TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 31-CỐT LÕI PHÁP HÀNH KIKAYA 1
Nikāya Tinh Hoa
TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 31
CỐT LÕI PHÁP HÀNH NIKĀYA 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Những Việc Quan Trọng Trong Hiện Tại PAGEREF _Toc130031383 \h 1
II.Cốt Lõi Pháp Hành Nikāya 4
1. Cảm Giác An Trú Toàn Thân4
2. Trách Dục5
3. Cảm Giác Sân Hận8
4. Quán Sự Nguy Hại Của Sắc10
5. Như Lý Tác Ý18
Những Việc Quan Trọng Trong Hiện Tại
Hôm nay chúng ta sẽ học pháp hành Nikāya, Minh Thành xin hỏi quý Thầy, quý Cô: Thời gian nào là thời gian quan trọng nhất? Công việc nào là công việc quan trọng nhất? Con người nào là con người quan trọng nhất?
Thời gian quan trọng nhất là hiện tại ngay bây giờ, công việc quan trọng nhất là giờ học hiện tại, người quan trọng nhất là người bên cạnh mình hiện tại.
Công việc mình đang làm có phải là quan trọng nhất không? Vậy công việc mình đang làm là công việc gì? Nếu học mà không chuẩn bị, tức là tâm không có chánh niệm trong việc mình đang làm. Trong kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Phật có dạy: “Thân thể mình được sử dụng như thế nào phải rõ biết là nó như thế đó”.
Minh Thành xin thưa với quý Thầy, quý Cô tới nay thời gian đi dạy cũng gần 20 năm và tham dự hàng ngàn pháp hội để chia sẻ pháp, nhưng rất ít khi Minh Thành đi trễ, nếu có đi trễ thì rơi vào trường hợp bất khả kháng. Những buổi giảng hay những buổi lên lớp dạy thì Minh Thành đi trước nửa tiếng hoặc cả tiếng đồng hồ đó là chỗ gần, còn ở xa thì phải đi trước mấy tiếng.
Nhớ hồi chùa Hoằng Pháp mở chương trình Phật Học Thường Thức đầu tiên, Hòa thượng trụ trì giao cho Minh Thành chương trình này, thường thì Minh Thành đi trước 2 tiếng đồng hồ, lúc bấy giờ đi tới một con đường bị chặn ngang, sửa đường, kẹt xe, không đi đường đó được, lúc đó Minh Thành phải bắt xe Honda ôm quay ngược trở lại vẫn bị trễ 5 phút đó là lần duy nhất trong những năm đi dạy và đi giảng pháp bị trễ giờ. Tăng Ni sinh đi học cũng vậy cứ mỗi ngày đi học trễ 5 phút mà kéo dài trong suốt quá trình đi học vậy thì mất rất nhiều thời gian. Rồi khi mình lên lớp học với thái độ học như thế nào? Mình có tập trung tâm ý lắng tai nghe pháp không? Có đem hết tất cả tâm lực của mình, đem hết tất cả sự chú ý chú tâm để tập trung nghe hay không? Trong khi nghe mà có năm triền cái mình không tiếp nhận pháp một cách trọn vẹn được. Cho nên tại sao ngài A-nan-da được ca ngợi là:
Mặt như trăng thu đầy
Mắt tựa hoa sen xanh
Phật pháp như biển cả
Rót vào tâm A-nan.
Đây là bài kệ nổi tiếng với nội dung ca ngợi Tôn giả A-nan-da. Mỗi khi nghe pháp, Ngài A-nan-da không có năm triền cái (gồm có tham, sân, hôn trầm thùy miên, trạo cử, hoài nghi). Cho nên, khi nghe pháp không phải chúng ta chỉ cần có mặt là đủ; mà sự tập trung tâm ý, lóng tai nghe pháp ở mức độ nào càng quan trọng hơn. Vì vậy, việc quan trọng chúng ta đang làm ngay hiện tại bây giờ là mình đang ngồi học.
Cũng vậy, khi hành thiền, điều quan trọng là mình đang hành thiền với tâm gì? Nếu năm triền cái có mặt trong giờ hành thiền thì đó là một giờ hành thiền bằng tâm mờ tối, yếu ớt, không mắt, mù lòa, thiếu trí, không thể đi vào sơ thiền. Ngồi thiền với tâm lơ mơ, mắt lờ mờ, mình cứ để tâm chìm vào chỗ mờ tối như vậy tức là rơi vào hôn trầm (trầm là chìm, hôn là hôn mê), mờ mịt. Hoặc ngồi thiền mà mình gãi chỗ này, ngứa chỗ kia, mỏi chỗ này, đau chỗ kia, thân bị dao động; trong tâm thì nhớ lại những chuyện bực mình, sân hận; hoặc tiếc nuối chuyện này chuyện kia, chẳng hạn đơn giản như tiếc vì không được ăn món bún mắm ưa thích.... Những giờ ngồi thiền như vậy là tâm bị năm triền cái xâm chiếm, áp đảo, làm yếu ớt trí tuệ, tác thành mù lòa, tác thành không mắt, tác thành không trí.
Cho nên chúng ta phải để ý rất nhiều trong những việc làm của chúng ta, tại sao chúng ta làm việc không hiệu quả nếu có hiệu quả thì ít? Nguyên nhân từ đâu? Cũng như mình tu học hoài mà không thấy pháp, tu hoài cũng không thấy tinh tiến trí tuệ, không thành tựu pháp Tín, Tấn, Niệm, Định Tuệ, Ngũ căn, Ngũ lực hay thành tựu những trí tuệ về khổ, nguyên nhân của khổ. Học hoài không thấy là do cách học của mình để cho năm triền cái xâm chiếm. Quan trọng trong sự tu học không phải ngày hôm qua, cũng không phải là ngày mai mà ngay hôm nay, tu ngay lúc này. Người mà nghĩ rằng ngày mai mới tu, tuần sau mới tu, tháng sau mới tu, lớn tuổi mới tu, học xong mới đi nhập thất, người này chưa thấy pháp, chưa hiểu pháp, người hiểu pháp là tu ngay lúc này, ở đây và ngay bây giờ, tại chỗ này, hiện tại.
Sư Phụ hỏi một Ni Sinh:
- Tu hiện tại là tu làm sao?
- Mô Phật! Bạch Thầy tu trong hiện tại ngay phút này là chánh niệm tỉnh giác ngay trong giây phút hiện tại.
- Chánh niệm tỉnh giác ngay trong giây phút hiện tại là như thế nào?
- Khi bước đi mình biết đang bước đi.
- Điều đó rất nhỏ không thể đủ sức để đâm thủng khối vô minh uẩn to lớn.
- Khi có một điều gì đó mà bất ý nghịch lòng với mình, khi tâm mình khởi lên cái gì thì mình rõ biết điều đó.
- Bây giờ bất ý nghịch lòng tới mình mới tu, lúc mình vừa ý thì tu làm sao? Bây giờ ngồi ngay chỗ này thì tu làm sao?
- Dạ! Ngay bây giờ thì mình lắng lòng để nghe pháp, nghe Thầy giảng dạy.
- Vậy lúc không nghe pháp mà ra chơi thì tu làm sao?
- Mình làm gì thì rõ biết điều đó ạ!
- Bây giờ rõ biết gì trong tâm?
- Dạ! con đang suy nghĩ để trả lời những câu hỏi của Thầy.
- Cô hãy nhắm mắt lại nhìn sâu vào bên trong và nhận diện ngũ uẩn. Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức bây giờ như thế nào?
- Dạ thưa Thầy! Cảm giác của con hơi run, tưởng là những câu hỏi của Thầy.
- Những pháp mình đã được học phải thực hành, thực tập, phải thực nghiệm, chứng nghiệm.
Tăng sinh phát biểu:
- Thưa Giáo Thọ Sư! Cùng đại chúng. Trong giây phút hiện tại tâm có tham biết tâm có tham, khi mình đang sân biết mình đang sân, khi mình đang si, đang hôn trầm biết mình đang si, đang hôn trầm. Khi mình biết tham đó là khổ thì mình dùng phương pháp để loại trừ tham ra khỏi tâm mình, khi biết sân, si, hôn trầm hiện khởi trong tâm mình thì mình dùng phương pháp để loại trừ những ác pháp đó ra khỏi tâm mình, khi tâm mình có trạng thái an lạc rồi thì mình cũng ghi trạng thái an lạc.
Minh Thành xin mời quý vị khác, tu ngay bây giờ là tu như thế nào? Mình phải nắm được chìa khóa, pháp hành, mình không nắm được những điều này là uổng công mình học.
Ni sinh:
- Con kính bạch trên Thầy! Con xin trình bày những suy nghĩ trong con. Con đi trên đường để đến trường thì bị tắc đường, kẹt xe. Trong khi con dừng lại trên đường khi bị kẹt xe thì tâm con cảm giác khó chịu và nôn nóng trong suy nghĩ có ý hành là không biết mình đến có kịp giờ học hay không? Sau khi đi qua khỏi đoạn đường bị kẹt xe đó, ý hành khác lại sanh khởi suy nghĩ, thứ nhất không biết Thầy giáo đã vào lớp chưa? Thứ hai là con sợ mình đến trễ sẽ ảnh hưởng tới lớp học vì mình vào lớp trễ. Cảm giác của con khi vừa tới lớp học cảm thấy rất mệt vì con nghĩ rất ít khi đi trễ như vậy mà hôm nay con lại đi trễ như vậy nên cảm giác rất khó chịu.
II. Cốt Lõi Pháp Hành Nikāya
An Trú Cảm Giác Toàn Thân
Có rất nhiều pháp hành chúng ta đã được học nhưng không nhớ được; lý do không nhớ là vì không có sự thực hành. Tu là phải thực hành theo pháp ở bất cứ mọi lúc mọi nơi, chứ không phải đợi tới giờ lên tu mới gọi là tu. Và pháp cực kỳ quan trọng cần thực hành ở bất cứ mọi lúc mọi nơi là pháp an trú cảm giác toàn thân.
Cần luôn luôn quan sát cảm thọ trong người. Phần đi, đứng, nằm, ngồi các vị ở đây đã nắm rồi nên Minh Thành không nhắc lại; nghĩa là lúc nào mình cũng phải để ý thân hình của mình, phải để ý cảm thọ trong thân, phải tưới tẩm, nuôi dưỡng cảm giác hiền thiện, an tịnh. Bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào mình cũng phải để ý cảm giác toàn thân, từ đỉnh đầu cho tới gót chân cảm giác đang như thế nào?
Dục:
Nếu cảm thấy có một cảm giác lăng xăng, dao động, lúc đó lập tức làm cho nó an tịnh, lắng dịu, chúng ta phải để ý đây là pháp hành. Nếu mình để ý hiện tại trong thân mình và cảm thọ có một sự lăng xăng, dao động, vội vàng, hấp tấp, vục chạc, lập tức mình phải ra một pháp lệnh cho sắc thân này là: “An Tịnh, Lắng Dịu”, vì đây là hành pháp nên phải ra một pháp lệnh thật mạnh. Trong người mình không có pháp lấy gì mình có pháp lệnh, trong người không có pháp lấy gì mình có pháp hành, trong người mình không có pháp mình lấy gì để an trú pháp, trong người mình không có trí thì làm sao có pháp.
