Kinh Chánh Tri Kiến 5 - Bốn Loại Thức Ăn Từ Nơi Ái 2
Kinh Nikāya Giảng Giải
BỐN LOẠI THỨC ĂN TỪ NƠI ÁI 2
KINH CHÁNH TRI KIẾN 5
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đoàn thực PAGEREF _Toc112677086 \h 1
II. Xúc thực PAGEREF _Toc112677087 \h 8
III. Tư niệm thực PAGEREF _Toc112677088 \h 14
I. Đoàn thực
Chúng ta đang tìm hiểu bài kinh Chánh tri kiến do bậc tướng quân Chánh pháp chí thượng thanh văn là tôn giả Xá-lợi-phất (Sàriputta) thuyết giảng. Chúng ta đang liên hệ đến bài kinh Thịt đứa con, có hai vợ chồng và đứa con đi qua vùng hoang vu, vì muốn bảo toàn tính mạng không để cho cả ba người đều chết nên cha mẹ đứa trẻ này đã bấm bụng hi sinh đứa con nhỏ.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.
Rồi này các Tỳ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.
Rồi này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: "Đồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng ta đều bị chết hại".
Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực, than khóc: "Đứa con một ở đâu? Đứa con một ở đâu?"
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
-- Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
-- Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy. Này các Tỳ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này".
(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Khi hai vợ chồng ăn thịt đứa con để sinh tồn trên đoạn đường vừa dài vừa hoang vu thì họ đấm ngực than khóc "Đứa con một của tôi ở đâu?", họ ăn trong nước mắt, ăn trong sự đau xót tột cùng. Đức Phật đã hỏi họ ăn để làm đẹp, để làm trang sức, để tham đắm hay để béo tốt, các vị Tỳ-kheo trả lời không phải vậy. Đức Phật nói họ ăn chỉ để vượt qua vùng hoang vu và "đoàn thực cần phải nhận xét như vậy", điều này rất sâu sắc trong sự tu học của chúng ta, tuy chúng ta chưa thực hành được nhưng chúng ta phải biết để thực tập được bao nhiêu thì quý bấy nhiêu, nếu thực tập được nhiều thì thành tựu cứu cánh phạm hạnh của người xuất gia, còn không học cái này thì lúc ăn mình hoàn toàn không biết gì cả.
Tại sao Đức Phật đưa ra ví dụ này? Trong rau củ của chúng ta ăn vẫn có những con côn trùng, có khi thấy khi không cho nên khi nấu lên có con sâu xanh nằm trong đó, mỗi khi tráng bát uống nước sau khi dùng cơm thì đọc bài "Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng", trong nước có rất nhiều vi trùng nên khi uống vào là mình đang sát sanh vì thế đừng nghĩ ăn chay là mình không sát sanh, chỉ là do mình không thấy được hết những sinh vật vi tế nhỏ bé. Vì thế trong mỗi cái ăn uống của chúng ta có rất nhiều chúng sanh trong đó nhưng vấn đề quan trọng là ái tập khởi cho nên tứ thực tập khởi.
"-- Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn? Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế, hai là xúc thực, ba là tư niệm thực, bốn là thức thực.
Và này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Bốn loại đồ ăn này do ái làm nhân, do ái tập khởi, do ái tác sanh, do ái làm hiện hữu".
(Tương Ưng Bộ, tập II. Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Đồ Ăn, XI. Các Loại Đồ Ăn).
Tập là tập hợp, khởi là làm cho sinh khởi ra, phải nắm vững thì khi đọc kinh mới hiểu được. Đoàn thực là thức ăn thô tế ngon dở có mặt, ái tập khởi cho nên đoàn thực tập khởi, có những thế giới không ăn đồ ăn đoàn thực như mình, họ không có thân tướng máu thịt mà thân là ánh sáng và lấy niềm vui làm thức ăn như Quang Âm thiên.
"Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đây, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài".
(Trung Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Không phải chúng sanh nào cũng ăn giống như mình, không phải chúng sanh nào cũng có thân hình máu thịt giống mình, mình chỉ biết trong phạm trù của loài người thôi, có nhiều dạng thức chúng sanh khác không ăn uống thô thiển đoàn thực như chúng ta. Vấn đề quan trọng là sự yêu thích, ham muốn, thích thú, tham đắm trong món ăn đó, vì thế ái tập khởi nên thức ăn tập khởi, ngày xưa Đức Thế Tôn còn tại thế thì các chư Tỳ-kheo ăn một ngày một bữa, thiền định dưới gốc cây ven suối, ven bìa rừng, trong căn nhà trống hoặc trong bãi tha ma.
Khi mang bình bát đi khất thực người ta cho gì là quyền của người ta chứ mình không được lựa chọn, đi lại người này thì họ cho cơm, đi đến người kia thì họ cho chè, có người cúng canh, nhà người ta có gì họ cúng cái đó nên trong cái bình bát đó đựng chung có thể là chè, cháo, canh, cơm, bánh… về nhà trộn lên để ăn nhằm mục đích phá hương ái, vị ái.
Có tất cả sáu ái: Sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái; pháp ái, có một vị Hòa Thượng lớn bên Nam Tông, ngài tâm sự rất chân thành không phải dễ để làm đúng theo lời Đức Phật, ngài nói "Cái gì tôi cũng cố gắng làm cho được hết nhưng chỉ có một việc trộn mọi thức ăn trong bát để ăn là không thể", thật sự rất khó ăn nhưng phải như vậy để phá sự ham thích (ái) trong khi ăn, vì trộn lẫn mọi thứ với nhau là phá hết vị giác, không có món nào ra món nào, cơm trộn với chè, canh chua, bánh thì ra vị gì nhưng vẫn phải ăn, đó là tinh thần của Đức Phật khi xưa để phá sự yêu thích, đam mê, khoan khoái.
Như Đức Phật đã nói ở bài kinh trên, ăn không phải để đam mê, béo tốt, trang sức hay làm đẹp, đó là một trong tám công đức của một vị Tỳ-kheo khi thọ thực, ăn không phải để vui đùa, đam mê, ưa thích hay để hưởng thụ mà ăn để nuôi sống thân mạng này nhằm tăng thượng giới đức – thiền định – trí tuệ, để thành tựu cứu cánh phạm hạnh, ví dụ này nhắc chúng ta mỗi khi ăn khởi quán chiếu lên để mình bớt sự thúc giục bên trong, bớt sự yêu thích, tham đắm đối với thức ăn vì khi ăn là dục, tham, ái hoạt động trong cảm giác của chúng ta.
Nếu mình đang đói mà bên ngoài có nhiều món ngon thì bên trong sẽ là một sự thúc giục, do duyên có lưỡi, có thức ăn khởi lên sự rõ biết thức ăn, ba pháp này hội tu, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lưỡi gọi là thiệt xúc, khi có sự tiếp xúc của lưỡi với thức ăn sẽ có thọ do thiệt xúc sanh, lập tức sanh khởi ra cảm thọ, cảm giác, ái sanh khởi.
Chúng ta cần học thuộc định nghĩa sáu pháp, duyên sanh pháp, bốn định nghĩa về năm uẩn trong phần Căn bản trí, vì không nắm vững phần này thì không thể nhận diện các pháp. Khi ăn chỉ thấy "Tôi ăn ngon quá", đó là cái thấy tà kiến, đây là điều sâu sắc của một người tu, nếu khi ăn mà chỉ thấy mình ăn ngon thì đó là tà kiến chứ không phải đệ tử Phật. Mình phải thấy do duyên có lưỡi và các vị sanh khởi ra thiệt thức là sự rõ biết các vị, ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành sự tiếp xúc của lưỡi gọi là thiệt xúc, khi tiếp xúc như vậy thì cảm thọ sanh khởi gọi là thọ do thiệt xúc sanh, sau đó ăn xong rồi trở về nhà nhưng mình thích món đó thì sanh khởi ra vị tưởng, vị tư, tức là hình bóng của món ăn và mùi vị sanh khởi trong tâm.
Ví dụ mình thích món phở, ăn rồi nhưng vài ngày sau hình bóng tô phở hiện ra, mùi vị hiện ra gọi là sắc tưởng, sắc tư, vị tưởng, vị tư trong đó, mình thấy được quá trình vận hành của các pháp nên không có cái "tôi" trong đó mà chỉ là căn – trần – thức – xúc – thọ – tưởng – tư chứ không có cái "tôi ăn ngon", đó mới là cái nhìn của bậc Đa văn Thánh đệ tử trong khi ăn. Trong sự tu học này phải nghiêm túc, sâu sắc, có nhiều phương tiện, khía cạnh đánh thẳng vào dục, tham, ái là nguồn cội gây khổ đau. Còn khi không biết gì thì cứ ăn rồi thích thú, đam mê, món này ăn để đẹp da, món này ăn bổ thận, món kia ăn để tốt gan… tất cả cái đó không phải là cách ăn của người xuất gia theo tinh thần Đức Phật, không thấy được thịt đứa con.
"-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy. Này các Tỳ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này".
(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Từ "hiểu biết" trong kinh dùng chính là tuệ tri, nghĩ là biết bằng trí tuệ. Khi một vị Đa văn Thánh đệ tử thành tựu trí tuệ biết rõ về những thức ăn đoàn thực này, trong năm pháp tu để thành tựu minh phần, để phá vô minh thì Đức Phật dạy thứ nhất cần quán bất tịnh, thứ hai là ghê tởm đối với thức ăn, thứ ba là quay lưng với sự lòe loẹt của thế giới, thứ tư là quán vô thường đối với tất cả các hành, thứ năm là thường xuyên an trú niệm tử. Thành tựu năm pháp này sẽ đưa mình đến tâm giải thoát quả, tức là thành Thánh quả A-la-hán.
