Vực Thẳm Hiểm Nguy - Nhàm Chán Và Từ Bỏ
Tinh Hoa Nikāya
VỰC THẲM HIỂM NGUY - NHÀM CHÁN VÀ TỪ BỎ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Không hoan hỉ với khổ đau PAGEREF _Toc71971392 \h 1
II. Nhàm chán khổ đau PAGEREF _Toc71971393 \h 4
III. Thánh trí bừng sáng PAGEREF _Toc71971394 \h 9
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc71971395 \h 10
I. Không hoan hỉ với khổ đau
“-- Bạch Thế Tôn, thật là lớn, vực thẳm này! Bạch Thế Tôn, thật là đáng sợ hãi, vực thẳm này! Bạch Thế Tôn, không biết có vực thẳm nào khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này?
-- Này các Tỳ-kheo, có vực thẳm khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này.
-- Bạch Thế Tôn, thế nào là vực thẳm khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này?
-- Này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... không như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Họ hoan hỷ với các hành đưa đến sanh, họ hoan hỷ với các hành đưa đến già, họ hoan hỷ với các hành đưa đến chết, họ hoan hỷ với các hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ hoan hỷ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ tạo dựng các hành đưa đến sanh, họ tạo dựng các hành đưa đến già... đưa đến chết... do họ tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, nên họ rơi vào vực thẳm sanh, họ rơi vào vực thẳm già, họ rơi vào vực thẳm chết, họ rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ không liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ không liễu thoát khỏi đau khổ.
Và này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt", họ không hoan hỷ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ không hoan hỷ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Do họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không rơi vào vực thẳm sanh; họ không rơi vào vực thẳm già; họ không rơi vào vực thẳm chết; họ không rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ liễu thoát khỏi đau khổ.
Do vậy, này Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".”
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, II. Vực Thẳm)
Những người tu hành nào rõ biết đúng sự thật đời sống này, sinh mạng này, thể xác này, sắc thân và những cảm giác, nghĩ tưởng này là khổ. Những người nào biết rằng những tham dục, sân hận, si mê, bản ngã là nguyên nhân của khổ nên không hoan hỉ, không vui thích với mọi sự thật, hiện tượng trong tứ đại ngũ uẩn này, không bị trói cột vào đó nên họ không sanh, già, bệnh, chết, không sầu, bi, khổ, ưu, não nên họ không rơi vào vực thẩm của đau khổ, họ liễu thoát khỏi sanh tử. Ta nói rằng, họ liễu thoát khỏi đau khổ. Do vậy cố gắng cần thấu triệt bản chất của ngũ uẩn này là khổ đau, cần cố gắng rõ biết nguyên nhân khổ đau là gì, cần cố gắng nỗ lực rõ biết con đường chấm dứt khổ đau.
Do vì không rõ biết đúng sự thật bản chất của thân xác này, do vì không rõ biết đúng sự thật bản chất của các cảm xúc, do vì không rõ biết đúng sự thật bản chất của những suy tưởng, nhận thức này là khổ cho nên người ta hoan hỉ, ưa thích, khát khao, thèm thuồng, ước vọng, mong đợi nên người ta tranh đấu, cướp giật để tạo dựng các hành rồi đưa đến sanh, già, bệnh, chết.
Thật không thể tưởng tượng được trí tuệ của Đức Phật, chúng ta học bao nhiêu bài kinh đều nhằm đánh phá sự hoan hỉ đối với các hành, hai buổi học chúng ta nói về trí tuệ sắc thân để thấy rõ bản chất của nó, tiếp tục tu học đến ngày nhắm mắt để không hoan hỉ đối với các hành, không vui thích đối với những thứ đưa đến sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì thế tầm nhìn của Đức Phật là vượt tầm Pháp giới, cho nên học kinh cần có sự chiêm nghiệm, tư duy, thiền quán, suy ngẫm và tác ý thật nhiều, không phải nghe rồi có thể dễ dàng hiểu được.
Vì hoan hỉ nên tạo dựng, vì tạo dựng nên rơi vào vực thẩm, vì bị rơi xuống vực thẩm nên không thể giải thoát khỏi khổ đau. Những đứa trẻ xây lâu đài bằng cát trên biển, vì nó thích nên nó xây dựng, tạo dựng nên, nếu còn ưa thích thì còn tiếp tục làm. Nó so sánh với bạn nó "mày làm xấu hơn tao, không đẹp bằng tao" rồi hai bên cãi nhau, tức giận. Lát sau tất cả lâu đài bằng cát bị sụp đổ, tan nát và chúng ta đang ngồi trong lâu đài bằng cát.
Với con mắt của Đức Thế Tôn thì tất cả sắc pháp đều là bong bóng, vì ngài không hoan hỉ nên ngài không tạo dựng những gì đưa đến sanh, không tạo dựng những gì đưa đến già, không tạo dựng những gì đưa đến chết, không tạo dựng những gì đưa đến khổ. Mình có ưa thích, hoan hỉ cái giận không? Mình hoan hỉ với khổ nên mới chất chứa những cảm giác giận đó bảy tháng, ba năm, tuy nó làm mình phiền não, đau khổ nhưng mình không xả bỏ cảm giác đó mà lại chất chứa, nuôi dưỡng tăng tưởng, phát triển để nó giày vò, hành hạ, hành xác mình.
Vì mình không biết đó là khổ nên chấp nhận những cảm giác sân hận, tức giận đó, "quân tử trả thù mười năm chưa muộn" hoặc "sống để dạ, chết mang theo" tức là ưa thích, hoan hỉ đối với cảm giác sân hận đó cho nên tạo dựng thêm những cảm giác đó, tạo dựng thêm những suy nghĩ, hành động sân đó nên kết cục rơi xuống vực sâu. Mình không như thật rõ biết đúng sự thật cảm giác này là khổ, biết trong tô phở có độc thì dám ăn không dù cho rất đói bụng? Được học, được nghe là tam độc nhưng khi nó sanh khởi trong tâm lại không thấy nó là độc rồi hoan hỉ, tạo dựng và rơi xuống vực sâu cùng với nó.
Mình không thấy cảm giác dục là khổ nên ưa thích, nuôi dưỡng tăng trưởng, phát triển cho sung mãn, rồi nó lôi đầu mình chạy theo nó suốt đời suốt kiếp. Mình không thấy nó là khổ nên tạo dựng, hoan hỉ rồi nó lôi mình xuống vực sâu. Mình có hoan hỉ cảm giác bản ngã không? Khởi lên cái tôi có thích không? Vì hoan hỉ nên nâng cấp nó lên, cái tôi càng lớn chừng nào thì mình càng khoái chí, hân hoan và chính nó đưa mình xuống vực sâu, tạo ra bao nhiêu ác nghiệp quả báo của khổ cho nên không thể thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
II. Nhàm chán khổ đau
Những bậc tu hành nào biết rõ đúng sự thật đây là khổ và con đường diệt khổ thì họ không hoan hỉ đối với các hành đưa đến sanh, già, bệnh, chết. Vô thỉ là dòng quay cuồng của luân hồi này, khởi điểm của nó không thể nêu rõ được đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột.
“Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên.
Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Đức Phật dạy mình khi gặp những cảnh khổ đau, tai nạn, tai họa thì phải nghĩ rằng chúng ta đã bị như vậy vô số lần chứ không phải đây là lần đầu. Trong dòng vô minh che đậy, tham ái trói cột này, trong dòng quay cuồng của luân hồi này, đã rất lâu ngày chúng ta đã chịu đựng khổ, chịu đựng tai họa nên những ngôi mộ ngày một nhiều thêm. Con phát hiện ra những nghĩa trang ngày một lớn thêm, rộng thêm, có những chỗ người ta phải cải táng, lấy hài cốt lên hỏa táng.
Hơn thế nữa chúng ta đang chứng kiến cảnh dịch bệnh trên thế giới, người chết phải chôn bằng những hố chôn tập thể to lớn bằng sân vận động, những chiếc xe ben đổ xuống hố những bao rác đựng xác người. Không phải mười người, không phải một trăm người, không phải một ngàn mười, không phải hai trăm-bảy trăm ngàn người… mà là hàng triệu người, con số hiện nay đã lên hơn một triệu tám trăm ngàn người chết. Không phải đây là lần đầu tiên có dịch bệnh, hàng trăm năm trước đã xảy ra những trận dịch bệnh làm chết rất nhiều người.
Không phải mới bị tai nạn giao thông, bị ung thư, bị đâm chém, bị ở tù trong kiếp này mà đã lâu ngày các ông đã chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, các mộ phần ngày một lớn lên và trong những ngôi mộ cổ xưa đó biết đâu lại là thân xác đời trước của chúng ta nằm trong đó. Những thi thể, những bộ hài cốt hàng mấy ngàn năm được khai quật lên biết đâu lại là chúng ta trong những kiếp trước.
Thật là đau khổ cho chúng ta sống trong đời sống tham dục mãi mãi như vậy. Đời sống cứ đòi hỏi, tìm kiếm, khát khao, tham muốn, chết đi sống lại tìm dục ái… cứ lòng vòng. Thật là đau khổ cho đời sống dục tham ái, đuổi bắt, truy tìm, thất vọng, đau khổ quằn quại. Đau khổ cho đời sống chạy theo dục, chạy theo ái, chạy theo tham nhưng vĩnh viễn và mãi mãi không được thỏa mãn, mãi mãi trong sự khát khao, mãi mãi trong sự thèm thuồng, tìm kiếm, truy đổi trong vô lượng vô biên kiếp.
Cả một chuỗi luân hồi là rượt đuổi, tìm kiếm, khát khao và nô lệ cho tham ái. Thật là đau khổ cho chúng ta, mệt mỏi cho chúng ta, nhọc nhằn cho chúng ta, vất vả, cực khổ, lo lắng và sợ hãi như vậy mà phải xây lên những lâu đài trên bãi cát. Cho đến như vậy là vừa đủ để nhàm chán, để từ bỏ, cho đến như vậy là vừa đủ để chúng ta giải thoát khỏi tất cả các hành này.
“Các xương của một người, này các Tỳ-kheo, lưu chuyển luân hồi có thể lớn như một đồi xương, một chồng xương, một đống xương, như núi Vepulla này, nếu có người thâu lượm xương lại, gìn giữ chúng, không làm chúng hủy hoại.
Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, X. Người)
Cứ sanh ra rồi tham dục, sân si, bản ngã rồi chết, dòng luân chuyển này cứ mãi như vậy, cứ như vậy mà những mộ phần ngày một lớn lên. Cho đến như vậy là vừa đủ để nhàm chán những dục tham, sân hận, bản ngã, hơn thua, ganh tị, hẹp hòi này, nhàm chán những vở tuồng của ngũ uẩn này để thoát ra khỏi các hành. Nếu có thể thu lượm, bảo quản thì xương người có thể chất cao thành núi Thái Sơn, chất thành núi Vepulla là ngọn núi lớn nhất thời đó ở Ấn Độ. Đức Phật đã dùng Phật nhãn của ngài để nhìn thấy thế giới này nên ngài đưa ra rất nhiều hình ảnh minh họa.
“Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?
-- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ mà chúng con đã uống trong khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển!
-- Lành thay, lành thay, này các Tỳ-kheo! Lành thay, này các Tỳ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!
Cái này là nhiều hơn, này các Tỳ-kheo, tức là sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Sữa)
Nước biển không phải là nhiều mà sữa mẹ chúng ta đã uống còn nhiều hơn nước trong bốn biển.
“Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn? Dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này hay là nước trong bốn biển lớn?
- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng, cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do chúng con than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.
Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.
... các Ông chịu đựng con chết...
... các Ông chịu đựng con gái chết...
... các Ông chịu đựng tai họa về bà con...
... các Ông chịu đựng tai họa về tiền của...
Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Ngồi trong hội chúng này có người bị lừa đảo mất hết nhà cửa, tài sản. Ngồi trong hội chúng này có người bị phụ tình khổ đau. Ngồi trong hội chúng này có bao nhiêu giọt nước mắt tuôn rơi vì ông bà, cha mẹ mình chết. Ngồi trong hội chúng này có người đang mang nhiều bệnh.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, có người chặt các cành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá, trong cõi Diêm-phù-đề này, chất chúng thành một đống, làm chúng thành những que đặt theo hình các ô vuông, cầm từng que đặt xuống và nói: "Ðây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi". Và không thể cùng tận, này các Tỳ-kheo, là các bà mẹ, mẹ của người ấy. Nhưng nhành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá trong cõi Diêm-phù-đề này có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt.
Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Những nhành cây, cành lá trên Trái Đất này không đủ để đếm nhưng trong vòng luân hồi này, những người là mẹ chúng ta còn nhiều hơn những que củi trên Trái Đất này. Một Phật tử có duy nhất một người con gái rất trẻ đẹp, thông minh, học giỏi nhưng cô gái này đã tự vẫn, người mẹ này đau khổ và bệnh, thậm chí muốn chết theo con. Người mẹ này đau khổ, ngày nào cũng khóc suốt sáu năm, có những người mẹ thương nhớ con khóc mù cả hai mắt.