Khi mình thấy một thân sắc hiện tại nó đang có một sự vội vã, vội vàng, bộp chộp, gấp gáp, lăng xăng, dao động, trạo cử thì lập tức mình ra một pháp lệnh: “Này cảm thọ! An Tịnh, Lắng Dịu xuống coi, ta ra lệnh cho ngươi, an tịnh, lắng dịu ngay lập tức và ngay bây giờ”, đó là chúng ta tu. Phải thấy được thân tâm của mình, điều chỉnh thân tâm của mình, đưa nó vào đạo lộ, đưa nó vào sự hành trì, đưa nó vào Thánh Đạo. Nếu mình thấy trong cảm giác có sự thúc dục thì mình sẽ tác ý: “Bây giờ ngươi thúc dục cái gì đây? Ngươi khoái cái gì? Ngươi ái cái gì? Ngươi thích cái gì? Ngươi ham cái gì? Ngươi thèm cái gì? Ngươi khát cái gì? Lấy cái tay sờ lên cái đầu trọc đi, ngươi nhìn vào cái gương để soi đi”, phải quở trách tâm mình thường xuyên và liên tục.
Trách dục, la dục, mắng dục, chửi dục, nó là dục chứ không phải là mình. Vì cảm giác nó thúc dục, nó muốn ăn, muốn chơi, nó muốn đi đây đi đó, hí ha, hí hửng, buông lung, phóng dật, thả lỏng các căn, phải rầy la, quở trách, mắng chửi.
Trong kinh Pháp cú và trong kinh tạng Đức Phật nói:
Tự mình y chỉ mình
Tự mình đi đến mình
Vậy hãy tự điều phục
Như khách buôn ngựa hiền
Tự mình chỉ trích mình
Tự mình dò xét mình
Tỷ kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tỷ Kheo)
Trên đây là pháp hành, “tự mình đi đến mình”, “tự mình dò xét mình”, tức là quay lại nhận diện thân tâm, chứ không phải mình đi đến người ta, không phải mình đi đến Vũng Tàu, Rạch Giá, Hà Nội, Thái Lan, Mỹ, Úc…đi đến những nơi đó hoặc đi hết quả địa cầu này thì cũng tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não, đi hết thì cuối cùng cũng trở thành nắm tro, thành bộ xương, trở thành cát bụi không đến đâu hết. Đi đến mình thì mới nhiếp phục được tham, sân, si mới chấm dứt được sanh tử. Sự tu hành này là đi về mình, đi đến mình, chúng ta phải nhớ kỹ điều này.
Ngươi thúc giục cái gì? Ngươi tham muốn cái gì? Ngươi khoan khoái cái gì? Ngươi muốn thích cái gì ở trên cuộc đời này? Cha mẹ ngươi còn bỏ, anh em của ngươi còn bỏ, cô bác, ông bà thân quyến cùng một huyết thống ngươi còn bỏ vậy ngươi vào đây ngươi thích cái gì? Ngươi khoái cái gì? Ngươi dục cái gì? Ngươi ái cái gì? Kết thân với ai? Rầy tâm, la tâm, quở tâm, trách tâm, mắng tâm, chửi tâm đó là như lý tác ý, đó là tuệ lực, đó là Thánh tư duy, là Chánh tư duy, đó là sức mạnh của tri kiến. Một ngày la tâm bao nhiêu lần? Tại vì mình không chửi mắng tâm nên bên ngoài ai la, chửi tâm là mình sân lên liền, tự ái bản ngã liền, nếu mình thường la mắng tâm thì bên ngoài người ta la mắng thì mình sẽ thấy bình thường, không những không sân mà còn cảm ơn. “Tự mình đi đến mình”, “Tự mình dò xét mình. Tự mình chỉ trích mình”, ba phương diện, ba câu này là ba khía cạnh, ba góc độ là Chánh kiến, là nhìn thấy được chính mình, thấy đúng về mình, thấy chính xác về mình, thấy chân xác về mình, là thấy đúng về mình, thấy xác đáng về mình, thấy xác thực về mình, thấy bằng trí tuệ, thấy bằng Thánh trí, thấy bằng tri kiến của bậc Thánh. Không phải thấy bằng tình cảm thông thường để nuông chiều mình, bênh vực mình, để ôm ấp cái tự ngã của mình nó cao to lên, cái đó là cái thấy của phàm phu, thấy của ngu si, thấy của vô minh, thấy của chấp ngã, thấy của hơn thua, thấy của đúng sai, thị phi, tật đố, cái thấy đó chỉ đưa đến khổ đau, mình không cần đi tìm cái thấy đó, cái thấy đó đầy rẫy ở thế gian này rồi, mình hãy đi tìm cái thấy cao thượng hơn, thù thắng hơn, cái thấy xứng đáng bậc Thánh, thượng nhân pháp, cho nên phải nhận diện ngũ uẩn thường xuyên liên tục. Cho nên tự mình đi đến mình là mình quay trở về lúc nào cũng phải nhìn cái thân này mình đang làm cái gì đây thân? Khi mình nhìn bằng Tứ Niệm Xứ, khi mình bằng nhìn trí tuệ, khi mình nhìn bằng chánh quán, khi mình nhìn bằng Thánh trí thì lúc đó thân này là đối tượng của thiền quán, chứ không phải thân này là mình, thân này là đối tượng của trí tuệ để nó nhìn. Bây giờ mình nhìn lại cảm thọ: “Mày thúc dục cái gì? Mày ham muốn cái gì? Mày thèm khát cái gì? Mày khao khát cái gì? Mày khát ái dữ lắm phải không? Mày khát vô lượng, vô biên kiếp tới giờ mày vẫn còn khát phải không? La tâm, quở tâm, trách tâm, chửi tâm, mắng tâm, đánh đập cái tâm, nên mình phải tự mình chỉ trích mình chỉ có trong tạng kinh Nikāya mới chỉ rõ được như vậy. Chúng ta học trong tạng kinh Nikāya, chúng ta sẽ thấy được pháp hành, còn mình tu cứ đọc niệm mà không hiểu trong kinh nói gì, không biết cái gì, đọc cho tới chết trí tuệ cũng không có khai sáng lên được, mình không thấy mình làm sao mình có thể dọn dẹp rác bẩn trong con người mình, trong tâm mình. Cho nên: “Tự mình đi đến mình” là mình nhận diện ngũ uẩn, mình quan sát cảm thọ, tự mình dò xét mình, mình quan sát trong suy nghĩ của mình, hình bóng trong tâm. Nếu có suy nghĩ thì xem nó là suy nghĩ ác bất thiện pháp hay suy nghĩ thiện pháp. Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy, suy nghĩ của bản ngã, của hơn thua hay là suy nghĩ ly tham, ly dục, ly sân bất hại, đây là tư duy trong Bát Chánh Đạo, từ Chánh Kiến đi đến Chánh Tư Duy, từ thấy đúng đến suy nghĩ đúng, quán sát đúng. Đi đến mình, dò xét mình, chỉ trích mình, mình theo dõi nó, phải bám sát đối tượng.
Có một vị cao tăng ở bên Myanmar nói rằng: “Tâm không gắn liền đề mục thì cả đời buông lung, phóng dật”, cho nên khi gọi trình pháp không có gì để mà trình, mình không tu, mình không thực hành, tại vì mình không có gắn liền với đề mục. Đề mục tu hành của mình là cái gì? Phải có. Đề mục đó phải đúng với Thánh trí của Đức Phật dạy mình chứ không phải đề mục sau này người ta đưa ra, đưa ra trong vô minh, đưa ra trong mê tín, cầu xin, van xin, Đức Phật không dạy những điều này. Đức Phật dạy hãy quay lại nhìn thấy thân tâm của mình, nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch tất cả những điều làm cho mình khổ đau, tham, sân, si, dục, ái, bản ngã, Phật không nói mình đi cầu xin ai, ngay cả Đức Phật cũng không cầu xin Phật. Cho nên tâm không gắn với đề mục cả cuộc đời của mình buông lung, phóng dật, sống vất vơ, vất vưởng, như cô hồn, tâm không an trú vào Pháp.
Sân:
Chúng ta nhìn lại cảm giác sân hận nó khó chịu, bốc cháy, bực bội, gắt gỏng, ghim gút, cọc cằn, cau có, phẫn nộ, nhiệt não, nóng bức thì đó là những điều ác độc, khốn nạn, súc sanh, phải la tâm mình. Mình phải dùng những cảm thọ hiền thiện, tâm từ để mình đối trị nó, hóa giải những cảm xúc sân hận. Nó đang bừng, nó đang bốc, nó đang cháy, nó đang phẫn nộ. Chỉ cần ai nói nhẹ một câu là sừng sộ, phẫn nộ, sân hận, cau có, cọc cằn, như vậy là tâm quái vật, mình hãy nói thẳng vào cảm thọ: “Mày là quái vật như vậy đâu phải là người tu”, phải dùng từ cho mạnh, nói nhẹ nhẹ không thể trị nổi con quái vật khổng lồ vô lượng, vô biên kiếp tới nay, bao nhiêu là con yêu tinh trong Tây Du Ký là chỉ vào tâm của mình. Cái tâm sân là ma tâm. Đức Phật dạy: “Này các Tỷ-kheo, sắc là ma, thọ là ma, tưởng là ma, hành là ma, thức là ma”, sắc là kẻ giết người, mình đã bị nó giết vô số, vô lượng, vô biên kiếp, chứ không phải mới đây.
Sư Phụ hỏi một vị Tăng Sinh:
Thầy có bị Ngũ uẩn giết không?
Vị Tăng sinh trả lời:
- Kính bạch Giáo thọ sư, cùng đại chúng! Sắc nó giết mình nhiều lắm, chẳng những nó làm mình nhớ nhung, nó làm mình phải sầu não, nó làm mình phải bất an, khó chịu. Khi mình tuổi mới lớn biết yêu lần đầu, thấy đối tượng mà mình thích thú, mình yêu mến, để hình ảnh đó vào tâm trí, lúc tâm này không còn gắn liền vào cái thân này nữa mà tư tưởng nhớ về người mình yêu thích đó. Mối tình đầu đó nó làm mình phải sầu não, ghê gớm, nó làm mình có thể đi đến quyên sinh, tự tử, có thể bế tắc nếu không gặp được thiện hữu, những bậc thiện nhân, Thầy lành bạn sáng chỉ dạy cho mình, để tâm sự, mở tâm, khai tâm trí ra tìm ra con đường thoát khỏi sự ám ảnh đó, có thể cuộc đời mình sẽ tàn phế luôn, có khi rơi vào những căn bệnh trầm cảm, sầu não, ám ảnh, khó chịu, con người mình lúc đó như con ma. Con cũng từng bị lúc đang ngồi trên giảng đường đại học, con cũng bị trường hợp này, nên mấy ông thầy bạn có hỏi: “Thất tình nên mới đi tu hả?” Con cũng thấy rất là khổ đau khi trải qua giai đoạn đó, nó hủy hoại thân tâm, học hành không nổi, lúc đó con bị bế tắc, tối tăm, u ám, con thấy khổ lắm. Đó là những gì con đã từng trải qua.
Nhận diện như vậy rất tốt, phải vạch mặt nó ra, cái mặt ác độc của nó, cái mặt nó tàn bạo, nó hãm hại mà mình không thấy được kẻ thù, mình nâng niu, mình ôm ấp, mình sống chung với nó thì chết dài dài, chết hoài hoài, chết mãi mãi, chết vĩnh viễn, chết vô lượng, vô số, vô biên kiếp mà không thấy kẻ thù của mình, mình chơi thân với nó, mình kết thâm giao với nó, bây giờ mình phải ly dị với nó. Có ly dị với sắc không? Phải hướng tâm để ly nó vì nó làm cho mình khổ, nó làm cho mình sầu, nó làm cho mình đau, nó làm cho mình buồn, nó làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu, não, mình phải nhàm chán nó, phải quán thật là nhiều, phải quán tính nguy hại của sắc.
