Thiền Quán - Không Thâu Nhiếp Thì Khổ Đau
Khóa Tu Nikāya Hà Nội Lần 2 - Thiền Quán
KHÔNG THÂU NHIẾP THÌ KHỔ ĐAU
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sáu xúc xứ – Không thâu nhiếp thì khổ đau PAGEREF _Toc66005673 \h 1
II. Sáu xúc xứ – Thâu nhiếp đem lại an lạc PAGEREF _Toc66005674 \h 2
III. Thực tập thâu nhiếp sáu xúc xứ PAGEREF _Toc66005675 \h 5
IV. Khuyến tấn tu hành PAGEREF _Toc66005676 \h 8
V. Hướng dẫn thực tập nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc66005677 \h 9
I. Sáu xúc xứ – Không thâu nhiếp thì khổ đau
Cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể, cảm nhận không gian nơi này, cảm nhận sự an tịnh trong giờ phút này. Hít vào an tịnh, thở ra lắng dịu, an tịnh… lắng dịu, an tịnh… lắng dịu… dễ chịu. Chúng ta thở vào thở ra và cảm nhận cảm giác dễ chịu tan tỏa trong lồng ngực, thấm đượm trên gương mặt, thấm nhuần trên vai, mình, lưng, dào dạt sung mãn và phủ khắp châu thân cho đến lồng bàn chân, gót chân, đỉnh tóc chúng ta, toàn thể thân tâm chúng ta là một cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và ngọt ngào, một dòng cảm thọ dễ chịu đang lan tỏa từ đảnh tóc cho đến gót chân, thấm nhuần và sung mãn, ngọt ngào và tươi mát. Cảm giác dễ chịu này lan tỏa ra trước mặt, cảm giác dễ chịu này lan tỏa ra không gian trước mặt, bên phải, bên trái, bề dọc, bề ngang, phía trên, phía dưới, lan tỏa ra nhẹ nhàng và thanh tịnh, mát mẻ và thanh lương.
“Có sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?
Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...
... Lưỡi... Thân...
Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.” (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Ngược lại sáu chỗ tiếp xúc đó nếu khéo biết nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thu nhiếp sẽ đem lại an lạc, an vui, bình an. Khi con mắt thấy sắc, lỗ tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân giao tiếp, đụng chạm mà có sự thâu nhiếp, phòng hộ, có sự chánh niệm tỉnh giác sẽ có an lạc, an vui.
Khi ngồi mà những hình bóng trong tâm hiện ra, tưởng hiện khởi, những cảm giác quá khứ hiện ra, những suy nghĩ mình đã suy nghĩ, đang suy nghĩ mà không có chánh niệm tỉnh giác, không phòng hộ, bảo vệ, không thấy rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly trong ý xúc thì mình sẽ mang lại đau khổ cho chính mình. Khi thấy rõ những cảm giác, nghĩ tưởng đó cái nào là thiện lành thì tác ý phát huy, tăng trưởng, phát triển, cái nào bất thiện thì nhiếp phục, đoạn tận, chế ngự sẽ đem lại hạnh phúc lâu dài cho chúng ta.
II. Sáu xúc xứ – Thâu nhiếp đem lại an lạc
Sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.
Hỡi các vị Tỳ-kheo,
Chính sáu xúc xứ này,
Chỗ nào không thâu nhiếp,
Chỗ ấy có đau khổ.
Những ai học biết được,
Chế ngự, phòng hộ chúng,
Với lòng tin làm bạn,
Sống thoát ly dục vọng.
Thấy sắc pháp khả ái,
Thấy sắc không khả ái,
Hãy nhiếp phục đường tham,
Ðối các sắc khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
"Ðối sắc, ta không thích".
Sau khi nghe các tiếng,
Khả ái, không khả ái,
Chớ để tâm say mê,
Với các tiếng khả ái.
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Với tiếng không khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
"Ðối tiếng, ta không thích".
Sau khi ngửi các hương,
Thơm dịu, thật khả ái,
Sau khi ngửi các hương,
Bất tịnh, thật đáng ghét;
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Ðối các hương đáng ghét,
Còn đối hương khả ái,
Chớ để dục chi phối.
Nếm xong vị ngon ngọt,
Và nếm vị không ngon,
Chớ có sanh tham luyến,
Khi hưởng nếm vị ngon,
Chớ nói lời chống đối,
Khi nếm vị không ngon.
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Thích và ghét là hai cái làm cho mình khổ. Thích thì tham ái, bị dính mắc. Ghét thì sân giận, bực tức. Những mùi vị ngon dở khi đưa vào lưỡi hãy xem kĩ, ưa và không ưa, vừa lòng và không vừa lòng, hãy nhiếp phục lòng tham, sân trong các cảm thọ đó sẽ được bình an. Chỗ sâu xa là:
Khi cảm thọ lạc xúc,
Chớ đắm say tham luyến,
Khi cảm thọ khổ xúc,
Chớ bị xúc động mạnh.
Ðối với cả hai xúc,
Lạc, khổ đều niệm xả,
Không thích, không chống đối,
Bất cứ loại xúc nào.
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Dù là vui hay sướng cũng đều trú trong tâm buông xả, mình tác ý buông xả "cảm giác này là vô thường, cảm giác này sanh rồi sẽ diệt, cảm giác này không đáng hoan hỉ, tham đắm". Mình không ưa thích cũng không chống đối bất kì cảm giác nào mà tập một cái tâm bình tĩnh, điềm tĩnh, chánh niệm và trú trong tâm xả, địa chỉ thường trú của người tu là tâm xả chứ không phải nhà số mấy, đường nào.