Trong sách sử ghi lại có một vị Thánh Tăng A-la-hán mới bảy tuổi, khi ngài thành tựu Thánh quả có thiên nhãn thông nhìn thấy người mẹ đời trước ôm ngôi mộ khóc nức nở, chúng ta thấy ngao ngán cho đời sống của dục vọng, sân hận, của vô minh, đời sống của bóng tối, bóng đêm, đời sống của bản ngã vươn cao. Nhàm chán đời sống tham sân si này, nhàm chán đời sống ganh tị, đố kị, ganh ghét, thị phi này, mỗi khi nó sanh khởi trong tâm là tác ý "Nhàm chán, nhàm chán, nhàm chán. Từ bỏ, từ bỏ, từ bỏ. Đến đây là vừa đủ rồi, mày diệt đi, tan biến hoàn toàn đi. Đau khổ như vậy còn chưa đủ hay sao? Nước mắt như vậy còn chưa đủ hay sao? Bệnh tật như vậy còn chưa đủ hay sao? Tham lam, tham dục như vậy còn chưa đủ hay sao? Sân hận thiêu đốt như vậy còn chưa đủ hay sao mà còn muốn tiếp tục nữa? Ta chán ngươi lắm rồi, cái thứ ác độc này hãy dập tắt và diệt tận hoàn toàn đi". Không gầy dựng các hành đưa đến sanh, già, bệnh, chết nữa. Không gầy dựng tham sân si, bản ngã nữa mà đánh sập, đánh nát, diệt tận làm cho chúng hoàn toàn tan biến và sụp đổ trong thân tâm mình để đưa đến lắng dịu, an tịnh, tịch tịnh, để đưa đến nội tâm bất động giải thoát, tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
III. Thánh trí bừng sáng
Bình minh đã lên, Mặt Trời đã tỏa chiếu rồi, Thánh trí bừng sáng trong tâm của mọi hành giả. Hãy giữ gìn ánh sáng này, duy trì ánh sáng này, phát huy ánh sáng này, làm cho ánh sáng này luôn tỏa sáng, chiếu sáng, bừng sáng và rực sáng trong nội tâm mỗi chúng ta. Làm được vậy sẽ rất an lạc, hạnh phúc, bình an tối thượng là trí tuệ này, cái nhìn thần thánh này sẽ đưa chúng ta diệt tận sanh tử, chấm dứt khổ đau. Làm như vậy sẽ nhất hướng nhàm chán, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt hướng đến từ bỏ những tham sân si, vô minh và bản ngã đó. Hướng đến từ bỏ những ý hành sân, dục hại đó, những ý hành làm khổ mình, khổ người đó, chấm dứt và diệt tận nó. Không gầy dựng nên những vở tuồng luân hồi tái sanh trong tương lai mà nhàm chán, ly tham đối với nó, thoát ly và bước ra khỏi nó để thấy được tâm vô lượng bất động của Thánh trí. Không còn chấp nhận món đồ gốm dễ vỡ là mình nữa, thành tựu kim cương trí, Thánh trí ngũ uẩn này là trí tuệ kim cương tối thượng.
Chúng ta hãy nhìn kĩ vào đời sống này, thật chất nó là gì? Tại sao khổ? Vì tham dục, cho nên giáo Pháp ly tham mới giải quyết triệt để đau khổ của chúng sanh, muốn ly tham thì phải thấy được tính chất nguy hiểm và tác hại cùng cực tột độ thì không còn thích nữa, muốn thấy được điều đó phải tư duy, phải nghe Chánh Pháp, phải Như lý tác ý, phải gặp được bậc Chân nhân, phải tùy Pháp và hành Pháp. Đầu tiên phải đuổi ác phát huy thiện, đuổi cái thường tình và phát huy Thánh trí cho đến khi viên mãn trí tuệ, các hành được an tịnh lắng dịu để đi đến tịch tịnh của Niết-bàn. Những dòng nước mắt của hạnh phúc, những dòng nước mắt của bình an, trí tuệ, của sự xúc chạm với chân lý.
IV. Trình pháp
Cô Diệu Linh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch sư phụ, quý sư cô và các Phật tử có mặt tại giảng đường hôm nay. Hiện nay thân tâm con chấn động, con rất hạnh phúc không thể nói được bằng lời, nếu trên đời này còn từ nào nữa thì con sẽ dùng từ đó để diễn tả. Những điều sư phụ giảng để đánh thức tâm mê của con và khẳng định con đường phải đi trong tương lai, con có niềm tin xác quyết với con đường này không thể đổi khác. Con rất hạnh phúc, con không nói được nhiều nhưng con biết con rất hạnh phúc. Con tri ân sư phụ rất nhiều, sư phụ là người đầu tiên và cũng là người duy nhất trên chặng đường tu học của con, đảm bảo chắc chắn trên đời này không có ai dạy như sư phụ. Con không biết vì sao mình lại may mắn đến vậy, con tri ân sư phụ, những điều sự phụ dặn dò và giảng dạy con sẽ nhớ và thực hành theo đó, không thể đổi khác. Con cầu nguyện cho tất cả đại chúng ở đây tu học nghe hiểu được, không đơn giản sư phụ chỉ dạy bằng âm từ mà người dạy bằng tất cả những oai nghi, tất cả những thứ xung quanh nơi nào cũng có ý hành sư phụ dạy và kể cả khi không có sư phụ thì tâm tưởng của sư phụ luôn hướng về tất cả đại chúng. Dù sư phụ không có ở đây nhưng con tin những điều sư phụ hướng đến đại chúng, con cũng sẽ nắm bắt được, kết nối được và tinh tấn trên con đường tu học sắp tới. Thân tâm con chấn động vì con đã nhìn thấy được con đường và xác quyết được con đường đó, không thể sai khác được, con hạnh phúc đến tột cùng, bủn rủn cả tay chân, tứ đại con muốn tan rã theo cả thế giới vì quá sung sướng, quá hạnh phúc và vì bài kinh hôm nay. Đã bao nhiêu kiếp con đã nhảy xuống vực thẳm đó, hôm nay con mới nhìn thấy con đường để về, thật sợ hãi khi sống trong bóng đêm và lạc đường, mọi người cũng vậy không riêng gì con. Sư phụ đã đem đèn sáng vào trong bóng tối, chỉ hướng cho người lạc đường và chúng con ở đây thật may mắn, thật phước lành, con không biết nói gì nhưng con chỉ thấy thật tuyệt vời, thật tốt lành. Hãy trân trọng những điều sư phụ giảng dạy, không thiếu không thừa một từ nào kể cả dấu chấm, phẩy, con tri ân sư phụ rất nhiều.
Phật tử: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính thưa sư phụ, kính thưa quý thầy, kính thưa quý sư cô, kính thưa quý đạo hữu. Lần này con lên đây là sự thôi thúc sau khi con đã nghe những bài Pháp về cảm thọ, một sự thâm sâu kì diệu, một trí tuệ siêu phàm của Thế Tôn, con cảm nhận được thâm sâu kì diệu của sư phụ, không biết phước duyên nào mà đến ngày hôm nay mà chúng ta vẫn nghe được, hiểu được trí tuệ siêu phàm của Thế Tôn. Một sự thôi thúc con phải lên đây khi nghe Pháp sư phụ giảng dạy nhận diện sắc, sư phụ nói chúng con đã bị lừa, khi sư phụ hỏi tại sao chúng ta có mắt thì con quán chiếu thấy rằng do vô minh và khát ái, do bản ngã trong tâm thức vô lượng vô biên này tạo ra mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Mục đích của nó là làm nô lệ cho tham ái này mà bấy lâu nay con lại nghĩ rằng thân này là của mình, con cũng đã bị lừa, con làm nô lệ cho tham ái bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp và giờ lại tiếp tục làm nô lệ cho nó nữa. Nhưng ngày hôm nay con thấy rõ ràng hơn vô thường, con phát nguyện với lòng mình muôn đời suốt kiếp con không làm nô lệ cho nó nữa nhưng con không biết làm sao cho đến sáng nay sư phụ nói cần cố gắng nỗ lực để không hoan hỉ với tất cả các hành. Sư phụ đã truyền bí kiếp cho con, mọi cố gắng để thể nhập vào Thánh trí, thể nhập vào Thánh tư duy để đánh đuổi ác ma trong con. Con kính mong sư phụ, quý thầy, quý sư cô hãy cố gắng duy trì, con không còn sống lâu nữa, con cầu mong sư phụ tại thế lâu dài, các thầy các cô tiếp nối sư phụ để dòng Thánh Pháp này tỏa sáng hơn nữa. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, kính bạch quý sư cô và kính thưa quý Phật tử. Khi sư phụ chỉ dạy tác ý thì thời gian qua từ tháng 9 đến giờ con chỉ thiền quán thân bất tịnh, nhơ nhớp của cô Toàn, bên cạnh đó con nghe thêm thiền quán bất tịnh của sư phụ. Khi về Hà Nội tiếp xúc với bạn bè thời phổ thông, lúc đầu có cảm xúc vui nhưng sau đó có buổi liên hoan ăn uống, hoặc trong ngày giỗ ba con thì trong lòng con khởi lên sự ê chề, chán chê và sân, bực bội mà con chưa nhận ra được cảm giác đó là thế nào. Con xin sư phụ chỉ dẫn thêm cho con để con tác ý thêm.
