Sự vận hành của tâm 4 - Giải phá cảm giác không khổ không vui - Diệt ngã
Sự Vận Hành Của Tâm 4
Giải Phá Cảm Giác Không Khổ Không Vui
Diệt Ngã
Thích Minh Thành
Ngày 24 tháng 03 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tham – sân – si PAGEREF _Toc101107091 \h 1
II. Tâm sự PAGEREF _Toc101107092 \h 8
I. Tham – sân – si
Chúng ta tiếp tục trình pháp, làm bài tập nhận diện các pháp trong thân tâm của mình, hãy nói, đừng ngại, nói một cách thân thiện, gần gũi, giải bày, chia sẻ.
95:51-104: trình pháp
Cảm giác không khổ không vui, thường thường, đều đều, trơ trơ là một cảm giác rất nhiều trong đời sống chúng ta. Chúng ta có nhiều trí tuệ, sau khi mình nhận diện năm uẩn thì mình sẽ thành tựu những trí tuệ, đây không phải là những trí tuệ bình thường, đây gọi là Thánh trí, tri kiến của bậc Thánh. Tại sao gọi là Thánh trí? Vì sự thấy biết này là của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không phải bất cứ của một người nào khác có thể nhìn thấy được điều này, gọi là Thánh trí, hoặc là tri kiến của bậc Thánh, Thánh tri kiến.
Nói gọn về cảm thọ, khi mình nhìn ra được cảm thọ là cảm thọ thì mình đã thành tựu được một loại trí tuệ. Trước khi mình học nhận diện ngũ uẩn thì mình có biết đó là cảm thọ không? Mình chỉ biết là “Tôi đang giận, tôi đang vui, tôi đang bình thường!”, khi biết như vậy là biết của phàm phu, vô minh và chấp ngã, đó còn gọi là thọ thủ uẩn – là sự nắm giữ vào trong các cảm thọ cho đó là tôi. Vậy nên khi mình nói “Tôi đang vui quá! Tôi đang bực bội lắm! Tôi thấy bình thường, không vui không buồn gì đâu!”. Những câu nói đó là câu nói của phàm phu, vô minh, của chấp ngã. Còn nếu mình nói “Hiện tại tôi thấy trong người tôi có một cảm thọ không khổ không vui, cảm thọ trơ trơ!”. Nên khi nói được câu đó, mình nhận diện, mình biết cảm thọ là cảm thọ thì mình đã có một loại trí tuệ về cảm thọ, là sự thấy biết đúng sự thật, gọi là trí tuệ.
Ví dụ “Hiện tại bây giờ con thấy trong người con có một cảm thọ không khổ không vui!” Vậy thì mình đã tách mình ra khỏi cảm thọ chưa? Mình có thấy cảm thọ là đối tượng của mình không? Khi mình nhìn vào và thấy được một cảm thọ không khổ không vui, một cảm thọ thường thường, đều đều, trơ trơ thì mình nhìn vào thấy được cảm thọ đó và không đồng hóa mình với cảm thọ đó thì cảm thọ đó thành đối tượng của mình, của trí tuệ mình nhìn thấy, là mình đã tách mình với cảm thọ đó ra.
Vậy nên, khi mình nhìn nó ra cảm thọ là cảm thọ đó là mình đã có trí tuệ. Mình biết tên tuổi và mặt mũi của cảm thọ. Giờ mình phân loại được cảm thọ, tức là cảm thọ này thuộc về cảm thọ không khổ không vui, trong cảm thọ này lại có si trong đó, nó làm cho mình đơ đơ, trơ trơ, làm cho mình đờ người, mình không hân hoan, phấn khởi mà mình cũng không buồn bã, luôn trong trạng thái đơ đơ, trơ trơ, thường thường.
Khi mình thấy trong cảm thọ này có si tùy miên hoặc là vô minh tùy miên, các khái niệm này từng được giảng trong các bài Sáu pháp, Vận hành đời sống và Quán chiếu thâm sâu về cảm thọ. Như vậy, khi chúng ta nhìn vào các cảm thọ đơ đơ, trơ trơ thì chúng ta thấy được một cảm giác thường thường, bình bình, đơ đơ, lờ mờ thì đây là si, vô minh. Và khi mình biết trong cảm thọ không khổ không vui này có sự miên man ở trong si mê, vô minh thì lúc đó chúng ta thành tựu thêm được một loại trí huệ nữa.
Chỉ nhận diện cảm thọ thôi thì đã có bao nhiêu loại trí tuệ trong đó. Khi mình biết mình có si thì mình có bị si không? Là mình đã thoát ra khỏi cái si mình mới biết đó là si, còn không mình nhập cuộc vào và nói “Giờ tôi buồn ngủ, tôi đơ đơ, tôi lờ đờ rồi!” Vậy là mình đã nhập cuộc vào đó, đó gọi là thọ thủ uẩn, nhận cảm thọ đó là mình. Sau khi mình nhận thấy trong nhà mình dơ thì mình phải làm sao? Phải quét dọn và lau, đó là mình thành tựu thêm được trí huệ tiếp theo là mình phải quét rác, mình tẩy rửa, dọn vệ sinh, đó là mình dùng tác ý phá si mê này, như Đức Phật dạy là phải tinh cần, tinh tấn.
Ngoài ra, thức ăn của si này là ăn no, làm biếng, rã rượi, buồn ngủ. Đó là những cái nuôi cảm thọ bất khổ bất lạc này. Giờ mình muốn phá nó thì đầu tiên, mình phải cảm thọ ở đôi mắt của mình thật mạnh, mở mắt to ra, đừng nhắm lại. Ví như vào ngồi thiền sau một ngày làm việc, tối bảy tám giờ và còn nhắm mắt thở vô thở ra thì sẽ đi đến tầng thiền thứ mấy? Mình biết là sẽ nguy hiểm, sẽ đi vào trạng thái si mê mà mình lại cho nó đi theo đó.
Vậy nên mình phải đề phòng, canh chừng, lúc đó mắt mình phải mở ra, nhãn thức của mình, sự rõ biết con mắt phải rộng mở hết mức, cảm thọ thật mạnh ở trước mặt và đôi mắt, tầm nhìn của mình phải rộng mở khắp không gian ở phía trước mặt để đánh đuổi hôn trầm.
Tiếp theo, tham, sân, si ở chỗ nào trên thân thể? Trong tâm ở đâu và ngoài thân ở đâu?
114-117: trình pháp
Vừa rồi, chúng ta nói về tham, sân, si trong ba thọ là của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác chứng ngộ, nên học kinh Nikāya khác hẳn với trước đây mình đã học. Học những điều khác thì mình nghĩ sao thì nghĩ, mình suy tưởng sao thì suy tưởng nhưng học kinh Nikāya là không được như vậy, mà phải căn cứ vào trong Thánh điển của Đức Phật, không tự ý suy diễn.
Những điều trên chúng ta đã được học nên hai ngày nay là để củng cố tất cả trí tuệ căn bản mà chúng ta đã học được trong thời gian vừa qua bị quên.
119-120: trình pháp
Sân ở lồng ngực, si ở mắt, dục tham ở chỗ phát dục. Đó là ba chỗ của tham, sân, si. Khi nhìn vào mắt biết người đó đang si, đơ đơ, gà mờ, hôn trầm không? Đó là biểu hiện ở mắt. Khi nóng thì từ lồng ngực bốc lên, chỗ này là phát khởi của sân. Mắt là chỗ để si biểu hiện. Chỗ bộ phận sinh dục là nơi cư trú của dục tham. Đó là biểu hiện trên thân. Đối với ba thọ là ở trong tâm.
Nên chúng ta chịu khó nhận diện thì mình sẽ thấy thường nóng lòng ngực hay nhận diện để thấy trong giờ học hai mắt cứ đơ đơ. Nhận diện thì mình sẽ thấy, không nhận diện thì mình quên, nhận diện được thì mình sẽ nhớ, mãi mãi không quên. Đối với dục cũng vậy, trước khi ngủ mình phải tác ý diệt dục, vừa ngủ thức dậy cũng phải tác ý diệt dục, tác động vào tâm ý của mình. Chỗ đó là chỗ sanh khởi nên những tham muốn, sanh khởi những dục vọng thấp hèn, hạ liệt, những khổ đau, trói buộc, làm cho mình tu hành không được, làm cho tâm mình dao động, bất an.