Nếu sống được như vậy sẽ rất hạnh phúc, tất cả chúng ta đều bị cảm xúc nhận chìm, thích hay không thích, muốn hay không muốn, được hay mất, vinh hay nhục, thành hay bại… đối với những trạng thái đó phải giữ tâm điềm tĩnh và trú xả "những thứ này là vô thường, là khói mây, là sanh diệt", phàm cái gì sanh khởi nhất định phải hoại diệt cho nên không tham đắm vào bất cứ cảm giác nào sanh khởi lên. Đó là thiền định, đó là chánh niệm tỉnh giác, đó là căn nhà bình an, trú xả ở trong tâm thái bỏ xuống, buông xuống.
Ví dụ bàn tay nắm chặt cái chuông này không buông bỏ từ ngày này qua ngày khác thì có khổ không? Khổ vô cùng, vậy mà tâm mình chấp thủ vào ngũ uẩn vô lượng vô biên kiếp rồi mình có thấy khổ không? Nắm cái nào cũng mỏi, càng nắm chặt thì càng đau, càng mỏi mệt cho nên nói đơn giản là đừng nắm chặt thương ghét, có thương thì cũng biết cái thương này vô thường, vẫn thương nhưng biết cảm giác đó vô thường, có ghét cũng biết cảm giác ghét đó vô thường nên buông xả.
Giữa thương và ghét, thích và không thích, cảm thọ lạc và cảm thọ khổ, cảm thọ ưu và cảm thọ hỷ làm chúng ta chết ngay đây. Hãy đoạn trừ tất cả những ảo tưởng, những suy tư theo thường tình, của đúng sai, hay dở, tốt xấu, nhân ngã. Hãy đoạn trừ tất cả những gì tâm ý suy nghĩ, ảo tưởng ra. Thâu nhiếp các hành động để hướng đến sự viễn ly, sự rời xa dục tham, sân hận, vô minh, bản ngã.
III. Thực tập thâu nhiếp sáu xúc xứ
Tiếng kèn đám ma giúp chúng ta hướng đến sự rời xa lòng tham, lòng dục, lòng ái, lòng chấp thủ đối với đời sống này, đối với thân xác này, đối với nhà cửa, ruộng vừa, đất đai, tiền bạc. Tuy rằng vẫn sử dụng nó nhưng không tham đắm, không bám chấp, không đặt hết mình vào trong đó, gọi là không an trú, để tâm hướng đến sự rời xa. Xem những thứ tiện nghi vật chất đó và thậm chí thân xác này là phương tiện để chúng ta chèo chiếc thuyền qua bến bờ giác ngộ, đáo bỉ ngạn, cao đăng giác ngạn, đừng để chiếc thuyền đó nhấn chìm mình, đừng để căn nhà trở thành ngục tù giam hãm mình, đừng để những tờ giấy bạc sai khiến rồi mình trở thành nô lệ cho đồng tiền, hãy sử dụng nó một cách thông minh, trí tuệ. Bằng không mình hệ lụy vào nó rồi đau khổ với nó.
Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai ưa thích các pháp, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. (Tương Ưng Bộ, Chương IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, VIII. Ưa Thích (2)).
Hình hài này là vô thường, là bệnh hoạn, là ốm đau, hình hài này là ung nhọt chín lỗ, là mũi tên. Chúng ta say mê trong hình hài này, sắc thủ uẩn trong hình hài này thì làm sao chúng ta hết khổ, làm sao chúng ta thoát khổ, làm sao chúng ta có thể chấm dứt khổ đau? Mới vừa đây thôi, đứa bé mới học lớp mười một tham gia trò chơi lượn vòng đã không may văng khỏi đường lượn, được đưa vào bệnh viện nhưng không qua khỏi.
Một năm trước đó cha của đứa bé này cũng qua đời do tai nạn. Người vợ như mất hồn, mới mất chồng giờ lại đến mất con, người ông dầm dề trong nước mắt "Nhà cao cửa rộng để làm gì? Tiền bạc nhiều để làm gì khi con chết, cháu chết". Đau khổ! Chúng ta nhìn những gia đình năm-bảy người nhiễm bệnh, bốn-năm người cùng ra đi thì bao nhiêu sự đau khổ trong đó? Phải nhìn thật sâu sắc bản chất của đời sống này, nương vào Thánh trí huệ của Đức Phật để nhìn cho rõ chứ đừng nhìn theo cái nhìn của chúng ta, vì nhìn theo cách nhìn của mình thì chúng ta sẽ đau khổ triền miên, phải nhìn bằng cái nhìn của Đức Phật, bằng cái nhìn của trí tuệ, bằng cái nhìn của Thánh Pháp.
Như vậy đối sáu xứ,
Khi ý khéo tu tập,
Nếu có cảm xúc gì,
Tâm không bị dao động.
Tỳ-kheo hãy nhiếp phục,
Cả hai tham sân ấy,
Hãy đến bờ bên kia,
Vượt buộc ràng sanh tử.
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Bình thường mình đã quán sanh, già, bệnh, chết. Bình thường mình đã quán nó là tan rã, hủy hoại, hoại diệt. Bình thường mình đã thấy nó là vô thường, vô ngã. Đến khi vô thường đến mình sẽ chứng nhập Thánh trí huệ, mình không đau khổ như người phàm phu vì phàm phu tưởng là thường, là bền chắc mãi mãi, họ tưởng là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì tới lúc thân này tan hoại họ sẽ đau khổ.
Đệ tử Phật do hằng ngày, hằng giờ thực tập sự quán chiếu vào bản chất thật của thân thể, của đời sống này thì khi sắp sửa ra đi, tâm chấp nhận sự thật trong trí tuệ sáng rực sẽ không đau khổ, giữa bộn bề cuộc sống này mình sẽ có được sự bình an kì diệu. Chúng ta hãy nghe tiếng trống kèn đám ma này đi sâu vào xương tủy, tiếng kèn trống đó là Khổ Thánh Đế, là Thánh trí tuệ, là Thánh thể nhập, hãy cho cảm thọ đó từ da vào thịt, từ thịt vào xương, từ xương và tủy và cất giữ đó.
