Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thanh Quy Đạo Tràng Nikāya

2026-03-03 00:53:52
THANH QUY ĐẠO TRÀNG NIKĀYA

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tinh thần của đạo tràng PAGEREF _Toc72475738 \h 1

II. Hiền thiện PAGEREF _Toc72475739 \h 2

III. Năm khiêm, hai khéo PAGEREF _Toc72475740 \h 5

IV. Tình thân trong đạo tràng PAGEREF _Toc72475741 \h 8

V. Kiểm soát thân khẩu ý PAGEREF _Toc72475742 \h 9

VI. Thọ thực thanh tịnh PAGEREF _Toc72475743 \h 12

VII. Giải tỏa bất hòa PAGEREF _Toc72475744 \h 13

I. Tinh thần của đạo tràng

Kính thưa đại chúng, lần này hội Bông Sen, các Phật tử trở về thánh tuế chư Tăng, mừng tuổi cũng như làm lễ Vu Lan. Tuy chỉ có một ngày một đêm nhưng đầy đủ những pháp yếu từ pháp và luật, hiếu và lễ sẽ có đầy đủ để làm hành trang cho sự thực tập của chúng ta. Sáng hôm nay, Minh Thành muốn giới thiệu với đại chúng về thanh quy đạo tràng Nikāya, thanh quy đạo tràng Nikāya cũng là thanh quy của Linh Quy Pháp Ấn, là những điều mà những người tu học tại đây cần phải thực tập hành trì, Minh Thành cũng mong muốn các thành viên trong hội Bông Sen thực tập theo thanh quy này sẽ được lợi ích dài lâu và rộng lớn cho tất cả chúng ta trong hiện tại và tương lai. Hôm qua chúng ta đã có pháp, có hiếu, có lễ, hôm nay chúng ta sẽ có luật, chút nữa đây chúng ta sẽ gieo trồng ruộng phước, cho nên hai ngày của chúng ta ở đây tràn đầy ý nghĩa và có đầy đủ pháp yếu.

Đây là những điều cần thực tập nếu đạo tràng muốn được an ổn, hòa thuận, tinh tấn tu học thì phải có những điều kiện, nội quy, thanh quy trong đạo tràng.

Tinh thần chung của đạo tràng

Đạo tràng Nikāya

Tâm hiền hòa, lắng dịu

Tụ hợp trong hòa ái,

Tạm biệt trong an vui,

Chân chánh thân, khẩu, ý.

Tám Chánh là đường đi,

Nhìn đời bằng Thánh trí

Giới, Định, Tuệ thực thi.

Ứng xử trong đạo tràng

Đạo tràng ứng xử theo tinh thần “Năm Khiêm, Hai Khéo”.

Lời nói khiêm nhường,

Tâm hồn khiêm hạ,

Hành xử khiêm cung,

Hiền hòa, khiêm tốn.

Kính trên, nhường dưới,

Khiêm nhã, nhún nhường,

Khéo xét lỗi mình

Khéo phòng hộ căn.

II. Hiền thiện

Trong đạo tràng Nikāya tu học cũng như tại Linh Quy Pháp Ấn, mỗi ngày đều phải thực tập tâm hiền. Điều này nghe thì thấy bình thường nhưng cực kì quan trọng trong việc thực tập tâm hiền hòa. Quý Phật tử tu có thấy mình hiền chưa? Cho nên mình phải thực tập tâm hiền, cái hiền không chỉ nói trên miệng, không phải chỉ suy tưởng suông, không phải chỉ là dáng vẻ trong khi hành lễ mà sự hiền hòa lắng dịu này cần phải được thực tập trong cảm giác.

Cho nên mỗi nửa tháng một lần đạo tràng Nikāya tại chùa Bửu Liên cũng như tại các tỉnh thành đều phải thực tập nửa tiếng thiền định về tâm hiền, hôm qua quý vị được quý thầy hướng dẫn trước khi thiền quán. Thông thường mình hiểu chữ hiền rất hời hợt và cạn cợt, tâm hiền ở đây là sự thực tập thiền định, thiền quán, là một sự thực tập để cho cảm giác lắng dịu hiền hòa, từ ái, dễ thương. Quý vị có muốn trở thành người dễ thương không?