Mình phải tác ý, quở trách, rầy la, thường xuyên hướng vào ba chỗ đó để mình tác ý. Lúc bình thường mình đã phải tác ý, không nên đợi đến lúc sanh khởi mới tác ý thì có thể không nổi. Bình thường mình phải tác ý, nhắc nhở tâm, dạy dỗ tâm, huấn luyện tâm, đào luyện tâm thì đến lúc hữu sự xảy ra thì nó mới nghe lời. Còn khi đợi đến sân lên phừng phực cháy thì lúc đó xe cứu hỏa, máy bay tưới nước xuống cũng không kịp, vì nó đã lan ra hết.
Vậy nên mình phải dập nó từ lúc mà nó chỉ còn là tàn nhang, tàn thuốc, phải dự trữ những hồ nước, bồn nước lớn bên trong, để nó vừa bốc khói lên là mình tạt nó ngay. Đó là lý do mình nên tu tâm hiền, tâm từ, để trong tâm mình có những bồn nước, hồ nước, dòng sông, thậm chí có cả biển cả của từ tâm rộng lớn. Khi những cảm thọ sân hận, tức giận, hơn thua đó sanh khởi lên, bị những bồn nước, hồ nước, dòng sông, biển cả của từ tâm đó dập tắt ngay lập tức.
Còn nếu trong lòng mình không có giọt nước, một tâm khô khan, khô cằn, một tâm nghèo khổ, đau khổ, một tâm nhỏ hẹp, nhỏ mọn, nhỏ nhặt, nhỏ bé, nhỏ nhoi, nhỏ nhít, nhỏ nhen, chạm tới là sân si, phựt cháy, hơn thua ngay. Trong khi mình tu tập tích chứa một tâm đầy rẫy những cảm thọ hiền lành, từ bi được quân tập mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây, mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi quý, mỗi năm mình tu tập tâm hiền, tâm từ.
Trong cảm thọ của mình là cả một suối nguồn của hiền đức, từ bi nên những cái làm cho mình không vừa ý, làm cho mình khó chịu sẽ không đủ sức quật ngã nổi mình. Vì tâm mình là cả một thành quách, suối nguồn, đại dương của bi mẫn, làm sao một chút sân hận có thể thiêu đốt được biển cả? Một bó đuốc, rơm rạ làm sao thiêu được đại dương?
Vậy nên Minh Thành đã chia sẻ cho các thầy các cô trong mùa dịch về cách tác ý, quán chiếu về tâm từ. Chúng ta rất cần trong sự thiền quán, tác ý, tư duy và quán chiếu, làm cho sanh khởi những cảm thọ hiền thiện, từ tâm ở trong con người của mình.
Minh Thành thường hay ví dụ, khi các thầy các cô ngồi kế bên máy điều hòa thấy có dễ chịu không? Rất dễ chịu, mát mẻ, thanh lương. Cũng vậy, tâm mình lúc nào cũng lan tỏa tình thương, lan tỏa ra hiền hòa, hiền đức, hiền hậu, hiền lương, hiền từ, hiền trí của bậc Thánh. Tâm mình lúc nào cũng lan tỏa không khí từ ái, dễ chịu, ngọt ngào, bình an trong cảm thọ của mình.
Vậy nên mình cần sự tu tập rất nhiều, không phải chỉ nghiên cứu suông, kiến thức suông, nếu mình nói không khéo sẽ trở thành lời phù phiếm, nói đi vào trong hý luận, tranh luận và cuối cùng không được gì cả, cứ sanh khởi lên sân, si, bản ngã, hơn thua.
Chúng ta phải nhớ mục đích tu học của chúng ta là diệt tận tham, sân, si, bản ngã. Chỉ duy nhất một mục đích đó, ngoài ra không có gì khác, không phải mình học để làm thầy người ta, không phải mình học để đi độ người ta. Vì mình còn chưa biết mình là gì, tham, sân, si mình còn chưa biết được nguồn cơn, phương pháp mình không biết thì làm sao mình độ người khác được. Nên Minh Thành mong thầy cô để tâm thật nhiều vào lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya.
Nên từ chỗ này chúng ta mới thành tựu được những trí tuệ để chúng ta giải phá được những cảm thọ mà chứa chấp tham, sân, si trong đó. Mình muốn phá si thì mình phải tác ý vô thường, khổ đau và sự nguy hại của ngũ uẩn, nguy hiểm và tác hại của nó, tác ý thật nhiều. Ví dụ khi đọc bài báo không phải chỉ biết suông là hôm nay có nhà cháy, không phải đọc báo như vậy. Mình đọc tờ báo đó thấy có mấy người chết, sau đó mình ngừng lại tác ý, suy nghĩ “Mình cũng có khả năng bị chết cháy như vậy! Những người ở chung mình cũng có khả năng bị hỏa hoạn như vậy! Thân ngũ uẩn vô thường này đầy những lo lắng, bất an, sợ hãi, bao nhiêu những tai nạn tìm ẩn chung quanh chúng ta!” Tác ý như vậy thì tự động được tinh cần tinh tấn. Mình lấy chủ đề trên mặt báo đó để mình làm pháp quán, làm một sự tác ý, làm động lực để mình nỗ lực tu tập, học pháp, hành pháp.
Không phải nghe được tin tức là hôm nay nghe người kia chết, người kia bị tai nạn, nghe xong cũng trơ trơ, xem như chuyện của người ta không dính dáng gì tới mình thì nghe như vậy là nghe bình thường của phàm phu, không phải nghe của bậc Đa Văn Thánh đệ tử, nghe của bậc Hiền trí là biết nắm bắt những cơ hội, tam tướng của thế gian này để nghiền ngẫm, gặm nhấm, chiêm nghiệm, thẩm thấu, xuyên thấu, thể nhập, chứng nhập sự thật mà Đức Thế Tôn đã nói.
Ví như trên mặt báo có tin tức nghe tiếng karaoke rồi chạy ra cự cãi sau đó là án mạng chết, chỉ ánh mắt nhìn thôi cũng cho là nhìn đểu rồi đâm nhau đi đến chỗ tử vong… Tất cả đó là do bản ngã của chúng sanh, tâm sân hận, hơn thua, ngu si, vô minh, mình quán chiếu như vậy làm mình đau xót cho sự vô minh của chúng sanh cũng như sự vô minh của chính mình, mình đau xót cho tâm sân hận của tự thân mình, của hữu tình chúng sanh và mình cảm thấy nhàm chán những cảm thọ sân hận trong con người mình.
Mình thấy ghê tởm những cảm giác sân hận trong con người của mình, mình thấy ngao ngán những cảm giác bực bội đó, mình thấy chán chường, não nề, gớm ghê, chán chê, từ bỏ, viễn ly, xả ly, xuất ly, mình không ưa thích những cảm thọ thiêu đốt, phựt cháy trong tâm mình nữa. Vì mình biết những thứ này là nguyên nhân của đau khổ.
Trong một câu chuyện, một tin tức mà mình tác ý như vậy là mình đi vào thiền quán, tự động mình sanh khởi nên những thọ, tưởng, hành, tương ưng với thiện, tuệ, trí, minh, với pháp, với sự thật. Mình triển khai thiền quán ngay trên mặt báo, lúc đó phá hết những cảm giác si mê, đơ đơ, trơ trơ, những cảm giác đó không còn, do sự tác động tâm ý mạnh mẽ của mình, do sự khéo léo thiện xảo sử dụng như lý tác ý. Làm cho mình thể nhập được sự thật nhãn tiền trước mắt mình, không đâu xa, không phải ở hai ngàn sáu trăm năm trước mà sự thật ở ngay trước mắt mình.
Tham, sân, si, bản ngã đầy rẫy, huynh đệ nói qua nói lại rồi giận nhau, sân si lên. Nên hãy quán nhàm chán cảm thọ sân hận trong con người mình, thấy ngao ngán cảm xúc hơn thua trong con người mình, mình muốn xa lìa những cảm thọ đó, những cảm giác đó, mình không ưa thích, không muốn mà muốn từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận, diệt tận, muốn cho nó tan biến thành mây khói, hư không, chặt nó giống như chặt cây dừa, cây cao, không thể nào sanh khởi trở lại trong tương lai, cho nó không tái sanh được nữa. Diệt tận hoàn toàn cảm thọ hơn thua, sân hận đó, tưới tẩm, tăng trưởng cảm giác hiền lành, từ bi, ngọt ngào, dễ chịu.