Quán Sự Nguy Hại Của Sắc
Chúng ta phải thiền quán sự nguy hiểm và tác hại của sắc, vì tất cả là thiền quán, không quán chiếu làm sao sanh trí tuệ, sắc nó ác độc lắm.
Bây giờ mình nói yêu thương, nhớ nhung, tương tư, khổ sầu, thất tình. Rồi mình có sân hận không? Có bị đốt cháy không? Mình có bị giam hãm ở trong đó không? Tâm nó cứ luẩn quẩn ở trong đó không biết đường đi ra, không phải chỉ giận người dưng mà người thân cũng hận thù với nhau. Cho nên cái sắc này nó chỉ có tham dục mà nó còn sân hận, hơn thua, bản ngã, vì mình vô minh, si mê, mù lòa, không thấy đường cho nên mình mới khổ vậy, nếu mình mở được con mắt Thánh, Thánh nhãn, Pháp nhãn, Trí nhãn, Minh nhãn, Tuệ nhãn mà mở ra thì mình đã nhàm chán nó từ lâu rồi, thứ ác độc, tai họa, thứ thống khổ, đau khổ, mình bị ăn bùa mê, thuốc lú tức là vô minh, bị có một chút xíu vị ngọt mà khổ cả cuộc đời. Kêu trời không thấu, kêu đất không xong, một chút xíu vị ngọt của nó là chết mê chết mệt, chết cay, chết đắng, chết nhục, chết nhã, chết hèn, chết hạ, chết tơi tả, chết tan tành, chết không thấy xác, chết bờ chết bụi, chết oan chết ức, chết tức chết tưởi, chết khổ chết sầu, chết đau chết đớn, nó ác độc như vậy mà mình không nhìn thấy được, cho nên mình phải ngồi thiền, nghiền ngẫm quán hết tất cả sự ác độc, nguy hiểm, tai họa, mình lôi hết tất cả những thứ làm cho mình khổ từ nhỏ cho đến lớn rồi mình điểm mặt, mình vạch mặt, chỉ mặt, mình đánh vào mặt nó rồi tác ý: “Đồ ác độc mày tan biến khỏi tâm ta đi, mày tham cái gì trong này. Trời đất ơi! Tao khổ với mày còn chưa đủ hay sao, mày chập chờn. Mày là ma hay sao mà ám ảnh ta hoài vậy? Hãy tan biến khỏi tâm ta đi”. Đó là Thánh trí tuệ dạy ta đánh đuổi, tẩy rửa những cáu bẩn trong tâm, đó là cốt tủy của kinh tạng Nikāya, đó là Thánh trí, là Tuệ giác. Nếu tu mà ngồi im ru không suy nghĩ gì, đơ đơ, trơ trơ, si si, mê mê, ám ám, ngơ ngơ, ngáo ngáo, biết ngày nào nó mới sanh khởi Tuệ giác, Thánh trí. Mình phải nghe Thánh trí và nhắc nhớ, nhắc tới nhắc lui, nhớ để sống trong đó tới lúc nhớ mãi không quên thể nhập Thánh trí. Phải quán chiếu nhìn sâu vào bên trong:
- Thứ nhất nhìn thân thể tức là quán thân trên thân.
- Thứ hai nhìn cảm thọ, nhìn vào cảm thọ xem nó có thúc dục gì không? Nó có bực bội khó chịu gì không? Nhiều khi trời nóng quá cũng bực, trời lạnh quá cũng khó chịu, đi một chút cũng mỏi chân, cũng sân, rồi ai chạm tới một chút cũng phẫn nộ. Mình không nhận diện ngũ uẩn thường xuyên thì mình sẽ không thấy rõ được các cảm thọ sanh khởi một cách rõ ràng để mình nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận các cơn sân hận.
Tăng sinh phát biểu: Sau khi con nghe Thầy hỏi về chữ sắc, ngay lúc này hình bóng trong tâm con nó hiện về, tưởng con nhớ về hồi năm lớp 4 con đã biết thương một người khác giới, cô đó là lớp trưởng. Ngay lúc đó hình bóng, sắc tưởng, và thanh tưởng của cô lớp trưởng đó hiện về, con nhớ lại là sự thích thú về những sắc đẹp đầu đời của mình, con đã tưởng lại, nhớ lại những hình ảnh của cô đó nói chuyện với ai tự nhiên trong tâm xuất hiện một cái tâm ghanh tỵ, không muốn cô gái đó tiếp xúc với bất kỳ người đàn ông nào trong lớp, có một cái tâm ghen tức, ích kỷ, hẹp hòi nó hiện lên và ngay lúc đó cái sắc tưởng hiện lên khuôn mặt của cô ấy làm sao, giọng nói của cô ấy như thế nào, hay để ý người ta như thế nào, từng cử chỉ nhỏ nhất như cái tay cô ấy cầm cây viết, khi cô ấy đứng phát biểu trên lớp, khẩu hình của cô ấy như thế nào con đều nhớ hết. Tới năm lớp 8 lại gặp một cô lớp trưởng khác, mỗi buổi sáng con đều bị cái sắc này nó ngự trị. Con đi học sớm hơn vì biết thường vào giờ đó là cô ấy đi vào trường. Con đứng ở hành lang để ngóng ra cổng trường trông ngóng, nhìn bóng dáng của cô ấy từ cổng trường vào trong lớp, hoặc có giờ thể dục lớp con và lớp của cô gái đó được học chung. Con nhớ lại những lời dạy của Thầy thì con thấy đã bị sắc nó ngự trị quá lâu trong tâm. Thứ nhất là mình bị mất thời gian, thứ hai là tâm tiêu cực, tâm ghen tức, tâm ích kỷ, hẹp hòi nó ngự trị trong con và đến khi sau này con xuất gia được học và thực tập những điều cơ bản nhất, mỗi lần đứng trước sắc đẹp thì con nhớ đến tình huống trong bộ phim Tây Du Ký, khi vị Thầy bị con yêu quái biến thành thiếu nữ, con yêu quái tiếp cận với ông Thầy là một hình tướng người nữ rất đẹp, khi ông Thầy đã mê muội rồi thì bắt đầu con yêu quái này nó sẽ xuất hiện và mọc lên những móng vuốt rất dài, lúc đó nó mới lấy những ngón tay dài đó sấn vào đầu của ông Thầy chảy máu và chết. Con lại nhớ tới Thầy Quảng Thiện dạy: “Người nào càng đẹp thì là yêu quái, mà yêu quái sẽ làm hại cho chính đời tu của mình, hủy hoại thân này của mình, lúc đó không còn hướng tới sự tu tập nữa mà luôn hướng tới sự đau khổ và luôn bị sự đau khổ ngự trị”. Khi con gặp trước sắc đẹp con lại bị đắm chìm ở trong đó, bị lôi cuốn, lúc đó con suy nghĩ rằng chẳng nhẽ đời tu của mình có thể từ bỏ hết cha mẹ của mình là người gần gũi nhất của mình, là người thân yêu nhất của mình có thể từ bỏ được mà những người này chỉ là người dưng sao mình còn ôm ấp, không từ bỏ được thì thật uổng phí đời tu. Nếu mình cứ đắm chìm trong sắc dục thì mình còn đau khổ dài dài, ngay lúc đó những khát ái, những tham muốn, những tâm lý muốn chiếm đoạt người mà mình yêu thương từ từ con thấy nó bớt dần, cứ theo năm tháng như vậy dần nó phai nhạt trong tâm trí con. Lúc trước khi con nhìn những hình bóng, hình tướng đẹp thì trong tâm con khởi lên những tham muốn, thích thú về sắc đẹp đó giờ giảm dần theo năm tháng. Có những lúc con nhớ về hình bóng tần xuất nhiều nhưng giờ đây đã giảm dần do con đã biết cách tác ý liên hệ tới cuộc đời của Đức Phật, lời dạy của những vị Sư phụ và những cảnh khổ của những vị tu sĩ khi mà bị sắc dục chi phối, chế ngự, những đau khổ của những vị tu sĩ đó phải chịu đựng thì trong tâm con nó bắt đầu giảm bớt. Nên con thấy học bộ môn này rất hữu ích.
Đó là mình quán sự nguy hiểm và tác hại của sắc, sự nguy hiểm và tác hại của dục, mình phải triển khai thiền quán, chiêm nghiệm, phải quán sát, tư duy, phải nghiền ngẫm, phải đổ phá, phải đánh phá, phải phá tan, phá vỡ, phá banh, phá nát, phá sập cái hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa của dục sắc ở trong thân tâm của mình, tu đâu phải là phớt phớt, chơi chơi được, mình phải gia công dụng hạnh, dồn lực, dồn sức, dồn tâm của mình, phải tận lực, không phải chuyện dễ là qua ải. “Tự cổ anh hùng nan quá mỹ nhân quan” là từ xưa đến nay anh hùng khó qua ải mỹ nhân và tất cả người nữ là yêu quái của nam nhân và nam nhân cũng là yêu quái của nữ nhân, Sắc chính là yêu quái. Một vị Tỷ-kheo bạch với Thế Tôn:
“ Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
"Màra, Màra", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là Màra?
Nếu có sắc, này Ràdha, thời có chết (Màra) hay có sát giả (Màretà), hay có sự chết (Miiyati). Do vậy, này Ràdha, Ông hãy thấy sắc là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy sắc như vậy là thấy chơn chánh”
Tại sao sắc là ma? Tại vì mình đam mê vào sắc thì mình sẽ bị sanh tử mà tử thì là đám ma, chính vì vậy sắc là ma, ma sắc. Thọ, tưởng, hành, thức là ma tâm. Tại vì cái sắc này mình đối diện với nó có một chút, nhưng ma tâm nó khủng khiếp. Cũng như câu chuyện của quý Thầy từ lớp 4 đến bây giờ nhắc tới là nhớ liền. Nó an trú ở trong đó, nó có chân đứng ở trong thọ, tưởng, hành, thức của mình mà vì vô minh, vì si mê, vì không có trí tuệ nên mình không biết đó là hang ổ, là sào huyệt, căn cứ địa, không biết được nhân duyên tập khởi của nó, tức là từ đâu mà nó nhen nhúm, nó manh nha, rồi nó có chỗ đứng trong tâm của mình mà mình không thấy, không biết, nó vận hành ra sao? Nó xâm chiếm, nó áp đảo, nó làm cho mình đau khổ, sầu bi khổ ưu não như thế nào mình cũng không hay. Bây giờ mình muốn diệt tận, đoạn tận, sắc diệt mình cũng không biết như vậy mình không biết sắc tập khởi, không biết sắc đoạn diệt cho nên mình mới khổ đau, mình mới luân hồi. Mình học Thánh trí ngũ uẩn mình có được sanh diệt trí về năm uẩn. Sanh diệt trí là gì? Là một trí tuệ thấy được căn nguyên nguồn cội từ đâu mà nó sanh khởi và làm thế nào cho nó chấm dứt? Chúng ta đang học 37 loại trí: 7 trí sắc, 7 trí thọ, 7 trí tưởng, 7 trí hành, 7 trí thức.
Bảy trí về sắc sanh
- Sắc sanh: là do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi.
- Sắc diệt: do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt.
- Sắc diệt đạo: Phương pháp Tám đúng là con đường đưa đến
- Sắc diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Sắc đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.
-Vị ngọt của sắc: Do duyên Sắc khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Sắc.