Người tu là dễ thương, dễ nói, dễ học, dễ bảo, dễ ăn, dễ ngủ, dễ với mọi sự việc, đó là một cái tâm được thực tập, được nuôi dưỡng, được tưới tẩm bởi những cảm giác hiền thiện, hiền dịu, hiền lương, hiền lành, hiền đức… Sự hiền này là một cảm giác luôn luôn thấm đượm trong suy nghĩ, lời nói và hành động. Không phải chỉ hiền lúc bình thường, lúc được người ta đối đãi dễ thương với mình mà mình hiền mọi lúc mọi nơi, trong lúc người ta đối xử khó chịu thì mình lại dữ là không phải.

Khi thực tập được tâm này lúc người ta đối xử khó chịu mình vẫn không mất tâm hiền dịu, mình hiền với những người hiền là chuyện bình thường, mình hiền được với những không hiền mới là công phu, cho nên quý vị đừng xem thường chữ hiền, trong kinh Nikāya các vị Tỳ-kheo thánh Tăng được gọi là hiền giả, giả là ngài, là vị, là bậc, là người. Hiền giả là một bậc hiền, người hiền… Chữ hiền này sát với một bước nữa là thánh, cho nên khi nãy mình nói cúi đầu kính lễ hiền thánh Tăng. Mỗi khi đạo tràng tụ hội phải thực tập 30 phút về tâm hiền và sẽ được quý thầy hướng dẫn.

Khi mình thực tập tâm hiền hòa lắng dịu, những suy nghĩ của mình là những suy nghĩ hiền thiện, khi suy nghĩ về người khác là sự suy nghĩ hiền thiện, khi mở lời là mở lời hiền hòa, khi hành động là hành động hiền lương thì đó là con người hiền đức, đạo tràng như vậy là đạo tràng hiền hòa, khi đến đạo tràng như vậy sẽ được an vui. Những điều này cực kì căn bản mà nhiều khi mình lại quên đi, mình chỉ lo những cái hình dáng, hình thức mà lại quên nội dung, cái chất trong cảm thọ, cảm giác. Mình có hình thức rồi, mình có màu sắc thì nội dung là cái lõi hết sức cần thiết trong một đạo tràng, đó là điều chúng ta cần phải nuôi dưỡng, tưới tẩm, nhất là khi đến đạo tràng không thể thiếu sự thực tập tâm hiền.

Tụ hợp trong hòa ái,

Tạm biệt trong an vui,

Khi mình tụ hợp lại với nhau trong hòa hợp và từ ái, không có suy nghĩ chống đối, không có lời nói khó chịu, không có những hành động trái ngược thì tạm biệt cũng trong an vui. Khi đến một đạo tràng mà Tụ hợp trong hòa ái, tạm biệt trong an vui thì quý vị có muốn đến không? Vì vậy làm sao chúng ta phải xây dựng được tinh thần chung của đạo tràng:

Chân chánh thân, khẩu, ý.

Tám Chánh là đường đi,

Nhìn đời bằng Thánh trí

Giới, Định, Tuệ thực thi.

Con đường mình đi là con đường Bát Chánh Đạo, mình tập nhìn mọi sự, mọi việc trong đời này bằng trí tuệ của bậc thánh, sẽ có người nghĩ rằng "thầy nói cái này vừa cao siêu vừa khó. Con chưa làm được", nếu suy nghĩ như vậy là mình sẽ không bao giờ thành tựu trí tuệ, phải biết rằng thánh trí là như vậy và mình đang nghe, đang học, đang thực tập và dần dần sẽ thành tựu thì mình mới có cơ hội Nhập lưu vào dòng trí huệ, còn mới vừa học đã suy nghĩ không làm được thì đó là tự mình đào thải chính mình, tự mình loại bỏ chính mình, tự mình vứt bỏ cơ hội để thể nhập trí tuệ giác ngộ của Đức Phật.

Vì thế mình nghe để mình hiểu, mình tưới tẩm, suy ngẫm, nghiền ngẫm rồi từ từ mình sẽ đi vào được thánh trí, đó là tinh thần của người học Phật cho nên không được sợ những giáo pháp sâu sắc, những trí huệ của Đức Phật truyền trao, mình là con Phật mà đó là trí huệ của Phật vì vậy mình phải có thái độ, tinh thần tiếp nhận, lắng nghe và thực tập từ từ, mình tu cả đời, tu nhiều kiếp nên phải lấy Giới, Định, Tuệ thực thi.

