Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tầm Quan Trọng Của Tâm Hiền Trí 7 - Tâm Mê Vận Hành Các Pháp

2026-03-03 00:53:51
Tâm Mê Vận Hành Các Pháp

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Các pháp PAGEREF _Toc87252627 \h 1

II. Tâm mê PAGEREF _Toc87252628 \h 3

I. Các pháp

Kính bạch các bậc hiền trí, tăng ni, các Phật tử, hôm nay chứng ta tiếp tục chiêm nghiệm những pháp quán của tôn giả Xá-lợi-phất, những pháp an trú tâm mình để dần dần trở thành con người hiền thiện, trí tuệ.

Trong thời gian vừa qua, chứng ta đã nghe Đức Thế Tôn về nguyên lý sanh diệt của năm uẩn, cũng như sự vận hành của các pháp trong thân tâm, thế giới tất cả chỉ là pháp, không có chủ thể, không có một tự ngã, thân tâm này là vô chủ, không có gì là chủ chốt, là tự thể, là tôi, của tôi để điều khiển mà tất cả là một mớ, một tổ hợp, nhiều tổ hợp, đó là những sự lắp ráp, phối hợp, mắc xích, chằng chịch.

Thế Tôn ví dụ giống như những sợi dây thừng chằng chịt buộc lại. Như bài kinh Bệnh, đó là thân, còn tâm là bao nhiêu pháp bên trong đó, ba nhiêu cảm thọ, tưởng, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu thức. Chúng ta nhìn thấy được nên càng đi sâu vào, chiêm nghiệm để thấy được chân tướng thật sự của thân tâm này.

Đầu tiên chứng ta thấy sáu căn, trần, đối tượng của căn, sự nhận thức, sự tiếp xúc của các pháp, từ xúc sanh ra cảm thọ, từ cảm thọ sanh ra sự yêu thích, nắm giữ.

Chúng ta thấy sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu thủ. Sáu căn bên trong, đến sáu thức, chúng ta thấy có thiệt thức, thân thức, ý thức. Sáu xúc có nhãn xúc… sáu thọ thì thọ do nhãn xúc sanh, nhĩ tỉ thiệt thân ý. Sáu ái có sắc ái, thanh ái, vị ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Thủ có tứ thủ.

Chúng ta học buổi tiếp theo của chư tăng ni của mười hai nhân duyên, có ba mươi sáu buổi. Ngoài ra còn có sáu tầm, sáu tứ, sắc tầm, hương tầm, vị tầm, xúc tầm, pháp tầm. Sáu tứ có sắc, thanh, hương, vị, xúc.

Vậy có bao nhiêu “sáu”? Đã là bốn mươi tám. Như vậy thì một đống như vậy thì cái nào là tự thể? Thọ lại sanh ra đủ loại bên trong. Nhân với quá khứ, hiện tại, vị lai thì ra bao nhiêu loại khác? Còn mười tám thọ, sắc, thanh, hướng, vị, xúc… Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân này là bao nhiêu bộ phận? Những dây thần kinh, bao nhiêu mạch máu bên trong này thì khi kéo dài theo đường thẳng thì kéo dài khắp cả địa cầu này được mấy vòng?

Như vậy, đây là một đống, vô số những thứ, pháp, vật, điều kiện mà mắc xích, liên hệ, lắp ráp, trói cột, ràng buộc thì điều gì là tự ngã bên trong này? Đâu là tôi, của tôi ở đâu? Chúng ta thử chỉ ra thử cái nào là tôi? Nếu thức là tôi thì khi học thiền đó là cái rõ biết đó là tôi, thì rõ biết nào là tôi? Là rõ biết sắc, âm thanh, hương, vị, xúc, pháp? Trong sáu rõ biết đó thì cái nào là tôi?

Trong cảm thọ này thì cái nào không vui không buồn là tôi? Nếu vui là tôi thì lúc buồn là ai? Lúc không vui không buồn là ai? Nếu yêu thích một con người là tôi thì việc yêu thích món đồ là ai? Trong sắc ái, thanh ái, vị ái, hương ái, xúc ái, pháp ái thì đó là cái nào?

Qua đó, chứng ta thấy được đây là một nhóm, tất cả những cái này là bao nhiêu pháp ở trong thân tâm mình mà mình lại không thấy biết được gì hết. Nếu chúng ta nhập chung lại thì dính chùm lại thành một ảo tưởng về tự ngã. Trong tâm mình luôn có suy nghĩ, suy nghĩ là tôi, của tôi, đó gọi là ảo tưởng, hư tưởng, uyển tưởng, vọng tưởng, điên đảo tưởng, tức là một tư tưởng đảo ngược, đảo lộn, sai sự thật, tứ đảo, là vô thường mình cho là thường, khổ mà cho là vui, dơ mà cho là sạch, không có tôi mà mình cho là có tôi, đó gọi là tứ đảo – bốn sự điên đảo.