"Có năm tưởng này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, đưa đến cứu cánh bất tử. Thế nào là năm?
Tưởng bất tịnh, tưởng chết, tưởng nguy hại, tưởng ghê tởm các món ăn, tưởng không có hân hoan đối với tất cả thế giới.
Năm tưởng này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, đưa đến cứu cánh bất tử".
(Tăng Chi Bộ, chương V – Năm Pháp, VII. Phẩm Tưởng, (I) Các Tưởng (1))
Đó là tại sao chúng ta phải quán ghê tởm đối với thức ăn, những thứ đồ ăn mình bỏ quên vài ngày là nó hư thối, thậm chí có cả giòi bò lúc nhúc mà đó là đồ chay, là những món thực vật chứ đồ mặn thì còn khủng khiếp hơn nữa. Khi đồ ăn đã được ăn vào bao tử đến khi bài tiết ra thì ôi thôi gớm ghê, vì thế vị Đa văn Thánh đệ tử phải thường xuyên quán chiếu tuệ tri đối với thức ăn, vì khi đã hiểu biết đối với thức ăn thì lòng tham của mình đối với năm dục trưởng dưỡng sẽ được thấu hiểu, tức là giảm bớt, nhiếp phục và chấm dứt lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng: Sắc; thanh; hương; vị; xúc.
Trong thức ăn có sắc, có mùi vị, có sự tiếp xúc của lưỡi và có cả âm thanh cho nên trong thức ăn có đủ năm dục trưởng dưỡng, đây là nghĩa hẹp. Mình bước vào cái bếp hoặc vào quán là ngửi mùi đậu hũ thối hoặc bánh tráng chiên… đó là trong thức ăn có đầy đủ sắc; thanh; hương; vị; xúc. Chỉ cần nói như vậy thôi là thọ; tưởng; hành đã vận hành trong đầu rồi, cho nên ái tập khởi nên thức ăn tập khởi.
Do lòng tham đối với món ăn cho nên chúng ta bị trói cột, phải sanh trở lại trong đời sau để thực hiện sự ưa thích, khoan khoái đó, nghĩa là đời sau sanh ra để ăn tiếp, nghiệp này có người vừa vừa, có người nhẹ, có người nặng và cũng có người rất nặng trong món ăn nhưng nặng nhẹ gì cũng đều có ưa thích, khoan khoái trong đó. Những vị chân tu khi ăn đều thấy đó là việc bất đắc dĩ, ăn để duy trì sinh mạng để đạt đến chỗ không còn ăn gì nữa chứ người ta không thấy khoan khoái, sung sướng, vui thích khi ăn, cho nên một bậc Đa văn Thánh đệ tử biết bằng trí tuệ thức ăn này bất tịnh, thức ăn này là nguyên nhân dẫn đến sự trói cột nên vị này không ưa thích, không đam mê, từ đó họ không còn bị trói buộc để tái sanh trong đời sau.
Minh Thành chỉ mới giới thiệu khái quát, tổng quát về đoàn thực, trong sự tu rất sâu sắc, vì lòng ưa thích, khoan khoái nên bị trói cột trong đó để tiếp tục đời sống để thực hiện việc ăn uống đó. Nếu một người biết tu thì trong bữa ăn chính là chỗ tu tập, cho nên ngày xưa có vị cao Tăng phải đi rất xa mới đến được nhà của vị thí chủ cúng dường, khi đến nơi thì vị cao Tăng này rất khát nước trong khi thí chủ đang rót sữa tươi cúng dường cho mọi người.
Ngay lúc đó do duyên có mắt nhìn thấy sắc là việc rót sữa tươi sanh khởi ra sự rõ biết sắc, ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành nhãn xúc, khi có nhãn xúc thì sanh ra thọ gọi là thọ do nhãn xúc sanh, có thọ thì ái sanh, khi yêu thích thì trong tâm có sự thúc giục rót nhanh tới mình để uống vì khát nước. Vị này nhìn thấy các pháp vận hành trong tâm nên đã úp bát xuống không nhận sữa, điều này cho chúng ta thấy người chân tu phải như vậy, còn kẻ vô văn phàm phu không thấy, không biết tự thân tâm mình nên hoan hỉ, ưa thích, khao khát, đắm chìm, ngu si trong dục thì những đời sống tiếp theo lại tái diễn, còn bậc Đa văn Thánh đệ tử là bậc nhiếp phục và đoạn tận lòng dục, lòng tham.
II. Xúc thực
"Và này các Tỳ-kheo, xúc thực cần phải nhận xét như thế nào?
Này các Tỳ-kheo, ví như một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó. Này các Tỳ-kheo, con bò cái ấy đứng dựa vào chỗ nào, thời các sanh vật trong các chỗ ấy cắn nó. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói xúc thực cần phải được nhận xét".
(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Xúc là sự tiếp xúc, con mắt tiếp xúc với hình sắc, tai tiếp xúc âm thanh nhưng đây chỉ mới là căn – trần, thức sanh khởi rồi mới có xúc, căn trần thức (sự rõ biết) hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của con mắt, trong nhãn xúc gồm có căn – trần – thức – xúc.
Sáu căn: Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý.
Sáu trần: Sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp.
Sáu thức: Nhãn thức; nhĩ thức; tỷ thức; thiệt thức; thân thức; ý thức.
Sáu xúc: Nhãn xúc; nhĩ xúc; tỷ xúc; thiệt xúc; thân xúc; ý xúc.
Sáu thọ: Thọ do nhãn xúc sanh; thọ do nhĩ xúc sanh; thọ do tỷ xúc sanh; thọ do thiệt xúc sanh; thọ do thân xúc sanh; thọ do ý xúc sanh.
Sáu xúc: khi con mắt tiếp xúc sắc, lỗ tai tiếp xúc âm thanh, mũi tiếp xúc mùi, lưỡi tiếp xúc vị, thân đụng chạm và ý nhận thức những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ trong tâm. Tại sao Đức Phật ví dụ một con bò bị lở loét, đi đến đâu cũng bị những con côn trùng đeo bám, hút máu? Đó là chỉ cho chúng sanh bị xúc làm sanh khởi ra cảm thọ khổ đau vì thế việc tránh duyên xúc rất quan trọng trong việc tu hành, những vị Tỳ-kheo thời Đức Phật thường sống độc cư thiền định nhằm tránh duyên xúc vì cứ xúc sẽ sanh thọ, hễ tiếp xúc là sanh ra hình bóng, cảm giác, suy nghĩ. Mình sanh ra cảm giác, hình bóng dễ thương, suy nghĩ về người đó vì mình có tiếp xúc với họ, do xúc tập khởi nên thọ; tưởng; hành tập khởi.
"Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định.
Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. Đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến tưởng đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định.
Do xúc tập khởi nên các hành tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên các hành đoạn diệt. Đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến hành đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định".
(Tương Ưng Bộ, tập III. Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Đây là sự chứng ngộ của Đức Phật, do tiếp xúc nên mới có ra cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm về đối tượng hoặc món đồ, cảnh vật, khi tiếp xúc như vậy sẽ sanh ra cảm giác và mình bị trói buộc trong đó, muốn được tiếp xúc nữa vì tiếp xúc lại sanh ra cảm giác, một lòng lẩn quẩn. Hiện tại người ta chưa khống chế được thành công dịch Covid vì có sự tiếp xúc, ở nhà không được vì thấy buồn chán nên phải ra ngoài, dù có nhiễm bệnh, có chết cũng phải đi, đó là xúc thực, chúng ta cần phải hiểu biết như vậy. Người ta muốn được đi đây đi đó, muốn được gặp gỡ, nói chuyện, đó là xúc thực, mà hễ xúc sẽ sanh thọ, cho nên trong kinh Pháp cú có ghi:
"Chớ gần gũi người yêu,
Trọn đời xa kẻ ghét.
Yêu không gặp là khổ,
Oán phải gặp cũng đau"
(Kinh Pháp cú 16 – phẩm Hỷ Ái, kệ 210)
"Do vậy chớ yêu ai,
Ái biệt ly là ác;
Những ai không yêu ghét,
Không thể có buộc ràng".
(Kinh Pháp cú 16 – phẩm Hỷ Ái, kệ 211)
Cho nên mình muốn có giới hạnh thanh tịnh, trong sạch, tăng thượng giới đức, thiền định, trí tuệ mà mình cứ tiếp xúc với những đối tượng làm cho năm dục trưởng dưỡng sanh khởi thì làm sao mình tu? Mình cứ tiếp xúc với những bóng hồng, mình cứ tiếp xúc với những đối tượng khả lạc, khả hỉ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn thì làm sao ngồi thiền được? Khi ngồi thiền thì pháp tưởng, pháp tư, ý xúc hiện ra hình bóng của người đó, những cảm giác, suy nghĩ về người đó hiện ra, chính vì thế cần cắt đứt duyên xúc để thiền định mới đi vào được chánh định.
Bây giờ chúng ta không muốn ngồi thiền hoặc ngồi thiền rất khó vì chúng ta tiếp xúc quá nhiều thứ nên khi trở về ngồi thiền thì những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ hiện khởi trở lại liên tục như một bộ phim chiếu chậm, vì thế trong quá trình tu tập trước khi thành Chánh Đẳng Chánh Giác ngài ở một mình trong rừng mà chỉ cần thấy một bóng người thôi là ngài chạy từ đồi núi này sang đồi núi khác để tránh không tiếp xúc với họ, đó là thời gian ngài độc cư tối thượng, không tiếp xúc với bất kì một ai của Thế Tôn.