Đừng bao giờ quên tiếng kèn trống này, nếu quên đi là sống trong sự thất niệm, là sống trong sự buông lung phóng dật, sống trong sự tham muốn, tham dục, sân hận, hơn thua, đấu đá, nếu quên tiếng trống kèn này là sống trong bóng đêm, si ám, là sống trong bản ngã, cái tôi, cái ta vênh váo, cao ngạo. Mình nhớ tiếng kèn trống này, khắc ghi vào lòng, cất trong trái tim, mỗi ngày đều nhớ tiếng kèn trống này để dẹp đi lòng dục, lòng tham, lòng hơn thua, ganh tị, đố kị, mình sẽ bỏ qua được những thế lợi nhỏ hẹp của cuộc đời này, mình bước qua nó để đi trong khung trời cao rộng của Thánh trí tuệ giải thoát.
Nếu mai đây mình sẽ chết thì còn đi cự cãi với hàng xóm nữa không? Một người nhận tin ung thư giai đoạn cuối, sống chỉ được hai tuần thì còn đi giành giật từng tấc đất không? Một người biết rằng nơi mình ở chuẩn bị xảy ra địa chấn lớn làm sụp đổ toàn bộ, chôn vùi mọi thứ thì người đó còn đi đấu đá, mưu mô, lấn đất người ta không? Hay là nhanh chóng thu dọn đồ đạc để viễn ly, xuất ly, đi ra khỏi nơi đó? Như vậy mới gọi là người thấy được Thánh trí tuệ, thoát khỏi khổ, còn hơn thua, ganh tị, đố kị từng chút một là do chưa thấy khổ mới vậy, chưa biết rằng mình đang bị ung thư thời kì cuối.
IV. Khuyến tấn tu hành
Người xưa có câu "Tu như lửa cháy đầu, cầu chứng cảnh bất động", khi lửa cháy cả áo, nón trên đầu thì phải dùng tất cả mọi cách thức nhanh nhất để dập tắt ngọn lửa đó, đến khi lửa tắt rồi người này mới bình an. Chúng ta đang bị lửa cháy trên áo, trên khăn thì hơi sức nào mà lo hơn thua, để ý những lời nói, những ánh mắt để bắt bẻ nhau rồi cuối cùng là nằm dài trong hòm bên cạnh tiếng trống kèn.
Đó là đại nhân, người lớn mới thấy được việc lớn, chỉ có đại nhân mới thấy việc đại sự, người phàm phu lo rất nhiều chuyện mà lo hoài không xong, càng lo lại càng thêm chuyện trong khi các bậc Thánh chỉ lo duy nhất một việc là họ sợ sanh tử, sợ tái sanh tiếp tục những đời sau lại đầy rẫy vô minh và tham ái, các ngài làm mọi cách để chặn lại ngay đó, diệt tận sanh tử. Từ vô minh và tham ái mới có sanh tử cho nên bây giờ phá vô minh, diệt tham ái sẽ không còn sanh tử, đây cũng là việc làm duy nhất của các bậc Thánh.
Đầu tiên phải biết vô minh, tham ái nằm trong năm uẩn nhưng nếu không biết năm uẩn thì làm sao phá tham sân si, vô minh và tham ái, cũng chính vì thế mà chúng ta phải biết nhận diện năm uẩn là vì thế. Không nhận diện năm uẩn thì người đó không biết gì về thân tâm chính họ, đã không biết thì làm sao quét dọn, lau chùi, làm sao chăm sóc được căn nhà nội tâm?
Chỉ có nhận diện được năm uẩn mới mở ra cánh cửa bước vào thân tâm thật sự, nếu không thấy được năm uẩn thì chỉ có tu trên suy tưởng, trên tưởng tượng vì không nhìn thấy thân tâm thì làm sao mình sửa đổi, làm sao nhiếp phục? Không biết cái tham ở đâu, cái sân bất thình lình phựt lên đốt cháy trong khi mình không biết nó nhen nhóm ở đâu, tại sao nó có, vì sao lại vô minh, đau khổ bắt nguồn từ đâu cũng không biết thì làm sao mình diệt khổ được? Cho nên chỉ có nhận diện năm uẩn mới giải quyết được vấn đề.
V. Hướng dẫn thực tập nhận diện năm uẩn
Minh Thành sẽ hướng dẫn nhận diện năm uẩn. Mọi người nhắm mắt lại lắng nghe tiếng kèn trống đám tang, chúng ta thấy rằng có cảm giác đau buồn, thấy hình bóng của chiếc quan tài hiện ra, có những suy nghĩ về hình bóng của chiếc quan tài đó, suy nghĩ không biết vì sao người đó chết và lúc đó rõ biết mình đang có suy nghĩ, hình bóng, cảm giác như vậy.
Cảm giác đau buồn là thọ, hình bóng chiếc quan tài, những người xung quanh khóc lóc là tưởng, những suy nghĩ là hành, rõ biết ba điều đó đang diễn ra là thức và thân xác đang ngồi là sắc. Chúng ta nhận diện được ngũ uẩn là đọc được thân tâm của mình đúng sự thật, pháp đang diễn ra xung quanh chúng ta chứ không phải là chuyện gì xa xôi, viễn vông, chúng ta cảm nhận và để tâm thì pháp hiện ra còn không để tâm, không cảm nhận thì pháp không hiện ra.