Sư Phụ: Bây giờ chúng ta chỉ trình Pháp trong buổi thiền quán, còn phần hỏi đáp thì trưa nay sẽ tiếp tục.
Thầy Pháp Nghĩa:
Con chân thành đảnh lễ
Phật Thích Ca Mâu Ni
Đời này con xin nguyện:
“Thấy biết rõ ngũ uẩn,
Thấy biết rõ tự thân,
Thành tựu chánh tri kiến,
Thể nhập vào Thánh quả,
Con nguyện xứng đáng là
Người con Phật chân chánh”.
Con xin đảnh lễ Ngài
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc đoạn tận tham ái,
Bậc đoạn tận sợ hãi,
Tâm Ngài không dao động,
Tâm không nhiễm thế gian.
Con xin đảnh lễ Ngài
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc Vô Thượng giải thoát
Ngài là thầy của con
Ngài - vị dẫn đường con
Ngài - vị con quy ngưỡng
Con chân thành quy hướng
Đảnh lễ bậc Vô Thượng
Đảnh lễ bậc Chánh Giác
“Con xin quy phục Ngài,
Con xin làm đệ tử,
Làm con ngoan của Ngài”. (3 lần)
“Con xin quy phục Pháp,
Quy phục Pháp Tám Đúng,
Nguyện thành tựu Tám Đúng”. (3 lần)
“Con xin tôn kính Tăng,
Tôn kính đời Giới Đức,
Nguyện thành tựu Giới Đức”. (3 lần)
Sư Phụ: Niệm lòng tin bất động, kinh Cần Phải Khích Lệ
- Này Ananda, với ai, Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai, Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống. Với những người ấy, này Ananda, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm. Thế nào là ba?
- Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với Ðức Phật: "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu". Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng được cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời". (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, 75.- Cần Phải Khích Lệ)
Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử; từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. (Trung Bộ Kinh, 54. Kinh Potaliya)
Xin đại chúng và tất cả những vị quy y đọc theo:
Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, bậc tự mình thấy rõ sự thật về thân tâm, sự thật về sanh tử, về phiền não khổ đau và ngài cũng tìm thấy lối thoát khỏi khổ đau, lối thoát khỏi sanh tử. Ngài đạt sanh tử tận, ngài đạt khổ chấm dứt, vì vậy ngài được gọi bậc la-hán Chánh Giác, bậc lậu tận Chánh Giác. Con thật kính phục ngài, con thật kính ngưỡng ngài, con xin quy phục ngài, con xin đảnh lễ ngài.
Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni. Bậc trí tuệ đức hạnh, bậc thành tựu viên mãn được trong sáng tròn đầy, trí đức ngài hoàn hảo, tâm trí ngài sáng trong, vì vậy ngài được gọi bậc Minh Hạnh cụ túc, bậc trí đức vẹn toàn, con thật kính phục ngài, con thật kính ngưỡng ngài, con xin quy phục ngài, con xin đảnh lễ ngài.
Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni. Bậc Thiện Thệ thiện xảo, khéo vượt bốn bộc lưu, khéo vượt bốn đầm lầy: Dục, hữu, kiến, vô minh, vượt trầm luân sanh tử, dứt phiền não khổ đau, vì vậy ngài được gọi bậc Thiện Thệ giải thoát, con thật kính phục ngài, con thật kính ngưỡng ngài, con xin quy phục ngài, con xin đảnh lễ ngài.
Mọi người chắp tay quỳ lạy hướng về hình ảnh Đức Thế Tôn và nói theo:
Chúng con xin trọn đời quay về nương tựa Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác (ba lần).
Chúng con nguyện trọn đời quay về nương tựa Chánh Pháp.
Chúng con nguyện trọn đời quay về nương tựa chúng Tăng.
Chúng con nguyện suốt đời cố gắng tác ý từ bỏ sát sanh.
Chúng con nguyện trọn đời cố gắng tác ý từ bỏ lấy của không cho.
Chúng con nguyện trọn đời cố gắng tác ý từ bỏ tà hạnh trong các dục.
Chúng con nguyện trọn đời cố gắng tác ý từ bỏ sử dụng những chất say sưa nghiện ngập, nguyện sống đời trí tuệ tỉnh thức.
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này. Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loàn. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện sự an lạc, bình an, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
./.
VỰC THẲM HIỂM NGUY - NHÀM CHÁN VÀ TỪ BỎ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Không hoan hỉ với khổ đau PAGEREF _Toc71971392 \h 1
II. Nhàm chán khổ đau PAGEREF _Toc71971393 \h 4
III. Thánh trí bừng sáng PAGEREF _Toc71971394 \h 9
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc71971395 \h 10
I. Không hoan hỉ với khổ đau
“-- Bạch Thế Tôn, thật là lớn, vực thẳm này! Bạch Thế Tôn, thật là đáng sợ hãi, vực thẳm này! Bạch Thế Tôn, không biết có vực thẳm nào khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này?
-- Này các Tỳ-kheo, có vực thẳm khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này.
-- Bạch Thế Tôn, thế nào là vực thẳm khác, lớn hơn và đáng sợ hãi hơn vực thẳm này?
-- Này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... không như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt". Họ hoan hỷ với các hành đưa đến sanh, họ hoan hỷ với các hành đưa đến già, họ hoan hỷ với các hành đưa đến chết, họ hoan hỷ với các hành đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ hoan hỷ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ tạo dựng các hành đưa đến sanh, họ tạo dựng các hành đưa đến già... đưa đến chết... do họ tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, nên họ rơi vào vực thẳm sanh, họ rơi vào vực thẳm già, họ rơi vào vực thẳm chết, họ rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ không liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ không liễu thoát khỏi đau khổ.