"Này Sariputta, như thế này là sự độc cư của Ta. Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng và an trú tại chỗ ấy. Khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi hay người thợ rừng, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: "Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!" Này Sariputta, giống như một con thú rừng thấy người liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Cũng vậy, này Sariputta, khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi, hay người tiều phu, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!" Này Sariputta, như vậy là hạnh độc cư của Ta".
(Trung Bộ Kinh, 12. Đại kinh Sư tử hống)
Đây là thời gian ngài cắt duyên xúc cho nên chúng ta tu rất cần có những giờ phút độc cư thiền định để cắt đứt duyên tiếp xúc, những lúc như thế mình mới thấy rõ được tâm của mình. Còn bây giờ mình hướng ngoại tiếp xúc với các công việc nên mình không thể thấy rõ được tâm mình, chừng nào mình ở một mình mới có thể thấy rõ được tướng tâm ở nơi chính mình, tức là sự vận hành trong tâm mình hiện ra như thế nào, tình trạng của tâm mình như thế nào, trạng thái của tâm mình hiện giờ ở tình trạng như thế nào cho nên rất cần ở một mình để cắt duyên xúc nhìn lại nội tâm.
Đức Phật ví dụ "một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó", nó đứng ở chỗ nào thì các sinh vật ở chỗ nấy cắn nó, vì thế trong bài kinh Đức Phật còn ví dụ thêm trước mặt là gai, phía sau là gai, phía trên, phía dưới là gai, chỗ nào cũng là gai chính là sự tiếp xúc của mình đối với ngũ trần, năm dục trưởng dưỡng.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một người đi vào một khu rừng đầy những gai góc, trước mặt người ấy là gai, phía Tây... phía Bắc... phía Nam... người ấy là gai, phía dưới người ấy là gai, phía trên người ấy là gai. Chỗ nào người ấy đi tới hay chỗ nào người ấy đi lui, người ấy nghĩ: "Mong sao tôi chớ có bị vướng gai". Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với sự vật gì khả ái, khả lạc, sự vật ấy được gọi là gai trong giới luật của bậc Thánh".
(Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, VII. Khổ Pháp)
Chỗ nào mình cũng đạp gai mà mình không biết, mình rất vô tư, sống qua ngày đoạn tháng mà không biết toàn thân mình đã bị thương tích đầy mình, bị sắc làm bầm dập, bị âm thanh trói cột, bị mùi vị làm cho đam mê, bị xúc làm cho điên đảo nhưng không biết gì cả, cứ nghĩ mình an toàn trong chỗ hiểm nguy. Mình đang ở trong tình trạng đáng lo lắng, sợ hãi, bất ổn mà mình lại ảo tưởng cái cảm giác an toàn, đó là sự đáng thương của chúng ta. Chúng ta không biết mình đang ở trong tình trạng nguy cấp, nguy hiểm, chính là sự tiếp xúc cho nên người thật tu phải tránh duyên xúc, không được tiếp xúc nhiều và nhất là những đối tượng có thể sanh khởi dục ái phải cực kì cẩn thận.
"Này các Tỳ-kheo, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba cảm thọ được hiểu biết. Khi ba cảm thọ được hiểu biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa".
(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Khi xúc thực được biết bằng trí tuệ thì mình sẽ hiểu được ba cảm thọ: Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Ba cảm giác này từ duyên xúc sanh ra và cũng chính ba cảm giác này chứa đựng tham sân si, cũng chính ba cảm giác này trói buộc chúng sanh hữu tình. Khi có cảm giác vui là mình bị trói cột, khi có cảm giác khổ là mình bị trói cột, mình đừng nghĩ cảm giác không vui không khổ, thường thường là mình an lành trong đó nhưng thực tế mình vẫn bị trói cột trong cảm giác an ổn, đều đều vì mình thấy có một tự ngã, có một cái tôi, có một cái của tôi mà không thấy rằng cảm giác bình thường, đều đều này là do duyên xúc, do căn – trần – thức tạo ra xúc, căn – trần có do nó là tứ đại, do cha mẹ sanh ra, do cơm cháo nuôi dưỡng, do tứ đại tác thành, nó vô thường, tan hoại, hoại diệt, nó là đột ngột, đột tử, đột biến.
Do có thân xác này nên mới có sáu căn, do có sáu căn mới có sự tiếp xúc với sáu trần, do tiếp xúc sáu trần mới sanh ra cảm thọ, do sanh ra cảm thọ mới có yêu và ghét, thường thường, đều đều. Như vậy ba cảm thọ này thuộc về pháp hữu vi, do làm ra, vô thường, sanh diệt, biến hoại, nó không có một cái tự ngã, nó không có tôi thì lấy gì có cái "Tôi đang sướng", cho nên cái "Tôi đang sướng" đó là một tà kiến, vô minh, là một sự chấp thủ, một cái thân kiến không thấy được pháp. Vì thế khi mình biết được cái xúc này bằng trí tuệ thì mình sẽ biết được bản chất của ba loại cảm thọ, và khi đã biết tận cùng ba cảm thọ này thì mình sẽ nhàm chán, yểm ly đối với các cảm thọ, như vậy không có gì phải làm nữa, thành tựu Thánh quả cứu cánh A-la-hán tối thượng.
III. Tư niệm thực
"Và này các Tỳ-kheo, tư niệm thực cần phải nhận xét như thế nào?
Này các Tỳ-kheo, ví như một hố than hừng, sâu hơn một thân người, chứa đầy than cháy đỏ rực, hừng cháy không có khói. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, chán ghét khổ. Rồi hai người lực sĩ đi đến, nắm chặt hai cánh tay người ấy, kéo người ấy đến hố than hừng ấy. Này các Tỳ-kheo, người ấy quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa hố than hừng ấy.
Vì sao? Này các Tỳ-kheo, người ấy chỉ nghĩ như sau: "Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên ấy, ta đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết". Như vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng tư niệm thực cần phải nhận xét".
(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Những điều này rất thâm sâu, không phải dễ nghe cho nên chúng ta cần cố gắng. Tư niệm thực là sự nhớ nghĩ, tại sao sự nhớ nghĩ mà Đức Phật lại đưa ví dụ hố than hừng? Mình ngồi đây nhớ về Đồng Tháp, nhớ về miền Tây, nhớ về Nha Trang, Huế… nhớ về người thân thương, người trong gia đình hoặc là nhớ về bạn bè hoặc nhớ về đối tượng làm mình sân hận, bực bội thì Đức Phật nói sự nhớ nghĩ đó là hố than hừng, là hố than rực lửa, cần phải tránh xa hố than này. Đức Phật ví dụ cái hố than sâu hơn thân người, cháy đỏ rực không có khói, người này giãy giụa khi bị hai người lực sĩ kéo đến hố than đó, người này mong muốn tha thiết thoát ra chứ không muốn lọt vào hố than hừng đó.
Cũng vậy, đối với sự nhớ nghĩ mình cần tránh xa, viễn ly tư niệm này, đó là tà tư duy, sân tư duy, hại tư duy, những sự nhớ nghĩ về dục sanh khởi lên là phải tránh né nó như tránh hố than hừng, những hình bóng, cảm giác trong hình bóng, suy nghĩ sanh khởi ra cần tránh xa, chính vì vậy sự nhận diện năm uẩn trong tâm rất quan trọng, phải nhìn lại mới biết trong tâm đang có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ gì, còn không nhìn lại thì làm sao biết được. Nếu có là những sự nhớ nghĩ về dục, tham, ái thì phải xem nó là hố than hừng đang cháy rực lửa đỏ, phải chạy ra nó ra, trong kinh dùng từ "quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa hố than hừng ấy". Vì thế xin thưa đại chúng, chúng ta phải dập đầu phát nguyện mỗi ngày nếu muốn ly dục, ly tham, tức là sự tác động tâm ý thường xuyên, nhắc nhở bản thân mỗi ngày để nhớ, từ đó mới tránh xa, viễn ly, từ bỏ. Còn chúng ta để yên thì nó vẫn vậy dù cho có tu bao nhiêu năm đi nữa, mình không tác ý, phát nguyện tránh né hố than hừng đó thì mình sẽ bị lôi kéo, bị đẩy xuống hố than. Trong Trưởng Lão Tăng Kệ có một vị Sa-di đi tu một thời gian mới về hoàn tục, người mẹ nói người con đã giải thoát khỏi thế gian ra rồi sao bây giờ lại trở lại hố than hừng nữa.
"Trong thời Đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi (Xá-vệ) trong gia đình một cư sĩ, sau khi người cha đã từ bỏ gia đình. Bà mẹ, đặt tên ngài là Sànu, khi ngài lên bảy tuổi, được đưa đến ở với các Tỳ-kheo, nghĩ rằng như vậy con mình được sống hạnh phúc. Rồi Sànu trở thành một vị học hành giỏi, một vị pháp sư, thiền sư với lòng từ bi, được chư Thiên và loài Người ái kính. Trong đời trước, mẹ ngài là một nữ Dạ-xoa. Sau một thời gian, ngài mất sự sáng suốt, sống sầu khổ và muốn đi lang thang đây đó. Bà mẹ Dạ-xoa của ngài thấy vậy liền báo động với bà mẹ hiện tại và bảo bà khích lệ con bà phải tinh tấn, và đọc lại lời nói của các Yakkhà (Dạ-xoa):
Chớ có làm điều ác,
Công khai hay bí mật,
Nếu người làm điều ác,
Sẽ làm hay đang làm,
Người không thoát khổ đau,
Dầu có đứng lên chạy.