Nếu chúng ta sống được như vậy thì đẹp đến cỡ nào? Tuyệt vời ra sao? Đó là sự dụng công của pháp hành. Mình nhìn từ mắt mình nhìn ra thì tất cả đều là nạn nhân của tham, sân, si, tự thân của chúng ta cũng đại thảm họa, chúng ta là nạn nhân của tham, sân, si, của hơn thua, bản ngã và tất cả người chung quanh chúng ta cũng giống vậy hết, tất cả hữu tình chúng sanh trên cả địa cầu này đều là nạn nhân của tham, sân, si, vô minh, bản ngã.
Đang bị tham, sân, si vùi dập, chà đạp, đang bị tham, sân, si, bản ngã hành hạ, đày đọa. Tất cả đều ở trong khổ ách, ách nạn, tai nạn, hoạn nạn, hiểm nạn, nguy nan, thống khổ, đau khổ, không ai có sung sướng trừ các bậc Thánh đã hoàn toàn tẩy sạch vô minh, tham, sân si, bản ngã. Các vị đó mới có được chân lạc, phải thật sự có được hạnh phúc chân chánh.
Còn ở trong địa vị của phàm phu này là còn đầy rẫy thống khổ, bất an, nước mắt, máu, đầy rẫy tai nạn, tai ương, thảm họa, còn những thân địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cô hồn, vất vưởng, còn những thân mang lông đội sừng. Còn chất chứa những cảm giác sân hận, tham dục, hơn thua, ta đây này là còn mang lông đội sừng, còn thành những con dòi, chó, chuột cống, con kiến, bọ, trùng, rắn, rết, lươn, cọp, sói, gấu, hổ, beo… Mình thấy những cảm giác sân hận đó mình kêu là thú vật, sói lang “Mày là cọp hả, là thú vật hay sao mà suốt ngày hở ra là muốn cắn phải, muốn xé xác hay sao? Hở chút là muốn hơn thua?”
Mình làm cho cảm giác, cảm thọ sân này sợ hãi, hoảng sợ, chạy mất dép, không cho ở trong thân tâm này của mình nữa. Đuổi nó ra, hoàn toàn đưa nó ra đi vĩnh viễn, không hẹn ngày gặp lại, đánh đuổi nó ra vì nó là rắn độc. Và nhiều khi mình nói tham, sân, si là tam độc, không biết gì cũng nói liên tục. Đến khi mình tham, sân, si lên thì nói “Giờ tôi không tha thứ!” Vậy mình có thấy nó độc không? Mình có thấy nó là rắn hổ mang chưa? Khi nào thật sự mình thấy nó là rắn hổ mang thì lúc đó mình mới thành tựu được trí huệ.
Khi cơn giận nổi lên mình không chịu nhìn nhận, không chịu tác ý, từ bỏ, tẩy sạch, đoạn tận để cho nó giày vò, giày xéo, thiêu đốt. Cảm thấy mình có đáng thương không? Mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh. Chưa thương được mình thì đừng nói thương ai. Vì những cái làm cho mình đau khổ, còn chất chứa.
Mình biết dục đó đưa mình đến hệ lụy, khổ đau thì mình có chiến thắng nổi không? Mình biết sân này thiêu đốt, đốt cháy, phóng hỏa, giết người mà mình không dập tắt được. Mình biết hơn thua, bản ngã này gây gổ, chiến tranh mà mình không có khả năng bẻ gãy bản ngã đó, mình vẫn còn chất chứa những thứ đó mà vẫn nói “Tôi đi độ chúng sanh!” Đó là nói khoác, nói dối.
II. Tâm sự
Vậy nên mình phải hiểu sâu sắc, không khéo thì mình sẽ đi sai đường, mình tu nhưng làm tăng trưởng bản ngã của mình lên, mình không biết được vị trí của mình đang ở đâu, mình chưa nhìn thấy được vô minh của tự thân mình, mình chưa nhìn thấy được tâm khát ái, bản ngã của mình đang chiếm đóng, đang hoạt động. Mình chưa nhìn thấy các lậu hoặc, dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, mình còn mù, mắt pháp của mình chưa sáng, khi mình chưa nhìn thấy được năm uẩn, khi mình chưa nhìn thấy được lậu hoặc là mình còn mù lòa.
Vậy thì làm sao mình dẫn được đường cho người ta? Như Thế Tôn từng nói: Người mù dẫn đoàn mù rơi xuống vực sâu. Vậy nên trong tinh thần Nikāya, Đức Phật không dạy độ chúng sanh, mà Đức Phật chỉ dạy mình diệt tận tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Sau khi người đó thành tựu tất cả các pháp thì tất cả nhất ngôn, nhất cử, nhất động của người đó đều là Thánh pháp diệu dụng, người đó không có ý độ ai hết, nhưng tất cả những người tới gần người đó đều được độ. Đây là chỗ thâm sâu của pháp.
Nên chúng ta bị hiểu lầm, Minh Thành cũng từng bị như vậy, cũng muốn hoằng pháp độ sanh, chúng sanh vô biên thời nguyện độ, nhưng mình xét kĩ lại, cần học sâu vào, từ từ mình sẽ thành tựu trí tuệ, hiểu biết của mình chưa chắc là đúng. Nên giờ chúng ta nói đơn giản, trong nhà tâm sự với nhau, mình ở trong chùa mười năm, mười lăm năm, học lên tới trung cấp giảng sư, mình nhìn lại nội tâm của mình xem mình diệt được bao nhiêu dục? Mình diệt được bao nhiêu sân? Khi người ta chạm tới cái tôi của mình thì lúc đó bản ngã của mình hạ thấp được bao nhiêu phần từ ngày mình xuất gia, hay âm thầm tăng trưởng?
Ví dụ đang thường được gọi là “thầy” nhưng về quê lại có người gọi là “thằng” thì lúc đó cảm thọ của mình như thế nào? Nếu lúc đó tâm của mình vẫn ngọt ngào, dễ chịu, vẫn an lành thì lúc đó đã có tu. Hay chỉ một chữ thôi đã làm tâm của mình động? Hay ví dụ như các sư cô tu trong chùa hai mươi năm, đi đâu cũng người ta gọi sư cô, người ta lạy nhưng ngày nào đó về quê có người kêu là “con” thì lúc đó mình xem lại tâm của mình, mình phải trung thực với chính mình rồi mình xem lúc đó cảm giác của mình như thế nào? Suy nghĩ của mình ra sao? Tưởng của mình như thế nào? Có an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, có dễ thương, có từ tâm đối với người gọi mình chưa vậy? Hay là mình lại sân si lên? Đó chỉ là một từ thôi, chưa nói gì nhiều, hãy độ chữ đó, tức là vượt qua nổi chữ đó không?
Vậy nên cần phải tu tập sâu sắc trong cảm thọ, trong suy nghĩ của mình. Nên Minh Thành mời các cô tụng các bài Sám hối diệt ngã trong Nghi thức tu học Nikāya. Đó là tinh hoa của đại tạng kinh Nikāya.
“1. Từ lâu con sống trong mê muội,
Không biết tâm mình rất uế nhơ.
Dục, ái, sân, si, không xấu hổ.
Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng.
2. Nay thấy tâm mình lắm bùn nhơ,
Rác bẩn hồ tâm đã ngập bờ,
Đáy nước hồ tâm toàn cấu uế,
Thật quá ê chề, quá chán chê.
3. Chán chê cho cái ngã u mê,
Dối trá, hơn thua, thật não nề.
Chẳng biết vô thường và ảo mộng,
Chẳng biết cuộc đời vốn rỗng không.
4. Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.”
Đó là những câu tác ý, bài này Minh Thành có giảng giải ra đến chín, mười buổi về bài Sám hối diệt ngã này. Khi nào mình đọc bài này lên mà nước mắt đầm đìa, trong lòng xấu hổ, mình cảm thấy lo sợ về cái tôi, cái ta, về sự hơn thua, dối trá, ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm của mình thì lúc đó mình mới cảm nhận được chấp ngã là gì. Cái gì làm cho mình khổ đau, làm cho người ta đầy nước mắt, đầy sự đấu tranh, chết chóc trên cuộc đời này. Phía đằng sau bức màn đó là bản ngã ác độc mà tất cả chúng sanh mù lòa, điên loạn, không nhìn thấy.