III. Năm khiêm, hai khéo

Ứng xử trong đạo tràng theo tinh thần "năm khiêm, hai khéo". Điều này cần phải được học thuộc lòng, mỗi khi vào tu phải đọc thanh quy lên để nhắc nhở, phải tự mình nhắc nhở tu là phải hiền. Lời nói khiêm nhường, khi phát ra lời nói phải xem trong lời nói đó có khiêm nhường không, cái này phải có sự chánh niệm và tỉnh giác. Thông thường mọi người nghĩ rằng vào tụng kinh mới tu, lời nói không cần tu, như vậy là sai rồi, người mới vào đạo có thể có suy nghĩ mở kinh ra mới tu còn mình đã tu học lâu năm không thể có suy nghĩ đó được.

Bất cứ một lời nói nào phát ra cũng phải nhớ Lời nói khiêm nhường, dù cho việc đó làm mình rất khó chịu nhưng mình nói ra một lời khiêm nhường, khi nghe mà người ta biết bản thân họ có lỗi thì người ta càng kính trọng mình hơn, công đức được thể hiện ngay chỗ này. Công là công phu, đức là đức hạnh, công phu là mình nhiếp phục bản ngã trong lời nói thì tạo thành đức hạnh trong lời nói, đó gọi là Lời nói khiêm nhường. Đây là những điều rất căn bản nhưng cực kì sâu sắc, không phải có công việc, trách nhiệm rồi ra vẻ ta đây, dù cho có làm thật nhiều thì chỉ có công nhưng lại thiếu đức. Mọi người có muốn công đức viên mãn không?

Tâm hồn khiêm hạ,

Hành xử khiêm cung,

Hiền hòa, khiêm tốn.

Những suy nghĩ, tưởng, cảm giác phải nuôi dưỡng cảm giác khiêm hạ, hạ thấp mình xuống. Mỗi khi trong đầu mình hiện lên hình bóng về chính mình phải là hình bóng cúi đầu, chắp tay lạy xuống đối với tất cả mọi người. Đây gọi là Tâm hồn khiêm hạ, đó gọi là công đức tự tâm. Khi nghĩ về mình, khi tưởng về hình bóng của chính mình thì phải nhớ hình bóng cúi đầu, chắp tay và lạy xuống. Lạy những vị hơn mình, lạy những người ngang hàng mình, và hình bóng mình lạy những người thấp kém hơn mình, đó là công đức của tự tâm.

Hành xử khiêm cung.

Sự đi đứng, cử chỉ hành động của mình phải là sự khiêm hạ cung kính. Mình bưng chén cơm cũng trong sự khiêm cung, cầm ly nước hay bước một bước chân cũng hành xử khiêm cung chứ không được thô tháo, thô tục càng không thô ác. Mỗi khi đi đứng ngồi nằm, mỗi sự nhất cử nhất động phải có khiêm cung trong đó. Một người hành xử như vậy có tuyệt vời không? Mỗi cử chỉ của mình không thô lỗ, thô tháo mà nó là cả một cái tâm khiêm hạ và cung kính trong cách hành xử. Làm được như vậy là hội Bông Sen nở hoa tròn trịa ngát hương.

Hiền hòa, khiêm tốn.

Kính trên, nhường dưới,

Khiêm nhã, nhún nhường.

Minh Thành nói chung cho cả người xuất gia lẫn cư sĩ phải biết ai là trên, ai là dưới, mới cạo đầu được vài ngày đã đi bắt lỗi những bậc trưởng thượng, mới bước vào đạo tràng mấy ngày đã chỉ lỗi huynh trưởng thì đó là sự không kính trên nhường dưới, chính điều này làm rối loạn đạo tràng dù cho người đó có là xuất gia hay là cư sĩ, đó là sự thiếu tu tập, không xem lại bản ngã, đó là sự xấu hổ và nhục nhã mà mình không thấy không biết. Những bậc thầy lớn, quản chúng thay thế sư phụ mà mình mới cạo tóc vài bữa đã chỉ lỗi họ thì đó là sự nhục nhã xấu hổ, không biết phản tỉnh, trong đạo tràng cư sĩ cũng vậy, phải luôn tu tập kính trên nhường dưới, kính những bậc lớn tuổi, những bậc đã tu học trước mình, nhường những người dưới, đó là đức độ, công đức, phước báu, trí huệ của mình.

Khéo xét lỗi mình

Khéo phòng hộ căn.