- Sự nguy hại của sắc: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Sắc, đó là nguy hại của Sắc.
- Sự xuất ly của sắc: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Sắc. Đây là sự xuất ly của Sắc.
Bảy Trí về Thọ
Thọ: Được cảm thọ nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Được cảm thọ, nên gọi là thọ”
Thọ sanh: Do Xúc tập khởi nên Thọ tập khởi.
Thọ diệt: Do Xúc đoạn diệt nên Thọ đoạn diệt.
Thọ diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Thọ đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.
Vị ngọt của thọ: Do duyên Thọ khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của T
Sự nguy hại của thọ: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Thọ, đó là nguy hại của Thọ.
Sự xuất ly của: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Thọ, đó là sự xuất ly của Thọ.
Và các loại trí tuệ về Tưởng, hành, thức chúng ta sẽ học trong những tiết học sắp tới.
Các loại trí tuệ này chúng ta phải học thuộc lòng như Chú Đại Bi, như Chú Vãng Sanh, như Lăng Nghiêm. Tất cả sự tu này đều rất quan trọng đó là tu ngay bây giờ, tu ngay tại chỗ ngồi, những hình ảnh xuất hiện là mình phải đánh phá liền, những suy nghĩ xuất hiện là mình cũng phải diệt nó liền, những cảm giác xuất hiện mình cũng phải đánh đuổi nó đi. Trong sự tu tập mình phải quán, phải tác ý, phải tư duy mang cái hình hài này là một tai họa, là một sự bất hạnh, là một sự bệnh hoạn, ung nhọt: “Này các Tỷ-kheo, một ung nhọt đã trãi nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy” trích (Một Ung Nhọt – Kinh Tăng Chi Bộ). Mình phải nhớ hoài mỗi khi mình đi tiểu, đi đại tiện mình phải nhìn kỹ và ngửi cái mùi đó, mình đưa cảm thọ và nhận định một cách sâu sắc những thứ bẩn thỉu, hôi thối đó là từ trong thân của mình đưa ra ngoài. Mồ hôi nó chảy ra, nước mũi nó chảy ra, cứt mũi nó chảy ra, cứt ráy nó chảy ra, nước miếng nó chảy ra, máu nó chảy ra, mỡ nó chảy ra, nước tiểu, phân nó chảy ra thì mình phải thọ. Phải cảm thọ một cách sâu sắc, một sự thật phũ phàng, nó nhơ nhớp như vậy mà cái tâm mê, hôn mê, hôn ám, si ám, ngu muội, ăn cháo lú, lú tức là vô minh. Vô minh và khát ái là hai cái tên đầu xỏ, tổng tư lệnh, tổng chỉ huy, nếu mình ngồi im không quán chiếu thì làm sao có diệt nó được khỏi tâm thức u mê này. Tâm tâm, niệm niệm, giờ giờ, phút phút từng suy nghĩ, từng hình bóng, từng cảm giác là mình đánh phá hai cái tên vô minh và khát ái, tổng tư lệnh, bộ chỉ huy là những thứ ác độc nhất nó đang ngấm ngầm hoạt động trong thân tâm của mình. Chúng ta quan sát kỹ khi mình nghe Thánh pháp thì bên trong có một cái tâm chống đối lại, nó thấy thân này đẹp, dễ thương sao lại nói quán bất tịnh. Ví dụ có ai nói cô thối hoắc, ông Thầy dơ bẩn, hôi hám, lúc đó mình thấy sao? Sân hận lên mà cái đó là sự thật, tại sao mình sân? Tại vì mình ăn cháo lú, tại vì vô minh, tại vì si mê, tại vì hôn ám cho nên người ta nói sự thật là mình bực bội, mình sân hận. Chính vì vậy khi Đức Thế Tôn chứng Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài không muốn thuyết pháp, Ngài nói: “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưu ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Đối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Y tánh duyên khởi pháp; thật khó mà thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta!" (trích Kinh Thánh Cầu – Trung Bộ Kinh). Lúc đó Phạm thiên Sahampati là Ta bà chủ ở ngoài đời gọi là Đấng sáng thế, vị cao nhất trong tất cả các tầng trời, Ngài thấy Đức Thế Tôn suy nghĩ như vậy Ngài lo lắng, sợ hãi, Ngài nghĩ chúng sanh sẽ bị mù lòa, chúng sanh sẽ bị chìm đắm, chúng sanh sẽ bị khổ, lập tức trong khoảng co cánh tay, duỗi cánh tay, từ phạm thiên giới Ngài hiện trước mặt Đức Thế Tôn và quỳ dưới chân của Đức Thế Tôn, bạch với Đức Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại nếu không được nghe Chánh pháp. (Nếu được nghe), những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp". Ngài xin với Đức Thế Tôn ba lần, với lời thỉnh cầu, khát ngưỡng như vậy Đức Thế Tôn mới đồng ý thuyết pháp, tại vì pháp này không dễ học, không dễ nghe, không dễ hành. Sau đó Đức Thế Tôn bằng Phật Nhãn đã quán chiếu: “Này các Tỷ-kheo, sau khi biết được lời Phạm thiên yêu cầu, vì lòng từ bi đối với chúng sanh, với Phật nhãn, Ta nhìn quanh thế giới. Này các Tỷ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm”. Chúng ta tu trong chùa cho tới chết chưa chắc gì trong cuộc đời đã được nghe Chánh pháp này một lần, nếu chúng ta không học kinh tạng Nikāya. Chúng ta có được pháp như thế này không? Thâm sâu như thế này không? Chúng ta chỉ được nghe những thứ vuốt ve cho khoái, cho thích đưa lên trên mây để tăng trưởng dục ái thêm lên đối với sắc pháp, sắc uẩn chứ không đưa đến nhiếp phục, diệt tận hoàn toàn cái sắc uẩn đầy vô thường, khổ đau, trống rỗng, vô ngã này, đó là giá trị của Chánh Pháp tối thượng này, Thánh trí là như vậy. Đức Phật chứng ngộ nguyên nhân, sanh khởi, hình thành, an trú và hoại diệt của tất cả thân xác, cảm giác này, hình bóng này, suy nghĩ này, nhận thức này, Đức Phật được chứng ngộ tất cả mọi góc độ, phương diện, khía cạnh của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Từ đâu nó sanh, nó an trú như thế nào, nó vận hành thế nào? Nó diệt tận như thế nào? Làm sao cho nó diệt? Đức Phật đều có cách chứng ngộ tất cả các loại trí tuệ đó. Đó là Thánh trí của Đức Phật.
Sư Phụ hỏi: Cảm giác từ đâu sanh?
Tăng sinh trả lời: Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do duyên có mắt và các sắc, do duyên có tai nghe tiếng, do mũi ngửi mùi, do duyên có lưỡi và các vị, do duyên có thân và sự đụng chạm, do duyên có ý và các pháp (Thọ, Tưởng, Hành). Do xúc sanh thọ, sanh ái, sanh khổ, sanh nghiệp, sanh dục.
Xúc tập khởi là thọ tập khởi cho nên Đức Phật trình bày sự chứng ngộ của Ngài. Tại sao có cái hình hài này? Tại sao có cảm giác? Tại sao trong tâm có hình bóng? Tại sao có suy nghĩ? Do xúc tập khởi nên Thọ, Tưởng, Hành tập khởi. Học kinh Nikāya này phải học thuộc lòng, không thể nói chung chung vì nếu nói chung chung mình sẽ diễn giải sai, mất Chánh Pháp. Trí tuệ này là Thánh trí nếu sai một chữ là sai một ly đi một dặm. Cho nên ngay tại đây mình tu như thế nào? Mình phải đánh phá vô minh và khát ái:
- Vô minh là không thấy ngũ uẩn (không thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức) thấy một cái tôi, một cái ta, một cái ngã, một cái mình, một con người, một ông Thầy, một Sư Cô, tôi là Đại đức, tôi là Thượng tọa, tất cả những cái thấy như vậy là vô minh, không thấy được ngũ uẩn.
Nhớ hay quên, học bài nhớ được bao lâu? Nếu không thực hành. Học là phải học thuộc lòng và còn phải nhắc nhớ thường xuyên.
- Khái ái: Phá khát ái cũng phải như lý tác ý, quán chiếu nhiều phương diện trong phần quán thân; quán bất tịnh, quán 32 thể trược, 9 giai đoạn tử thi, quán sự nguy hiểm và tác hại của sắc. Khát ái ở đây không phải chỉ có ái dục mà có rất nhiều loại ái như sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Hình bóng trong tâm mình cũng ái, diễn viên trên phim cũng làm cho mình ái, nhớ nhung, thương mến, tự làm cho mình khổ vì họ có biết mình là ai đâu đó là pháp ái là những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ, rồi mình giận, mình hờn, mình yêu, mình thương, mình mơ, mình mộng, mình tưởng, mình đau khổ, sầu muộn. Tự mình làm khổ mình, tự mình dày vò mình nên dẫn đến khổ đau
Như Lý Tác Ý:
Như lý tác ý là: Tác động tâm ý đúng như chân lý. Chân lý là Thánh trí ngũ uẩn của Đức Phật, tức là Kinh tạng Nikāya chính là giáo pháp nguyên chất của Đức Phật, chính là lời dạy nguyên gốc của Đức Phật. Chính là con đường, đạo lộ, phương pháp, cách thức mà từ một thái tử Tất Đạt Đa trở thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chính là con đường này, đạo lộ này, là phương pháp này, là cách quán này, là cách tu này, là cách hành trì này. Nếu chúng ta không nắm được là vĩnh viễn và mãi mãi chúng ta chỉ tu được ở trong nhân thiên pháp. Tức là chỉ có những thiện pháp trong cõi người và cõi trời không chấm dứt được sanh tử, không thể thoát ra khỏi ngũ uẩn được. Tất cả những điều mình tu, mình học mà mình không thành tựu Thánh trí ngũ uẩn thì mình sẽ ở luẩn quẩn trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không đi ra được khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Con đường này chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác duy nhất không có người thứ hai nói được, sau đó là các bậc Thánh A-la-hán, sau đó nữa là những người được hai vị này nói. Phương pháp này thất truyền sau thời Đức Phật 500 năm cho tới bây giờ. Thời kỳ Chánh pháp được 500 năm sau khi Đức Phật nhập diệt, sau 500 năm Đức Phật nhập diệt cho tới bây giờ là thời kỳ tượng pháp. Cho nên chúng ta phải nắm thật là vững, thật là kỹ, thật là rõ, nếu không chúng ta sẽ tu lòng vòng, tu lờ mờ, tu tới đâu không biết, tu bất khả tư nghì nói không được, khó nói. Cũng như mình đi ra ngoài đường mà không biết đi tới đâu. Sự tu của chúng ta hiện nay là chung chung không rõ ràng. Còn chúng ta tu theo tạng kinh Nikāya rất rõ ràng, rành mạch. Thế nào là bậc Dự Lưu? Thế nào là bậc Nhất Lai? Thế nào là bậc Bất Lai? Thế nào là bậc Vô sanh? Rõ ràng, minh bạch, tỏ tường, trong sáng đi tới đâu mình biết tới đó.
Cho nên ngay bây giờ và ở đây mình luôn phá vô minh bằng cách nhận diện ngũ uẩn, nếu mình không nhận diện ngũ uẩn thì làm sao phá vô minh và hết vô minh. Cho nên ngày nào cũng phải nhận diện ngũ uẩn. Bây giờ những dục vọng, những ác tham, sân hận, bản ngã, vô minh của con người là khủng khiếp, kinh hãi, những ác và bất thiện pháp bây giờ là khủng hoảng. Đến nỗi mà các nhà nghiên cứu về đạo đức phải gọi là khủng hoảng đạo đức toàn cầu, khủng hoảng nhân đạo cả thế giới, dùng những từ mà từ xưa đến nay chưa từng nghe, hiện nay nó đang diễn ra sự thật trên cuộc đời này.