Khi chúng ta đào sâu vào trong pháp, nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc thì chúng ta sẽ thấy bản ngã của mình kinh khiếp, kinh hãi, sốc toàn tập, nguyên nhân thật sự làm cho chúng ta đau khổ và những người chung quanh chúng ta đau khổ, cả thế giới này khổ đau thì không có gì khác ngoài ảo tưởng tự ngã của một cái tôi.
“8. Bản ngã chính là tên xảo trá,
Dẫn dắt ta vào nẻo dối gian.
Bản ngã chính là tên lừa đảo,
Lừa dẫn ta vào trong khổ đau.
9. Bản ngã chính là con rắn độc,
Giết ta vô lượng kiếp vừa qua.
Bản ngã chính là tên ngu dại, Hại
mình qua thân, khẩu, ý hành.
10. Bản ngã chính là tên gian xảo,
Quanh co, xảo quyệt, lắm kế mưu.
Bản ngã chính là tên thâm độc,
Âm thầm đâm thọc, não hại người.”
Chúng ta nhìn lại sẽ thấy, quanh co, xảo quyệt lắm kế mưu, gian xảo thâm độc, âm thầm đâm thọc người khác để hại người ta, những lời nói, ý nghĩ, hành động đó là xuất phát từ đâu? Từ một cái tôi, làm cho đau khổ mình và người.
“6. Ê chề là cuộc sống tâm mê,
Ngã mạn, ta đây, chẳng được gì.
Được chăng nước mắt và phiền não
Được chăng dòng sanh tử khổ đau.”
(Bài Sám hối diệt ngã – Nghi thức tu học Nikāya)
Ngã mạn ta đây thì được gì? Cứ vênh váo, khen mình, chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc rồi được gì? Được nước mắt, được chúng ghét, hại, không ưa, được nước mắt, phiền não, được dòng sanh tử khổ đau. Vậy mà giành giựt, chen chúc với nhau, vậy mà chen lấn với nhau để thể hiện một cái tôi hư ảo, cái tôi ảo ảnh, hư danh, trống rỗng, cái tôi của ảo tưởng. Làm cho cha con chia lìa, vợ chồng tan rã, thầy trò không nhìn mặt nhau, huynh đệ thù hận, ganh ghét, ganh tị, đố kị, đâm thọc…
Tất cả những thứ đó trên cuộc đời này là gì? Thủ phạm là ai? Đó là bản ngã. Tất cả nước mắt, đau khổ, chiến tranh trên toàn thế giới này là gì? Chỉ là cái tôi, “Dám đụng tới tôi? Tôi cho biết mặt!” Sau đó là vấy lên đao binh, mưa bom đạn, tất cả là bản ngã thôi, cuối cùng được gì? Chỉ có máu, nước mắt, chết chóc, chiến tranh, hận thù, đau khổ và tan nát hết tất cả những thành phố, bao nhiêu những sinh mạng, bao nhiêu những cảnh vợ mất chồng, con mất cha, người thân chia lìa, sanh li tử biệt.
Thủ phạm thật sự đứng đằng sau là bản ngã, cái tôi ác độc, cái tôi đó là bộ xương, là hơi thở, là hòm, là hũ cốt, là mấy tấc đất và nấm mồ. Nhưng chỉ vì ảo tưởng của tự ngã làm đau khổ hết, thậm chí là cả hành tinh, diệt chủng khắp nhân loại. Từ rộng lớn cả Trái đất cho đến nhỏ hẹp ngay tự thân của mình, mình nhìn lại xem những suy nghĩ, cảm giác, những hình bóng trong tâm mình, về tự ngã làm đau khổ mình, đau khổ người biết bao nhiêu.
Hai huynh đệ, hai tỉ muội nói qua nói lại rồi lại cự cãi, mới vào bếp làm chung rồi lại giận, rồi lại giờ bệnh, ăn cháo vào rồi lại bệnh, giận không muốn làm rồi lại bệnh. “Ông muốn làm gì làm đi, tôi bệnh rồi!” Bệnh là bản ngã bệnh, không phải bản ngã bệnh, vì nhiều khi giả bệnh cũng có.
Nên khi quán chiếu sâu sắc mình sẽ thấy, kinh Nikāya phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào bóng tối cho những người có mắt có thể thấy sắc, chỉ đường cho người lạc hướng, đó là công năng của Chánh Pháp, vạch trần, phơi bày tất cả những nguyên nhân, đau khổ, của thế giới này. Nên Đức Thế Tôn từng nói: “Này các Tỳ-kheo, xưa và nay, Như Lai chỉ nói hai điều: khổ và con đường diệt khổ.”
Chúng ta hiểu rằng, nếu chúng ta đi ra ngoài hai điều này thì không phải giáo pháp của Đức Phật. Sự thật về khổ đau của ngũ uẩn cần phải được thấy, được biết.
“4) Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có định, như thật rõ biết. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ tập". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ diệt". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
(Bài kinh Định, Phẩm Đinh, Tương Ưng Sự Thật, Tương Ưng Bộ Kinh)
Nhưng mình không thấy ngũ uẩn là khổ, mình không biết con đường diệt khổ thì đến khi nào mình học pháp, hành pháp, thành pháp được. Nên tất cả những cái chúng ta học, nghe, để chúng ta thành tựu thấy biết chân chánh về đời sống này, về bản chất của nó, về ngũ uẩn này, về thế giới này là một đống khổ lớn, trong đó đầy rẫy dục, tham, ái, vô minh, bản ngã chứ không có gì cả.
Tất cả bên trong đó là những đống dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, đang di động, đang xê dịch, đang chạy tới chạy lui, mình đến gần thì nó bốc hơi ngay. Bốc hơi lên những tham muốn, nóng giận, những ta đây, hơn thua, bay mùi ra, bay mùi dục, mùi tham, mùi của sân hận, hơn thua ra, mùi của khoa trương cái tôi.
Mình đến ngồi nghe, mình tập nhận diện ngũ uẩn mình đến ngồi nói chuyện với người nào rồi mình nghe, nói từ đầu đến đuôi đều là “Tôi vậy… Tôi vậy…” Đó là họ đang phô trương bản ngã của họ ra. Mình chỉ nghe thôi là mình đã đọc hết ngũ uẩn của họ đang vận hành như thế nào, nó đang vận hành trong một cái tôi ảo tưởng về tự ngã. Vậy nên Thánh pháp này đưa đến sự phá vỡ hết tất cả những ảo tưởng về tự ngã.
Ngũ uẩn đang vận hành, bên trong là một sự thúc giục, nhưng mình tu mình phải biết nhiếp phục cảm giác thúc giục này, mình phải biết chế ngự và kêu nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào.
Hai ngày chúng ta đã củng cố những thấy biết về căn bản trí của Đức Phật, chúng ta có những lời nhận xét, trình bày, chia sẻ, trình pháp, xem sự thấy, biết, sự vận dụng, thực tập của chúng ta trong thời gian tám chín tháng bị dịch bệnh vừa qua. Để kì sau chúng ta bắt đầu đi vào những bản kinh.
Minh Thành mong các thầy các cô cố gắng thực tập, nhìn nhận một cách trung thực, đừng để những cảm giác làm chủ, sai khiến mình, cố gắng thực tập. Thương mình thật nhiều, thương lý tưởng xuất gia của mình thật nhiều, thương cha mẹ, thầy tổ, thương lục thân, quyến thuộc, những bạn đồng tu của mình thật nhiều bằng từ tâm. Để mình sống chung trong sự hòa kính và từ ái, mình chỉ thương thôi, đừng giận, tập thương, dù cho người đó có lỗi gì thì mình cũng thương thôi, đừng giận.
Phải tập thương thật nhiều, trải tình thương đến những người đang bị bệnh, cầu mong các vị mau hết bệnh, để chúng ta nhìn thấy được đại chúng, lớp của chúng ta được đầy đủ, hoan hỷ trong các pháp.
Nguyện đem công đức này,
Hướng về khắp tất cả,
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
Giải Phá Cảm Giác Không Khổ Không Vui
Diệt Ngã
Thích Minh Thành
Ngày 24 tháng 03 năm 2022
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tham – sân – si PAGEREF _Toc101107091 \h 1
II. Tâm sự PAGEREF _Toc101107092 \h 8
I. Tham – sân – si
Chúng ta tiếp tục trình pháp, làm bài tập nhận diện các pháp trong thân tâm của mình, hãy nói, đừng ngại, nói một cách thân thiện, gần gũi, giải bày, chia sẻ.