Nói như vậy xong, người mẹ Dạ-xoa biến mất, nhưng người mẹ hiện tại, nghe vậy rất lấy làm sầu khổ. Rồi Sa-di Sànu cầm y và bát đến thăm bà mẹ rất sớm. Thấy mẹ sầu muộn, ngài hỏi và được bà mẹ trả lời lý do, ngài nói bài kệ:
Thưa mẹ, người ta khóc,
Khóc vì người đã chết,
Hay có khóc người sống,
Khi sống, không được thấy,
Thưa mẹ, con đang sống,
Và mẹ đang thấy con,
Vậy vì sao, thưa mẹ,
Mẹ lại khóc cho con?
Bà mẹ trả lời, từ những lời trong kinh: "Ðây là sự chết, này các Tỳ-kheo trong giới luật của bậc Thánh, tức là sự từ bỏ học giới và hoàn tục", và nói bài kệ như sau:
Người ta khóc cho con,
Là khóc cho con chết,
Hay khóc cho con sống,
Nhưng không được thấy mặt.
Ai đã bỏ dục vọng,
Lại trở lui đời này,
Này con, người ta khóc,
Là khóc cho người ấy,
Vì người ấy được xem,
Còn sống cũng như chết,
Này con, được kéo ra,
Khỏi than hầm lửa rực,
Con còn muốn rơi vào,
Đống than hồng ấy chăng?
Khi ngài nghe vậy, Sa-di Sànu lấy làm xấu hổ sầu muộn, và tinh tấn phát triển thiền quán, không bao lâu ngài chứng quả A-la-hán. Suy nghĩ rằng ngài chiến thắng là nhờ những bài kệ này, nên lấy những bài kệ ấy thành những bài kệ của ngài".
(Tiểu Bộ, tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, chương I - Một Kệ, phẩm Năm, (XLIV) Sànu (Thera. 7))
Những tư niệm, tư là nhớ, tâm mình ngay bây giờ nhớ cái gì thì gọi là niệm, nhớ nghĩ về dục là tà tư duy, nhớ nghĩ về sân, sự bực bội là tà tư duy, nhớ về việc ghét người đó nên muốn hại, có sự ác ý với người đó gọi là tà tư duy, ngoài ra còn có tham lam, tật đố, ta đây, hống hách, kiêu căng… Những sự nghĩ nhớ đó phải xem nó là hố than hừng nhưng phát huy ly dục tư duy sẽ thành chánh tư duy, lìa những sự suy nghĩ là chánh tư duy còn ở trong sự nhớ nghĩ là tà tư duy.
Ly dục tư duy là suy nghĩ hướng đến việc ra khỏi tham, dục, ái sẽ trở thành suy nghĩ đúng, đưa mình đến chỗ thanh tịnh, suy nghĩ để rời khỏi bực bội, sân hận là ly sân tư duy còn suy nghĩ ác ý, muốn làm hại người ta thì đó là tà tư duy, còn không nghĩ như vậy nữa thì trở thành chánh tư duy. Chính vì vậy chánh tư duy còn một cái rất quan trọng là xuất ly tư duy, khi suy nghĩ để thoát ra dục, tham, ái, sân, suy nghĩ thoát ra tứ đại ngũ uẩn này, thoát ra những đời sống sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, không muốn tiếp tục trạng thái này nữa thì đó là chánh tư duy, xuất ly tư duy hay còn gọi là Thánh tư duy, tức là sự suy nghĩ của bậc Thánh.
Như vậy muốn theo phàm thì cứ suy nghĩ theo phàm, muốn thành Thánh thì phải suy nghĩ như bậc Thánh nhưng mình là người xuất gia thì phải suy nghĩ chân chánh mới phù hợp, không ai ép mình xuất gia nhưng khi đã xuất gia thì phải làm đúng với chức trách, bổn phận của một người xuất gia, nếu không sẽ bị đọa lạc khủng khiếp và kinh hãi ở đời sống tiếp theo, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh trong vô lượng vô biên kiếp nếu mình không làm tròn bổn phận, phẩm vị, đặc tính của một người xuất gia, trong tương lai sẽ bất hạnh, đau khổ dài lâu. Vì thế tư niệm thực rất quan trọng, cũng là tư niệm nhưng có cái trở thành ác, có cái trở thành thiện, cũng là sự suy tư nhưng có cái trở thành ràng buộc, trói trăng, hệ lụy, có cái lại xuất ly, thoát ra. Như vậy chúng ta cần chặn đứng ở tà tư duy, nghĩ nhớ sai quấy, tham sân si, vô minh, bản ngã nhưng chúng ta lại phát huy những suy nghĩ ly dục, ly sân, bất hại tư duy, xuất ly tư duy.
Xúc thực là tránh xúc với năm dục trưởng dưỡng, tránh xúc với vô minh, tham ái nhưng xúc với pháp, với minh, với trí tuệ, xúc với những bậc cao Tăng, Thánh đức, thiện tri thức, xúc với những vị đã thành tựu chánh tri kiến, cái xúc này sẽ đem lại an lạc, lợi ích dài lâu. Chúng ta phải chọn biện biệt trạch pháp giác chi, trạch pháp nhãn trong sự xúc chứ không phải tránh duyên xúc là tránh mọi thứ mà là không tiếp xúc với những cái ác bất thiện pháp, những thứ làm mình sanh khởi ra lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng khao khái, trói buộc nhưng mình tiếp xúc với những thứ làm mình thoát ra, vượt khỏi thì cần tiếp xúc.
"Này các Tỳ-kheo, khi tư niệm thực được hiểu biết, thời ba ái được hiểu biết. Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa".
(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Khi mình thấu rõ được bằng trí tuệ về sự nhớ nghĩ này thì mình sẽ hiểu được ba ái vì những suy nghĩ của mình bắt nguồn từ ba ái: Dục ái, hữu ái và phi hữu ái, đây chính là tam giới. Khi biết bằng trí tuệ sự nhớ nghĩ tư niệm thực này thì mình sẽ hiểu biết rõ được ba ái, mình rất yêu thích cái dục, rất khao khát, đam mê trong dục cho nên mình sanh ra từ dục, mình sống bằng dục, thế giới này được duy trì bằng dục và cũng hoại diệt từ dục, lòng tham, dục vọng của con người phát triển lên đỉnh điểm sẽ phá hủy thế giới, đây chính là dục giới và chúng ta đang ở dục giới. Lòng tham con người làm biết bao chuyện: Chặt cây, phá rừng, khai thác quá mức làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, gây ra thiên tai lũ lụt, biến đổi khí hậu… những thứ này càng nhiều cũng vì lòng tham con người, các nhà máy thải khí thải, chất độc ra các dòng sông, biển cả làm chết các sinh vật biển, lòng dục của con người hủy hoại mọi thứ, lòng tham thì chế ra các loại vũ khí kinh hãi giết người hàng loạt cho nên trong bài kinh Đại khổ uẩn ghi lại:
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lị tranh đoạt với Sát-đế-lị, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục thiết thực hiện tại, thuộc khổ uẩn, lấy dục làm nhân, lấy dục làm duyên, là nguồn gốc của dục, là nguyên nhân của dục".
(Trung Bộ Kinh, 13. Đại kinh Khổ uẩn)
Cái nặng nhất của chúng ta là dục trong thể xác nên chúng ta có hình hài tứ đại này cũng từ cái dục. Hữu ái là ưa thích sự hiện hữu trong đời sống da thịt, gân xương, máu mủ này, chúng ta rất yêu thích sự hiện hữu chứ không muốn từ bỏ, không muốn thoát ra, chúng ta chấp thủ trong tấm thân này. Con mắt này bị chấp thủ, gương mặt này bị chấp thủ, cái tâm tham dục, tham ái bám chấp vào lớp da, bộ xương, đống thịt này, nó yêu thích, khoan khoái, tự hào thì gọi là hữu ái, ưa thích sự hiện hữu trong tứ đại ngũ uẩn, trong vô thường, bất tịnh, tan hoại thì gọi là hữu ái. Phi hữu ái là yêu thích trạng thái không có thân thể, hình hài, trong một cái tâm vắng lặng, thanh tịnh, mênh mông, thênh thang gọi là không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ, đây là trạng thái của những chư Thiên cao cấp không có hình tướng trong các cảnh giới thiền định. Khi chúng ta thấu rõ được bằng trí huệ về tư niệm thực, về những suy nghiệm nghĩ nhớ này thì chúng ta sẽ thấy ra được ba ái, khi ba ái được thấu suốt thì "vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa", nghĩa là vị này đã đoạn tận khát ái đối với tam giới, vị này là vị thành tựu tối thắng tuệ của bậc lậu tận, không còn những đời sống tiếp tục sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não nữa, vị này chứng nhập thế giới của bất tử.
./.