Chúng ta học cảm giác toàn thân, học nhận diện ngũ uẩn để khéo xét lỗi lầm của mình. Khi vừa có những cảm giác, nghĩ tưởng, suy nghĩ sai quấy, những lời nói bất thiện là phải cảm thấy xấu hổ rồi phát lồ sám hối thì từ từ mới trị được những cái dở bên trong, không dung túng, nuôi dưỡng những cái sai quấy. Phải ở trước Tam Bảo dập đầu sám hối tha thiết chân thành chứ không phải đợi đến nửa tháng vào gõ chuông lạy 108 lạy là xong. Sự sám hối chân thành là khéo léo, khéo xét lỗi mình, nhìn thấy những cái gì mình chưa hoàn thiện, luôn soi rọi trở lại thì đó là sám hối tối thượng chứ không phải vào gõ chuông rồi lạy vài cái là xong, cho nên mình cứ lạy hoài mà không hết tội.

Vì vậy sự sám hối thật sự là luôn nhận diện những suy nghĩ bất thiện, bản ngã, ta đây, dương dương tự đắc rồi dập tắt, tẩy rửa nó, cảm thấy xấu hổ và nhục nhã khi những cái này sanh khởi, đó là tối thượng sám hối, đại sám hối. Năm khiêm: Khiêm nhường, khiêm hạ, khiêm cung, khiêm nhã, khiêm tốn phải được thuộc lòng và phải luôn được thực tập trong ý nghĩ, lời nói, hành động. Khéo phòng hộ căn là phải giữ gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình không phải chỉ khi vào đạo tràng mà khi về nhà cũng phải như vậy. Nếu không giữ gìn con mắt, khi băng qua đường cứ lo bấm điện thoại thì xảy ra tai nạn, đang lái xe mà vừa nói vừa cười, lại nghe điện thoại thì hậu quả vô cùng nghiêm trọng vì mình không biết hộ căn trì mọi lúc mọi nơi, trong đạo tràng tu học là phải tuyệt đối giữ gìn.

Trong đạo tràng ở chùa Bửu Liên trên 100 người, vậy mà khi ăn cơm không có tiếng muỗng đũa vang lên, đó là cách chánh quán thọ thực của Đức Phật, cách ăn cơm của Đức Phật và các bậc A-la-hán. Giờ ăn cơm đó gọi là chánh quán thọ thực, là cách ăn cơm của Đức Phật, trong đó không có tụng niệm gì nhiều mà chỉ xem lại cảm giác lúc ăn như thế nào, lúc đó cái tham vận hành như thế nào trong khi ăn, xem sự thúc giục bên trong gắp nhanh để nhai, ăn chưa hết đã gắp đồ ăn chờ sẵn. Tu cái này rất hay, đây là thánh trí của Đức Phật để phơi bày những gì trước đây mình không thấy.

“…dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc.”

(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni).

IV. Tình thân trong đạo tràng

- Đạo hữu trong đạo tràng Nikāya sinh hoạt trên tinh thần tương thân, tương ái, hiền hòa, lắng dịu và từ ái. Sẵn sàng giúp đỡ nhau. Sẵn sàng chung vai gánh vác những công việc trong đạo tràng.

-Tránh to tiếng nhau, tránh cãi vã nhau.

-Tình đồng đạo được kết nối trong sự thân thiện, hòa nhã, hòa đồng, hòa ái nhưng không rời xa giới đức, giới hạnh và giới hạn cần thiết trong các mối quan hệ. Xác định rõ ràng ranh giới giữa trên và dưới, ranh giới giữa nam và nữ, giữa nam và nam, giữa nữ và nữ. Không xô bồ, phóng dật, buông lung, quá thân mật, quá gần gũi, quá đà trong các mối quan hệ.

-Tự mình gìn giữ giới đức trang nghiêm, thanh tịnh. Nhắc nhở bạn đạo gìn giữ giới đức trang nghiêm, thanh tịnh.

-Kính trên nhường dưới. Cùng nhau tôn trọng thanh quy của đạo tràng, tôn kính chư Tăng Ni, tôn trọng huynh trưởng, tôn trọng bạn đồng tu và tự trọng bản thân. Luôn tâm niệm trong lòng: “Chúng ta hãy là hội chúng Tinh ba, chớ không là hội chúng Cặn bã”.

“Hội chúng tối thắng trong hai hội chúng này, này các Tỳ-kheo, tức là hội chúng tinh ba.”