Phải thường xuyên xem lại cảm giác, hình bóng trong tâm, thường xuyên xem lại những suy nghĩ, Đức Phật nói nếu không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp sẽ đem lại đau khổ, còn nếu thường phòng hộ, bảo vệ, hộ trì tâm ý, bên ngoài là năm căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân và bên trong là ý. Thiền là sự nhìn kĩ lại nội tâm xem cái gì đang diễn ra bên trong, còn không thiền là đang hướng ngoại, chạy theo sắc; thanh; mùi; vị bên ngoài.
Thiền của đạo Phật là nhìn một cách chính xác, chân chánh, chân thật nội tâm như thế nào thì nhìn đúng như vậy, đó gọi là biết bằng trí tuệ (tuệ tri), thấy đúng sự thật tự thân chính mình. Nhận diện năm uẩn là nhìn kĩ lại chính xác thân tâm của mình, không có gì xa lạ, khó khăn, nội tâm có tham thì biết lúc đó nội tâm có tham và biết tham này đưa đến khổ nên phải đuổi tham này đi, nội tâm có sân thì biết nội tâm có sân và sân này hại mình hại người nên dập tắt sân này, thân tâm đang có si thì biết thân tâm đang có si và dùng tác ý đánh đuổi nó ra để trí huệ minh đạt.
Thiết thực hiện tại là giáo pháp của Đức Thế Tôn, không đợi đến một khoảng thời gian hết tham mà ngay đó mình đánh đuổi nó là mình nhiếp phục được, lần sau có tham lại làm tiếp, cứ đánh đuổi như thế cho đến cuối cùng là mình chiến thắng. Ngay khi sanh khởi bản ngã, cái ta vênh váo, lên mặt thì biết đang có chấp ngã, đang có bản ngã và cái này đưa đến khổ nên phải chế ngự, phòng hộ, ngay đó Đức Phật nói khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.
Chị xin lỗi em, mẹ xin lỗi con vì có cái tôi, như vậy là sai, vậy là bình an lập tức, "Anh xin lỗi vợ vì anh thấy câu nói khi nãy có cái tôi trong đó, anh không hiểu được tâm tư, nguyện vọng, sự lo lắng, chăm sóc của em. Anh xin lỗi", vậy là ngọt ngào, đó là thu nhiếp bản thân mình, còn đằng này mình cứ thả sức làm theo ý thích, lấy quyền là chồng nói vợ phải nghe như người xưa hay nói "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô", nghĩa là một người con trai cũng tính là có nhưng có đến mười người con gái cũng tính là không.
Lúc nào cũng gia trưởng, lấy quyền làm chồng làm cha, là người chủ gia đình để giải quyết mọi chuyện thì cứ đau khổ, sầu; bi; khổ; ưu; não vẫn tiếp diễn, bản ngã vẫn tăng trưởng và gia đình vẫn bất an dù vẫn đi chùa cầu an đều đều, đó là do giải quyết không đúng gốc ngọn. Lúc nào cũng đi chùa cầu an, cúng kiến để được bình an mà sao gia đình vẫn cứ lục đục hoài, đó là vô minh, mê tín của mình, chánh tín của Đức Phật là phải thấy nguyên nhân khổ thật sự, tìm ra cái khổ nằm trong ngũ uẩn và trong ngũ uẩn là tham sân si, bản ngã.
Đó chính là nguyên nhân của đau khổ, đó là Khổ - Tập Thánh Đế, những nguyên nhân của đau khổ mà bậc Thánh đã giác ngộ, chứng ngộ và truyền lại cho mình, mình phải nắm ngay đó hạ thủ công phu mới bớt khổ, giảm khổ, dứt khổ. Còn đằng này cứ hướng ra ngoài cầu xin, bên trong nội tâm thì không nhìn thấy, không nhiếp phục thì làm sao bớt khổ chứ đừng nói gì đến hết khổ.
Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc).
Thấy ở đây là thấy ngũ uẩn, biết ngũ uẩn. Thấy ngũ uẩn mới thấy được tham sân si vì tham sân si nằm trong những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó. Nếu không biết gì về ngũ uẩn thì làm sao biết được tham sân si? Không biết giặc ở đâu thì làm sao bắn, làm sao trừ diệt? Cầm gươm, giáo đi đánh giặc mà không biết sào huyệt, mặt mũi, tánh tình của nó thì đánh chừng nào mới thắng? Tham sân si, bản ngã là những tên giặc và nó trú ẩn trong cảm giác, nghĩ tưởng của chúng ta. Phải nhìn thấy và khi đã thấy nó rồi phải nhiếp phục, phòng hộ, bảo vệ mới đem đến an lạc, bình an và hạnh phúc. Còn không thấy thì đem đến đau khổ lâu dài và bất tận, khổ đến tận kiếp sau, nó đưa mình đi trầm luân trôi nổi không có ngày ra.
Tiếng trống kèn đã im rồi nhưng mọi người đừng quên, nhất là những cụ lớn tuổi và những người bệnh phải nhớ không có đáng để yêu thích, nếu thật sự cái chết đến thì hãy bỏ cái áo cũ xấu xí, hôi dơ này để mặc cái áo sạch hơn, đẹp hơn của bậc Thánh, của trí tuệ, của công đức. Cho nên hãy tận dụng thời gian này để tu hành tất cả các thiện Pháp công đức và trí tuệ, đó là người khôn ngoan, trí tuệ, bậc minh đạt, bậc nhìn thấy, bậc thấy biết.
./.