TÓM TẮT NGŨ UẨN GIẢNG GIẢI 31
CỐT LÕI PHÁP HÀNH NIKĀYA 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Những Việc Quan Trọng Trong Hiện Tại PAGEREF _Toc130031383 \h 1
II.Cốt Lõi Pháp Hành Nikāya 4
1. Cảm Giác An Trú Toàn Thân4
2. Trách Dục5
3. Cảm Giác Sân Hận8
4. Quán Sự Nguy Hại Của Sắc10
5. Như Lý Tác Ý18
Những Việc Quan Trọng Trong Hiện Tại
Hôm nay chúng ta sẽ học pháp hành Nikāya, Minh Thành xin hỏi quý Thầy, quý Cô: Thời gian nào là thời gian quan trọng nhất? Công việc nào là công việc quan trọng nhất? Con người nào là con người quan trọng nhất?
Thời gian quan trọng nhất là hiện tại ngay bây giờ, công việc quan trọng nhất là giờ học hiện tại, người quan trọng nhất là người bên cạnh mình hiện tại.
Công việc mình đang làm có phải là quan trọng nhất không? Vậy công việc mình đang làm là công việc gì? Nếu học mà không chuẩn bị, tức là tâm không có chánh niệm trong việc mình đang làm. Trong kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Phật có dạy: “Thân thể mình được sử dụng như thế nào phải rõ biết là nó như thế đó”.
Minh Thành xin thưa với quý Thầy, quý Cô tới nay thời gian đi dạy cũng gần 20 năm và tham dự hàng ngàn pháp hội để chia sẻ pháp, nhưng rất ít khi Minh Thành đi trễ, nếu có đi trễ thì rơi vào trường hợp bất khả kháng. Những buổi giảng hay những buổi lên lớp dạy thì Minh Thành đi trước nửa tiếng hoặc cả tiếng đồng hồ đó là chỗ gần, còn ở xa thì phải đi trước mấy tiếng.
Nhớ hồi chùa Hoằng Pháp mở chương trình Phật Học Thường Thức đầu tiên, Hòa thượng trụ trì giao cho Minh Thành chương trình này, thường thì Minh Thành đi trước 2 tiếng đồng hồ, lúc bấy giờ đi tới một con đường bị chặn ngang, sửa đường, kẹt xe, không đi đường đó được, lúc đó Minh Thành phải bắt xe Honda ôm quay ngược trở lại vẫn bị trễ 5 phút đó là lần duy nhất trong những năm đi dạy và đi giảng pháp bị trễ giờ. Tăng Ni sinh đi học cũng vậy cứ mỗi ngày đi học trễ 5 phút mà kéo dài trong suốt quá trình đi học vậy thì mất rất nhiều thời gian. Rồi khi mình lên lớp học với thái độ học như thế nào? Mình có tập trung tâm ý lắng tai nghe pháp không? Có đem hết tất cả tâm lực của mình, đem hết tất cả sự chú ý chú tâm để tập trung nghe hay không? Trong khi nghe mà có năm triền cái mình không tiếp nhận pháp một cách trọn vẹn được. Cho nên tại sao ngài A-nan-da được ca ngợi là:
Mặt như trăng thu đầy
Mắt tựa hoa sen xanh
Phật pháp như biển cả
Rót vào tâm A-nan.
Đây là bài kệ nổi tiếng với nội dung ca ngợi Tôn giả A-nan-da. Mỗi khi nghe pháp, Ngài A-nan-da không có năm triền cái (gồm có tham, sân, hôn trầm thùy miên, trạo cử, hoài nghi). Cho nên, khi nghe pháp không phải chúng ta chỉ cần có mặt là đủ; mà sự tập trung tâm ý, lóng tai nghe pháp ở mức độ nào càng quan trọng hơn. Vì vậy, việc quan trọng chúng ta đang làm ngay hiện tại bây giờ là mình đang ngồi học.
Cũng vậy, khi hành thiền, điều quan trọng là mình đang hành thiền với tâm gì? Nếu năm triền cái có mặt trong giờ hành thiền thì đó là một giờ hành thiền bằng tâm mờ tối, yếu ớt, không mắt, mù lòa, thiếu trí, không thể đi vào sơ thiền. Ngồi thiền với tâm lơ mơ, mắt lờ mờ, mình cứ để tâm chìm vào chỗ mờ tối như vậy tức là rơi vào hôn trầm (trầm là chìm, hôn là hôn mê), mờ mịt. Hoặc ngồi thiền mà mình gãi chỗ này, ngứa chỗ kia, mỏi chỗ này, đau chỗ kia, thân bị dao động; trong tâm thì nhớ lại những chuyện bực mình, sân hận; hoặc tiếc nuối chuyện này chuyện kia, chẳng hạn đơn giản như tiếc vì không được ăn món bún mắm ưa thích.... Những giờ ngồi thiền như vậy là tâm bị năm triền cái xâm chiếm, áp đảo, làm yếu ớt trí tuệ, tác thành mù lòa, tác thành không mắt, tác thành không trí.
Cho nên chúng ta phải để ý rất nhiều trong những việc làm của chúng ta, tại sao chúng ta làm việc không hiệu quả nếu có hiệu quả thì ít? Nguyên nhân từ đâu? Cũng như mình tu học hoài mà không thấy pháp, tu hoài cũng không thấy tinh tiến trí tuệ, không thành tựu pháp Tín, Tấn, Niệm, Định Tuệ, Ngũ căn, Ngũ lực hay thành tựu những trí tuệ về khổ, nguyên nhân của khổ. Học hoài không thấy là do cách học của mình để cho năm triền cái xâm chiếm. Quan trọng trong sự tu học không phải ngày hôm qua, cũng không phải là ngày mai mà ngay hôm nay, tu ngay lúc này. Người mà nghĩ rằng ngày mai mới tu, tuần sau mới tu, tháng sau mới tu, lớn tuổi mới tu, học xong mới đi nhập thất, người này chưa thấy pháp, chưa hiểu pháp, người hiểu pháp là tu ngay lúc này, ở đây và ngay bây giờ, tại chỗ này, hiện tại.
Sư Phụ hỏi một Ni Sinh:
- Tu hiện tại là tu làm sao?
- Mô Phật! Bạch Thầy tu trong hiện tại ngay phút này là chánh niệm tỉnh giác ngay trong giây phút hiện tại.
- Chánh niệm tỉnh giác ngay trong giây phút hiện tại là như thế nào?
- Khi bước đi mình biết đang bước đi.
- Điều đó rất nhỏ không thể đủ sức để đâm thủng khối vô minh uẩn to lớn.
- Khi có một điều gì đó mà bất ý nghịch lòng với mình, khi tâm mình khởi lên cái gì thì mình rõ biết điều đó.
- Bây giờ bất ý nghịch lòng tới mình mới tu, lúc mình vừa ý thì tu làm sao? Bây giờ ngồi ngay chỗ này thì tu làm sao?
- Dạ! Ngay bây giờ thì mình lắng lòng để nghe pháp, nghe Thầy giảng dạy.
- Vậy lúc không nghe pháp mà ra chơi thì tu làm sao?
- Mình làm gì thì rõ biết điều đó ạ!
- Bây giờ rõ biết gì trong tâm?
- Dạ! con đang suy nghĩ để trả lời những câu hỏi của Thầy.
- Cô hãy nhắm mắt lại nhìn sâu vào bên trong và nhận diện ngũ uẩn. Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức bây giờ như thế nào?
- Dạ thưa Thầy! Cảm giác của con hơi run, tưởng là những câu hỏi của Thầy.
- Những pháp mình đã được học phải thực hành, thực tập, phải thực nghiệm, chứng nghiệm.
Tăng sinh phát biểu:
- Thưa Giáo Thọ Sư! Cùng đại chúng. Trong giây phút hiện tại tâm có tham biết tâm có tham, khi mình đang sân biết mình đang sân, khi mình đang si, đang hôn trầm biết mình đang si, đang hôn trầm. Khi mình biết tham đó là khổ thì mình dùng phương pháp để loại trừ tham ra khỏi tâm mình, khi biết sân, si, hôn trầm hiện khởi trong tâm mình thì mình dùng phương pháp để loại trừ những ác pháp đó ra khỏi tâm mình, khi tâm mình có trạng thái an lạc rồi thì mình cũng ghi trạng thái an lạc.
Minh Thành xin mời quý vị khác, tu ngay bây giờ là tu như thế nào? Mình phải nắm được chìa khóa, pháp hành, mình không nắm được những điều này là uổng công mình học.
Ni sinh:
- Con kính bạch trên Thầy! Con xin trình bày những suy nghĩ trong con. Con đi trên đường để đến trường thì bị tắc đường, kẹt xe. Trong khi con dừng lại trên đường khi bị kẹt xe thì tâm con cảm giác khó chịu và nôn nóng trong suy nghĩ có ý hành là không biết mình đến có kịp giờ học hay không? Sau khi đi qua khỏi đoạn đường bị kẹt xe đó, ý hành khác lại sanh khởi suy nghĩ, thứ nhất không biết Thầy giáo đã vào lớp chưa? Thứ hai là con sợ mình đến trễ sẽ ảnh hưởng tới lớp học vì mình vào lớp trễ. Cảm giác của con khi vừa tới lớp học cảm thấy rất mệt vì con nghĩ rất ít khi đi trễ như vậy mà hôm nay con lại đi trễ như vậy nên cảm giác rất khó chịu.
II. Cốt Lõi Pháp Hành Nikāya
An Trú Cảm Giác Toàn Thân
Có rất nhiều pháp hành chúng ta đã được học nhưng không nhớ được; lý do không nhớ là vì không có sự thực hành. Tu là phải thực hành theo pháp ở bất cứ mọi lúc mọi nơi, chứ không phải đợi tới giờ lên tu mới gọi là tu. Và pháp cực kỳ quan trọng cần thực hành ở bất cứ mọi lúc mọi nơi là pháp an trú cảm giác toàn thân.
Cần luôn luôn quan sát cảm thọ trong người. Phần đi, đứng, nằm, ngồi các vị ở đây đã nắm rồi nên Minh Thành không nhắc lại; nghĩa là lúc nào mình cũng phải để ý thân hình của mình, phải để ý cảm thọ trong thân, phải tưới tẩm, nuôi dưỡng cảm giác hiền thiện, an tịnh. Bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào mình cũng phải để ý cảm giác toàn thân, từ đỉnh đầu cho tới gót chân cảm giác đang như thế nào?
Dục:
Nếu cảm thấy có một cảm giác lăng xăng, dao động, lúc đó lập tức làm cho nó an tịnh, lắng dịu, chúng ta phải để ý đây là pháp hành. Nếu mình để ý hiện tại trong thân mình và cảm thọ có một sự lăng xăng, dao động, vội vàng, hấp tấp, vục chạc, lập tức mình phải ra một pháp lệnh cho sắc thân này là: “An Tịnh, Lắng Dịu”, vì đây là hành pháp nên phải ra một pháp lệnh thật mạnh. Trong người mình không có pháp lấy gì mình có pháp lệnh, trong người không có pháp lấy gì mình có pháp hành, trong người mình không có pháp mình lấy gì để an trú pháp, trong người mình không có trí thì làm sao có pháp.