BỐN LOẠI THỨC ĂN TỪ NƠI ÁI 2
KINH CHÁNH TRI KIẾN 5
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đoàn thực PAGEREF _Toc112677086 \h 1
II. Xúc thực PAGEREF _Toc112677087 \h 8
III. Tư niệm thực PAGEREF _Toc112677088 \h 14
I. Đoàn thực
Chúng ta đang tìm hiểu bài kinh Chánh tri kiến do bậc tướng quân Chánh pháp chí thượng thanh văn là tôn giả Xá-lợi-phất (Sàriputta) thuyết giảng. Chúng ta đang liên hệ đến bài kinh Thịt đứa con, có hai vợ chồng và đứa con đi qua vùng hoang vu, vì muốn bảo toàn tính mạng không để cho cả ba người đều chết nên cha mẹ đứa trẻ này đã bấm bụng hi sinh đứa con nhỏ.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.
Rồi này các Tỳ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.
Rồi này các Tỳ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: "Đồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng ta đều bị chết hại".
Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực, than khóc: "Đứa con một ở đâu? Đứa con một ở đâu?"
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
-- Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
-- Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy. Này các Tỳ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này".
(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Khi hai vợ chồng ăn thịt đứa con để sinh tồn trên đoạn đường vừa dài vừa hoang vu thì họ đấm ngực than khóc "Đứa con một của tôi ở đâu?", họ ăn trong nước mắt, ăn trong sự đau xót tột cùng. Đức Phật đã hỏi họ ăn để làm đẹp, để làm trang sức, để tham đắm hay để béo tốt, các vị Tỳ-kheo trả lời không phải vậy. Đức Phật nói họ ăn chỉ để vượt qua vùng hoang vu và "đoàn thực cần phải nhận xét như vậy", điều này rất sâu sắc trong sự tu học của chúng ta, tuy chúng ta chưa thực hành được nhưng chúng ta phải biết để thực tập được bao nhiêu thì quý bấy nhiêu, nếu thực tập được nhiều thì thành tựu cứu cánh phạm hạnh của người xuất gia, còn không học cái này thì lúc ăn mình hoàn toàn không biết gì cả.
Tại sao Đức Phật đưa ra ví dụ này? Trong rau củ của chúng ta ăn vẫn có những con côn trùng, có khi thấy khi không cho nên khi nấu lên có con sâu xanh nằm trong đó, mỗi khi tráng bát uống nước sau khi dùng cơm thì đọc bài "Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng", trong nước có rất nhiều vi trùng nên khi uống vào là mình đang sát sanh vì thế đừng nghĩ ăn chay là mình không sát sanh, chỉ là do mình không thấy được hết những sinh vật vi tế nhỏ bé. Vì thế trong mỗi cái ăn uống của chúng ta có rất nhiều chúng sanh trong đó nhưng vấn đề quan trọng là ái tập khởi cho nên tứ thực tập khởi.
"-- Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn? Một là đoàn thực hoặc thô hoặc tế, hai là xúc thực, ba là tư niệm thực, bốn là thức thực.
Và này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Bốn loại đồ ăn này do ái làm nhân, do ái tập khởi, do ái tác sanh, do ái làm hiện hữu".
(Tương Ưng Bộ, tập II. Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Đồ Ăn, XI. Các Loại Đồ Ăn).
Tập là tập hợp, khởi là làm cho sinh khởi ra, phải nắm vững thì khi đọc kinh mới hiểu được. Đoàn thực là thức ăn thô tế ngon dở có mặt, ái tập khởi cho nên đoàn thực tập khởi, có những thế giới không ăn đồ ăn đoàn thực như mình, họ không có thân tướng máu thịt mà thân là ánh sáng và lấy niềm vui làm thức ăn như Quang Âm thiên.
"Trong khi thế giới chuyển hoại, các loại hữu tình phần lớn sanh qua cõi Abhassara (Quang Âm thiên). Ở tại đây, những loại chúng sanh này do ý sanh, nuôi sống bằng hỷ, tự chiếu hào quang, phi hành trên hư không, sống trong sự quang vinh, và sống như vậy một thời gian khá dài".
(Trung Bộ Kinh, 27. Kinh Khởi thế nhân bổn)
Không phải chúng sanh nào cũng ăn giống như mình, không phải chúng sanh nào cũng có thân hình máu thịt giống mình, mình chỉ biết trong phạm trù của loài người thôi, có nhiều dạng thức chúng sanh khác không ăn uống thô thiển đoàn thực như chúng ta. Vấn đề quan trọng là sự yêu thích, ham muốn, thích thú, tham đắm trong món ăn đó, vì thế ái tập khởi nên thức ăn tập khởi, ngày xưa Đức Thế Tôn còn tại thế thì các chư Tỳ-kheo ăn một ngày một bữa, thiền định dưới gốc cây ven suối, ven bìa rừng, trong căn nhà trống hoặc trong bãi tha ma.
Khi mang bình bát đi khất thực người ta cho gì là quyền của người ta chứ mình không được lựa chọn, đi lại người này thì họ cho cơm, đi đến người kia thì họ cho chè, có người cúng canh, nhà người ta có gì họ cúng cái đó nên trong cái bình bát đó đựng chung có thể là chè, cháo, canh, cơm, bánh… về nhà trộn lên để ăn nhằm mục đích phá hương ái, vị ái.
Có tất cả sáu ái: Sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái; pháp ái, có một vị Hòa Thượng lớn bên Nam Tông, ngài tâm sự rất chân thành không phải dễ để làm đúng theo lời Đức Phật, ngài nói "Cái gì tôi cũng cố gắng làm cho được hết nhưng chỉ có một việc trộn mọi thức ăn trong bát để ăn là không thể", thật sự rất khó ăn nhưng phải như vậy để phá sự ham thích (ái) trong khi ăn, vì trộn lẫn mọi thứ với nhau là phá hết vị giác, không có món nào ra món nào, cơm trộn với chè, canh chua, bánh thì ra vị gì nhưng vẫn phải ăn, đó là tinh thần của Đức Phật khi xưa để phá sự yêu thích, đam mê, khoan khoái.
Như Đức Phật đã nói ở bài kinh trên, ăn không phải để đam mê, béo tốt, trang sức hay làm đẹp, đó là một trong tám công đức của một vị Tỳ-kheo khi thọ thực, ăn không phải để vui đùa, đam mê, ưa thích hay để hưởng thụ mà ăn để nuôi sống thân mạng này nhằm tăng thượng giới đức – thiền định – trí tuệ, để thành tựu cứu cánh phạm hạnh, ví dụ này nhắc chúng ta mỗi khi ăn khởi quán chiếu lên để mình bớt sự thúc giục bên trong, bớt sự yêu thích, tham đắm đối với thức ăn vì khi ăn là dục, tham, ái hoạt động trong cảm giác của chúng ta.
Nếu mình đang đói mà bên ngoài có nhiều món ngon thì bên trong sẽ là một sự thúc giục, do duyên có lưỡi, có thức ăn khởi lên sự rõ biết thức ăn, ba pháp này hội tu, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lưỡi gọi là thiệt xúc, khi có sự tiếp xúc của lưỡi với thức ăn sẽ có thọ do thiệt xúc sanh, lập tức sanh khởi ra cảm thọ, cảm giác, ái sanh khởi.
Chúng ta cần học thuộc định nghĩa sáu pháp, duyên sanh pháp, bốn định nghĩa về năm uẩn trong phần Căn bản trí, vì không nắm vững phần này thì không thể nhận diện các pháp. Khi ăn chỉ thấy "Tôi ăn ngon quá", đó là cái thấy tà kiến, đây là điều sâu sắc của một người tu, nếu khi ăn mà chỉ thấy mình ăn ngon thì đó là tà kiến chứ không phải đệ tử Phật. Mình phải thấy do duyên có lưỡi và các vị sanh khởi ra thiệt thức là sự rõ biết các vị, ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành sự tiếp xúc của lưỡi gọi là thiệt xúc, khi tiếp xúc như vậy thì cảm thọ sanh khởi gọi là thọ do thiệt xúc sanh, sau đó ăn xong rồi trở về nhà nhưng mình thích món đó thì sanh khởi ra vị tưởng, vị tư, tức là hình bóng của món ăn và mùi vị sanh khởi trong tâm.
Ví dụ mình thích món phở, ăn rồi nhưng vài ngày sau hình bóng tô phở hiện ra, mùi vị hiện ra gọi là sắc tưởng, sắc tư, vị tưởng, vị tư trong đó, mình thấy được quá trình vận hành của các pháp nên không có cái "tôi" trong đó mà chỉ là căn – trần – thức – xúc – thọ – tưởng – tư chứ không có cái "tôi ăn ngon", đó mới là cái nhìn của bậc Đa văn Thánh đệ tử trong khi ăn. Trong sự tu học này phải nghiêm túc, sâu sắc, có nhiều phương tiện, khía cạnh đánh thẳng vào dục, tham, ái là nguồn cội gây khổ đau. Còn khi không biết gì thì cứ ăn rồi thích thú, đam mê, món này ăn để đẹp da, món này ăn bổ thận, món kia ăn để tốt gan… tất cả cái đó không phải là cách ăn của người xuất gia theo tinh thần Đức Phật, không thấy được thịt đứa con.
"-- Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy. Này các Tỳ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này".
(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Từ "hiểu biết" trong kinh dùng chính là tuệ tri, nghĩ là biết bằng trí tuệ. Khi một vị Đa văn Thánh đệ tử thành tựu trí tuệ biết rõ về những thức ăn đoàn thực này, trong năm pháp tu để thành tựu minh phần, để phá vô minh thì Đức Phật dạy thứ nhất cần quán bất tịnh, thứ hai là ghê tởm đối với thức ăn, thứ ba là quay lưng với sự lòe loẹt của thế giới, thứ tư là quán vô thường đối với tất cả các hành, thứ năm là thường xuyên an trú niệm tử. Thành tựu năm pháp này sẽ đưa mình đến tâm giải thoát quả, tức là thành Thánh quả A-la-hán.