Vô thường cho là thường, khổ cho là vui, bất tịnh thì cho là sạch, là tịnh, là vô ngã thì cho là ngã. Đây gọi là tứ đảo – bốn sự điên đảo: điên đảo tưởng (biết bằng tưởng tượng). Khi chúng ta quán chiếu nhận diện được duyên sanh pháp thường xuyên thì mới thấy được thì rất tệ, y như một cái máy, đó gọi là cơ thể - cơ là máy, thân tâm này là bộ máy. Vì bên trong có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, nhãn xúc, nhĩ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc và thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỉ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do ý xúc sanh và sắc ái, thanh ái, vị ái, xúc ái, pháp ái... Bên trong là sự nắm chặt tất cả những thứ đó.

Còn có sắc tầm, thanh tầm, hương tầm, vị tầm, xúc tầm, pháp tầm. Tâm cứ hướng vào tầm, cứ tìm kiếm, bám vào những đối tượng bên ngoài, bên trong.

Sống như vậy nhưng tâm thì hướng ở nơi đâu, hướng tâm về dưới núi, dưới phố, về chỗ nào đó. Ngoài ra còn có những hình ảnh, cảm thọ, suy tư bám vào đó mà không chịu buông ra. Đó là một cái bách hóa tổng hợp.

Chỗ khổ đau là khi nó tổng hợp, vận hành như vậy và nếu vận hành theo chiều thiện thì nó đỡ khổ một chút, không phải là vui, biết giữ giới, từ bỏ sát sanh, trộm cướp, nói dối, nói lời hung ác, nói lưỡi đôi chiều, dối đâm độc nhãn, biết từ bỏ nói những lời nhảm nhí. Từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ si mê, ngu muội, biết từ bỏ, biết tu tập thì đi trên con đường đỡ khổ hơn, tương đối có niềm vui, tạm như vậy.

II. Tâm mê

Nếu vận hành theo chiều bất thiện thì rất khủng khiếp và kinh hãi, nó phải nhận lấy một con mắt mù, đuôi, điếc, câm, ngọng, cùi, bệnh down, chất độc màu da cam, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc phải làm giúp việc, làm thuê, vác mướn, còn bị khinh khi, đánh đập, ủy nhục, bị bóc lột sức lao động, hành hạ, tù tội, án oan... Tất cả những thứ đó vận hành từ nghiệp.

“Này các Tỳ-kheo, ta tuyên bố suy tư, tác ý là nghiệp”, sau khi suy tư thì tạo ra nghiệp thân, nghiệp miệng, nghiệp ý, chính là hành. Suy tư là hành uẩn, từ chỗ suy nghĩ là hành tạo ra nghiệp, tạo ra hai chiều đen trắng. Khi nhìn kĩ bên trong thì không có con người, chủ thể mà chúng cứ kết hợp, liên hệ, mắc xích, vận hành ngày đêm, từng giây, từng phút, từng giờ.

Nên chúng ta chiêm nghiệm việc này thì rất ngao ngán và cứ đi theo chiều vậy đến bảy, tám mươi phần trăm. Chính vì vậy nên người giàu, tỉ phú đếm được bao người? Người có địa vị, sung sướng được bao nhiêu mà người thiếu thốn, nghèo hèn, cực khổ, bệnh hoạn, tật nguyền là bao nhiêu người?

Số người nghèo đó chỉ là hai – ba mươi phần trăm. Đối với tàm tạm là bình thường, có mắt, tai, mũi, lưỡi, không bị thần kinh, còn nói nặng là ngơ ngáo, hỏi này nói kia, mờ mờ, ngu ngu, si si, dại dại, mê mê, thậm chí đánh người khi được cho đồ, cả mẹ ruột cũng có thể giết chết vì không còn nhận thức được nữa. Họ bị xích trong sợi dây xích cả mười tám năm, có gia đình có đến ba người con bị như vậy. Mỗi bữa thì đem cơm trộn với thuốc ngủ, đưa vào song cửa sắt, chịu đựng những cảm thọ đó từ lúc sanh ra đến chết. Cả mười tám năm, ba chục năm như vậy.

Nên chữ “nghiệp” rất khủng khiếp, nó xuất phát từ suy tư, suy tư này xuất phát từ những hình bóng, từ lạc thọ, thúc giục bên trong cứ dâng lên, suy nghĩ, hình bóng chập chờn...