KHÔNG THÂU NHIẾP THÌ KHỔ ĐAU
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sáu xúc xứ – Không thâu nhiếp thì khổ đau PAGEREF _Toc66005673 \h 1
II. Sáu xúc xứ – Thâu nhiếp đem lại an lạc PAGEREF _Toc66005674 \h 2
III. Thực tập thâu nhiếp sáu xúc xứ PAGEREF _Toc66005675 \h 5
IV. Khuyến tấn tu hành PAGEREF _Toc66005676 \h 8
V. Hướng dẫn thực tập nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc66005677 \h 9
I. Sáu xúc xứ – Không thâu nhiếp thì khổ đau
Cảm nhận cảm giác toàn bộ cơ thể, cảm nhận không gian nơi này, cảm nhận sự an tịnh trong giờ phút này. Hít vào an tịnh, thở ra lắng dịu, an tịnh… lắng dịu, an tịnh… lắng dịu… dễ chịu. Chúng ta thở vào thở ra và cảm nhận cảm giác dễ chịu tan tỏa trong lồng ngực, thấm đượm trên gương mặt, thấm nhuần trên vai, mình, lưng, dào dạt sung mãn và phủ khắp châu thân cho đến lồng bàn chân, gót chân, đỉnh tóc chúng ta, toàn thể thân tâm chúng ta là một cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu và ngọt ngào, một dòng cảm thọ dễ chịu đang lan tỏa từ đảnh tóc cho đến gót chân, thấm nhuần và sung mãn, ngọt ngào và tươi mát. Cảm giác dễ chịu này lan tỏa ra trước mặt, cảm giác dễ chịu này lan tỏa ra không gian trước mặt, bên phải, bên trái, bề dọc, bề ngang, phía trên, phía dưới, lan tỏa ra nhẹ nhàng và thanh tịnh, mát mẻ và thanh lương.
“Có sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?
Mắt xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ... Tai... Mũi...
... Lưỡi... Thân...
Ý xúc xứ, này các Tỳ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.” (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Ngược lại sáu chỗ tiếp xúc đó nếu khéo biết nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thu nhiếp sẽ đem lại an lạc, an vui, bình an. Khi con mắt thấy sắc, lỗ tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân giao tiếp, đụng chạm mà có sự thâu nhiếp, phòng hộ, có sự chánh niệm tỉnh giác sẽ có an lạc, an vui.
Khi ngồi mà những hình bóng trong tâm hiện ra, tưởng hiện khởi, những cảm giác quá khứ hiện ra, những suy nghĩ mình đã suy nghĩ, đang suy nghĩ mà không có chánh niệm tỉnh giác, không phòng hộ, bảo vệ, không thấy rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly trong ý xúc thì mình sẽ mang lại đau khổ cho chính mình. Khi thấy rõ những cảm giác, nghĩ tưởng đó cái nào là thiện lành thì tác ý phát huy, tăng trưởng, phát triển, cái nào bất thiện thì nhiếp phục, đoạn tận, chế ngự sẽ đem lại hạnh phúc lâu dài cho chúng ta.
II. Sáu xúc xứ – Thâu nhiếp đem lại an lạc
Sáu xúc xứ này, này các Tỳ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.
Hỡi các vị Tỳ-kheo,
Chính sáu xúc xứ này,
Chỗ nào không thâu nhiếp,
Chỗ ấy có đau khổ.
Những ai học biết được,
Chế ngự, phòng hộ chúng,
Với lòng tin làm bạn,
Sống thoát ly dục vọng.
Thấy sắc pháp khả ái,
Thấy sắc không khả ái,
Hãy nhiếp phục đường tham,
Ðối các sắc khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
"Ðối sắc, ta không thích".
Sau khi nghe các tiếng,
Khả ái, không khả ái,
Chớ để tâm say mê,
Với các tiếng khả ái.
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Với tiếng không khả ái,
Chớ khiến ý nhiễm ô:
"Ðối tiếng, ta không thích".
Sau khi ngửi các hương,
Thơm dịu, thật khả ái,
Sau khi ngửi các hương,
Bất tịnh, thật đáng ghét;
Hãy nhiếp phục lòng sân,
Ðối các hương đáng ghét,
Còn đối hương khả ái,
Chớ để dục chi phối.
Nếm xong vị ngon ngọt,
Và nếm vị không ngon,
Chớ có sanh tham luyến,
Khi hưởng nếm vị ngon,
Chớ nói lời chống đối,
Khi nếm vị không ngon.
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Thích và ghét là hai cái làm cho mình khổ. Thích thì tham ái, bị dính mắc. Ghét thì sân giận, bực tức. Những mùi vị ngon dở khi đưa vào lưỡi hãy xem kĩ, ưa và không ưa, vừa lòng và không vừa lòng, hãy nhiếp phục lòng tham, sân trong các cảm thọ đó sẽ được bình an. Chỗ sâu xa là:
Khi cảm thọ lạc xúc,
Chớ đắm say tham luyến,
Khi cảm thọ khổ xúc,
Chớ bị xúc động mạnh.
Ðối với cả hai xúc,
Lạc, khổ đều niệm xả,
Không thích, không chống đối,
Bất cứ loại xúc nào.
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Dù là vui hay sướng cũng đều trú trong tâm buông xả, mình tác ý buông xả "cảm giác này là vô thường, cảm giác này sanh rồi sẽ diệt, cảm giác này không đáng hoan hỉ, tham đắm". Mình không ưa thích cũng không chống đối bất kì cảm giác nào mà tập một cái tâm bình tĩnh, điềm tĩnh, chánh niệm và trú trong tâm xả, địa chỉ thường trú của người tu là tâm xả chứ không phải nhà số mấy, đường nào.