"Có năm tưởng này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, đưa đến cứu cánh bất tử. Thế nào là năm?
Tưởng bất tịnh, tưởng chết, tưởng nguy hại, tưởng ghê tởm các món ăn, tưởng không có hân hoan đối với tất cả thế giới.
Năm tưởng này, này các Tỳ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến quả lớn, lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, đưa đến cứu cánh bất tử".
(Tăng Chi Bộ, chương V – Năm Pháp, VII. Phẩm Tưởng, (I) Các Tưởng (1))
Đó là tại sao chúng ta phải quán ghê tởm đối với thức ăn, những thứ đồ ăn mình bỏ quên vài ngày là nó hư thối, thậm chí có cả giòi bò lúc nhúc mà đó là đồ chay, là những món thực vật chứ đồ mặn thì còn khủng khiếp hơn nữa. Khi đồ ăn đã được ăn vào bao tử đến khi bài tiết ra thì ôi thôi gớm ghê, vì thế vị Đa văn Thánh đệ tử phải thường xuyên quán chiếu tuệ tri đối với thức ăn, vì khi đã hiểu biết đối với thức ăn thì lòng tham của mình đối với năm dục trưởng dưỡng sẽ được thấu hiểu, tức là giảm bớt, nhiếp phục và chấm dứt lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng: Sắc; thanh; hương; vị; xúc.
Trong thức ăn có sắc, có mùi vị, có sự tiếp xúc của lưỡi và có cả âm thanh cho nên trong thức ăn có đủ năm dục trưởng dưỡng, đây là nghĩa hẹp. Mình bước vào cái bếp hoặc vào quán là ngửi mùi đậu hũ thối hoặc bánh tráng chiên… đó là trong thức ăn có đầy đủ sắc; thanh; hương; vị; xúc. Chỉ cần nói như vậy thôi là thọ; tưởng; hành đã vận hành trong đầu rồi, cho nên ái tập khởi nên thức ăn tập khởi.
Do lòng tham đối với món ăn cho nên chúng ta bị trói cột, phải sanh trở lại trong đời sau để thực hiện sự ưa thích, khoan khoái đó, nghĩa là đời sau sanh ra để ăn tiếp, nghiệp này có người vừa vừa, có người nhẹ, có người nặng và cũng có người rất nặng trong món ăn nhưng nặng nhẹ gì cũng đều có ưa thích, khoan khoái trong đó. Những vị chân tu khi ăn đều thấy đó là việc bất đắc dĩ, ăn để duy trì sinh mạng để đạt đến chỗ không còn ăn gì nữa chứ người ta không thấy khoan khoái, sung sướng, vui thích khi ăn, cho nên một bậc Đa văn Thánh đệ tử biết bằng trí tuệ thức ăn này bất tịnh, thức ăn này là nguyên nhân dẫn đến sự trói cột nên vị này không ưa thích, không đam mê, từ đó họ không còn bị trói buộc để tái sanh trong đời sau.
Minh Thành chỉ mới giới thiệu khái quát, tổng quát về đoàn thực, trong sự tu rất sâu sắc, vì lòng ưa thích, khoan khoái nên bị trói cột trong đó để tiếp tục đời sống để thực hiện việc ăn uống đó. Nếu một người biết tu thì trong bữa ăn chính là chỗ tu tập, cho nên ngày xưa có vị cao Tăng phải đi rất xa mới đến được nhà của vị thí chủ cúng dường, khi đến nơi thì vị cao Tăng này rất khát nước trong khi thí chủ đang rót sữa tươi cúng dường cho mọi người.
Ngay lúc đó do duyên có mắt nhìn thấy sắc là việc rót sữa tươi sanh khởi ra sự rõ biết sắc, ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành nhãn xúc, khi có nhãn xúc thì sanh ra thọ gọi là thọ do nhãn xúc sanh, có thọ thì ái sanh, khi yêu thích thì trong tâm có sự thúc giục rót nhanh tới mình để uống vì khát nước. Vị này nhìn thấy các pháp vận hành trong tâm nên đã úp bát xuống không nhận sữa, điều này cho chúng ta thấy người chân tu phải như vậy, còn kẻ vô văn phàm phu không thấy, không biết tự thân tâm mình nên hoan hỉ, ưa thích, khao khát, đắm chìm, ngu si trong dục thì những đời sống tiếp theo lại tái diễn, còn bậc Đa văn Thánh đệ tử là bậc nhiếp phục và đoạn tận lòng dục, lòng tham.
II. Xúc thực
"Và này các Tỳ-kheo, xúc thực cần phải nhận xét như thế nào?
Này các Tỳ-kheo, ví như một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó. Này các Tỳ-kheo, con bò cái ấy đứng dựa vào chỗ nào, thời các sanh vật trong các chỗ ấy cắn nó. Như vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói xúc thực cần phải được nhận xét".
(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Xúc là sự tiếp xúc, con mắt tiếp xúc với hình sắc, tai tiếp xúc âm thanh nhưng đây chỉ mới là căn – trần, thức sanh khởi rồi mới có xúc, căn trần thức (sự rõ biết) hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của con mắt, trong nhãn xúc gồm có căn – trần – thức – xúc.
Sáu căn: Mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý.
Sáu trần: Sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp.
Sáu thức: Nhãn thức; nhĩ thức; tỷ thức; thiệt thức; thân thức; ý thức.
Sáu xúc: Nhãn xúc; nhĩ xúc; tỷ xúc; thiệt xúc; thân xúc; ý xúc.
Sáu thọ: Thọ do nhãn xúc sanh; thọ do nhĩ xúc sanh; thọ do tỷ xúc sanh; thọ do thiệt xúc sanh; thọ do thân xúc sanh; thọ do ý xúc sanh.
Sáu xúc: khi con mắt tiếp xúc sắc, lỗ tai tiếp xúc âm thanh, mũi tiếp xúc mùi, lưỡi tiếp xúc vị, thân đụng chạm và ý nhận thức những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ trong tâm. Tại sao Đức Phật ví dụ một con bò bị lở loét, đi đến đâu cũng bị những con côn trùng đeo bám, hút máu? Đó là chỉ cho chúng sanh bị xúc làm sanh khởi ra cảm thọ khổ đau vì thế việc tránh duyên xúc rất quan trọng trong việc tu hành, những vị Tỳ-kheo thời Đức Phật thường sống độc cư thiền định nhằm tránh duyên xúc vì cứ xúc sẽ sanh thọ, hễ tiếp xúc là sanh ra hình bóng, cảm giác, suy nghĩ. Mình sanh ra cảm giác, hình bóng dễ thương, suy nghĩ về người đó vì mình có tiếp xúc với họ, do xúc tập khởi nên thọ; tưởng; hành tập khởi.
"Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định.
Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. Đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến tưởng đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định.
Do xúc tập khởi nên các hành tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên các hành đoạn diệt. Đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến hành đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định".
(Tương Ưng Bộ, tập III. Thiên Uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Đây là sự chứng ngộ của Đức Phật, do tiếp xúc nên mới có ra cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm về đối tượng hoặc món đồ, cảnh vật, khi tiếp xúc như vậy sẽ sanh ra cảm giác và mình bị trói buộc trong đó, muốn được tiếp xúc nữa vì tiếp xúc lại sanh ra cảm giác, một lòng lẩn quẩn. Hiện tại người ta chưa khống chế được thành công dịch Covid vì có sự tiếp xúc, ở nhà không được vì thấy buồn chán nên phải ra ngoài, dù có nhiễm bệnh, có chết cũng phải đi, đó là xúc thực, chúng ta cần phải hiểu biết như vậy. Người ta muốn được đi đây đi đó, muốn được gặp gỡ, nói chuyện, đó là xúc thực, mà hễ xúc sẽ sanh thọ, cho nên trong kinh Pháp cú có ghi:
"Chớ gần gũi người yêu,
Trọn đời xa kẻ ghét.
Yêu không gặp là khổ,
Oán phải gặp cũng đau"
(Kinh Pháp cú 16 – phẩm Hỷ Ái, kệ 210)
"Do vậy chớ yêu ai,
Ái biệt ly là ác;
Những ai không yêu ghét,
Không thể có buộc ràng".
(Kinh Pháp cú 16 – phẩm Hỷ Ái, kệ 211)
Cho nên mình muốn có giới hạnh thanh tịnh, trong sạch, tăng thượng giới đức, thiền định, trí tuệ mà mình cứ tiếp xúc với những đối tượng làm cho năm dục trưởng dưỡng sanh khởi thì làm sao mình tu? Mình cứ tiếp xúc với những bóng hồng, mình cứ tiếp xúc với những đối tượng khả lạc, khả hỉ, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn thì làm sao ngồi thiền được? Khi ngồi thiền thì pháp tưởng, pháp tư, ý xúc hiện ra hình bóng của người đó, những cảm giác, suy nghĩ về người đó hiện ra, chính vì thế cần cắt đứt duyên xúc để thiền định mới đi vào được chánh định.
Bây giờ chúng ta không muốn ngồi thiền hoặc ngồi thiền rất khó vì chúng ta tiếp xúc quá nhiều thứ nên khi trở về ngồi thiền thì những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ hiện khởi trở lại liên tục như một bộ phim chiếu chậm, vì thế trong quá trình tu tập trước khi thành Chánh Đẳng Chánh Giác ngài ở một mình trong rừng mà chỉ cần thấy một bóng người thôi là ngài chạy từ đồi núi này sang đồi núi khác để tránh không tiếp xúc với họ, đó là thời gian ngài độc cư tối thượng, không tiếp xúc với bất kì một ai của Thế Tôn.