Khi mình thấy một thân sắc hiện tại nó đang có một sự vội vã, vội vàng, bộp chộp, gấp gáp, lăng xăng, dao động, trạo cử thì lập tức mình ra một pháp lệnh: “Này cảm thọ! An Tịnh, Lắng Dịu xuống coi, ta ra lệnh cho ngươi, an tịnh, lắng dịu ngay lập tức và ngay bây giờ”, đó là chúng ta tu. Phải thấy được thân tâm của mình, điều chỉnh thân tâm của mình, đưa nó vào đạo lộ, đưa nó vào sự hành trì, đưa nó vào Thánh Đạo. Nếu mình thấy trong cảm giác có sự thúc dục thì mình sẽ tác ý: “Bây giờ ngươi thúc dục cái gì đây? Ngươi khoái cái gì? Ngươi ái cái gì? Ngươi thích cái gì? Ngươi ham cái gì? Ngươi thèm cái gì? Ngươi khát cái gì? Lấy cái tay sờ lên cái đầu trọc đi, ngươi nhìn vào cái gương để soi đi”, phải quở trách tâm mình thường xuyên và liên tục.
Trách dục, la dục, mắng dục, chửi dục, nó là dục chứ không phải là mình. Vì cảm giác nó thúc dục, nó muốn ăn, muốn chơi, nó muốn đi đây đi đó, hí ha, hí hửng, buông lung, phóng dật, thả lỏng các căn, phải rầy la, quở trách, mắng chửi.
Trong kinh Pháp cú và trong kinh tạng Đức Phật nói:
Tự mình y chỉ mình
Tự mình đi đến mình
Vậy hãy tự điều phục
Như khách buôn ngựa hiền
Tự mình chỉ trích mình
Tự mình dò xét mình
Tỷ kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Tỷ Kheo)
Trên đây là pháp hành, “tự mình đi đến mình”, “tự mình dò xét mình”, tức là quay lại nhận diện thân tâm, chứ không phải mình đi đến người ta, không phải mình đi đến Vũng Tàu, Rạch Giá, Hà Nội, Thái Lan, Mỹ, Úc…đi đến những nơi đó hoặc đi hết quả địa cầu này thì cũng tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não, đi hết thì cuối cùng cũng trở thành nắm tro, thành bộ xương, trở thành cát bụi không đến đâu hết. Đi đến mình thì mới nhiếp phục được tham, sân, si mới chấm dứt được sanh tử. Sự tu hành này là đi về mình, đi đến mình, chúng ta phải nhớ kỹ điều này.
Ngươi thúc giục cái gì? Ngươi tham muốn cái gì? Ngươi khoan khoái cái gì? Ngươi muốn thích cái gì ở trên cuộc đời này? Cha mẹ ngươi còn bỏ, anh em của ngươi còn bỏ, cô bác, ông bà thân quyến cùng một huyết thống ngươi còn bỏ vậy ngươi vào đây ngươi thích cái gì? Ngươi khoái cái gì? Ngươi dục cái gì? Ngươi ái cái gì? Kết thân với ai? Rầy tâm, la tâm, quở tâm, trách tâm, mắng tâm, chửi tâm đó là như lý tác ý, đó là tuệ lực, đó là Thánh tư duy, là Chánh tư duy, đó là sức mạnh của tri kiến. Một ngày la tâm bao nhiêu lần? Tại vì mình không chửi mắng tâm nên bên ngoài ai la, chửi tâm là mình sân lên liền, tự ái bản ngã liền, nếu mình thường la mắng tâm thì bên ngoài người ta la mắng thì mình sẽ thấy bình thường, không những không sân mà còn cảm ơn. “Tự mình đi đến mình”, “Tự mình dò xét mình. Tự mình chỉ trích mình”, ba phương diện, ba câu này là ba khía cạnh, ba góc độ là Chánh kiến, là nhìn thấy được chính mình, thấy đúng về mình, thấy chính xác về mình, thấy chân xác về mình, là thấy đúng về mình, thấy xác đáng về mình, thấy xác thực về mình, thấy bằng trí tuệ, thấy bằng Thánh trí, thấy bằng tri kiến của bậc Thánh. Không phải thấy bằng tình cảm thông thường để nuông chiều mình, bênh vực mình, để ôm ấp cái tự ngã của mình nó cao to lên, cái đó là cái thấy của phàm phu, thấy của ngu si, thấy của vô minh, thấy của chấp ngã, thấy của hơn thua, thấy của đúng sai, thị phi, tật đố, cái thấy đó chỉ đưa đến khổ đau, mình không cần đi tìm cái thấy đó, cái thấy đó đầy rẫy ở thế gian này rồi, mình hãy đi tìm cái thấy cao thượng hơn, thù thắng hơn, cái thấy xứng đáng bậc Thánh, thượng nhân pháp, cho nên phải nhận diện ngũ uẩn thường xuyên liên tục. Cho nên tự mình đi đến mình là mình quay trở về lúc nào cũng phải nhìn cái thân này mình đang làm cái gì đây thân? Khi mình nhìn bằng Tứ Niệm Xứ, khi mình bằng nhìn trí tuệ, khi mình nhìn bằng chánh quán, khi mình nhìn bằng Thánh trí thì lúc đó thân này là đối tượng của thiền quán, chứ không phải thân này là mình, thân này là đối tượng của trí tuệ để nó nhìn. Bây giờ mình nhìn lại cảm thọ: “Mày thúc dục cái gì? Mày ham muốn cái gì? Mày thèm khát cái gì? Mày khao khát cái gì? Mày khát ái dữ lắm phải không? Mày khát vô lượng, vô biên kiếp tới giờ mày vẫn còn khát phải không? La tâm, quở tâm, trách tâm, chửi tâm, mắng tâm, đánh đập cái tâm, nên mình phải tự mình chỉ trích mình chỉ có trong tạng kinh Nikāya mới chỉ rõ được như vậy. Chúng ta học trong tạng kinh Nikāya, chúng ta sẽ thấy được pháp hành, còn mình tu cứ đọc niệm mà không hiểu trong kinh nói gì, không biết cái gì, đọc cho tới chết trí tuệ cũng không có khai sáng lên được, mình không thấy mình làm sao mình có thể dọn dẹp rác bẩn trong con người mình, trong tâm mình. Cho nên: “Tự mình đi đến mình” là mình nhận diện ngũ uẩn, mình quan sát cảm thọ, tự mình dò xét mình, mình quan sát trong suy nghĩ của mình, hình bóng trong tâm. Nếu có suy nghĩ thì xem nó là suy nghĩ ác bất thiện pháp hay suy nghĩ thiện pháp. Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy, suy nghĩ của bản ngã, của hơn thua hay là suy nghĩ ly tham, ly dục, ly sân bất hại, đây là tư duy trong Bát Chánh Đạo, từ Chánh Kiến đi đến Chánh Tư Duy, từ thấy đúng đến suy nghĩ đúng, quán sát đúng. Đi đến mình, dò xét mình, chỉ trích mình, mình theo dõi nó, phải bám sát đối tượng.
Có một vị cao tăng ở bên Myanmar nói rằng: “Tâm không gắn liền đề mục thì cả đời buông lung, phóng dật”, cho nên khi gọi trình pháp không có gì để mà trình, mình không tu, mình không thực hành, tại vì mình không có gắn liền với đề mục. Đề mục tu hành của mình là cái gì? Phải có. Đề mục đó phải đúng với Thánh trí của Đức Phật dạy mình chứ không phải đề mục sau này người ta đưa ra, đưa ra trong vô minh, đưa ra trong mê tín, cầu xin, van xin, Đức Phật không dạy những điều này. Đức Phật dạy hãy quay lại nhìn thấy thân tâm của mình, nhiếp phục, chế ngự, tẩy sạch tất cả những điều làm cho mình khổ đau, tham, sân, si, dục, ái, bản ngã, Phật không nói mình đi cầu xin ai, ngay cả Đức Phật cũng không cầu xin Phật. Cho nên tâm không gắn với đề mục cả cuộc đời của mình buông lung, phóng dật, sống vất vơ, vất vưởng, như cô hồn, tâm không an trú vào Pháp.
Sân:
Chúng ta nhìn lại cảm giác sân hận nó khó chịu, bốc cháy, bực bội, gắt gỏng, ghim gút, cọc cằn, cau có, phẫn nộ, nhiệt não, nóng bức thì đó là những điều ác độc, khốn nạn, súc sanh, phải la tâm mình. Mình phải dùng những cảm thọ hiền thiện, tâm từ để mình đối trị nó, hóa giải những cảm xúc sân hận. Nó đang bừng, nó đang bốc, nó đang cháy, nó đang phẫn nộ. Chỉ cần ai nói nhẹ một câu là sừng sộ, phẫn nộ, sân hận, cau có, cọc cằn, như vậy là tâm quái vật, mình hãy nói thẳng vào cảm thọ: “Mày là quái vật như vậy đâu phải là người tu”, phải dùng từ cho mạnh, nói nhẹ nhẹ không thể trị nổi con quái vật khổng lồ vô lượng, vô biên kiếp tới nay, bao nhiêu là con yêu tinh trong Tây Du Ký là chỉ vào tâm của mình. Cái tâm sân là ma tâm. Đức Phật dạy: “Này các Tỷ-kheo, sắc là ma, thọ là ma, tưởng là ma, hành là ma, thức là ma”, sắc là kẻ giết người, mình đã bị nó giết vô số, vô lượng, vô biên kiếp, chứ không phải mới đây.
Sư Phụ hỏi một vị Tăng Sinh:
Thầy có bị Ngũ uẩn giết không?
Vị Tăng sinh trả lời:
- Kính bạch Giáo thọ sư, cùng đại chúng! Sắc nó giết mình nhiều lắm, chẳng những nó làm mình nhớ nhung, nó làm mình phải sầu não, nó làm mình phải bất an, khó chịu. Khi mình tuổi mới lớn biết yêu lần đầu, thấy đối tượng mà mình thích thú, mình yêu mến, để hình ảnh đó vào tâm trí, lúc tâm này không còn gắn liền vào cái thân này nữa mà tư tưởng nhớ về người mình yêu thích đó. Mối tình đầu đó nó làm mình phải sầu não, ghê gớm, nó làm mình có thể đi đến quyên sinh, tự tử, có thể bế tắc nếu không gặp được thiện hữu, những bậc thiện nhân, Thầy lành bạn sáng chỉ dạy cho mình, để tâm sự, mở tâm, khai tâm trí ra tìm ra con đường thoát khỏi sự ám ảnh đó, có thể cuộc đời mình sẽ tàn phế luôn, có khi rơi vào những căn bệnh trầm cảm, sầu não, ám ảnh, khó chịu, con người mình lúc đó như con ma. Con cũng từng bị lúc đang ngồi trên giảng đường đại học, con cũng bị trường hợp này, nên mấy ông thầy bạn có hỏi: “Thất tình nên mới đi tu hả?” Con cũng thấy rất là khổ đau khi trải qua giai đoạn đó, nó hủy hoại thân tâm, học hành không nổi, lúc đó con bị bế tắc, tối tăm, u ám, con thấy khổ lắm. Đó là những gì con đã từng trải qua.