(Tăng Chi Bộ, Chương II - Hai Pháp, V. Phẩm Hội Chúng)

Đây là câu nói của đức Chánh Đẳng Giác, có rất nhiều hội chúng tụ hội lại nhưng đó có phải là hội chúng tinh ba hay là hội chúng cặn bã, ồn ào, thả lỏng các căn, buông lung phóng dật, không nâng cao giới đức, sự yên định và trí tuệ, đó là hội chúng bát nháo, tạp nhạp, không đem lại thánh giới uẩn, thánh định uẩn và thánh tuệ uẩn cho mình. Làm sao khi vào đạo tràng phải thật sự trang nghiêm, thanh tịnh, phải thật sự tu học thuần túy thì đạo tràng đó mới là đạo tràng tinh ba.

Đức Thế Tôn đã chỉ dạy mỗi người phải tự ý thức thu nhiếp thân tâm và phải biết mình đang ở đâu. Khi vào chùa phải khác với lúc đi chợ hay ở nhà, nếu không làm sao phân biệt được đâu là chợ, đâu là nhà và đâu là chùa chiền trang nghiêm thanh tịnh? Mỗi khi tu học phải đọc thanh quy lên thì mỗi người khi vào đạo tràng tu tập sẽ có lợi ích lớn lao vì tu ra tu, chơi ra chơi, như vậy mới có sự tiến bộ, tăng thượng giới học, tăng thượng định học, tăng thượng tuệ học. Nếu không thì đạo tràng lập ra chỉ để vui chơi thôi, vào đó chỉ gieo được chút ít phước thiện chứ không thể bước lên thánh đạo của Đức Phật được.

V. Kiểm soát thân khẩu ý

- Thân hành: Thân hành nhẹ nhàng, an tịnh. Mọi lao tác trong đạo tràng đều tế nhị, không thô thiển, tránh tạo tiếng động, tiếng ồn. Tập chánh niệm trong oai nghi, hành động. Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt.

Mọi hành động cử chỉ của mình được an tịnh, nhẹ nhàng. Bây giờ ngồi đây là 200 người mà không nghe một tiếng động thì có an tịnh không? Mình đang thực hiện điều này thì tự nhiên hành động, cử chỉ của mình rất đẹp.

-Khẩu hành: Khẩu hành an tịnh trong suốt ngày tu học. Chỉ nói khi trình pháp, hỏi pháp. Tránh hỏi pháp, trình pháp quá dài, còn để thời gian cho các bạn khác. Để không cắt ngang dòng tâm ý của vị giảng pháp, nên người nghe pháp không chen ngang vào giữa buổi pháp được giảng, dù vị giảng pháp đang im lặng. Sau buổi giảng sẽ có phần hỏi đáp. Vì vậy, chỉ hỏi pháp, trình pháp khi đến giờ hỏi đáp, đó là điều cần cẩn trọng lưu ý. Không phát biểu giữa buổi giảng pháp. Không cắt ngang bài pháp đang được chia sẻ. Không cắt ngang lời vị hướng dẫn.

Thanh quy đạo tràng Nikāya là không được nói chuyện trong thời gian đang tu học, chỉ nói chuyện trước khi vào khóa tu, khi đã đọc thanh quy lên thì sẽ tu xuyên suốt một ngày, không nói chuyện lan man. Mình đã nói trong trăm ngàn vạn kiếp năm rồi mà không được lợi ích gì nên trong ngày tu là tịnh khẩu để an trú được cảm giác toàn thân, từ đó mới nhìn ra được cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm, còn nói hoài thì làm sao nhìn ra được, nói một hồi sẽ ra chuyện thị phi, đúng sai, hay dở rồi đôi chối gây phiền não, phiền phức nhất là miệng này, tu tập nhiều nhất là miệng này, định hay không định là do miệng này. Cho nên Đức Phật nói âm thanh là gai nhọn của thiền định, âm thanh dao động là đại chướng ngại cho một người muốn vào thiền định cho nên muốn có tâm an tịnh, lắng dịu mà miệng cứ nói hoài thì không bao giờ an tịnh, lắng dịu được.