Chúng ta thấy thật khủng khiếp, thấy rất sợ đối với chúng. Ngày đêm hoạt động không ngừng nghỉ, ngủ thì tiếp tục làm việc là chiêm bao, ngồi thiền cũng vận hành làm cho mình mệt mỏi. Đây là năm tổ hợp, vô số tổ hợp bên trong, tìm đâu ra được cái tôi, chủ thể nằm ở đâu trong tất cả sự vận hành đó? Như vậy là tạo ra nghiệp, nhận lấy những quả báo của khổ, chúng ta thấy dòng luân hồi thật oan nghiệt. Tất cả đều vận hành mà không chịu đứng yên, cứ vận chuyển theo một tâm mê muội, ngu si, vô minh bao trùm hết tất cả những cái này là nó vận hành trong một tâm mê này.

Từ tâm mê này:

“Thân trống rỗng không ai trong đó

Tâm vào đây làm tổ chi tâm

Tâm vào đây làm ổ làm gì

Thân trống rỗng dễ tan vỡ lắm.”

Nó làm ổ trong căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ này, làm tổ trong sự hiện hữu này để có sanh, già, bệnh, chết, sầu bi, khổ, ưu não. Tất cả chúng là một sự trống rỗng, chịu sự điều hành của một tâm lậu hoặc, vô minh, mê muội. Chỉ ra những lệnh như dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Đây là những hiệu lệnh của nó ra. Ra lệnh cho mình lún xuống vũng lầy bằng việc giết người, đốt nhà, phóng hỏa, ra lệnh cho mình vào bóng đêm, bóng tối, hắc ám. Tất cả sự vận hành này một ngày chúng ta thấy được bao nhiêu lần?

Mình thấy nó vận hành được bao nhiêu hay là thấy nó chỉ là một đống tồn tại như một người tên Nguyễn Văn A hay là mình nhìn thấy nó được sắc, thọ, tưởng, hành thức mà nó vận hành? Nào là căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ? Hay là mình nhìn thấy một cái tôi, bản ngã hiện rõ ràng ra? Khi chúng ta thấy được nó rồi thì mình mói tu tâm hiền, tâm hiền thiện, những cảm xúc, cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng hiền thiện, đó là hiền trí, thấy được cái đó là trí, tu được những hạnh ngày xưa gọi là hiền.

Nên hôm nay chúng ta chiêm nghiệm pháp tiếp theo thì phải thấy được như vậy bên trong thân tâm của mình.

Chúng ta có về chiêm nghiệm chín pháp an trú tâm này không? Chúng ta cùng nhau chia sẻ sự chiêm nghiệm này:

Ví như, bạch Thế Tôn, một miếng vải lau chùi lau các đồ tịnh, lau các đồ bất tịnh, lau phẩn uế, lau nước tiểu, lau nước miếng, lau mủ, lau máu; tuy vậy miếng vải lau chùi không lo âu, không xấu hổ, không nhàm chán.

Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm như miếng vải lau chùi, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, con trai của một người Candàla (Chiên-đà-la: hạ liệt) hay con gái của một người Candàla, với tây cầm bát ăn xin, mặc đồ rách rưới, đi vào làng hay đi vào thị trấn, với một tâm trạng hạ liệt.

Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như con Chiên-đà-la, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, một con bò đực, với sừng bị cưa, hiền lương, khéo điều phục, khéo huấn luyện, đi lang thang từ đường này đến đường khác, từ ngã tư này đến ngã tư khác, không hại một ai với chân hay với sừng.

Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con an trú với tâm giống như một con bò đực với sừng bị cưa, rộng rãi, rộng lớn, vô lượng, không hận, không sân. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

(Bài kinh Sau Khi An Cư – II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử

- Chương Chín Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh Tập 4)

Ý nói vị đó an trú tâm như miếng vải lau chùi, như nùi dẻ rách, rộng mở, rộng lớn, vô lượng, vô biên, không giận, không sân ai hết.

Xin mời đại chúng chiêm nghiệm pháp quán này từ khi chúng ta được lạy Đức hạnh Ngài Xá-lợi-phất cho đến hôm nay? Trong thời gian rất dài, chúng ta chiêm nghiệm pháp quán này trong tự thân của chúng ta như thế nào? Chúng ta thấy được công năng, tác dụng của miếng lau đó như thế nào và chiêm nghiệm, thực tập như thế nào?

35:00-42:00 Thầy ... trình pháp.

Tiếp theo chúng ta chiêm nghiệm hình ảnh của người ăn xin thấp hèn với con bò đực bị cưa sừng. Chiêm nghiệm cả ba hình ảnh: miếng vải lau chùi, kẻ ăn xin thấp hèn và con bò bị cưa hai sừng.

Hoặc chúng ta có thể chia sẻ chung về hình ảnh tiếp theo:

“Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con lo âu, xấu hổ, nhàm chán với cái thân đầy bất tịnh này. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.