"Này Sariputta, như thế này là sự độc cư của Ta. Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng và an trú tại chỗ ấy. Khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi hay người thợ rừng, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: "Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!" Này Sariputta, giống như một con thú rừng thấy người liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Cũng vậy, này Sariputta, khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi, hay người tiều phu, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!" Này Sariputta, như vậy là hạnh độc cư của Ta".
(Trung Bộ Kinh, 12. Đại kinh Sư tử hống)
Đây là thời gian ngài cắt duyên xúc cho nên chúng ta tu rất cần có những giờ phút độc cư thiền định để cắt đứt duyên tiếp xúc, những lúc như thế mình mới thấy rõ được tâm của mình. Còn bây giờ mình hướng ngoại tiếp xúc với các công việc nên mình không thể thấy rõ được tâm mình, chừng nào mình ở một mình mới có thể thấy rõ được tướng tâm ở nơi chính mình, tức là sự vận hành trong tâm mình hiện ra như thế nào, tình trạng của tâm mình như thế nào, trạng thái của tâm mình hiện giờ ở tình trạng như thế nào cho nên rất cần ở một mình để cắt duyên xúc nhìn lại nội tâm.
Đức Phật ví dụ "một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó", nó đứng ở chỗ nào thì các sinh vật ở chỗ nấy cắn nó, vì thế trong bài kinh Đức Phật còn ví dụ thêm trước mặt là gai, phía sau là gai, phía trên, phía dưới là gai, chỗ nào cũng là gai chính là sự tiếp xúc của mình đối với ngũ trần, năm dục trưởng dưỡng.
"Ví như, này các Tỳ-kheo, một người đi vào một khu rừng đầy những gai góc, trước mặt người ấy là gai, phía Tây... phía Bắc... phía Nam... người ấy là gai, phía dưới người ấy là gai, phía trên người ấy là gai. Chỗ nào người ấy đi tới hay chỗ nào người ấy đi lui, người ấy nghĩ: "Mong sao tôi chớ có bị vướng gai". Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, đối với sự vật gì khả ái, khả lạc, sự vật ấy được gọi là gai trong giới luật của bậc Thánh".
(Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, VII. Khổ Pháp)
Chỗ nào mình cũng đạp gai mà mình không biết, mình rất vô tư, sống qua ngày đoạn tháng mà không biết toàn thân mình đã bị thương tích đầy mình, bị sắc làm bầm dập, bị âm thanh trói cột, bị mùi vị làm cho đam mê, bị xúc làm cho điên đảo nhưng không biết gì cả, cứ nghĩ mình an toàn trong chỗ hiểm nguy. Mình đang ở trong tình trạng đáng lo lắng, sợ hãi, bất ổn mà mình lại ảo tưởng cái cảm giác an toàn, đó là sự đáng thương của chúng ta. Chúng ta không biết mình đang ở trong tình trạng nguy cấp, nguy hiểm, chính là sự tiếp xúc cho nên người thật tu phải tránh duyên xúc, không được tiếp xúc nhiều và nhất là những đối tượng có thể sanh khởi dục ái phải cực kì cẩn thận.
"Này các Tỳ-kheo, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba cảm thọ được hiểu biết. Khi ba cảm thọ được hiểu biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa".
(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Khi xúc thực được biết bằng trí tuệ thì mình sẽ hiểu được ba cảm thọ: Cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu không khó chịu. Ba cảm giác này từ duyên xúc sanh ra và cũng chính ba cảm giác này chứa đựng tham sân si, cũng chính ba cảm giác này trói buộc chúng sanh hữu tình. Khi có cảm giác vui là mình bị trói cột, khi có cảm giác khổ là mình bị trói cột, mình đừng nghĩ cảm giác không vui không khổ, thường thường là mình an lành trong đó nhưng thực tế mình vẫn bị trói cột trong cảm giác an ổn, đều đều vì mình thấy có một tự ngã, có một cái tôi, có một cái của tôi mà không thấy rằng cảm giác bình thường, đều đều này là do duyên xúc, do căn – trần – thức tạo ra xúc, căn – trần có do nó là tứ đại, do cha mẹ sanh ra, do cơm cháo nuôi dưỡng, do tứ đại tác thành, nó vô thường, tan hoại, hoại diệt, nó là đột ngột, đột tử, đột biến.
Do có thân xác này nên mới có sáu căn, do có sáu căn mới có sự tiếp xúc với sáu trần, do tiếp xúc sáu trần mới sanh ra cảm thọ, do sanh ra cảm thọ mới có yêu và ghét, thường thường, đều đều. Như vậy ba cảm thọ này thuộc về pháp hữu vi, do làm ra, vô thường, sanh diệt, biến hoại, nó không có một cái tự ngã, nó không có tôi thì lấy gì có cái "Tôi đang sướng", cho nên cái "Tôi đang sướng" đó là một tà kiến, vô minh, là một sự chấp thủ, một cái thân kiến không thấy được pháp. Vì thế khi mình biết được cái xúc này bằng trí tuệ thì mình sẽ biết được bản chất của ba loại cảm thọ, và khi đã biết tận cùng ba cảm thọ này thì mình sẽ nhàm chán, yểm ly đối với các cảm thọ, như vậy không có gì phải làm nữa, thành tựu Thánh quả cứu cánh A-la-hán tối thượng.
III. Tư niệm thực
"Và này các Tỳ-kheo, tư niệm thực cần phải nhận xét như thế nào?
Này các Tỳ-kheo, ví như một hố than hừng, sâu hơn một thân người, chứa đầy than cháy đỏ rực, hừng cháy không có khói. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, chán ghét khổ. Rồi hai người lực sĩ đi đến, nắm chặt hai cánh tay người ấy, kéo người ấy đến hố than hừng ấy. Này các Tỳ-kheo, người ấy quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa hố than hừng ấy.
Vì sao? Này các Tỳ-kheo, người ấy chỉ nghĩ như sau: "Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên ấy, ta đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết". Như vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng tư niệm thực cần phải nhận xét".
(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Những điều này rất thâm sâu, không phải dễ nghe cho nên chúng ta cần cố gắng. Tư niệm thực là sự nhớ nghĩ, tại sao sự nhớ nghĩ mà Đức Phật lại đưa ví dụ hố than hừng? Mình ngồi đây nhớ về Đồng Tháp, nhớ về miền Tây, nhớ về Nha Trang, Huế… nhớ về người thân thương, người trong gia đình hoặc là nhớ về bạn bè hoặc nhớ về đối tượng làm mình sân hận, bực bội thì Đức Phật nói sự nhớ nghĩ đó là hố than hừng, là hố than rực lửa, cần phải tránh xa hố than này. Đức Phật ví dụ cái hố than sâu hơn thân người, cháy đỏ rực không có khói, người này giãy giụa khi bị hai người lực sĩ kéo đến hố than đó, người này mong muốn tha thiết thoát ra chứ không muốn lọt vào hố than hừng đó.
Cũng vậy, đối với sự nhớ nghĩ mình cần tránh xa, viễn ly tư niệm này, đó là tà tư duy, sân tư duy, hại tư duy, những sự nhớ nghĩ về dục sanh khởi lên là phải tránh né nó như tránh hố than hừng, những hình bóng, cảm giác trong hình bóng, suy nghĩ sanh khởi ra cần tránh xa, chính vì vậy sự nhận diện năm uẩn trong tâm rất quan trọng, phải nhìn lại mới biết trong tâm đang có hình bóng, cảm giác, suy nghĩ gì, còn không nhìn lại thì làm sao biết được. Nếu có là những sự nhớ nghĩ về dục, tham, ái thì phải xem nó là hố than hừng đang cháy rực lửa đỏ, phải chạy ra nó ra, trong kinh dùng từ "quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa hố than hừng ấy". Vì thế xin thưa đại chúng, chúng ta phải dập đầu phát nguyện mỗi ngày nếu muốn ly dục, ly tham, tức là sự tác động tâm ý thường xuyên, nhắc nhở bản thân mỗi ngày để nhớ, từ đó mới tránh xa, viễn ly, từ bỏ. Còn chúng ta để yên thì nó vẫn vậy dù cho có tu bao nhiêu năm đi nữa, mình không tác ý, phát nguyện tránh né hố than hừng đó thì mình sẽ bị lôi kéo, bị đẩy xuống hố than. Trong Trưởng Lão Tăng Kệ có một vị Sa-di đi tu một thời gian mới về hoàn tục, người mẹ nói người con đã giải thoát khỏi thế gian ra rồi sao bây giờ lại trở lại hố than hừng nữa.
"Trong thời Đức Phật tại thế, ngài sanh ở Sàvatthi (Xá-vệ) trong gia đình một cư sĩ, sau khi người cha đã từ bỏ gia đình. Bà mẹ, đặt tên ngài là Sànu, khi ngài lên bảy tuổi, được đưa đến ở với các Tỳ-kheo, nghĩ rằng như vậy con mình được sống hạnh phúc. Rồi Sànu trở thành một vị học hành giỏi, một vị pháp sư, thiền sư với lòng từ bi, được chư Thiên và loài Người ái kính. Trong đời trước, mẹ ngài là một nữ Dạ-xoa. Sau một thời gian, ngài mất sự sáng suốt, sống sầu khổ và muốn đi lang thang đây đó. Bà mẹ Dạ-xoa của ngài thấy vậy liền báo động với bà mẹ hiện tại và bảo bà khích lệ con bà phải tinh tấn, và đọc lại lời nói của các Yakkhà (Dạ-xoa):
Chớ có làm điều ác,
Công khai hay bí mật,
Nếu người làm điều ác,
Sẽ làm hay đang làm,
Người không thoát khổ đau,
Dầu có đứng lên chạy.