Nhận diện như vậy rất tốt, phải vạch mặt nó ra, cái mặt ác độc của nó, cái mặt nó tàn bạo, nó hãm hại mà mình không thấy được kẻ thù, mình nâng niu, mình ôm ấp, mình sống chung với nó thì chết dài dài, chết hoài hoài, chết mãi mãi, chết vĩnh viễn, chết vô lượng, vô số, vô biên kiếp mà không thấy kẻ thù của mình, mình chơi thân với nó, mình kết thâm giao với nó, bây giờ mình phải ly dị với nó. Có ly dị với sắc không? Phải hướng tâm để ly nó vì nó làm cho mình khổ, nó làm cho mình sầu, nó làm cho mình đau, nó làm cho mình buồn, nó làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu, não, mình phải nhàm chán nó, phải quán thật là nhiều, phải quán tính nguy hại của sắc.
Quán Sự Nguy Hại Của Sắc
Chúng ta phải thiền quán sự nguy hiểm và tác hại của sắc, vì tất cả là thiền quán, không quán chiếu làm sao sanh trí tuệ, sắc nó ác độc lắm.
Bây giờ mình nói yêu thương, nhớ nhung, tương tư, khổ sầu, thất tình. Rồi mình có sân hận không? Có bị đốt cháy không? Mình có bị giam hãm ở trong đó không? Tâm nó cứ luẩn quẩn ở trong đó không biết đường đi ra, không phải chỉ giận người dưng mà người thân cũng hận thù với nhau. Cho nên cái sắc này nó chỉ có tham dục mà nó còn sân hận, hơn thua, bản ngã, vì mình vô minh, si mê, mù lòa, không thấy đường cho nên mình mới khổ vậy, nếu mình mở được con mắt Thánh, Thánh nhãn, Pháp nhãn, Trí nhãn, Minh nhãn, Tuệ nhãn mà mở ra thì mình đã nhàm chán nó từ lâu rồi, thứ ác độc, tai họa, thứ thống khổ, đau khổ, mình bị ăn bùa mê, thuốc lú tức là vô minh, bị có một chút xíu vị ngọt mà khổ cả cuộc đời. Kêu trời không thấu, kêu đất không xong, một chút xíu vị ngọt của nó là chết mê chết mệt, chết cay, chết đắng, chết nhục, chết nhã, chết hèn, chết hạ, chết tơi tả, chết tan tành, chết không thấy xác, chết bờ chết bụi, chết oan chết ức, chết tức chết tưởi, chết khổ chết sầu, chết đau chết đớn, nó ác độc như vậy mà mình không nhìn thấy được, cho nên mình phải ngồi thiền, nghiền ngẫm quán hết tất cả sự ác độc, nguy hiểm, tai họa, mình lôi hết tất cả những thứ làm cho mình khổ từ nhỏ cho đến lớn rồi mình điểm mặt, mình vạch mặt, chỉ mặt, mình đánh vào mặt nó rồi tác ý: “Đồ ác độc mày tan biến khỏi tâm ta đi, mày tham cái gì trong này. Trời đất ơi! Tao khổ với mày còn chưa đủ hay sao, mày chập chờn. Mày là ma hay sao mà ám ảnh ta hoài vậy? Hãy tan biến khỏi tâm ta đi”. Đó là Thánh trí tuệ dạy ta đánh đuổi, tẩy rửa những cáu bẩn trong tâm, đó là cốt tủy của kinh tạng Nikāya, đó là Thánh trí, là Tuệ giác. Nếu tu mà ngồi im ru không suy nghĩ gì, đơ đơ, trơ trơ, si si, mê mê, ám ám, ngơ ngơ, ngáo ngáo, biết ngày nào nó mới sanh khởi Tuệ giác, Thánh trí. Mình phải nghe Thánh trí và nhắc nhớ, nhắc tới nhắc lui, nhớ để sống trong đó tới lúc nhớ mãi không quên thể nhập Thánh trí. Phải quán chiếu nhìn sâu vào bên trong:
- Thứ nhất nhìn thân thể tức là quán thân trên thân.
- Thứ hai nhìn cảm thọ, nhìn vào cảm thọ xem nó có thúc dục gì không? Nó có bực bội khó chịu gì không? Nhiều khi trời nóng quá cũng bực, trời lạnh quá cũng khó chịu, đi một chút cũng mỏi chân, cũng sân, rồi ai chạm tới một chút cũng phẫn nộ. Mình không nhận diện ngũ uẩn thường xuyên thì mình sẽ không thấy rõ được các cảm thọ sanh khởi một cách rõ ràng để mình nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận các cơn sân hận.
Tăng sinh phát biểu: Sau khi con nghe Thầy hỏi về chữ sắc, ngay lúc này hình bóng trong tâm con nó hiện về, tưởng con nhớ về hồi năm lớp 4 con đã biết thương một người khác giới, cô đó là lớp trưởng. Ngay lúc đó hình bóng, sắc tưởng, và thanh tưởng của cô lớp trưởng đó hiện về, con nhớ lại là sự thích thú về những sắc đẹp đầu đời của mình, con đã tưởng lại, nhớ lại những hình ảnh của cô đó nói chuyện với ai tự nhiên trong tâm xuất hiện một cái tâm ghanh tỵ, không muốn cô gái đó tiếp xúc với bất kỳ người đàn ông nào trong lớp, có một cái tâm ghen tức, ích kỷ, hẹp hòi nó hiện lên và ngay lúc đó cái sắc tưởng hiện lên khuôn mặt của cô ấy làm sao, giọng nói của cô ấy như thế nào, hay để ý người ta như thế nào, từng cử chỉ nhỏ nhất như cái tay cô ấy cầm cây viết, khi cô ấy đứng phát biểu trên lớp, khẩu hình của cô ấy như thế nào con đều nhớ hết. Tới năm lớp 8 lại gặp một cô lớp trưởng khác, mỗi buổi sáng con đều bị cái sắc này nó ngự trị. Con đi học sớm hơn vì biết thường vào giờ đó là cô ấy đi vào trường. Con đứng ở hành lang để ngóng ra cổng trường trông ngóng, nhìn bóng dáng của cô ấy từ cổng trường vào trong lớp, hoặc có giờ thể dục lớp con và lớp của cô gái đó được học chung. Con nhớ lại những lời dạy của Thầy thì con thấy đã bị sắc nó ngự trị quá lâu trong tâm. Thứ nhất là mình bị mất thời gian, thứ hai là tâm tiêu cực, tâm ghen tức, tâm ích kỷ, hẹp hòi nó ngự trị trong con và đến khi sau này con xuất gia được học và thực tập những điều cơ bản nhất, mỗi lần đứng trước sắc đẹp thì con nhớ đến tình huống trong bộ phim Tây Du Ký, khi vị Thầy bị con yêu quái biến thành thiếu nữ, con yêu quái tiếp cận với ông Thầy là một hình tướng người nữ rất đẹp, khi ông Thầy đã mê muội rồi thì bắt đầu con yêu quái này nó sẽ xuất hiện và mọc lên những móng vuốt rất dài, lúc đó nó mới lấy những ngón tay dài đó sấn vào đầu của ông Thầy chảy máu và chết. Con lại nhớ tới Thầy Quảng Thiện dạy: “Người nào càng đẹp thì là yêu quái, mà yêu quái sẽ làm hại cho chính đời tu của mình, hủy hoại thân này của mình, lúc đó không còn hướng tới sự tu tập nữa mà luôn hướng tới sự đau khổ và luôn bị sự đau khổ ngự trị”. Khi con gặp trước sắc đẹp con lại bị đắm chìm ở trong đó, bị lôi cuốn, lúc đó con suy nghĩ rằng chẳng nhẽ đời tu của mình có thể từ bỏ hết cha mẹ của mình là người gần gũi nhất của mình, là người thân yêu nhất của mình có thể từ bỏ được mà những người này chỉ là người dưng sao mình còn ôm ấp, không từ bỏ được thì thật uổng phí đời tu. Nếu mình cứ đắm chìm trong sắc dục thì mình còn đau khổ dài dài, ngay lúc đó những khát ái, những tham muốn, những tâm lý muốn chiếm đoạt người mà mình yêu thương từ từ con thấy nó bớt dần, cứ theo năm tháng như vậy dần nó phai nhạt trong tâm trí con. Lúc trước khi con nhìn những hình bóng, hình tướng đẹp thì trong tâm con khởi lên những tham muốn, thích thú về sắc đẹp đó giờ giảm dần theo năm tháng. Có những lúc con nhớ về hình bóng tần xuất nhiều nhưng giờ đây đã giảm dần do con đã biết cách tác ý liên hệ tới cuộc đời của Đức Phật, lời dạy của những vị Sư phụ và những cảnh khổ của những vị tu sĩ khi mà bị sắc dục chi phối, chế ngự, những đau khổ của những vị tu sĩ đó phải chịu đựng thì trong tâm con nó bắt đầu giảm bớt. Nên con thấy học bộ môn này rất hữu ích.
Đó là mình quán sự nguy hiểm và tác hại của sắc, sự nguy hiểm và tác hại của dục, mình phải triển khai thiền quán, chiêm nghiệm, phải quán sát, tư duy, phải nghiền ngẫm, phải đổ phá, phải đánh phá, phải phá tan, phá vỡ, phá banh, phá nát, phá sập cái hang ổ, sào huyệt, căn cứ địa của dục sắc ở trong thân tâm của mình, tu đâu phải là phớt phớt, chơi chơi được, mình phải gia công dụng hạnh, dồn lực, dồn sức, dồn tâm của mình, phải tận lực, không phải chuyện dễ là qua ải. “Tự cổ anh hùng nan quá mỹ nhân quan” là từ xưa đến nay anh hùng khó qua ải mỹ nhân và tất cả người nữ là yêu quái của nam nhân và nam nhân cũng là yêu quái của nữ nhân, Sắc chính là yêu quái. Một vị Tỷ-kheo bạch với Thế Tôn:
“ Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràdha bạch Thế Tôn:
"Màra, Màra", bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là Màra?
Nếu có sắc, này Ràdha, thời có chết (Màra) hay có sát giả (Màretà), hay có sự chết (Miiyati). Do vậy, này Ràdha, Ông hãy thấy sắc là sự chết, hãy thấy là sát giả, hãy thấy là bị chết, hãy thấy là bệnh, hãy thấy là ung nhọt, hãy thấy là mũi tên, hãy thấy là bất hạnh, hãy thấy tự tánh là bất hạnh. Những ai thấy sắc như vậy là thấy chơn chánh”
Tại sao sắc là ma? Tại vì mình đam mê vào sắc thì mình sẽ bị sanh tử mà tử thì là đám ma, chính vì vậy sắc là ma, ma sắc. Thọ, tưởng, hành, thức là ma tâm. Tại vì cái sắc này mình đối diện với nó có một chút, nhưng ma tâm nó khủng khiếp. Cũng như câu chuyện của quý Thầy từ lớp 4 đến bây giờ nhắc tới là nhớ liền. Nó an trú ở trong đó, nó có chân đứng ở trong thọ, tưởng, hành, thức của mình mà vì vô minh, vì si mê, vì không có trí tuệ nên mình không biết đó là hang ổ, là sào huyệt, căn cứ địa, không biết được nhân duyên tập khởi của nó, tức là từ đâu mà nó nhen nhúm, nó manh nha, rồi nó có chỗ đứng trong tâm của mình mà mình không thấy, không biết, nó vận hành ra sao? Nó xâm chiếm, nó áp đảo, nó làm cho mình đau khổ, sầu bi khổ ưu não như thế nào mình cũng không hay. Bây giờ mình muốn diệt tận, đoạn tận, sắc diệt mình cũng không biết như vậy mình không biết sắc tập khởi, không biết sắc đoạn diệt cho nên mình mới khổ đau, mình mới luân hồi. Mình học Thánh trí ngũ uẩn mình có được sanh diệt trí về năm uẩn. Sanh diệt trí là gì? Là một trí tuệ thấy được căn nguyên nguồn cội từ đâu mà nó sanh khởi và làm thế nào cho nó chấm dứt? Chúng ta đang học 37 loại trí: 7 trí sắc, 7 trí thọ, 7 trí tưởng, 7 trí hành, 7 trí thức.