Và này các Tỳ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào như thật rõ biết: "Ðây là Khổ"... như thật rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt", họ không hoan hỷ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì họ không hoan hỷ với các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não. Do họ không tạo dựng các hành đưa đến sanh... đưa đến già... đưa đến chết... đưa đến sầu, bi, khổ, ưu, não, họ không rơi vào vực thẳm sanh; họ không rơi vào vực thẳm già; họ không rơi vào vực thẳm chết; họ không rơi vào vực thẳm sầu, bi, khổ, ưu, não. Họ liễu thoát khỏi sanh, khỏi già, khỏi chết, khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng, họ liễu thoát khỏi đau khổ.
Do vậy, này Tỳ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ"... một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".”
(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật (b), V. Phẩm Vực Thẳm, II. Vực Thẳm)
Những người tu hành nào rõ biết đúng sự thật đời sống này, sinh mạng này, thể xác này, sắc thân và những cảm giác, nghĩ tưởng này là khổ. Những người nào biết rằng những tham dục, sân hận, si mê, bản ngã là nguyên nhân của khổ nên không hoan hỉ, không vui thích với mọi sự thật, hiện tượng trong tứ đại ngũ uẩn này, không bị trói cột vào đó nên họ không sanh, già, bệnh, chết, không sầu, bi, khổ, ưu, não nên họ không rơi vào vực thẩm của đau khổ, họ liễu thoát khỏi sanh tử. Ta nói rằng, họ liễu thoát khỏi đau khổ. Do vậy cố gắng cần thấu triệt bản chất của ngũ uẩn này là khổ đau, cần cố gắng rõ biết nguyên nhân khổ đau là gì, cần cố gắng nỗ lực rõ biết con đường chấm dứt khổ đau.
Do vì không rõ biết đúng sự thật bản chất của thân xác này, do vì không rõ biết đúng sự thật bản chất của các cảm xúc, do vì không rõ biết đúng sự thật bản chất của những suy tưởng, nhận thức này là khổ cho nên người ta hoan hỉ, ưa thích, khát khao, thèm thuồng, ước vọng, mong đợi nên người ta tranh đấu, cướp giật để tạo dựng các hành rồi đưa đến sanh, già, bệnh, chết.
Thật không thể tưởng tượng được trí tuệ của Đức Phật, chúng ta học bao nhiêu bài kinh đều nhằm đánh phá sự hoan hỉ đối với các hành, hai buổi học chúng ta nói về trí tuệ sắc thân để thấy rõ bản chất của nó, tiếp tục tu học đến ngày nhắm mắt để không hoan hỉ đối với các hành, không vui thích đối với những thứ đưa đến sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Vì thế tầm nhìn của Đức Phật là vượt tầm Pháp giới, cho nên học kinh cần có sự chiêm nghiệm, tư duy, thiền quán, suy ngẫm và tác ý thật nhiều, không phải nghe rồi có thể dễ dàng hiểu được.
Vì hoan hỉ nên tạo dựng, vì tạo dựng nên rơi vào vực thẩm, vì bị rơi xuống vực thẩm nên không thể giải thoát khỏi khổ đau. Những đứa trẻ xây lâu đài bằng cát trên biển, vì nó thích nên nó xây dựng, tạo dựng nên, nếu còn ưa thích thì còn tiếp tục làm. Nó so sánh với bạn nó "mày làm xấu hơn tao, không đẹp bằng tao" rồi hai bên cãi nhau, tức giận. Lát sau tất cả lâu đài bằng cát bị sụp đổ, tan nát và chúng ta đang ngồi trong lâu đài bằng cát.
Với con mắt của Đức Thế Tôn thì tất cả sắc pháp đều là bong bóng, vì ngài không hoan hỉ nên ngài không tạo dựng những gì đưa đến sanh, không tạo dựng những gì đưa đến già, không tạo dựng những gì đưa đến chết, không tạo dựng những gì đưa đến khổ. Mình có ưa thích, hoan hỉ cái giận không? Mình hoan hỉ với khổ nên mới chất chứa những cảm giác giận đó bảy tháng, ba năm, tuy nó làm mình phiền não, đau khổ nhưng mình không xả bỏ cảm giác đó mà lại chất chứa, nuôi dưỡng tăng tưởng, phát triển để nó giày vò, hành hạ, hành xác mình.
Vì mình không biết đó là khổ nên chấp nhận những cảm giác sân hận, tức giận đó, "quân tử trả thù mười năm chưa muộn" hoặc "sống để dạ, chết mang theo" tức là ưa thích, hoan hỉ đối với cảm giác sân hận đó cho nên tạo dựng thêm những cảm giác đó, tạo dựng thêm những suy nghĩ, hành động sân đó nên kết cục rơi xuống vực sâu. Mình không như thật rõ biết đúng sự thật cảm giác này là khổ, biết trong tô phở có độc thì dám ăn không dù cho rất đói bụng? Được học, được nghe là tam độc nhưng khi nó sanh khởi trong tâm lại không thấy nó là độc rồi hoan hỉ, tạo dựng và rơi xuống vực sâu cùng với nó.
Mình không thấy cảm giác dục là khổ nên ưa thích, nuôi dưỡng tăng trưởng, phát triển cho sung mãn, rồi nó lôi đầu mình chạy theo nó suốt đời suốt kiếp. Mình không thấy nó là khổ nên tạo dựng, hoan hỉ rồi nó lôi mình xuống vực sâu. Mình có hoan hỉ cảm giác bản ngã không? Khởi lên cái tôi có thích không? Vì hoan hỉ nên nâng cấp nó lên, cái tôi càng lớn chừng nào thì mình càng khoái chí, hân hoan và chính nó đưa mình xuống vực sâu, tạo ra bao nhiêu ác nghiệp quả báo của khổ cho nên không thể thoát khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não.
II. Nhàm chán khổ đau
Những bậc tu hành nào biết rõ đúng sự thật đây là khổ và con đường diệt khổ thì họ không hoan hỉ đối với các hành đưa đến sanh, già, bệnh, chết. Vô thỉ là dòng quay cuồng của luân hồi này, khởi điểm của nó không thể nêu rõ được đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột.
“Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.
Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên.
Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Đức Phật dạy mình khi gặp những cảnh khổ đau, tai nạn, tai họa thì phải nghĩ rằng chúng ta đã bị như vậy vô số lần chứ không phải đây là lần đầu. Trong dòng vô minh che đậy, tham ái trói cột này, trong dòng quay cuồng của luân hồi này, đã rất lâu ngày chúng ta đã chịu đựng khổ, chịu đựng tai họa nên những ngôi mộ ngày một nhiều thêm. Con phát hiện ra những nghĩa trang ngày một lớn thêm, rộng thêm, có những chỗ người ta phải cải táng, lấy hài cốt lên hỏa táng.
Hơn thế nữa chúng ta đang chứng kiến cảnh dịch bệnh trên thế giới, người chết phải chôn bằng những hố chôn tập thể to lớn bằng sân vận động, những chiếc xe ben đổ xuống hố những bao rác đựng xác người. Không phải mười người, không phải một trăm người, không phải một ngàn mười, không phải hai trăm-bảy trăm ngàn người… mà là hàng triệu người, con số hiện nay đã lên hơn một triệu tám trăm ngàn người chết. Không phải đây là lần đầu tiên có dịch bệnh, hàng trăm năm trước đã xảy ra những trận dịch bệnh làm chết rất nhiều người.