Nói như vậy xong, người mẹ Dạ-xoa biến mất, nhưng người mẹ hiện tại, nghe vậy rất lấy làm sầu khổ. Rồi Sa-di Sànu cầm y và bát đến thăm bà mẹ rất sớm. Thấy mẹ sầu muộn, ngài hỏi và được bà mẹ trả lời lý do, ngài nói bài kệ:
Thưa mẹ, người ta khóc,
Khóc vì người đã chết,
Hay có khóc người sống,
Khi sống, không được thấy,
Thưa mẹ, con đang sống,
Và mẹ đang thấy con,
Vậy vì sao, thưa mẹ,
Mẹ lại khóc cho con?
Bà mẹ trả lời, từ những lời trong kinh: "Ðây là sự chết, này các Tỳ-kheo trong giới luật của bậc Thánh, tức là sự từ bỏ học giới và hoàn tục", và nói bài kệ như sau:
Người ta khóc cho con,
Là khóc cho con chết,
Hay khóc cho con sống,
Nhưng không được thấy mặt.
Ai đã bỏ dục vọng,
Lại trở lui đời này,
Này con, người ta khóc,
Là khóc cho người ấy,
Vì người ấy được xem,
Còn sống cũng như chết,
Này con, được kéo ra,
Khỏi than hầm lửa rực,
Con còn muốn rơi vào,
Đống than hồng ấy chăng?
Khi ngài nghe vậy, Sa-di Sànu lấy làm xấu hổ sầu muộn, và tinh tấn phát triển thiền quán, không bao lâu ngài chứng quả A-la-hán. Suy nghĩ rằng ngài chiến thắng là nhờ những bài kệ này, nên lấy những bài kệ ấy thành những bài kệ của ngài".
(Tiểu Bộ, tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, chương I - Một Kệ, phẩm Năm, (XLIV) Sànu (Thera. 7))
Những tư niệm, tư là nhớ, tâm mình ngay bây giờ nhớ cái gì thì gọi là niệm, nhớ nghĩ về dục là tà tư duy, nhớ nghĩ về sân, sự bực bội là tà tư duy, nhớ về việc ghét người đó nên muốn hại, có sự ác ý với người đó gọi là tà tư duy, ngoài ra còn có tham lam, tật đố, ta đây, hống hách, kiêu căng… Những sự nghĩ nhớ đó phải xem nó là hố than hừng nhưng phát huy ly dục tư duy sẽ thành chánh tư duy, lìa những sự suy nghĩ là chánh tư duy còn ở trong sự nhớ nghĩ là tà tư duy.
Ly dục tư duy là suy nghĩ hướng đến việc ra khỏi tham, dục, ái sẽ trở thành suy nghĩ đúng, đưa mình đến chỗ thanh tịnh, suy nghĩ để rời khỏi bực bội, sân hận là ly sân tư duy còn suy nghĩ ác ý, muốn làm hại người ta thì đó là tà tư duy, còn không nghĩ như vậy nữa thì trở thành chánh tư duy. Chính vì vậy chánh tư duy còn một cái rất quan trọng là xuất ly tư duy, khi suy nghĩ để thoát ra dục, tham, ái, sân, suy nghĩ thoát ra tứ đại ngũ uẩn này, thoát ra những đời sống sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, không muốn tiếp tục trạng thái này nữa thì đó là chánh tư duy, xuất ly tư duy hay còn gọi là Thánh tư duy, tức là sự suy nghĩ của bậc Thánh.
Như vậy muốn theo phàm thì cứ suy nghĩ theo phàm, muốn thành Thánh thì phải suy nghĩ như bậc Thánh nhưng mình là người xuất gia thì phải suy nghĩ chân chánh mới phù hợp, không ai ép mình xuất gia nhưng khi đã xuất gia thì phải làm đúng với chức trách, bổn phận của một người xuất gia, nếu không sẽ bị đọa lạc khủng khiếp và kinh hãi ở đời sống tiếp theo, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh trong vô lượng vô biên kiếp nếu mình không làm tròn bổn phận, phẩm vị, đặc tính của một người xuất gia, trong tương lai sẽ bất hạnh, đau khổ dài lâu. Vì thế tư niệm thực rất quan trọng, cũng là tư niệm nhưng có cái trở thành ác, có cái trở thành thiện, cũng là sự suy tư nhưng có cái trở thành ràng buộc, trói trăng, hệ lụy, có cái lại xuất ly, thoát ra. Như vậy chúng ta cần chặn đứng ở tà tư duy, nghĩ nhớ sai quấy, tham sân si, vô minh, bản ngã nhưng chúng ta lại phát huy những suy nghĩ ly dục, ly sân, bất hại tư duy, xuất ly tư duy.
Xúc thực là tránh xúc với năm dục trưởng dưỡng, tránh xúc với vô minh, tham ái nhưng xúc với pháp, với minh, với trí tuệ, xúc với những bậc cao Tăng, Thánh đức, thiện tri thức, xúc với những vị đã thành tựu chánh tri kiến, cái xúc này sẽ đem lại an lạc, lợi ích dài lâu. Chúng ta phải chọn biện biệt trạch pháp giác chi, trạch pháp nhãn trong sự xúc chứ không phải tránh duyên xúc là tránh mọi thứ mà là không tiếp xúc với những cái ác bất thiện pháp, những thứ làm mình sanh khởi ra lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng khao khái, trói buộc nhưng mình tiếp xúc với những thứ làm mình thoát ra, vượt khỏi thì cần tiếp xúc.
"Này các Tỳ-kheo, khi tư niệm thực được hiểu biết, thời ba ái được hiểu biết. Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa".
(Tương Ưng Bộ, tập II - Thiên Nhân Duyên, chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (c), VII. Đại Phẩm Thứ Bảy, III. Thịt Đứa Con)
Khi mình thấu rõ được bằng trí tuệ về sự nhớ nghĩ này thì mình sẽ hiểu được ba ái vì những suy nghĩ của mình bắt nguồn từ ba ái: Dục ái, hữu ái và phi hữu ái, đây chính là tam giới. Khi biết bằng trí tuệ sự nhớ nghĩ tư niệm thực này thì mình sẽ hiểu biết rõ được ba ái, mình rất yêu thích cái dục, rất khao khát, đam mê trong dục cho nên mình sanh ra từ dục, mình sống bằng dục, thế giới này được duy trì bằng dục và cũng hoại diệt từ dục, lòng tham, dục vọng của con người phát triển lên đỉnh điểm sẽ phá hủy thế giới, đây chính là dục giới và chúng ta đang ở dục giới. Lòng tham con người làm biết bao chuyện: Chặt cây, phá rừng, khai thác quá mức làm cạn kiệt nguồn tài nguyên, gây ra thiên tai lũ lụt, biến đổi khí hậu… những thứ này càng nhiều cũng vì lòng tham con người, các nhà máy thải khí thải, chất độc ra các dòng sông, biển cả làm chết các sinh vật biển, lòng dục của con người hủy hoại mọi thứ, lòng tham thì chế ra các loại vũ khí kinh hãi giết người hàng loạt cho nên trong bài kinh Đại khổ uẩn ghi lại:
"Lại nữa, này các Tỳ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lị tranh đoạt với Sát-đế-lị, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỳ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục thiết thực hiện tại, thuộc khổ uẩn, lấy dục làm nhân, lấy dục làm duyên, là nguồn gốc của dục, là nguyên nhân của dục".
(Trung Bộ Kinh, 13. Đại kinh Khổ uẩn)
Cái nặng nhất của chúng ta là dục trong thể xác nên chúng ta có hình hài tứ đại này cũng từ cái dục. Hữu ái là ưa thích sự hiện hữu trong đời sống da thịt, gân xương, máu mủ này, chúng ta rất yêu thích sự hiện hữu chứ không muốn từ bỏ, không muốn thoát ra, chúng ta chấp thủ trong tấm thân này. Con mắt này bị chấp thủ, gương mặt này bị chấp thủ, cái tâm tham dục, tham ái bám chấp vào lớp da, bộ xương, đống thịt này, nó yêu thích, khoan khoái, tự hào thì gọi là hữu ái, ưa thích sự hiện hữu trong tứ đại ngũ uẩn, trong vô thường, bất tịnh, tan hoại thì gọi là hữu ái. Phi hữu ái là yêu thích trạng thái không có thân thể, hình hài, trong một cái tâm vắng lặng, thanh tịnh, mênh mông, thênh thang gọi là không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng và phi tưởng xứ, đây là trạng thái của những chư Thiên cao cấp không có hình tướng trong các cảnh giới thiền định. Khi chúng ta thấu rõ được bằng trí huệ về tư niệm thực, về những suy nghiệm nghĩ nhớ này thì chúng ta sẽ thấy ra được ba ái, khi ba ái được thấu suốt thì "vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa", nghĩa là vị này đã đoạn tận khát ái đối với tam giới, vị này là vị thành tựu tối thắng tuệ của bậc lậu tận, không còn những đời sống tiếp tục sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não nữa, vị này chứng nhập thế giới của bất tử.
./.