95:51-104: trình pháp
Cảm giác không khổ không vui, thường thường, đều đều, trơ trơ là một cảm giác rất nhiều trong đời sống chúng ta. Chúng ta có nhiều trí tuệ, sau khi mình nhận diện năm uẩn thì mình sẽ thành tựu những trí tuệ, đây không phải là những trí tuệ bình thường, đây gọi là Thánh trí, tri kiến của bậc Thánh. Tại sao gọi là Thánh trí? Vì sự thấy biết này là của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, không phải bất cứ của một người nào khác có thể nhìn thấy được điều này, gọi là Thánh trí, hoặc là tri kiến của bậc Thánh, Thánh tri kiến.
Nói gọn về cảm thọ, khi mình nhìn ra được cảm thọ là cảm thọ thì mình đã thành tựu được một loại trí tuệ. Trước khi mình học nhận diện ngũ uẩn thì mình có biết đó là cảm thọ không? Mình chỉ biết là “Tôi đang giận, tôi đang vui, tôi đang bình thường!”, khi biết như vậy là biết của phàm phu, vô minh và chấp ngã, đó còn gọi là thọ thủ uẩn – là sự nắm giữ vào trong các cảm thọ cho đó là tôi. Vậy nên khi mình nói “Tôi đang vui quá! Tôi đang bực bội lắm! Tôi thấy bình thường, không vui không buồn gì đâu!”. Những câu nói đó là câu nói của phàm phu, vô minh, của chấp ngã. Còn nếu mình nói “Hiện tại tôi thấy trong người tôi có một cảm thọ không khổ không vui, cảm thọ trơ trơ!”. Nên khi nói được câu đó, mình nhận diện, mình biết cảm thọ là cảm thọ thì mình đã có một loại trí tuệ về cảm thọ, là sự thấy biết đúng sự thật, gọi là trí tuệ.
Ví dụ “Hiện tại bây giờ con thấy trong người con có một cảm thọ không khổ không vui!” Vậy thì mình đã tách mình ra khỏi cảm thọ chưa? Mình có thấy cảm thọ là đối tượng của mình không? Khi mình nhìn vào và thấy được một cảm thọ không khổ không vui, một cảm thọ thường thường, đều đều, trơ trơ thì mình nhìn vào thấy được cảm thọ đó và không đồng hóa mình với cảm thọ đó thì cảm thọ đó thành đối tượng của mình, của trí tuệ mình nhìn thấy, là mình đã tách mình với cảm thọ đó ra.
Vậy nên, khi mình nhìn nó ra cảm thọ là cảm thọ đó là mình đã có trí tuệ. Mình biết tên tuổi và mặt mũi của cảm thọ. Giờ mình phân loại được cảm thọ, tức là cảm thọ này thuộc về cảm thọ không khổ không vui, trong cảm thọ này lại có si trong đó, nó làm cho mình đơ đơ, trơ trơ, làm cho mình đờ người, mình không hân hoan, phấn khởi mà mình cũng không buồn bã, luôn trong trạng thái đơ đơ, trơ trơ, thường thường.
Khi mình thấy trong cảm thọ này có si tùy miên hoặc là vô minh tùy miên, các khái niệm này từng được giảng trong các bài Sáu pháp, Vận hành đời sống và Quán chiếu thâm sâu về cảm thọ. Như vậy, khi chúng ta nhìn vào các cảm thọ đơ đơ, trơ trơ thì chúng ta thấy được một cảm giác thường thường, bình bình, đơ đơ, lờ mờ thì đây là si, vô minh. Và khi mình biết trong cảm thọ không khổ không vui này có sự miên man ở trong si mê, vô minh thì lúc đó chúng ta thành tựu thêm được một loại trí huệ nữa.
Chỉ nhận diện cảm thọ thôi thì đã có bao nhiêu loại trí tuệ trong đó. Khi mình biết mình có si thì mình có bị si không? Là mình đã thoát ra khỏi cái si mình mới biết đó là si, còn không mình nhập cuộc vào và nói “Giờ tôi buồn ngủ, tôi đơ đơ, tôi lờ đờ rồi!” Vậy là mình đã nhập cuộc vào đó, đó gọi là thọ thủ uẩn, nhận cảm thọ đó là mình. Sau khi mình nhận thấy trong nhà mình dơ thì mình phải làm sao? Phải quét dọn và lau, đó là mình thành tựu thêm được trí huệ tiếp theo là mình phải quét rác, mình tẩy rửa, dọn vệ sinh, đó là mình dùng tác ý phá si mê này, như Đức Phật dạy là phải tinh cần, tinh tấn.
Ngoài ra, thức ăn của si này là ăn no, làm biếng, rã rượi, buồn ngủ. Đó là những cái nuôi cảm thọ bất khổ bất lạc này. Giờ mình muốn phá nó thì đầu tiên, mình phải cảm thọ ở đôi mắt của mình thật mạnh, mở mắt to ra, đừng nhắm lại. Ví như vào ngồi thiền sau một ngày làm việc, tối bảy tám giờ và còn nhắm mắt thở vô thở ra thì sẽ đi đến tầng thiền thứ mấy? Mình biết là sẽ nguy hiểm, sẽ đi vào trạng thái si mê mà mình lại cho nó đi theo đó.
Vậy nên mình phải đề phòng, canh chừng, lúc đó mắt mình phải mở ra, nhãn thức của mình, sự rõ biết con mắt phải rộng mở hết mức, cảm thọ thật mạnh ở trước mặt và đôi mắt, tầm nhìn của mình phải rộng mở khắp không gian ở phía trước mặt để đánh đuổi hôn trầm.
Tiếp theo, tham, sân, si ở chỗ nào trên thân thể? Trong tâm ở đâu và ngoài thân ở đâu?
114-117: trình pháp
Vừa rồi, chúng ta nói về tham, sân, si trong ba thọ là của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác chứng ngộ, nên học kinh Nikāya khác hẳn với trước đây mình đã học. Học những điều khác thì mình nghĩ sao thì nghĩ, mình suy tưởng sao thì suy tưởng nhưng học kinh Nikāya là không được như vậy, mà phải căn cứ vào trong Thánh điển của Đức Phật, không tự ý suy diễn.
Những điều trên chúng ta đã được học nên hai ngày nay là để củng cố tất cả trí tuệ căn bản mà chúng ta đã học được trong thời gian vừa qua bị quên.
119-120: trình pháp
Sân ở lồng ngực, si ở mắt, dục tham ở chỗ phát dục. Đó là ba chỗ của tham, sân, si. Khi nhìn vào mắt biết người đó đang si, đơ đơ, gà mờ, hôn trầm không? Đó là biểu hiện ở mắt. Khi nóng thì từ lồng ngực bốc lên, chỗ này là phát khởi của sân. Mắt là chỗ để si biểu hiện. Chỗ bộ phận sinh dục là nơi cư trú của dục tham. Đó là biểu hiện trên thân. Đối với ba thọ là ở trong tâm.
Nên chúng ta chịu khó nhận diện thì mình sẽ thấy thường nóng lòng ngực hay nhận diện để thấy trong giờ học hai mắt cứ đơ đơ. Nhận diện thì mình sẽ thấy, không nhận diện thì mình quên, nhận diện được thì mình sẽ nhớ, mãi mãi không quên. Đối với dục cũng vậy, trước khi ngủ mình phải tác ý diệt dục, vừa ngủ thức dậy cũng phải tác ý diệt dục, tác động vào tâm ý của mình. Chỗ đó là chỗ sanh khởi nên những tham muốn, sanh khởi những dục vọng thấp hèn, hạ liệt, những khổ đau, trói buộc, làm cho mình tu hành không được, làm cho tâm mình dao động, bất an.
Mình phải tác ý, quở trách, rầy la, thường xuyên hướng vào ba chỗ đó để mình tác ý. Lúc bình thường mình đã phải tác ý, không nên đợi đến lúc sanh khởi mới tác ý thì có thể không nổi. Bình thường mình phải tác ý, nhắc nhở tâm, dạy dỗ tâm, huấn luyện tâm, đào luyện tâm thì đến lúc hữu sự xảy ra thì nó mới nghe lời. Còn khi đợi đến sân lên phừng phực cháy thì lúc đó xe cứu hỏa, máy bay tưới nước xuống cũng không kịp, vì nó đã lan ra hết.