Không phải mới bị tai nạn giao thông, bị ung thư, bị đâm chém, bị ở tù trong kiếp này mà đã lâu ngày các ông đã chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, các mộ phần ngày một lớn lên và trong những ngôi mộ cổ xưa đó biết đâu lại là thân xác đời trước của chúng ta nằm trong đó. Những thi thể, những bộ hài cốt hàng mấy ngàn năm được khai quật lên biết đâu lại là chúng ta trong những kiếp trước.
Thật là đau khổ cho chúng ta sống trong đời sống tham dục mãi mãi như vậy. Đời sống cứ đòi hỏi, tìm kiếm, khát khao, tham muốn, chết đi sống lại tìm dục ái… cứ lòng vòng. Thật là đau khổ cho đời sống dục tham ái, đuổi bắt, truy tìm, thất vọng, đau khổ quằn quại. Đau khổ cho đời sống chạy theo dục, chạy theo ái, chạy theo tham nhưng vĩnh viễn và mãi mãi không được thỏa mãn, mãi mãi trong sự khát khao, mãi mãi trong sự thèm thuồng, tìm kiếm, truy đổi trong vô lượng vô biên kiếp.
Cả một chuỗi luân hồi là rượt đuổi, tìm kiếm, khát khao và nô lệ cho tham ái. Thật là đau khổ cho chúng ta, mệt mỏi cho chúng ta, nhọc nhằn cho chúng ta, vất vả, cực khổ, lo lắng và sợ hãi như vậy mà phải xây lên những lâu đài trên bãi cát. Cho đến như vậy là vừa đủ để nhàm chán, để từ bỏ, cho đến như vậy là vừa đủ để chúng ta giải thoát khỏi tất cả các hành này.
“Các xương của một người, này các Tỳ-kheo, lưu chuyển luân hồi có thể lớn như một đồi xương, một chồng xương, một đống xương, như núi Vepulla này, nếu có người thâu lượm xương lại, gìn giữ chúng, không làm chúng hủy hoại.
Vì sao? Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo... là vừa đủ để giải thoát đối với tất cả các hành.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, X. Người)
Cứ sanh ra rồi tham dục, sân si, bản ngã rồi chết, dòng luân chuyển này cứ mãi như vậy, cứ như vậy mà những mộ phần ngày một lớn lên. Cho đến như vậy là vừa đủ để nhàm chán những dục tham, sân hận, bản ngã, hơn thua, ganh tị, hẹp hòi này, nhàm chán những vở tuồng của ngũ uẩn này để thoát ra khỏi các hành. Nếu có thể thu lượm, bảo quản thì xương người có thể chất cao thành núi Thái Sơn, chất thành núi Vepulla là ngọn núi lớn nhất thời đó ở Ấn Độ. Đức Phật đã dùng Phật nhãn của ngài để nhìn thấy thế giới này nên ngài đưa ra rất nhiều hình ảnh minh họa.
“Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn, sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài, hay là nước trong bốn biển?
-- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng cái này là nhiều hơn, tức là sữa mẹ mà chúng con đã uống trong khi chúng con lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển!
-- Lành thay, lành thay, này các Tỳ-kheo! Lành thay, này các Tỳ-kheo, các Ông đã hiểu như vậy Pháp do Ta dạy!
Cái này là nhiều hơn, này các Tỳ-kheo, tức là sữa mẹ mà các Ông đã uống trong khi các Ông lưu chuyển luân hồi trong một thời gian dài chớ không phải nước trong bốn biển.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, IV. Sữa)
Nước biển không phải là nhiều mà sữa mẹ chúng ta đã uống còn nhiều hơn nước trong bốn biển.
“Các Ông nghĩ thế nào, này các Tỳ-kheo, cái gì là nhiều hơn? Dòng nước mắt tuôn chảy do các Ông than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi các Ông phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này hay là nước trong bốn biển lớn?
- Bạch Thế Tôn, theo như lời Thế Tôn thuyết pháp, chúng con hiểu rằng, cái này, bạch Thế Tôn, là nhiều hơn, tức là dòng nước mắt tuôn chảy do chúng con than van, khóc lóc, phải hội ngộ với những gì không ưa, phải biệt ly với những gì mình thích, khi phải lưu chuyển luân hồi trong thời gian dài này chớ không phải nước trong bốn biển lớn.
Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng mẹ chết.
... các Ông chịu đựng con chết...
... các Ông chịu đựng con gái chết...
... các Ông chịu đựng tai họa về bà con...
... các Ông chịu đựng tai họa về tiền của...
Trong một thời gian dài, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng tai họa của bệnh tật. Cho đến như vậy, này các Tỳ-kheo, là vừa đủ để các Ông nhàm chán, là vừa đủ để các Ông từ bỏ, là vừa đủ để các Ông giải thoát đối với tất cả các hành.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, III. Nước Mắt)
Ngồi trong hội chúng này có người bị lừa đảo mất hết nhà cửa, tài sản. Ngồi trong hội chúng này có người bị phụ tình khổ đau. Ngồi trong hội chúng này có bao nhiêu giọt nước mắt tuôn rơi vì ông bà, cha mẹ mình chết. Ngồi trong hội chúng này có người đang mang nhiều bệnh.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, có người chặt các cành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá, trong cõi Diêm-phù-đề này, chất chúng thành một đống, làm chúng thành những que đặt theo hình các ô vuông, cầm từng que đặt xuống và nói: "Ðây là mẹ tôi, đây là mẹ của mẹ tôi". Và không thể cùng tận, này các Tỳ-kheo, là các bà mẹ, mẹ của người ấy. Nhưng nhành cỏ, khúc cây, nhành cây, nhành lá trong cõi Diêm-phù-đề này có thể đi đến đoạn tận, đoạn diệt.
Cũng vậy, đã lâu ngày, này các Tỳ-kheo, các Ông chịu đựng khổ, chịu đựng thống khổ, chịu đựng tai họa, và các mộ phần ngày một lớn lên.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương IV. Tương Ưng Vô Thỉ (Anamatagga), I. Phẩm Thứ Nhất, I. Cỏ Và Củi)
Những nhành cây, cành lá trên Trái Đất này không đủ để đếm nhưng trong vòng luân hồi này, những người là mẹ chúng ta còn nhiều hơn những que củi trên Trái Đất này. Một Phật tử có duy nhất một người con gái rất trẻ đẹp, thông minh, học giỏi nhưng cô gái này đã tự vẫn, người mẹ này đau khổ và bệnh, thậm chí muốn chết theo con. Người mẹ này đau khổ, ngày nào cũng khóc suốt sáu năm, có những người mẹ thương nhớ con khóc mù cả hai mắt.
