh tịnh. Cho nên khi mà con quán sâu xét như vậy, thì con thấy sắc thọ tưởng hành thức này đúng là mù lòa, đúng là 1 kẻ giết người, nó giết chết cái tâm mê này.

Con rất là hạnh phúc, mặc dù bên cạnh những việc như vậy, cũng nhân đây con chưa nói được các lỗi lầm của con. Những lỗi lầm rất là nhục nhã, nhục nhã mà cái ý hành khởi lên con đã tác ý nhiều. Mỗi 1 lần thiếu sót khởi lên, thì cái ý hành tự động nó nhắc: “Mày nhục lắm, mang tiếng về núi tu như vậy. Mà những người lần đầu tiên về núi cũng không có những cái lỗi như mày”. Thật sự con rất là đau xót, con đau xót lắm. Con chia sẻ là con rất là biết ơn sư phụ, bậc đạo sư, quý thầy, quý sư cô và các bậc hiền trí đã chỉ dạy cho con rất là nhiều. Bằng cả 1 tình thương con rất là xúc động. Con nói ví dụ như về ăn, trong suốt 5 tháng vừa rồi con chưa viết bài trình sư phụ, con thấy rất là sót ruột.

Khi ăn có 1 lần về muộn, con ăn muộn. Bếp có 1 vài người rửa bát, thì có 1 đĩa bánh ở bên ngoài, bên trong là tô mắm. Mà cái tay áo của con không phải là áo tràng, như trước con rất là cảnh giác, nhưng mà 1 cái áo rất thường, cái tay áo rất nhỏ, nhưng mà con cũng để chạm mắm vào ống tay áo, rất là nhục nhã. Thứ 2 là trong ngày con xuất gia, thì cũng là 1 sự ngu si và vô minh khi mà con đắp y. Bước thứ nhất con quên, thì con mở cái khóa ra, thế là rồi nó rối quá con không thể làm. Thật là biết ơn quý Ni sư Huệ Lý đã đứng dậy chỉ dạy cho con. Rồi một lần con đi lên Quán Chiếu Đường, rõ ràng con không đi muộn, còn rất là sớm, vậy là con chỉ mặc cái y vào, mà không mặc áo tràng bên trong.

Rồi khi con lên thì Ni sư mới bảo con, mà trước khi Ni sư bảo thì ý hành khởi lên: “Tại sao 1 số người không đắp y trước từ nhà, mà cứ lên lên đấy mới đắp”. Con đã chửi nó rồi, thế mà rất là nhục, sư đã chỉ cho con là sao cô không mặc áo tràng. Thật sự con rất là đau lòng, mà ở đây thì về sau con mới ngẫm ra là cũng do nó tưởng nhiều bộ xương. Con có tìm nguyên nhân, và hiện tượng này con nói còn rất là nhiều nữa. Đó lại là hôm vừa rồi, khi 2 bạn tu nhìn thấy con khoát y lên đắp lên lưng, mà lại chưa mặc áo tràng. Thế là 2 bạn này thấy rất là buồn cười, con thấy rất là nhục, tại sao con không có chánh niệm như vậy.

Con xin tri ân công đức của sư phụ, quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng đại chúng đã chỉ dạy con rất là nhiều. Và con cũng vừa nhận ra rác của con, là sư phụ cho phép con lên chia sẻ về sự hoan hỉ trong việc tu tập, thì con lại đưa ra các cái lỗi, mặc dù sâu trong đó là sự hoan hỉ của con. Bởi vì con nhận ra lỗi để con sửa, nhưng điều đó cũng không thể được. Con thành tâm sám hối, Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Mình phải an trú cái tưởng là kẻ ăn xin, mà cơ hội tốt nhất là lúc mình ôm bình bát. Từ lúc mà mình ôm bình bát, cho đến lúc mình đặt cái bình bát xuống. Thì liên tục trong thời điểm đó, là an trú tâm là kẻ ăn xin, không có cho gián đoạn. Cho đến ăn cơm xong rồi, rửa bát xong, ít nhất cho đến được thời điểm đó. Chứ không phải cầm cái bình bát đó lên rồi là nghĩ lung tung, lang tang. Giờ đó là giờ an trú tâm là kẻ hành khất, để mình nhiếp phục bản ngã đó. Chứ mình làm cho đẹp để chụp hình, quay phim thì uổng công đi, mình bải làm dáng, làm mẫu, làm kiểu. Chính giờ đó là mình phải thực hành hành khất, và bất cứ lúc nào rảnh là mình phải nhắc: “Mày là kẻ ăn xin”.