Vậy nên mình phải dập nó từ lúc mà nó chỉ còn là tàn nhang, tàn thuốc, phải dự trữ những hồ nước, bồn nước lớn bên trong, để nó vừa bốc khói lên là mình tạt nó ngay. Đó là lý do mình nên tu tâm hiền, tâm từ, để trong tâm mình có những bồn nước, hồ nước, dòng sông, thậm chí có cả biển cả của từ tâm rộng lớn. Khi những cảm thọ sân hận, tức giận, hơn thua đó sanh khởi lên, bị những bồn nước, hồ nước, dòng sông, biển cả của từ tâm đó dập tắt ngay lập tức.
Còn nếu trong lòng mình không có giọt nước, một tâm khô khan, khô cằn, một tâm nghèo khổ, đau khổ, một tâm nhỏ hẹp, nhỏ mọn, nhỏ nhặt, nhỏ bé, nhỏ nhoi, nhỏ nhít, nhỏ nhen, chạm tới là sân si, phựt cháy, hơn thua ngay. Trong khi mình tu tập tích chứa một tâm đầy rẫy những cảm thọ hiền lành, từ bi được quân tập mỗi giờ, mỗi phút, mỗi giây, mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi quý, mỗi năm mình tu tập tâm hiền, tâm từ.
Trong cảm thọ của mình là cả một suối nguồn của hiền đức, từ bi nên những cái làm cho mình không vừa ý, làm cho mình khó chịu sẽ không đủ sức quật ngã nổi mình. Vì tâm mình là cả một thành quách, suối nguồn, đại dương của bi mẫn, làm sao một chút sân hận có thể thiêu đốt được biển cả? Một bó đuốc, rơm rạ làm sao thiêu được đại dương?
Vậy nên Minh Thành đã chia sẻ cho các thầy các cô trong mùa dịch về cách tác ý, quán chiếu về tâm từ. Chúng ta rất cần trong sự thiền quán, tác ý, tư duy và quán chiếu, làm cho sanh khởi những cảm thọ hiền thiện, từ tâm ở trong con người của mình.
Minh Thành thường hay ví dụ, khi các thầy các cô ngồi kế bên máy điều hòa thấy có dễ chịu không? Rất dễ chịu, mát mẻ, thanh lương. Cũng vậy, tâm mình lúc nào cũng lan tỏa tình thương, lan tỏa ra hiền hòa, hiền đức, hiền hậu, hiền lương, hiền từ, hiền trí của bậc Thánh. Tâm mình lúc nào cũng lan tỏa không khí từ ái, dễ chịu, ngọt ngào, bình an trong cảm thọ của mình.
Vậy nên mình cần sự tu tập rất nhiều, không phải chỉ nghiên cứu suông, kiến thức suông, nếu mình nói không khéo sẽ trở thành lời phù phiếm, nói đi vào trong hý luận, tranh luận và cuối cùng không được gì cả, cứ sanh khởi lên sân, si, bản ngã, hơn thua.
Chúng ta phải nhớ mục đích tu học của chúng ta là diệt tận tham, sân, si, bản ngã. Chỉ duy nhất một mục đích đó, ngoài ra không có gì khác, không phải mình học để làm thầy người ta, không phải mình học để đi độ người ta. Vì mình còn chưa biết mình là gì, tham, sân, si mình còn chưa biết được nguồn cơn, phương pháp mình không biết thì làm sao mình độ người khác được. Nên Minh Thành mong thầy cô để tâm thật nhiều vào lời dạy của Đức Phật trong kinh tạng Nikāya.
Nên từ chỗ này chúng ta mới thành tựu được những trí tuệ để chúng ta giải phá được những cảm thọ mà chứa chấp tham, sân, si trong đó. Mình muốn phá si thì mình phải tác ý vô thường, khổ đau và sự nguy hại của ngũ uẩn, nguy hiểm và tác hại của nó, tác ý thật nhiều. Ví dụ khi đọc bài báo không phải chỉ biết suông là hôm nay có nhà cháy, không phải đọc báo như vậy. Mình đọc tờ báo đó thấy có mấy người chết, sau đó mình ngừng lại tác ý, suy nghĩ “Mình cũng có khả năng bị chết cháy như vậy! Những người ở chung mình cũng có khả năng bị hỏa hoạn như vậy! Thân ngũ uẩn vô thường này đầy những lo lắng, bất an, sợ hãi, bao nhiêu những tai nạn tìm ẩn chung quanh chúng ta!” Tác ý như vậy thì tự động được tinh cần tinh tấn. Mình lấy chủ đề trên mặt báo đó để mình làm pháp quán, làm một sự tác ý, làm động lực để mình nỗ lực tu tập, học pháp, hành pháp.
Không phải nghe được tin tức là hôm nay nghe người kia chết, người kia bị tai nạn, nghe xong cũng trơ trơ, xem như chuyện của người ta không dính dáng gì tới mình thì nghe như vậy là nghe bình thường của phàm phu, không phải nghe của bậc Đa Văn Thánh đệ tử, nghe của bậc Hiền trí là biết nắm bắt những cơ hội, tam tướng của thế gian này để nghiền ngẫm, gặm nhấm, chiêm nghiệm, thẩm thấu, xuyên thấu, thể nhập, chứng nhập sự thật mà Đức Thế Tôn đã nói.
Ví như trên mặt báo có tin tức nghe tiếng karaoke rồi chạy ra cự cãi sau đó là án mạng chết, chỉ ánh mắt nhìn thôi cũng cho là nhìn đểu rồi đâm nhau đi đến chỗ tử vong… Tất cả đó là do bản ngã của chúng sanh, tâm sân hận, hơn thua, ngu si, vô minh, mình quán chiếu như vậy làm mình đau xót cho sự vô minh của chúng sanh cũng như sự vô minh của chính mình, mình đau xót cho tâm sân hận của tự thân mình, của hữu tình chúng sanh và mình cảm thấy nhàm chán những cảm thọ sân hận trong con người mình.
Mình thấy ghê tởm những cảm giác sân hận trong con người của mình, mình thấy ngao ngán những cảm giác bực bội đó, mình thấy chán chường, não nề, gớm ghê, chán chê, từ bỏ, viễn ly, xả ly, xuất ly, mình không ưa thích những cảm thọ thiêu đốt, phựt cháy trong tâm mình nữa. Vì mình biết những thứ này là nguyên nhân của đau khổ.
Trong một câu chuyện, một tin tức mà mình tác ý như vậy là mình đi vào thiền quán, tự động mình sanh khởi nên những thọ, tưởng, hành, tương ưng với thiện, tuệ, trí, minh, với pháp, với sự thật. Mình triển khai thiền quán ngay trên mặt báo, lúc đó phá hết những cảm giác si mê, đơ đơ, trơ trơ, những cảm giác đó không còn, do sự tác động tâm ý mạnh mẽ của mình, do sự khéo léo thiện xảo sử dụng như lý tác ý. Làm cho mình thể nhập được sự thật nhãn tiền trước mắt mình, không đâu xa, không phải ở hai ngàn sáu trăm năm trước mà sự thật ở ngay trước mắt mình.
Tham, sân, si, bản ngã đầy rẫy, huynh đệ nói qua nói lại rồi giận nhau, sân si lên. Nên hãy quán nhàm chán cảm thọ sân hận trong con người mình, thấy ngao ngán cảm xúc hơn thua trong con người mình, mình muốn xa lìa những cảm thọ đó, những cảm giác đó, mình không ưa thích, không muốn mà muốn từ bỏ, chấm dứt, đoạn tận, diệt tận, muốn cho nó tan biến thành mây khói, hư không, chặt nó giống như chặt cây dừa, cây cao, không thể nào sanh khởi trở lại trong tương lai, cho nó không tái sanh được nữa. Diệt tận hoàn toàn cảm thọ hơn thua, sân hận đó, tưới tẩm, tăng trưởng cảm giác hiền lành, từ bi, ngọt ngào, dễ chịu.