Nhiều người có thói quen cầm micro lên là nói từ đông sang tây, nói tự cổ chí kim đến khi nhìn lại hết luôn giờ của người khác nói, không có chánh niệm trong lúc đặt câu hỏi cũng như khi trả lời câu hỏi. Khi muốn đặt câu hỏi thì hỏi vào ngay trọng tâm để dành thời gian cho thầy trả lời câu hỏi của mình cho đại chúng nghe hiểu, còn không có chánh niệm là mình làm sai hết, cứ cầm micro rồi nói, ở dưới bao nhiêu người nhìn mà mình không biết. Khi muốn hỏi gì thì hỏi vào ngay trọng tâm, để thời gian cho người khác đặt câu hỏi và để quý thầy, quý cô giải thích cho mình học hiểu. Mình vào đây để học, để nghe chứ không phải để nói.

Quý thầy, quý cô đang giảng mà mình đặt câu hỏi cắt ngang bài giảng, điều này không đúng pháp. Lúc quý thầy, quý cô đang giảng là lúc đó đang chuyển pháp luân mà mình cắt ngang như vậy sẽ làm mất nhân duyên chánh tri kiến của đại chúng, lúc đó đang phô diễn chánh pháp, là cơ hội cho nhiều người thành tựu cái thấy biết chân chánh về pháp, vậy mà có khi giơ tay hỏi câu hỏi không liên quan gì hết, không có liên hệ đến mục đích, thậm chí đặt câu hỏi sân si nữa thì quá tội lỗi.

-Ý hành: Ý hành an trú trong tâm hiền, tâm an tịnh, hoặc như lý tác ý về pháp, hoặc duy trì định tướng trong suốt ngày tu.

Giới hạn trong thảo luận

-Chủ đề thảo luận nằm trong tinh thần kinh Nikāya. Không thảo luận những vấn đề ngoài dòng pháp này. Thảo luận có chừng mực, thuộc phạm vi của bài pháp được nghe trong ngày tu tập.

-Khi đang thảo luận, đang phát biểu, nếu nghe tiếng chuông của trưởng lớp thì phải dừng lại, xem lại cảm thọ lúc đó, như lý tác ý để từ bỏ cảm thọ bất thiện sanh khởi.

-Không để bản ngã sanh khởi trong khi thảo luận, trình pháp, phát biểu ý kiến.

Phải kiểm soát khi phát biểu, xem lúc đó có bản ngã trong lời nói không, có sân, có cảm giác bực dọc không. Nếu có thì dừng lại không nói nữa, chừng nào cái tâm, cảm giác của mình bình thường thì hãy nói, còn nói trong lúc đang sân si, bực tức thì cực kì nguy hiểm, không phải trong đạo tràng mà ngay khi ở nhà đối với người thân trong gia đình cũng phải vậy, lúc nào mình thấy đang giận thì đừng nói.

-Phát biểu với thái độ nhẹ nhàng, với tâm hiền lành mến pháp, với lòng từ mẫn, với tâm chân thành muốn chia sẻ pháp.

-Khi tâm có sân, có bản ngã thì lúc đó không nên phát biểu, hãy giữ im lặng.

-Người phát biểu, đóng góp ý kiến cho người trình pháp hay cho lớp học, sẽ phát biểu trong chừng mực, không quá lâu, không quá dài dòng, không đi xa khỏi vấn đề đang tu học, không ngắt ngang lời của người trình pháp, không phát biểu quá 5 phút.

VI. Thọ thực thanh tịnh

- Chuẩn bị cơm trưa trong im lặng, thanh tịnh. Khi cần thiết thì ra dấu, tránh tối đa việc động khẩu. Dọn cơm, xếp đặt bàn ghế, sắp xếp tô chén muỗng đũa trong nhẹ nhàng, thanh tịnh, tránh gây ra tiếng động. Chánh niệm trong hành động.

- Ăn trưa trong chánh niệm như đã được hướng dẫn trong bài “Chánh quán khi thọ thực”. Ăn xong, nói lời tùy hỷ công đức.

Các vị Tỳ-kheo thời Đức Phật tu với nhau trong sự yên tịnh, nhiếp tâm tu, việc của ai người nấy làm, tu như vậy trong 3 tháng là chứng thánh quả A-la-hán, cần thiết lắm mới nói chuyện, còn không là ra dấu. Điều này được Đức Phật khen ngợi đây là sự im lặng của bậc thánh.

“Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, tinh thất của Bà-la-môn Rammaka không xa; bạch Thế Tôn, tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka là khả ái; bạch Thế Tôn, tinh thất của Bà-la-môn Rammaka là khả lạc; bạch Thế Tôn, lành thay, nếu Thế Tôn vì lòng từ bi đi đến tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka!