Ví như, bạch Thế Tôn, có người mang một cái bát đầy mỡ, có thủng nhiều lỗ, thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ.

Cũng vậy, bạch Thế Tôn, con mang cái thân này, có thủng nhiều lỗ, có thủng nhiều đường, bị chảy, bị rỉ. Bạch Thế Tôn, với ai không an trú thân niệm, người ấy ở đây, sau khi xâm phạm một vị đồng Phạm hạnh, có thể bỏ đi du hành, không có xin lỗi.”

(Bài kinh Sau Khi An Cư – II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử

- Chương Chín Pháp – Tăng Chi Bộ Kinh Tập 4)

Đó là năm pháp quán sau mà chúng ta thường hay đọc trong bài Đức hạnh Ngài Xá-lợi-phất, chúng ta chiêm nghiệm và thực tập nó thường ngày như thế nào?

Đó là năm hình ảnh, gồm có kẻ nghèo hèn đi ăn xin, miếng giẻ lau chùi, con bò đực bị cưa sừng, xấu hổ, nhàm chán với thân nhơ nhớp bất tịnh, cuối cùng là thân lủng lỗ, rỉ chảy.

44:21-67:00: Phật tử trình pháp.

Khi không còn cảm thọ sân hận nữa cũng giống như con bò không còn cái sừng. “Con an trú với tâm giống như một con bò đực với sừng bị cưa” tức là tâm sân của Ngài đã bị diệt tận.

70:00-104:00: Phật tử trình pháp.

Chúng ta an trú vào những pháp quán đó để thực tập tiếp tục và từ từ chúng ta chia sẻ, trình bày hết để kết thúc buổi hôm nay. Chúng ta nên nhìn thêm điều này một chút. Khi nãy chúng ta thấy nghiệp đi hai đường, đi lên nơi này là khổ, xuống đây là khổ, khổ này là địa ngục, ngã quỷ, súc sanh. Vui này tạm nói là Chư Thiên, chặng giữa là vừa khổ vừa vui, là loài người. Tiến thêm một bước bên trên là đang đi con đường diệt khổ, là Khổ Diệt Thánh Đế, Khổ diệt đạo, là những người tu hành đi con đường này, đạo lộ đi đến sự chấm dứt khổ.

Thêm một bước nữa là hết khổ, chỗ này có thể gọi là tịch tĩnh, đệ nhất lạc, cảnh giới của Đức Phật và các bậc A-la-hán. Cảnh giới của người tu là đang đi trên con đường diệt khổ. Đó là cảnh giới của Chư Thiên, các tầng trời, kế đến là cảnh giới của con người vừa khổ vừa vui, tiếp đến là cảnh giới của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là nơi thuần khổ. Con người thì vừa khổ vừa vui, Chư Thiên thì hưởng phước, tạm gọi là vui, ít khổ, vẫn có khổ nhưng tương đối thì gọi là vui, vẫn có thể bị đọa lạc, rơi xuống.

Giới tu hành của chúng ta là đi đúng Chánh Pháp, là con đường, đạo lộ đi đến sự diệt khổ, là đang diệt khổ. Lên trên là khổ diệt, thành tựu tịch tĩnh, đệ nhất lạc của Niết-bàn. Tất cả sự vận hành này đều nằm nơi nghiệp, nghiệp là từ nơi sự suy tư, là nơi được vận hành bởi các thọ tưởng.

Chúng ta nên nhớ học thuộc năm bài này rất quan trọng: sắc là quán chiếu bất tịnh, tứ đại, chín giai đoạn của tử thi, tất cả thọ đều nằm trong đau khổ. Đức Phật từng nói: “Này các Tỳ-kheo, ta tuyên bố suy tư là nghiệp, tưởng là kết quả của thói quen”. Những câu trên rất quan trọng. Về phần thức, giống như nhà ảo thuật. Như vậy, năm uẩn và nghiệp tái tạo ra tất cả những cái này, như khổ, vui, vui tương đối hay còn ở trong sự tu tập.

Chúng ta nên nhớ: sắc thì quán chiếu về sự bất tịnh để phá, thọ thì tất cả thọ đều nằm trong đau khổ, tưởng là kết quả của thói quen. Đây đều là tinh hoa của kinh Nikāya. Tiếp theo, hành là suy tư, nghiệp, sau khi suy tư thì người đó tạo ra nghiệp, thân, miệng, ý, thức là trò ảo thuật.

Chúng ta trải tâm hiền:

Trải tâm hiền mười phương, rộng lớn và bao la. Cùng khắp mười phương trời là tâm hiền của ta. Tâm hiền này rộng lớn, vô lượng và vô biên. Tâm hiền này tỏa rộng, cùng khắp thế giới này. Tâm hiền này tỏa rộng, khắp trời đất bao la.