Nếu sống được như vậy sẽ rất hạnh phúc, tất cả chúng ta đều bị cảm xúc nhận chìm, thích hay không thích, muốn hay không muốn, được hay mất, vinh hay nhục, thành hay bại… đối với những trạng thái đó phải giữ tâm điềm tĩnh và trú xả "những thứ này là vô thường, là khói mây, là sanh diệt", phàm cái gì sanh khởi nhất định phải hoại diệt cho nên không tham đắm vào bất cứ cảm giác nào sanh khởi lên. Đó là thiền định, đó là chánh niệm tỉnh giác, đó là căn nhà bình an, trú xả ở trong tâm thái bỏ xuống, buông xuống.
Ví dụ bàn tay nắm chặt cái chuông này không buông bỏ từ ngày này qua ngày khác thì có khổ không? Khổ vô cùng, vậy mà tâm mình chấp thủ vào ngũ uẩn vô lượng vô biên kiếp rồi mình có thấy khổ không? Nắm cái nào cũng mỏi, càng nắm chặt thì càng đau, càng mỏi mệt cho nên nói đơn giản là đừng nắm chặt thương ghét, có thương thì cũng biết cái thương này vô thường, vẫn thương nhưng biết cảm giác đó vô thường, có ghét cũng biết cảm giác ghét đó vô thường nên buông xả.
Giữa thương và ghét, thích và không thích, cảm thọ lạc và cảm thọ khổ, cảm thọ ưu và cảm thọ hỷ làm chúng ta chết ngay đây. Hãy đoạn trừ tất cả những ảo tưởng, những suy tư theo thường tình, của đúng sai, hay dở, tốt xấu, nhân ngã. Hãy đoạn trừ tất cả những gì tâm ý suy nghĩ, ảo tưởng ra. Thâu nhiếp các hành động để hướng đến sự viễn ly, sự rời xa dục tham, sân hận, vô minh, bản ngã.
III. Thực tập thâu nhiếp sáu xúc xứ
Tiếng kèn đám ma giúp chúng ta hướng đến sự rời xa lòng tham, lòng dục, lòng ái, lòng chấp thủ đối với đời sống này, đối với thân xác này, đối với nhà cửa, ruộng vừa, đất đai, tiền bạc. Tuy rằng vẫn sử dụng nó nhưng không tham đắm, không bám chấp, không đặt hết mình vào trong đó, gọi là không an trú, để tâm hướng đến sự rời xa. Xem những thứ tiện nghi vật chất đó và thậm chí thân xác này là phương tiện để chúng ta chèo chiếc thuyền qua bến bờ giác ngộ, đáo bỉ ngạn, cao đăng giác ngạn, đừng để chiếc thuyền đó nhấn chìm mình, đừng để căn nhà trở thành ngục tù giam hãm mình, đừng để những tờ giấy bạc sai khiến rồi mình trở thành nô lệ cho đồng tiền, hãy sử dụng nó một cách thông minh, trí tuệ. Bằng không mình hệ lụy vào nó rồi đau khổ với nó.
Ai ưa thích các sắc, này các Tỳ-kheo, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. Ai ưa thích các tiếng... các hương... các vị... các xúc... Ai ưa thích các pháp, người ấy ưa thích khổ. Ai ưa thích khổ, Ta nói người ấy không thoát khỏi khổ. (Tương Ưng Bộ, Chương IV. Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a), Phần Một – Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, VIII. Ưa Thích (2)).
Hình hài này là vô thường, là bệnh hoạn, là ốm đau, hình hài này là ung nhọt chín lỗ, là mũi tên. Chúng ta say mê trong hình hài này, sắc thủ uẩn trong hình hài này thì làm sao chúng ta hết khổ, làm sao chúng ta thoát khổ, làm sao chúng ta có thể chấm dứt khổ đau? Mới vừa đây thôi, đứa bé mới học lớp mười một tham gia trò chơi lượn vòng đã không may văng khỏi đường lượn, được đưa vào bệnh viện nhưng không qua khỏi.
Một năm trước đó cha của đứa bé này cũng qua đời do tai nạn. Người vợ như mất hồn, mới mất chồng giờ lại đến mất con, người ông dầm dề trong nước mắt "Nhà cao cửa rộng để làm gì? Tiền bạc nhiều để làm gì khi con chết, cháu chết". Đau khổ! Chúng ta nhìn những gia đình năm-bảy người nhiễm bệnh, bốn-năm người cùng ra đi thì bao nhiêu sự đau khổ trong đó? Phải nhìn thật sâu sắc bản chất của đời sống này, nương vào Thánh trí huệ của Đức Phật để nhìn cho rõ chứ đừng nhìn theo cái nhìn của chúng ta, vì nhìn theo cách nhìn của mình thì chúng ta sẽ đau khổ triền miên, phải nhìn bằng cái nhìn của Đức Phật, bằng cái nhìn của trí tuệ, bằng cái nhìn của Thánh Pháp.
Như vậy đối sáu xứ,
Khi ý khéo tu tập,
Nếu có cảm xúc gì,
Tâm không bị dao động.
Tỳ-kheo hãy nhiếp phục,
Cả hai tham sân ấy,
Hãy đến bờ bên kia,
Vượt buộc ràng sanh tử.
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), V. Phẩm Từ Bỏ, I. Thâu Nhiếp)
Bình thường mình đã quán sanh, già, bệnh, chết. Bình thường mình đã quán nó là tan rã, hủy hoại, hoại diệt. Bình thường mình đã thấy nó là vô thường, vô ngã. Đến khi vô thường đến mình sẽ chứng nhập Thánh trí huệ, mình không đau khổ như người phàm phu vì phàm phu tưởng là thường, là bền chắc mãi mãi, họ tưởng là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi thì tới lúc thân này tan hoại họ sẽ đau khổ.