Nếu chúng ta sống được như vậy thì đẹp đến cỡ nào? Tuyệt vời ra sao? Đó là sự dụng công của pháp hành. Mình nhìn từ mắt mình nhìn ra thì tất cả đều là nạn nhân của tham, sân, si, tự thân của chúng ta cũng đại thảm họa, chúng ta là nạn nhân của tham, sân, si, của hơn thua, bản ngã và tất cả người chung quanh chúng ta cũng giống vậy hết, tất cả hữu tình chúng sanh trên cả địa cầu này đều là nạn nhân của tham, sân, si, vô minh, bản ngã.
Đang bị tham, sân, si vùi dập, chà đạp, đang bị tham, sân, si, bản ngã hành hạ, đày đọa. Tất cả đều ở trong khổ ách, ách nạn, tai nạn, hoạn nạn, hiểm nạn, nguy nan, thống khổ, đau khổ, không ai có sung sướng trừ các bậc Thánh đã hoàn toàn tẩy sạch vô minh, tham, sân si, bản ngã. Các vị đó mới có được chân lạc, phải thật sự có được hạnh phúc chân chánh.
Còn ở trong địa vị của phàm phu này là còn đầy rẫy thống khổ, bất an, nước mắt, máu, đầy rẫy tai nạn, tai ương, thảm họa, còn những thân địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, cô hồn, vất vưởng, còn những thân mang lông đội sừng. Còn chất chứa những cảm giác sân hận, tham dục, hơn thua, ta đây này là còn mang lông đội sừng, còn thành những con dòi, chó, chuột cống, con kiến, bọ, trùng, rắn, rết, lươn, cọp, sói, gấu, hổ, beo… Mình thấy những cảm giác sân hận đó mình kêu là thú vật, sói lang “Mày là cọp hả, là thú vật hay sao mà suốt ngày hở ra là muốn cắn phải, muốn xé xác hay sao? Hở chút là muốn hơn thua?”
Mình làm cho cảm giác, cảm thọ sân này sợ hãi, hoảng sợ, chạy mất dép, không cho ở trong thân tâm này của mình nữa. Đuổi nó ra, hoàn toàn đưa nó ra đi vĩnh viễn, không hẹn ngày gặp lại, đánh đuổi nó ra vì nó là rắn độc. Và nhiều khi mình nói tham, sân, si là tam độc, không biết gì cũng nói liên tục. Đến khi mình tham, sân, si lên thì nói “Giờ tôi không tha thứ!” Vậy mình có thấy nó độc không? Mình có thấy nó là rắn hổ mang chưa? Khi nào thật sự mình thấy nó là rắn hổ mang thì lúc đó mình mới thành tựu được trí huệ.
Khi cơn giận nổi lên mình không chịu nhìn nhận, không chịu tác ý, từ bỏ, tẩy sạch, đoạn tận để cho nó giày vò, giày xéo, thiêu đốt. Cảm thấy mình có đáng thương không? Mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh. Chưa thương được mình thì đừng nói thương ai. Vì những cái làm cho mình đau khổ, còn chất chứa.
Mình biết dục đó đưa mình đến hệ lụy, khổ đau thì mình có chiến thắng nổi không? Mình biết sân này thiêu đốt, đốt cháy, phóng hỏa, giết người mà mình không dập tắt được. Mình biết hơn thua, bản ngã này gây gổ, chiến tranh mà mình không có khả năng bẻ gãy bản ngã đó, mình vẫn còn chất chứa những thứ đó mà vẫn nói “Tôi đi độ chúng sanh!” Đó là nói khoác, nói dối.
II. Tâm sự
Vậy nên mình phải hiểu sâu sắc, không khéo thì mình sẽ đi sai đường, mình tu nhưng làm tăng trưởng bản ngã của mình lên, mình không biết được vị trí của mình đang ở đâu, mình chưa nhìn thấy được vô minh của tự thân mình, mình chưa nhìn thấy được tâm khát ái, bản ngã của mình đang chiếm đóng, đang hoạt động. Mình chưa nhìn thấy các lậu hoặc, dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, mình còn mù, mắt pháp của mình chưa sáng, khi mình chưa nhìn thấy được năm uẩn, khi mình chưa nhìn thấy được lậu hoặc là mình còn mù lòa.
Vậy thì làm sao mình dẫn được đường cho người ta? Như Thế Tôn từng nói: Người mù dẫn đoàn mù rơi xuống vực sâu. Vậy nên trong tinh thần Nikāya, Đức Phật không dạy độ chúng sanh, mà Đức Phật chỉ dạy mình diệt tận tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Sau khi người đó thành tựu tất cả các pháp thì tất cả nhất ngôn, nhất cử, nhất động của người đó đều là Thánh pháp diệu dụng, người đó không có ý độ ai hết, nhưng tất cả những người tới gần người đó đều được độ. Đây là chỗ thâm sâu của pháp.
Nên chúng ta bị hiểu lầm, Minh Thành cũng từng bị như vậy, cũng muốn hoằng pháp độ sanh, chúng sanh vô biên thời nguyện độ, nhưng mình xét kĩ lại, cần học sâu vào, từ từ mình sẽ thành tựu trí tuệ, hiểu biết của mình chưa chắc là đúng. Nên giờ chúng ta nói đơn giản, trong nhà tâm sự với nhau, mình ở trong chùa mười năm, mười lăm năm, học lên tới trung cấp giảng sư, mình nhìn lại nội tâm của mình xem mình diệt được bao nhiêu dục? Mình diệt được bao nhiêu sân? Khi người ta chạm tới cái tôi của mình thì lúc đó bản ngã của mình hạ thấp được bao nhiêu phần từ ngày mình xuất gia, hay âm thầm tăng trưởng?
Ví dụ đang thường được gọi là “thầy” nhưng về quê lại có người gọi là “thằng” thì lúc đó cảm thọ của mình như thế nào? Nếu lúc đó tâm của mình vẫn ngọt ngào, dễ chịu, vẫn an lành thì lúc đó đã có tu. Hay chỉ một chữ thôi đã làm tâm của mình động? Hay ví dụ như các sư cô tu trong chùa hai mươi năm, đi đâu cũng người ta gọi sư cô, người ta lạy nhưng ngày nào đó về quê có người kêu là “con” thì lúc đó mình xem lại tâm của mình, mình phải trung thực với chính mình rồi mình xem lúc đó cảm giác của mình như thế nào? Suy nghĩ của mình ra sao? Tưởng của mình như thế nào? Có an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, có dễ thương, có từ tâm đối với người gọi mình chưa vậy? Hay là mình lại sân si lên? Đó chỉ là một từ thôi, chưa nói gì nhiều, hãy độ chữ đó, tức là vượt qua nổi chữ đó không?
Vậy nên cần phải tu tập sâu sắc trong cảm thọ, trong suy nghĩ của mình. Nên Minh Thành mời các cô tụng các bài Sám hối diệt ngã trong Nghi thức tu học Nikāya. Đó là tinh hoa của đại tạng kinh Nikāya.
“1. Từ lâu con sống trong mê muội,
Không biết tâm mình rất uế nhơ.
Dục, ái, sân, si, không xấu hổ.
Bản ngã vươn cao, chẳng thẹn thùng.
2. Nay thấy tâm mình lắm bùn nhơ,
Rác bẩn hồ tâm đã ngập bờ,
Đáy nước hồ tâm toàn cấu uế,
Thật quá ê chề, quá chán chê.
3. Chán chê cho cái ngã u mê,
Dối trá, hơn thua, thật não nề.
Chẳng biết vô thường và ảo mộng,
Chẳng biết cuộc đời vốn rỗng không.
4. Bản chất cuộc đời là trống rỗng,
Bản chất cuộc đời là trống không,
Bản chất cuộc đời là cảnh mộng,
Dễ dàng tan biến vào hư không.”
Đó là những câu tác ý, bài này Minh Thành có giảng giải ra đến chín, mười buổi về bài Sám hối diệt ngã này. Khi nào mình đọc bài này lên mà nước mắt đầm đìa, trong lòng xấu hổ, mình cảm thấy lo sợ về cái tôi, cái ta, về sự hơn thua, dối trá, ngụy biện, quanh co, giấu lỗi lầm của mình thì lúc đó mình mới cảm nhận được chấp ngã là gì. Cái gì làm cho mình khổ đau, làm cho người ta đầy nước mắt, đầy sự đấu tranh, chết chóc trên cuộc đời này. Phía đằng sau bức màn đó là bản ngã ác độc mà tất cả chúng sanh mù lòa, điên loạn, không nhìn thấy.