Thế Tôn im lặng nhận lời. Rồi Thế Tôn đi đến tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka. Lúc bấy giờ, một số đông Tỳ-kheo đang hội họp tại tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka để thuyết pháp. Thế Tôn đứng chờ ngoài cửa cho đến khi thuyết pháp xong. Thế Tôn biết cuộc thuyết pháp đã xong, liền đằng hắng và gõ vào thanh cửa. Các Tỳ-kheo ấy mở cửa cho Thế Tôn. Rồi Thế Tôn bước vào tịnh thất của Bà-la-môn Rammaka và ngồi lên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

-- Này các Tỳ-kheo, các Người nay hội họp bàn vấn đề gì? Và câu chuyện gì giữa các Người bị gián đoạn?

-- Bạch Thế Tôn, câu chuyện giữa chúng con thuộc về Thế Tôn và câu chuyện ấy bị gián đoạn khi Thế Tôn đến.

-- Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh.”

(Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)

Ở ngoài đời có rất ít cơ hội để tịnh khẩu cho nên mình vào khóa tu mà ứng dụng được điều này thì đây là cơ hội rất tuyệt diệu, Minh Thành khuyến khích hội Bông Sen nên thực tập cái này từ từ.

VII. Giải tỏa bất hòa

-Vì đang tu học sự nhiếp phục thân tâm nên chắc chắn sẽ có lỗi lầm, có bất đồng ý kiến, chưa dễ nói, chưa hiền thuận, chưa nhu hòa trong sinh hoạt, trong hành vi, trong ứng xử, trong thân hành, khẩu hành. Vì vậy, khi có chuyện không hài lòng xảy ra trong đạo tràng, những người liên đới nên tự xét mình trước, xem lỗi của mình trước, sau đó, nên thông cảm với lỗi lầm của bạn đồng tu.

Chắc chắn mình sẽ có những sự bất hòa, nếu có xảy ra thì nên tự xét mình trước, xem lỗi của mình trước, lỡ có chuyện bất hòa xảy ra thì nên tự xét mình trước, xem lỗi của mình trước, nhìn lại bản thân mình trước. Nếu ai cũng nhận mình có lỗi thì có cự cãi, có giành phần phải, có gây gổ, sân hận. Tự động xin lỗi nhau có tốt lành không? Tối nay Minh Thành rất xúc động vì một lời nói của người mẹ, người mẹ đó xin lỗi con "mẹ chưa lo lắng được nhiều cho con như ý mẹ muốn, mẹ xin lỗi". Câu nói đó đúng ra của người con nhưng lại xuất phát từ miệng người mẹ, câu thứ hai cũng chính từ người mẹ đó "mẹ cảm ơn con đã dẫn mẹ đi tu học, đã nghĩ về mẹ, lo cho mẹ". Thật sự rất xúc động!

Câu nói đó phải là của người con nhưng mẹ đã nói thay lời con, mẹ vừa là mẹ mà trong lòng và những lời nói, hành động phải thay thế cho con. Xin lỗi và cảm ơn con, đó là tình bao la mẫu tử, Minh Thành mong tất cả Phật tử và những người xuất gia hãy luôn luôn thực tập cảm ơn và xin lỗi. Khi có chuyện mà mình thọ ơn của ai dù nhỏ nhặt cũng phải nhớ cảm ơn, một chuyện sai lầm dù nhỏ nhất cũng phải xin lỗi, phải sám hối. Đây là văn hóa rất tuyệt vời của người phương tây, cảm ơn và xin lỗi lúc nào cũng thường trực trên miệng họ, ngược lại đối với mình rất khó khăn để thốt ra được những lời đó, đó là sự thiếu xót. Trong đạo tràng của mình nhất định phải thực tập bốn chữ cảm ơn và xin lỗi, những huynh trưởng trong đạo tràng phải ghi nhớ điều này, lấy cái đức bao trùm đại chúng, lấy từ tâm che phủ mọi người.

-Nếu thấy cần phải góp ý thì trước khi nói cần phải an trú nội tâm 5 pháp: “Nói đúng thời, nói đúng sự thật, nói từ tốn, nói lời có lợi ích, nói với từ tâm”.

-Người được góp ý cần nghiêm túc đón nhận lời góp ý và nghiêm túc quán xét bản thân. Ghi nhớ câu Pháp Cú 76:

“Nếu thấy bậc Hiền Trí

Chỉ lỗi và khiển trách,

Như chỉ chỗ chôn vàng.