Trong sách sử ghi lại có một vị Thánh Tăng A-la-hán mới bảy tuổi, khi ngài thành tựu Thánh quả có thiên nhãn thông nhìn thấy người mẹ đời trước ôm ngôi mộ khóc nức nở, chúng ta thấy ngao ngán cho đời sống của dục vọng, sân hận, của vô minh, đời sống của bóng tối, bóng đêm, đời sống của bản ngã vươn cao. Nhàm chán đời sống tham sân si này, nhàm chán đời sống ganh tị, đố kị, ganh ghét, thị phi này, mỗi khi nó sanh khởi trong tâm là tác ý "Nhàm chán, nhàm chán, nhàm chán. Từ bỏ, từ bỏ, từ bỏ. Đến đây là vừa đủ rồi, mày diệt đi, tan biến hoàn toàn đi. Đau khổ như vậy còn chưa đủ hay sao? Nước mắt như vậy còn chưa đủ hay sao? Bệnh tật như vậy còn chưa đủ hay sao? Tham lam, tham dục như vậy còn chưa đủ hay sao? Sân hận thiêu đốt như vậy còn chưa đủ hay sao mà còn muốn tiếp tục nữa? Ta chán ngươi lắm rồi, cái thứ ác độc này hãy dập tắt và diệt tận hoàn toàn đi". Không gầy dựng các hành đưa đến sanh, già, bệnh, chết nữa. Không gầy dựng tham sân si, bản ngã nữa mà đánh sập, đánh nát, diệt tận làm cho chúng hoàn toàn tan biến và sụp đổ trong thân tâm mình để đưa đến lắng dịu, an tịnh, tịch tịnh, để đưa đến nội tâm bất động giải thoát, tâm giải thoát, tuệ giải thoát.
III. Thánh trí bừng sáng
Bình minh đã lên, Mặt Trời đã tỏa chiếu rồi, Thánh trí bừng sáng trong tâm của mọi hành giả. Hãy giữ gìn ánh sáng này, duy trì ánh sáng này, phát huy ánh sáng này, làm cho ánh sáng này luôn tỏa sáng, chiếu sáng, bừng sáng và rực sáng trong nội tâm mỗi chúng ta. Làm được vậy sẽ rất an lạc, hạnh phúc, bình an tối thượng là trí tuệ này, cái nhìn thần thánh này sẽ đưa chúng ta diệt tận sanh tử, chấm dứt khổ đau. Làm như vậy sẽ nhất hướng nhàm chán, y chỉ ly tham, y chỉ đoạn diệt hướng đến từ bỏ những tham sân si, vô minh và bản ngã đó. Hướng đến từ bỏ những ý hành sân, dục hại đó, những ý hành làm khổ mình, khổ người đó, chấm dứt và diệt tận nó. Không gầy dựng nên những vở tuồng luân hồi tái sanh trong tương lai mà nhàm chán, ly tham đối với nó, thoát ly và bước ra khỏi nó để thấy được tâm vô lượng bất động của Thánh trí. Không còn chấp nhận món đồ gốm dễ vỡ là mình nữa, thành tựu kim cương trí, Thánh trí ngũ uẩn này là trí tuệ kim cương tối thượng.
Chúng ta hãy nhìn kĩ vào đời sống này, thật chất nó là gì? Tại sao khổ? Vì tham dục, cho nên giáo Pháp ly tham mới giải quyết triệt để đau khổ của chúng sanh, muốn ly tham thì phải thấy được tính chất nguy hiểm và tác hại cùng cực tột độ thì không còn thích nữa, muốn thấy được điều đó phải tư duy, phải nghe Chánh Pháp, phải Như lý tác ý, phải gặp được bậc Chân nhân, phải tùy Pháp và hành Pháp. Đầu tiên phải đuổi ác phát huy thiện, đuổi cái thường tình và phát huy Thánh trí cho đến khi viên mãn trí tuệ, các hành được an tịnh lắng dịu để đi đến tịch tịnh của Niết-bàn. Những dòng nước mắt của hạnh phúc, những dòng nước mắt của bình an, trí tuệ, của sự xúc chạm với chân lý.
IV. Trình pháp
Cô Diệu Linh: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch sư phụ, quý sư cô và các Phật tử có mặt tại giảng đường hôm nay. Hiện nay thân tâm con chấn động, con rất hạnh phúc không thể nói được bằng lời, nếu trên đời này còn từ nào nữa thì con sẽ dùng từ đó để diễn tả. Những điều sư phụ giảng để đánh thức tâm mê của con và khẳng định con đường phải đi trong tương lai, con có niềm tin xác quyết với con đường này không thể đổi khác. Con rất hạnh phúc, con không nói được nhiều nhưng con biết con rất hạnh phúc. Con tri ân sư phụ rất nhiều, sư phụ là người đầu tiên và cũng là người duy nhất trên chặng đường tu học của con, đảm bảo chắc chắn trên đời này không có ai dạy như sư phụ. Con không biết vì sao mình lại may mắn đến vậy, con tri ân sư phụ, những điều sự phụ dặn dò và giảng dạy con sẽ nhớ và thực hành theo đó, không thể đổi khác. Con cầu nguyện cho tất cả đại chúng ở đây tu học nghe hiểu được, không đơn giản sư phụ chỉ dạy bằng âm từ mà người dạy bằng tất cả những oai nghi, tất cả những thứ xung quanh nơi nào cũng có ý hành sư phụ dạy và kể cả khi không có sư phụ thì tâm tưởng của sư phụ luôn hướng về tất cả đại chúng. Dù sư phụ không có ở đây nhưng con tin những điều sư phụ hướng đến đại chúng, con cũng sẽ nắm bắt được, kết nối được và tinh tấn trên con đường tu học sắp tới. Thân tâm con chấn động vì con đã nhìn thấy được con đường và xác quyết được con đường đó, không thể sai khác được, con hạnh phúc đến tột cùng, bủn rủn cả tay chân, tứ đại con muốn tan rã theo cả thế giới vì quá sung sướng, quá hạnh phúc và vì bài kinh hôm nay. Đã bao nhiêu kiếp con đã nhảy xuống vực thẳm đó, hôm nay con mới nhìn thấy con đường để về, thật sợ hãi khi sống trong bóng đêm và lạc đường, mọi người cũng vậy không riêng gì con. Sư phụ đã đem đèn sáng vào trong bóng tối, chỉ hướng cho người lạc đường và chúng con ở đây thật may mắn, thật phước lành, con không biết nói gì nhưng con chỉ thấy thật tuyệt vời, thật tốt lành. Hãy trân trọng những điều sư phụ giảng dạy, không thiếu không thừa một từ nào kể cả dấu chấm, phẩy, con tri ân sư phụ rất nhiều.