Đệ tử Phật do hằng ngày, hằng giờ thực tập sự quán chiếu vào bản chất thật của thân thể, của đời sống này thì khi sắp sửa ra đi, tâm chấp nhận sự thật trong trí tuệ sáng rực sẽ không đau khổ, giữa bộn bề cuộc sống này mình sẽ có được sự bình an kì diệu. Chúng ta hãy nghe tiếng trống kèn đám ma này đi sâu vào xương tủy, tiếng kèn trống đó là Khổ Thánh Đế, là Thánh trí tuệ, là Thánh thể nhập, hãy cho cảm thọ đó từ da vào thịt, từ thịt vào xương, từ xương và tủy và cất giữ đó.
Đừng bao giờ quên tiếng kèn trống này, nếu quên đi là sống trong sự thất niệm, là sống trong sự buông lung phóng dật, sống trong sự tham muốn, tham dục, sân hận, hơn thua, đấu đá, nếu quên tiếng trống kèn này là sống trong bóng đêm, si ám, là sống trong bản ngã, cái tôi, cái ta vênh váo, cao ngạo. Mình nhớ tiếng kèn trống này, khắc ghi vào lòng, cất trong trái tim, mỗi ngày đều nhớ tiếng kèn trống này để dẹp đi lòng dục, lòng tham, lòng hơn thua, ganh tị, đố kị, mình sẽ bỏ qua được những thế lợi nhỏ hẹp của cuộc đời này, mình bước qua nó để đi trong khung trời cao rộng của Thánh trí tuệ giải thoát.
Nếu mai đây mình sẽ chết thì còn đi cự cãi với hàng xóm nữa không? Một người nhận tin ung thư giai đoạn cuối, sống chỉ được hai tuần thì còn đi giành giật từng tấc đất không? Một người biết rằng nơi mình ở chuẩn bị xảy ra địa chấn lớn làm sụp đổ toàn bộ, chôn vùi mọi thứ thì người đó còn đi đấu đá, mưu mô, lấn đất người ta không? Hay là nhanh chóng thu dọn đồ đạc để viễn ly, xuất ly, đi ra khỏi nơi đó? Như vậy mới gọi là người thấy được Thánh trí tuệ, thoát khỏi khổ, còn hơn thua, ganh tị, đố kị từng chút một là do chưa thấy khổ mới vậy, chưa biết rằng mình đang bị ung thư thời kì cuối.
IV. Khuyến tấn tu hành
Người xưa có câu "Tu như lửa cháy đầu, cầu chứng cảnh bất động", khi lửa cháy cả áo, nón trên đầu thì phải dùng tất cả mọi cách thức nhanh nhất để dập tắt ngọn lửa đó, đến khi lửa tắt rồi người này mới bình an. Chúng ta đang bị lửa cháy trên áo, trên khăn thì hơi sức nào mà lo hơn thua, để ý những lời nói, những ánh mắt để bắt bẻ nhau rồi cuối cùng là nằm dài trong hòm bên cạnh tiếng trống kèn.
Đó là đại nhân, người lớn mới thấy được việc lớn, chỉ có đại nhân mới thấy việc đại sự, người phàm phu lo rất nhiều chuyện mà lo hoài không xong, càng lo lại càng thêm chuyện trong khi các bậc Thánh chỉ lo duy nhất một việc là họ sợ sanh tử, sợ tái sanh tiếp tục những đời sau lại đầy rẫy vô minh và tham ái, các ngài làm mọi cách để chặn lại ngay đó, diệt tận sanh tử. Từ vô minh và tham ái mới có sanh tử cho nên bây giờ phá vô minh, diệt tham ái sẽ không còn sanh tử, đây cũng là việc làm duy nhất của các bậc Thánh.
Đầu tiên phải biết vô minh, tham ái nằm trong năm uẩn nhưng nếu không biết năm uẩn thì làm sao phá tham sân si, vô minh và tham ái, cũng chính vì thế mà chúng ta phải biết nhận diện năm uẩn là vì thế. Không nhận diện năm uẩn thì người đó không biết gì về thân tâm chính họ, đã không biết thì làm sao quét dọn, lau chùi, làm sao chăm sóc được căn nhà nội tâm?
Chỉ có nhận diện được năm uẩn mới mở ra cánh cửa bước vào thân tâm thật sự, nếu không thấy được năm uẩn thì chỉ có tu trên suy tưởng, trên tưởng tượng vì không nhìn thấy thân tâm thì làm sao mình sửa đổi, làm sao nhiếp phục? Không biết cái tham ở đâu, cái sân bất thình lình phựt lên đốt cháy trong khi mình không biết nó nhen nhóm ở đâu, tại sao nó có, vì sao lại vô minh, đau khổ bắt nguồn từ đâu cũng không biết thì làm sao mình diệt khổ được? Cho nên chỉ có nhận diện năm uẩn mới giải quyết được vấn đề.
V. Hướng dẫn thực tập nhận diện năm uẩn
Minh Thành sẽ hướng dẫn nhận diện năm uẩn. Mọi người nhắm mắt lại lắng nghe tiếng kèn trống đám tang, chúng ta thấy rằng có cảm giác đau buồn, thấy hình bóng của chiếc quan tài hiện ra, có những suy nghĩ về hình bóng của chiếc quan tài đó, suy nghĩ không biết vì sao người đó chết và lúc đó rõ biết mình đang có suy nghĩ, hình bóng, cảm giác như vậy.
Cảm giác đau buồn là thọ, hình bóng chiếc quan tài, những người xung quanh khóc lóc là tưởng, những suy nghĩ là hành, rõ biết ba điều đó đang diễn ra là thức và thân xác đang ngồi là sắc. Chúng ta nhận diện được ngũ uẩn là đọc được thân tâm của mình đúng sự thật, pháp đang diễn ra xung quanh chúng ta chứ không phải là chuyện gì xa xôi, viễn vông, chúng ta cảm nhận và để tâm thì pháp hiện ra còn không để tâm, không cảm nhận thì pháp không hiện ra.