Hãy thân cận người trí,

Thân cận người như vậy,

Chỉ tốt hơn không xấu”.

Chân thành - Chân chánh

-Pháp hành này là một đường lối tu hành chân chánh với Tám sự Chân chánh, tức là: Thấy biết chân chánh, suy nghĩ chân chánh, nói lời chân chánh, hành động chân chánh, nuôi mạng chân chánh, siêng năng chân chánh, quán niệm chân chánh và định tâm chân chánh. Vì vậy, chỉ có người chân chánh mới có thể tu tập được pháp chân chánh, chỉ có người chân thành mới tu tập được pháp chân thật. Do đó, nếu hành giả xét thấy trong mình còn có những pháp không chân chánh, không chân thật thì nên phát lộ sám hối và quyết chí từ bỏ thì mới có thể tu tập sâu vào dòng pháp này. Nếu không, thì dòng pháp Tám Chánh sẽ đào thải người bất chánh ra khỏi pháp chân chánh. Xin hãy nhớ kỹ điều này.

•Ngoài ra, cần lưu ý:

-Trưởng lớp cần biết: Trưởng lớp chăm lo cho sinh hoạt của đạo tràng; sắp xếp người chịu trách nhiệm về sự an tịnh của lớp trong mỗi buổi học; sắp xếp người trình pháp trong các buổi học; kiểm soát giờ giấc sinh hoạt trong lớp; kiểm soát các buổi trình pháp; không để các ý kiến đi quá xa khỏi bài pháp đã được nghe, đi quá xa khỏi pháp hành trong con đường này; đánh chuông nhắc nhở những phát biểu dài dòng, đi xa ngoài vấn đề. Khi cónhững ý kiến bất đồng, sau khi hai lần ý kiến vẫn không tìm được điểm chung thì trưởng lớp cho dừng lại việc thảo luận vấn đề đó, sau đó, khi thuận tiện thì hỏi lại vị hướng dẫn. Trưởng lớp tuy chăm lo cho đạo tràng nhưng không được quên trau dồi giới hạnh, thiền định và trí tuệ của tự thân.

-Đạo hữu mới cần biết: Trưởng lớp hướng dẫn cách ăn và cách sinh hoạt của đạo tràng cho người mới đến. Cẩn thận khi giới thiệu người mới vào đạo tràng. Người giới thiệu phải chịu trách nhiệm về người mình giới thiệu. Nếu người không có lòng hướng về con đường này (dù mình đã giới thiệu nghe bài giảng rồi) thì không nên cố chấp, gượng ép mời vào đạo tràng, để tránh rắc rối cho sinh hoạt của đạo tràng sau này.

-Giữ lửa: Mục đích của đạo tràng Nikāya là giúp cho các vị đang muốn đi vào thực hành lời Phật dạy trong kinh Nikāya có được một môi trường tu tập lành mạnh, trong sạch, đúng pháp, có thể duy trì và phát triển ngọn đèn trí tuệ của Nikāya trong tự thân. Vì vậy, để làm quen, ổn định và duy trì ngọn lửa Nikāya trong tự thân và giúp duy trì ngọn lửa Nikāya cho đạo hữu trong đạo tràng, nên các đạo tràng Nikāya cố gắng sinh hoạt ổn định 2 lần trong tháng, vào thứ bảy hoặc chủ nhật, nếu nhiều hơn càng tốt.

Mọi người phải nhớ ứng dụng những điều đã được ghi trong thanh quy vào trong đạo tràng nơi mình đang tham dự. Phải thực tập tâm hiền, thực tập cách ứng xử năm khiêm hai khéo, thực hành tình thân trong đạo tràng, phải cố gắng kiểm soát thân – miệng – ý, giới hạn trong thảo luận, thọ thực thanh tịnh, giải tỏa bất hòa, tu bằng cái tâm chân thành, cung kính, chân chánh thì mình và người đến tu tập sẽ được lợi lạc, an lạc, hạnh phúc dài lâu. Những người được thực tập trở về nhà để xây dựng hạnh phúc của gia đình, xây dựng tình thân ái của dòng tộc, xây dựng một đời sống chánh pháp an lạc cho tất cả mọi người có nhân duyên đối với chúng ta. Minh Thành xin có lời tán thán cho sự thực tập tinh tấn của quý vị.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.