Khi chúng ta đào sâu vào trong pháp, nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc thì chúng ta sẽ thấy bản ngã của mình kinh khiếp, kinh hãi, sốc toàn tập, nguyên nhân thật sự làm cho chúng ta đau khổ và những người chung quanh chúng ta đau khổ, cả thế giới này khổ đau thì không có gì khác ngoài ảo tưởng tự ngã của một cái tôi.
“8. Bản ngã chính là tên xảo trá,
Dẫn dắt ta vào nẻo dối gian.
Bản ngã chính là tên lừa đảo,
Lừa dẫn ta vào trong khổ đau.
9. Bản ngã chính là con rắn độc,
Giết ta vô lượng kiếp vừa qua.
Bản ngã chính là tên ngu dại, Hại
mình qua thân, khẩu, ý hành.
10. Bản ngã chính là tên gian xảo,
Quanh co, xảo quyệt, lắm kế mưu.
Bản ngã chính là tên thâm độc,
Âm thầm đâm thọc, não hại người.”
Chúng ta nhìn lại sẽ thấy, quanh co, xảo quyệt lắm kế mưu, gian xảo thâm độc, âm thầm đâm thọc người khác để hại người ta, những lời nói, ý nghĩ, hành động đó là xuất phát từ đâu? Từ một cái tôi, làm cho đau khổ mình và người.
“6. Ê chề là cuộc sống tâm mê,
Ngã mạn, ta đây, chẳng được gì.
Được chăng nước mắt và phiền não
Được chăng dòng sanh tử khổ đau.”
(Bài Sám hối diệt ngã – Nghi thức tu học Nikāya)
Ngã mạn ta đây thì được gì? Cứ vênh váo, khen mình, chê người, cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc rồi được gì? Được nước mắt, được chúng ghét, hại, không ưa, được nước mắt, phiền não, được dòng sanh tử khổ đau. Vậy mà giành giựt, chen chúc với nhau, vậy mà chen lấn với nhau để thể hiện một cái tôi hư ảo, cái tôi ảo ảnh, hư danh, trống rỗng, cái tôi của ảo tưởng. Làm cho cha con chia lìa, vợ chồng tan rã, thầy trò không nhìn mặt nhau, huynh đệ thù hận, ganh ghét, ganh tị, đố kị, đâm thọc…
Tất cả những thứ đó trên cuộc đời này là gì? Thủ phạm là ai? Đó là bản ngã. Tất cả nước mắt, đau khổ, chiến tranh trên toàn thế giới này là gì? Chỉ là cái tôi, “Dám đụng tới tôi? Tôi cho biết mặt!” Sau đó là vấy lên đao binh, mưa bom đạn, tất cả là bản ngã thôi, cuối cùng được gì? Chỉ có máu, nước mắt, chết chóc, chiến tranh, hận thù, đau khổ và tan nát hết tất cả những thành phố, bao nhiêu những sinh mạng, bao nhiêu những cảnh vợ mất chồng, con mất cha, người thân chia lìa, sanh li tử biệt.
Thủ phạm thật sự đứng đằng sau là bản ngã, cái tôi ác độc, cái tôi đó là bộ xương, là hơi thở, là hòm, là hũ cốt, là mấy tấc đất và nấm mồ. Nhưng chỉ vì ảo tưởng của tự ngã làm đau khổ hết, thậm chí là cả hành tinh, diệt chủng khắp nhân loại. Từ rộng lớn cả Trái đất cho đến nhỏ hẹp ngay tự thân của mình, mình nhìn lại xem những suy nghĩ, cảm giác, những hình bóng trong tâm mình, về tự ngã làm đau khổ mình, đau khổ người biết bao nhiêu.
Hai huynh đệ, hai tỉ muội nói qua nói lại rồi lại cự cãi, mới vào bếp làm chung rồi lại giận, rồi lại giờ bệnh, ăn cháo vào rồi lại bệnh, giận không muốn làm rồi lại bệnh. “Ông muốn làm gì làm đi, tôi bệnh rồi!” Bệnh là bản ngã bệnh, không phải bản ngã bệnh, vì nhiều khi giả bệnh cũng có.
Nên khi quán chiếu sâu sắc mình sẽ thấy, kinh Nikāya phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào bóng tối cho những người có mắt có thể thấy sắc, chỉ đường cho người lạc hướng, đó là công năng của Chánh Pháp, vạch trần, phơi bày tất cả những nguyên nhân, đau khổ, của thế giới này. Nên Đức Thế Tôn từng nói: “Này các Tỳ-kheo, xưa và nay, Như Lai chỉ nói hai điều: khổ và con đường diệt khổ.”
Chúng ta hiểu rằng, nếu chúng ta đi ra ngoài hai điều này thì không phải giáo pháp của Đức Phật. Sự thật về khổ đau của ngũ uẩn cần phải được thấy, được biết.
“4) Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập định. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có định, như thật rõ biết. Do vậy, này các Tỷ-kheo, một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ tập". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Khổ diệt". Một cố gắng cần phải làm để rõ biết: "Ðây là Con Ðường đưa đến Khổ diệt".
(Bài kinh Định, Phẩm Đinh, Tương Ưng Sự Thật, Tương Ưng Bộ Kinh)
Nhưng mình không thấy ngũ uẩn là khổ, mình không biết con đường diệt khổ thì đến khi nào mình học pháp, hành pháp, thành pháp được. Nên tất cả những cái chúng ta học, nghe, để chúng ta thành tựu thấy biết chân chánh về đời sống này, về bản chất của nó, về ngũ uẩn này, về thế giới này là một đống khổ lớn, trong đó đầy rẫy dục, tham, ái, vô minh, bản ngã chứ không có gì cả.
Tất cả bên trong đó là những đống dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã, đang di động, đang xê dịch, đang chạy tới chạy lui, mình đến gần thì nó bốc hơi ngay. Bốc hơi lên những tham muốn, nóng giận, những ta đây, hơn thua, bay mùi ra, bay mùi dục, mùi tham, mùi của sân hận, hơn thua ra, mùi của khoa trương cái tôi.
Mình đến ngồi nghe, mình tập nhận diện ngũ uẩn mình đến ngồi nói chuyện với người nào rồi mình nghe, nói từ đầu đến đuôi đều là “Tôi vậy… Tôi vậy…” Đó là họ đang phô trương bản ngã của họ ra. Mình chỉ nghe thôi là mình đã đọc hết ngũ uẩn của họ đang vận hành như thế nào, nó đang vận hành trong một cái tôi ảo tưởng về tự ngã. Vậy nên Thánh pháp này đưa đến sự phá vỡ hết tất cả những ảo tưởng về tự ngã.
Ngũ uẩn đang vận hành, bên trong là một sự thúc giục, nhưng mình tu mình phải biết nhiếp phục cảm giác thúc giục này, mình phải biết chế ngự và kêu nó an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào.
Hai ngày chúng ta đã củng cố những thấy biết về căn bản trí của Đức Phật, chúng ta có những lời nhận xét, trình bày, chia sẻ, trình pháp, xem sự thấy, biết, sự vận dụng, thực tập của chúng ta trong thời gian tám chín tháng bị dịch bệnh vừa qua. Để kì sau chúng ta bắt đầu đi vào những bản kinh.
Minh Thành mong các thầy các cô cố gắng thực tập, nhìn nhận một cách trung thực, đừng để những cảm giác làm chủ, sai khiến mình, cố gắng thực tập. Thương mình thật nhiều, thương lý tưởng xuất gia của mình thật nhiều, thương cha mẹ, thầy tổ, thương lục thân, quyến thuộc, những bạn đồng tu của mình thật nhiều bằng từ tâm. Để mình sống chung trong sự hòa kính và từ ái, mình chỉ thương thôi, đừng giận, tập thương, dù cho người đó có lỗi gì thì mình cũng thương thôi, đừng giận.
Phải tập thương thật nhiều, trải tình thương đến những người đang bị bệnh, cầu mong các vị mau hết bệnh, để chúng ta nhìn thấy được đại chúng, lớp của chúng ta được đầy đủ, hoan hỷ trong các pháp.
Nguyện đem công đức này,
Hướng về khắp tất cả,
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.