Mở nghe bài con có chia sẻ trong bài kinh của Đức Phật đó, đây là cái nghề hèn hạ nhất ở trên đời. Ngay cả người ta mắng chửi mày là kẻ ăn xin, mày ôm cái bình bát mày đi chỗ này chỗ kia. Thì những câu kinh đó phải khắc ghi trong tâm mãi mãi, vinh viễn không quên. Tới lúc nào mà thấy 1 cái tôi ta, vênh váo lên là mình sỉ mặt vô cái tưởng liền: “Ngươi là kẻ ăn xin”, cho nó gục đầu xuống. Rồi những hình ảnh đó phải được an trú trong tâm của mình trường viễn, vĩnh cửu, vĩnh chắc, vững mạnh, không có mất. Cái đó là thánh sản của mình đó, là tài sản của bậc Thánh. “Ngươi là kẻ ăn xin ngươi có nhớ không mà ngươi vênh váo, ta đây, hống hách, kiêu căng”.

Mình trú được cái cảm thọ, hình ảnh suy nghĩ đó thường xuyên, liên tục rồi tự động cái tâm kiêu ngạo, ngạo mạn, ta đây, bản ngã của mình sẽ được nhiếp phục và chế ngự, lắng dịu trong mọi trường hợp. Hình ảnh đó nó tồn tại mãi trong tâm, nó trở thành một bảo bối, báu vật, gia tài tâm linh của mình. Nó trở thành 1 pháp khí, Thánh khí, Thánh pháp, Thánh trí, Thánh tuệ, Thánh bảo ở trong tâm của mình. Mỗi lần mình kêu lên là lập tức quay trở về bản vị của kẻ ăn xin gục đầu, cúi đầu xuống. Những pháp đó là pháp phá ngã, cho nên khi trình pháp mình cũng biết chánh niệm và tỉnh giác, không có nói trong dục, không có muốn nói gì thì nói. Cái pháp đang nói là pháp gì, trình phải trình cái pháp đó. Tuy là nó hay, nó tôt, nó thiện, nhưng mà nó lan man, nó không có sâu sắc, đang nói về những hình ảnh phá diệt ngã.

Đó là cái chỗ sắc bén, tu hành từ từ mình sẽ có trí tuệ. Nhiều khi đang quán về khổ thánh đế, khổ thánh trí, xong kêu lên trình pháp đi kể chuyện vui. Trời đất ơi thiệt tình, ngồi đó chịu trận luôn chứ biết sao giờ. Mà chỉ cho không biết bao nhiêu lần rồi, nó lãng xẹt à, đi nó lạc đường, làm văn nó lạc đề. Cái tâm mình sắc bén, an trú trong cái tuệ, nắm bắt thánh trí ngũ uẩn, nắm bắt rất là sắc bén. Giống như con sư tử vồ mồi, con mèo canh chuột, phập 1 cái là nó chộp trúng liền ngay lập tức, thì đó là sự sắc bén của trí tuệ. Cho nên mình an trú cái tâm mình là kẻ nghèo hèn nhất trên cuộc đời. Mà kẻ nghèo cùng, hẹn hạ, ăn xin như vậy thì có ai mắng chửi, khinh khi gì thì bình thường, rất bình thường.

Cũng như bữa mình ngồi ngoài gốc cây giác ngộ, mình tránh mình nói cây Bồ Đề, mà nó không phải cây Bồ Đề, cái cây giác ngộ mà mình ngồi đó, mình an trú nùi giẻ rách không? Cứ dậm lên, cứ đạp lên, cứ chà lên, cứ quăng lên, cứ đổ lên đi. Thì cũng vậy, người nghèo cùng, rách rưới, khố rách, áo ôm, ăn xin, nhục nhã, hành khất, xấu hổ. Như vậy mình an trú cái tâm mình hoài, thường, hễ thấy rãnh là mình an trú. Đừng có đợi lúc mở bài đó lên rồi mới quán, mình phải tự biết mình thực hành. Bất cứ lúc nào mình rảnh, đang làm việc, đang nói chuyện, đang đi, đang ngồi, đang ngủ nắm trên giường thì mình quán niệm tử ngay cái mùng đó. Cái mền đó là cái gì? Cái đồ mà người ta quấn người chết kêu bằng cái gì?

Đội nhị tỳ mai táng vô bọc bao nilong quấn quấn lại đó, thì mình lấy cái mền mình quán cái đó, cái giường đó mình quán cái hòm. Cho nên bất cứ lúc nào mình triển khai thiền quán, đó là người siêng năng, nhiệt tâm, nỗ lực, tinh cần, trí tuệ, khôn ngoan, thông minh, người biết làm giàu cho chính mình. Là những người triệu phú tâm linh, không có bỏ qua thời gian nào hết để tu tập. Đừng có đợi tới lúc mở bài lên mới quán, nhiều khi mở lên còn không quán nữa, còn nói: “Tôi thích quán bài khác”. Bó tay luôn, cái tâm như vậy làm sao mà tu tập được, phải an trú để diệt cái bản ngã mới tu được nhiều cái pháp. “Con lo âu, con nhàm chán, con xấu hổ với cái thân đầy bất tịnh này Đức Thế Tôn”, ngài Xá-lợi-phất nói đó.