Phật tử: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính thưa sư phụ, kính thưa quý thầy, kính thưa quý sư cô, kính thưa quý đạo hữu. Lần này con lên đây là sự thôi thúc sau khi con đã nghe những bài Pháp về cảm thọ, một sự thâm sâu kì diệu, một trí tuệ siêu phàm của Thế Tôn, con cảm nhận được thâm sâu kì diệu của sư phụ, không biết phước duyên nào mà đến ngày hôm nay mà chúng ta vẫn nghe được, hiểu được trí tuệ siêu phàm của Thế Tôn. Một sự thôi thúc con phải lên đây khi nghe Pháp sư phụ giảng dạy nhận diện sắc, sư phụ nói chúng con đã bị lừa, khi sư phụ hỏi tại sao chúng ta có mắt thì con quán chiếu thấy rằng do vô minh và khát ái, do bản ngã trong tâm thức vô lượng vô biên này tạo ra mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Mục đích của nó là làm nô lệ cho tham ái này mà bấy lâu nay con lại nghĩ rằng thân này là của mình, con cũng đã bị lừa, con làm nô lệ cho tham ái bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp và giờ lại tiếp tục làm nô lệ cho nó nữa. Nhưng ngày hôm nay con thấy rõ ràng hơn vô thường, con phát nguyện với lòng mình muôn đời suốt kiếp con không làm nô lệ cho nó nữa nhưng con không biết làm sao cho đến sáng nay sư phụ nói cần cố gắng nỗ lực để không hoan hỉ với tất cả các hành. Sư phụ đã truyền bí kiếp cho con, mọi cố gắng để thể nhập vào Thánh trí, thể nhập vào Thánh tư duy để đánh đuổi ác ma trong con. Con kính mong sư phụ, quý thầy, quý sư cô hãy cố gắng duy trì, con không còn sống lâu nữa, con cầu mong sư phụ tại thế lâu dài, các thầy các cô tiếp nối sư phụ để dòng Thánh Pháp này tỏa sáng hơn nữa. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
Phật tử: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, kính bạch quý sư cô và kính thưa quý Phật tử. Khi sư phụ chỉ dạy tác ý thì thời gian qua từ tháng 9 đến giờ con chỉ thiền quán thân bất tịnh, nhơ nhớp của cô Toàn, bên cạnh đó con nghe thêm thiền quán bất tịnh của sư phụ. Khi về Hà Nội tiếp xúc với bạn bè thời phổ thông, lúc đầu có cảm xúc vui nhưng sau đó có buổi liên hoan ăn uống, hoặc trong ngày giỗ ba con thì trong lòng con khởi lên sự ê chề, chán chê và sân, bực bội mà con chưa nhận ra được cảm giác đó là thế nào. Con xin sư phụ chỉ dẫn thêm cho con để con tác ý thêm.
Sư Phụ: Bây giờ chúng ta chỉ trình Pháp trong buổi thiền quán, còn phần hỏi đáp thì trưa nay sẽ tiếp tục.
Thầy Pháp Nghĩa:
Con chân thành đảnh lễ
Phật Thích Ca Mâu Ni
Đời này con xin nguyện:
“Thấy biết rõ ngũ uẩn,
Thấy biết rõ tự thân,
Thành tựu chánh tri kiến,
Thể nhập vào Thánh quả,
Con nguyện xứng đáng là
Người con Phật chân chánh”.
Con xin đảnh lễ Ngài
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc đoạn tận tham ái,
Bậc đoạn tận sợ hãi,
Tâm Ngài không dao động,
Tâm không nhiễm thế gian.
Con xin đảnh lễ Ngài
Phật Thích Ca Mâu Ni
Bậc Vô Thượng giải thoát
Ngài là thầy của con
Ngài - vị dẫn đường con
Ngài - vị con quy ngưỡng
Con chân thành quy hướng
Đảnh lễ bậc Vô Thượng
Đảnh lễ bậc Chánh Giác
“Con xin quy phục Ngài,
Con xin làm đệ tử,
Làm con ngoan của Ngài”. (3 lần)
“Con xin quy phục Pháp,
Quy phục Pháp Tám Đúng,
Nguyện thành tựu Tám Đúng”. (3 lần)
“Con xin tôn kính Tăng,
Tôn kính đời Giới Đức,
Nguyện thành tựu Giới Đức”. (3 lần)
Sư Phụ: Niệm lòng tin bất động, kinh Cần Phải Khích Lệ
- Này Ananda, với ai, Thầy có lòng từ mẫn, và với những ai, Thầy nghĩ là nên nghe theo, các bạn bè, thân hữu, bà con hay cùng một huyết thống. Với những người ấy, này Ananda, Thầy cần phải khích lệ, cần phải hướng dẫn, cần phải an trú trong ba điểm. Thế nào là ba?
- Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với Ðức Phật: "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với pháp: "Pháp được Thế Tôn khéo thuyết, thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu". Hãy khích lệ, hướng dẫn và an trú vào tịnh tín bất động đối với chúng Tăng: "Diệu hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Ứng lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn, Chơn chánh hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng. Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng cung kính, đáng được cúng dường, đáng tôn trọng, đáng được chắp tay, là phước điền vô thượng ở đời". (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, VIII. Phẩm Ananda, 75.- Cần Phải Khích Lệ)
Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y chúng Tỳ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử; từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. (Trung Bộ Kinh, 54. Kinh Potaliya)
Xin đại chúng và tất cả những vị quy y đọc theo:
Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni, bậc tự mình thấy rõ sự thật về thân tâm, sự thật về sanh tử, về phiền não khổ đau và ngài cũng tìm thấy lối thoát khỏi khổ đau, lối thoát khỏi sanh tử. Ngài đạt sanh tử tận, ngài đạt khổ chấm dứt, vì vậy ngài được gọi bậc la-hán Chánh Giác, bậc lậu tận Chánh Giác. Con thật kính phục ngài, con thật kính ngưỡng ngài, con xin quy phục ngài, con xin đảnh lễ ngài.
Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni. Bậc trí tuệ đức hạnh, bậc thành tựu viên mãn được trong sáng tròn đầy, trí đức ngài hoàn hảo, tâm trí ngài sáng trong, vì vậy ngài được gọi bậc Minh Hạnh cụ túc, bậc trí đức vẹn toàn, con thật kính phục ngài, con thật kính ngưỡng ngài, con xin quy phục ngài, con xin đảnh lễ ngài.
Con chân thành đảnh lễ Phật Thích-ca Mâu-ni. Bậc Thiện Thệ thiện xảo, khéo vượt bốn bộc lưu, khéo vượt bốn đầm lầy: Dục, hữu, kiến, vô minh, vượt trầm luân sanh tử, dứt phiền não khổ đau, vì vậy ngài được gọi bậc Thiện Thệ giải thoát, con thật kính phục ngài, con thật kính ngưỡng ngài, con xin quy phục ngài, con xin đảnh lễ ngài.
Mọi người chắp tay quỳ lạy hướng về hình ảnh Đức Thế Tôn và nói theo:
Chúng con xin trọn đời quay về nương tựa Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác (ba lần).
Chúng con nguyện trọn đời quay về nương tựa Chánh Pháp.
Chúng con nguyện trọn đời quay về nương tựa chúng Tăng.
Chúng con nguyện suốt đời cố gắng tác ý từ bỏ sát sanh.
Chúng con nguyện trọn đời cố gắng tác ý từ bỏ lấy của không cho.
Chúng con nguyện trọn đời cố gắng tác ý từ bỏ tà hạnh trong các dục.
Chúng con nguyện trọn đời cố gắng tác ý từ bỏ sử dụng những chất say sưa nghiện ngập, nguyện sống đời trí tuệ tỉnh thức.
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này, chư vị nghe hiểu được âm thanh này cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này. Mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loàn. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt mọi khổ đau. Lòng tha thiết chân thành cầu nguyện sự an lạc, bình an, trí tuệ và giải thoát đến với cùng khắp tất cả.
./.