Phải thường xuyên xem lại cảm giác, hình bóng trong tâm, thường xuyên xem lại những suy nghĩ, Đức Phật nói nếu không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp sẽ đem lại đau khổ, còn nếu thường phòng hộ, bảo vệ, hộ trì tâm ý, bên ngoài là năm căn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân và bên trong là ý. Thiền là sự nhìn kĩ lại nội tâm xem cái gì đang diễn ra bên trong, còn không thiền là đang hướng ngoại, chạy theo sắc; thanh; mùi; vị bên ngoài.
Thiền của đạo Phật là nhìn một cách chính xác, chân chánh, chân thật nội tâm như thế nào thì nhìn đúng như vậy, đó gọi là biết bằng trí tuệ (tuệ tri), thấy đúng sự thật tự thân chính mình. Nhận diện năm uẩn là nhìn kĩ lại chính xác thân tâm của mình, không có gì xa lạ, khó khăn, nội tâm có tham thì biết lúc đó nội tâm có tham và biết tham này đưa đến khổ nên phải đuổi tham này đi, nội tâm có sân thì biết nội tâm có sân và sân này hại mình hại người nên dập tắt sân này, thân tâm đang có si thì biết thân tâm đang có si và dùng tác ý đánh đuổi nó ra để trí huệ minh đạt.
Thiết thực hiện tại là giáo pháp của Đức Thế Tôn, không đợi đến một khoảng thời gian hết tham mà ngay đó mình đánh đuổi nó là mình nhiếp phục được, lần sau có tham lại làm tiếp, cứ đánh đuổi như thế cho đến cuối cùng là mình chiến thắng. Ngay khi sanh khởi bản ngã, cái ta vênh váo, lên mặt thì biết đang có chấp ngã, đang có bản ngã và cái này đưa đến khổ nên phải chế ngự, phòng hộ, ngay đó Đức Phật nói khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.
Chị xin lỗi em, mẹ xin lỗi con vì có cái tôi, như vậy là sai, vậy là bình an lập tức, "Anh xin lỗi vợ vì anh thấy câu nói khi nãy có cái tôi trong đó, anh không hiểu được tâm tư, nguyện vọng, sự lo lắng, chăm sóc của em. Anh xin lỗi", vậy là ngọt ngào, đó là thu nhiếp bản thân mình, còn đằng này mình cứ thả sức làm theo ý thích, lấy quyền là chồng nói vợ phải nghe như người xưa hay nói "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô", nghĩa là một người con trai cũng tính là có nhưng có đến mười người con gái cũng tính là không.
Lúc nào cũng gia trưởng, lấy quyền làm chồng làm cha, là người chủ gia đình để giải quyết mọi chuyện thì cứ đau khổ, sầu; bi; khổ; ưu; não vẫn tiếp diễn, bản ngã vẫn tăng trưởng và gia đình vẫn bất an dù vẫn đi chùa cầu an đều đều, đó là do giải quyết không đúng gốc ngọn. Lúc nào cũng đi chùa cầu an, cúng kiến để được bình an mà sao gia đình vẫn cứ lục đục hoài, đó là vô minh, mê tín của mình, chánh tín của Đức Phật là phải thấy nguyên nhân khổ thật sự, tìm ra cái khổ nằm trong ngũ uẩn và trong ngũ uẩn là tham sân si, bản ngã.
Đó chính là nguyên nhân của đau khổ, đó là Khổ - Tập Thánh Đế, những nguyên nhân của đau khổ mà bậc Thánh đã giác ngộ, chứng ngộ và truyền lại cho mình, mình phải nắm ngay đó hạ thủ công phu mới bớt khổ, giảm khổ, dứt khổ. Còn đằng này cứ hướng ra ngoài cầu xin, bên trong nội tâm thì không nhìn thấy, không nhiếp phục thì làm sao bớt khổ chứ đừng nói gì đến hết khổ.
Này các Tỳ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. (Trung Bộ Kinh, 2. Kinh Tất cả các lậu hoặc).
Thấy ở đây là thấy ngũ uẩn, biết ngũ uẩn. Thấy ngũ uẩn mới thấy được tham sân si vì tham sân si nằm trong những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó. Nếu không biết gì về ngũ uẩn thì làm sao biết được tham sân si? Không biết giặc ở đâu thì làm sao bắn, làm sao trừ diệt? Cầm gươm, giáo đi đánh giặc mà không biết sào huyệt, mặt mũi, tánh tình của nó thì đánh chừng nào mới thắng? Tham sân si, bản ngã là những tên giặc và nó trú ẩn trong cảm giác, nghĩ tưởng của chúng ta. Phải nhìn thấy và khi đã thấy nó rồi phải nhiếp phục, phòng hộ, bảo vệ mới đem đến an lạc, bình an và hạnh phúc. Còn không thấy thì đem đến đau khổ lâu dài và bất tận, khổ đến tận kiếp sau, nó đưa mình đi trầm luân trôi nổi không có ngày ra.
Tiếng trống kèn đã im rồi nhưng mọi người đừng quên, nhất là những cụ lớn tuổi và những người bệnh phải nhớ không có đáng để yêu thích, nếu thật sự cái chết đến thì hãy bỏ cái áo cũ xấu xí, hôi dơ này để mặc cái áo sạch hơn, đẹp hơn của bậc Thánh, của trí tuệ, của công đức. Cho nên hãy tận dụng thời gian này để tu hành tất cả các thiện Pháp công đức và trí tuệ, đó là người khôn ngoan, trí tuệ, bậc minh đạt, bậc nhìn thấy, bậc thấy biết.
./.