Như lúc nãy Ấn Đức nói đó, mình đi cầu, đi tiểu, mình đi, mình ăn như 1 sự sỉ nhục, nhục nhã. Mình phải ăn những thứ này vô, mình phải đói, phải khát, phải thèm quài, phải đem những thứ này vô, mình phải lệ thuộc nó. Cho nên 5 cái minh phần, 5 cái pháp quán mà để sanh ra trí tuệ, là có quán gì? “Nhàm chán đối với thức ăn”, phải quán được cái đó. Tối ngày cứ ăn, ăn, ăn, phải biết nhàm chán đối với thức ăn. Những pháp sâu sắc như vậy, những tró tuệ, thánh pháp bảo, thánh sản, bảo bối, pháp bảo như vậy. Mà mình không có sử dụng thì thật là uổng, thật là tiếc, thật là lãng phí, uổng phí, phung phí, hoang phí. Đời sống của mình phải lấy những pháp đó mà sử dụng thường xuyên, bất cứ mọi lúc, mọi nơi, mọi thời, mọi chốn. Bất cứ thời khắc nào có thể làm được là triển khai thiền quán ngay lặp tức.

Nhìn chỗ đó coi có thiền quán không, hay là thích thú, khoan khoái. Thọ, tưởng, hành của Huệ Quý bây giờ sao?

2. Sư cô Huệ Quý

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, sư cô, cùng toàn thể đại chúng. Khi con thấy con chó nó đến ngửi tay co, thì thọ trong con cảm thấy thương, con thấy rất là tội nghiệp. Cái hình bóng ở cái tưởng con có hình bóng của tự thân, ý hành con khởi lên 1 ý nghĩ: “Sao mày dại vậy, không làm thành hình người mà làm con chó”. Cái thức của con rõ biết thọ, tưởng, hành vẫn còn vận hành trong tâm con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

-Thầy: Cảm thọ lúc đó thế nào thưa sư cô.

Dạ cảm thọ con cảm thương, dù làm thân người hay thân chó đều có sự ưu bi. Trong cái tâm con khổ, con nghĩ khổ cho con chó. Và thương nó không làm cái thân người, mà làm cái thân chó, thấy tội nghiệp.

-Thầy: Lúc đó có khởi ý gì về mình không? Hay là khởi ý với con chó thôi.

Dạ con chưa kịp khởi ý gì hết thưa sư phụ.”

Khi mình gặp bất cứ chuyện gì đến, thì mình phải quay về chính mình hết. Đó là thân của mình ở trong quá khứ và trong tương lai. Mình cũng đã làm cái thân súc sanh như vậy, và mình sẽ làm cái thân thú vật như vậy ở những đời sau. Nếu như mình không diệt tận hết những cái mầm mống. Coi nó nhìn con kìa, nhìn bằng ánh mắt rất là trìu mến. Mình phải thấy rằng đó là phản ánh, phản chiếu đời sống quá khứ của mình. Và những đời sống tương lai của mình sẽ như vậy, nếu mà không nhiếp phục được những cảm thọ dục ái, sân hận, bản ngã, vô minh. Mình đã từng không biết bao nhiêu lần, mang những cái thân lông lá như vậy. Không biết muôn ngàn vạn lần, muôn triệu ức lần sống trong những đời sống như vậy.

Vì miếng ăn mà sủa, mà cắn nhau như vậy. Đau khổ là những đời sống như vậy, vô minh là những đời sống như vậy. Phải biết quay về nương tựa với Phật, quay về nương tựa với pháp, quay về nương tựa với Tăng, với Thánh giới. Như vậy mới thoát khỏi thân súc sanh này, tiến hóa làm người, tu hành giác ngộ. Cho nên mình gặp tất cả hình ảnh như vầy, tiếp xúc với tất cả phải quay lại mình trước, sau đó mới sải tâm cho bên ngoài sau. Như vậy đó là tự lợi lợi tha, tự giác giác tha, nếu mình gặp mình chỉ hướng tâm ra ngoài không là mất mình, trí tuệ mình không tăng trưởng. Mỗi tất cả thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, cảm thọ, nhận thức đều quay về chính mình nhiếp phục ở bên trong mình hết, rồi sau đó mới hướng tới người, hướng tới những chúng sanh sau.