Bảy trí về sắc sanh
- Sắc sanh: là do thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi.
- Sắc diệt: do thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt.
- Sắc diệt đạo: Phương pháp Tám đúng là con đường đưa đến
- Sắc diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Sắc đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.
-Vị ngọt của sắc: Do duyên Sắc khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của Sắc.
- Sự nguy hại của sắc: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Sắc, đó là nguy hại của Sắc.
- Sự xuất ly của sắc: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Sắc. Đây là sự xuất ly của Sắc.
Bảy Trí về Thọ
Thọ: Được cảm thọ nên gọi là thọ. Cảm thọ gì? Cảm thọ lạc, cảm thọ khổ, cảm thọ phi khổ phi lạc. Được cảm thọ, nên gọi là thọ”
Thọ sanh: Do Xúc tập khởi nên Thọ tập khởi.
Thọ diệt: Do Xúc đoạn diệt nên Thọ đoạn diệt.
Thọ diệt đạo: Phương pháp tu tập đưa đến Thọ đoạn diệt là Phương pháp Tám đúng.
Vị ngọt của thọ: Do duyên Thọ khởi lên lạc hỷ gì, lạc hỷ này là vị ngọt của T
Sự nguy hại của thọ: Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của Thọ, đó là nguy hại của Thọ.
Sự xuất ly của: Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn tận dục và tham đối với Thọ, đó là sự xuất ly của Thọ.
Và các loại trí tuệ về Tưởng, hành, thức chúng ta sẽ học trong những tiết học sắp tới.
Các loại trí tuệ này chúng ta phải học thuộc lòng như Chú Đại Bi, như Chú Vãng Sanh, như Lăng Nghiêm. Tất cả sự tu này đều rất quan trọng đó là tu ngay bây giờ, tu ngay tại chỗ ngồi, những hình ảnh xuất hiện là mình phải đánh phá liền, những suy nghĩ xuất hiện là mình cũng phải diệt nó liền, những cảm giác xuất hiện mình cũng phải đánh đuổi nó đi. Trong sự tu tập mình phải quán, phải tác ý, phải tư duy mang cái hình hài này là một tai họa, là một sự bất hạnh, là một sự bệnh hoạn, ung nhọt: “Này các Tỷ-kheo, một ung nhọt đã trãi nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy” trích (Một Ung Nhọt – Kinh Tăng Chi Bộ). Mình phải nhớ hoài mỗi khi mình đi tiểu, đi đại tiện mình phải nhìn kỹ và ngửi cái mùi đó, mình đưa cảm thọ và nhận định một cách sâu sắc những thứ bẩn thỉu, hôi thối đó là từ trong thân của mình đưa ra ngoài. Mồ hôi nó chảy ra, nước mũi nó chảy ra, cứt mũi nó chảy ra, cứt ráy nó chảy ra, nước miếng nó chảy ra, máu nó chảy ra, mỡ nó chảy ra, nước tiểu, phân nó chảy ra thì mình phải thọ. Phải cảm thọ một cách sâu sắc, một sự thật phũ phàng, nó nhơ nhớp như vậy mà cái tâm mê, hôn mê, hôn ám, si ám, ngu muội, ăn cháo lú, lú tức là vô minh. Vô minh và khát ái là hai cái tên đầu xỏ, tổng tư lệnh, tổng chỉ huy, nếu mình ngồi im không quán chiếu thì làm sao có diệt nó được khỏi tâm thức u mê này. Tâm tâm, niệm niệm, giờ giờ, phút phút từng suy nghĩ, từng hình bóng, từng cảm giác là mình đánh phá hai cái tên vô minh và khát ái, tổng tư lệnh, bộ chỉ huy là những thứ ác độc nhất nó đang ngấm ngầm hoạt động trong thân tâm của mình. Chúng ta quan sát kỹ khi mình nghe Thánh pháp thì bên trong có một cái tâm chống đối lại, nó thấy thân này đẹp, dễ thương sao lại nói quán bất tịnh. Ví dụ có ai nói cô thối hoắc, ông Thầy dơ bẩn, hôi hám, lúc đó mình thấy sao? Sân hận lên mà cái đó là sự thật, tại sao mình sân? Tại vì mình ăn cháo lú, tại vì vô minh, tại vì si mê, tại vì hôn ám cho nên người ta nói sự thật là mình bực bội, mình sân hận. Chính vì vậy khi Đức Thế Tôn chứng Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài không muốn thuyết pháp, Ngài nói: “Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu, chỉ người trí mới hiểu thấu. Còn quần chúng này thì ưu ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục. Đối với quần chúng ưa ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó mà thấy được định lý Y tánh duyên khởi pháp; thật khó mà thấy được định lý tất cả hành là tịch tịnh, tất cả sanh y được trừ bỏ, ái được đoạn tận, ly dục, ái diệt, Niết-bàn. Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, thời như vậy thật khổ não cho Ta!" (trích Kinh Thánh Cầu – Trung Bộ Kinh). Lúc đó Phạm thiên Sahampati là Ta bà chủ ở ngoài đời gọi là Đấng sáng thế, vị cao nhất trong tất cả các tầng trời, Ngài thấy Đức Thế Tôn suy nghĩ như vậy Ngài lo lắng, sợ hãi, Ngài nghĩ chúng sanh sẽ bị mù lòa, chúng sanh sẽ bị chìm đắm, chúng sanh sẽ bị khổ, lập tức trong khoảng co cánh tay, duỗi cánh tay, từ phạm thiên giới Ngài hiện trước mặt Đức Thế Tôn và quỳ dưới chân của Đức Thế Tôn, bạch với Đức Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy hại nếu không được nghe Chánh pháp. (Nếu được nghe), những vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp". Ngài xin với Đức Thế Tôn ba lần, với lời thỉnh cầu, khát ngưỡng như vậy Đức Thế Tôn mới đồng ý thuyết pháp, tại vì pháp này không dễ học, không dễ nghe, không dễ hành. Sau đó Đức Thế Tôn bằng Phật Nhãn đã quán chiếu: “Này các Tỷ-kheo, sau khi biết được lời Phạm thiên yêu cầu, vì lòng từ bi đối với chúng sanh, với Phật nhãn, Ta nhìn quanh thế giới. Này các Tỷ-kheo, với Phật nhãn, Ta thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời, có hạng lợi căn, độn căn, có hạng thiện tánh, ác tánh, có hạng dễ dạy, khó dạy, và một số ít thấy sự nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm làm những hành động lỗi lầm”. Chúng ta tu trong chùa cho tới chết chưa chắc gì trong cuộc đời đã được nghe Chánh pháp này một lần, nếu chúng ta không học kinh tạng Nikāya. Chúng ta có được pháp như thế này không? Thâm sâu như thế này không? Chúng ta chỉ được nghe những thứ vuốt ve cho khoái, cho thích đưa lên trên mây để tăng trưởng dục ái thêm lên đối với sắc pháp, sắc uẩn chứ không đưa đến nhiếp phục, diệt tận hoàn toàn cái sắc uẩn đầy vô thường, khổ đau, trống rỗng, vô ngã này, đó là giá trị của Chánh Pháp tối thượng này, Thánh trí là như vậy. Đức Phật chứng ngộ nguyên nhân, sanh khởi, hình thành, an trú và hoại diệt của tất cả thân xác, cảm giác này, hình bóng này, suy nghĩ này, nhận thức này, Đức Phật được chứng ngộ tất cả mọi góc độ, phương diện, khía cạnh của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Từ đâu nó sanh, nó an trú như thế nào, nó vận hành thế nào? Nó diệt tận như thế nào? Làm sao cho nó diệt? Đức Phật đều có cách chứng ngộ tất cả các loại trí tuệ đó. Đó là Thánh trí của Đức Phật.
Sư Phụ hỏi: Cảm giác từ đâu sanh?
Tăng sinh trả lời: Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do duyên có mắt và các sắc, do duyên có tai nghe tiếng, do mũi ngửi mùi, do duyên có lưỡi và các vị, do duyên có thân và sự đụng chạm, do duyên có ý và các pháp (Thọ, Tưởng, Hành). Do xúc sanh thọ, sanh ái, sanh khổ, sanh nghiệp, sanh dục.
Xúc tập khởi là thọ tập khởi cho nên Đức Phật trình bày sự chứng ngộ của Ngài. Tại sao có cái hình hài này? Tại sao có cảm giác? Tại sao trong tâm có hình bóng? Tại sao có suy nghĩ? Do xúc tập khởi nên Thọ, Tưởng, Hành tập khởi. Học kinh Nikāya này phải học thuộc lòng, không thể nói chung chung vì nếu nói chung chung mình sẽ diễn giải sai, mất Chánh Pháp. Trí tuệ này là Thánh trí nếu sai một chữ là sai một ly đi một dặm. Cho nên ngay tại đây mình tu như thế nào? Mình phải đánh phá vô minh và khát ái:
- Vô minh là không thấy ngũ uẩn (không thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức) thấy một cái tôi, một cái ta, một cái ngã, một cái mình, một con người, một ông Thầy, một Sư Cô, tôi là Đại đức, tôi là Thượng tọa, tất cả những cái thấy như vậy là vô minh, không thấy được ngũ uẩn.
Nhớ hay quên, học bài nhớ được bao lâu? Nếu không thực hành. Học là phải học thuộc lòng và còn phải nhắc nhớ thường xuyên.
- Khái ái: Phá khát ái cũng phải như lý tác ý, quán chiếu nhiều phương diện trong phần quán thân; quán bất tịnh, quán 32 thể trược, 9 giai đoạn tử thi, quán sự nguy hiểm và tác hại của sắc. Khát ái ở đây không phải chỉ có ái dục mà có rất nhiều loại ái như sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Hình bóng trong tâm mình cũng ái, diễn viên trên phim cũng làm cho mình ái, nhớ nhung, thương mến, tự làm cho mình khổ vì họ có biết mình là ai đâu đó là pháp ái là những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ, rồi mình giận, mình hờn, mình yêu, mình thương, mình mơ, mình mộng, mình tưởng, mình đau khổ, sầu muộn. Tự mình làm khổ mình, tự mình dày vò mình nên dẫn đến khổ đau
Như Lý Tác Ý:
Như lý tác ý là: Tác động tâm ý đúng như chân lý. Chân lý là Thánh trí ngũ uẩn của Đức Phật, tức là Kinh tạng Nikāya chính là giáo pháp nguyên chất của Đức Phật, chính là lời dạy nguyên gốc của Đức Phật. Chính là con đường, đạo lộ, phương pháp, cách thức mà từ một thái tử Tất Đạt Đa trở thành vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Chính là con đường này, đạo lộ này, là phương pháp này, là cách quán này, là cách tu này, là cách hành trì này. Nếu chúng ta không nắm được là vĩnh viễn và mãi mãi chúng ta chỉ tu được ở trong nhân thiên pháp. Tức là chỉ có những thiện pháp trong cõi người và cõi trời không chấm dứt được sanh tử, không thể thoát ra khỏi ngũ uẩn được. Tất cả những điều mình tu, mình học mà mình không thành tựu Thánh trí ngũ uẩn thì mình sẽ ở luẩn quẩn trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không đi ra được khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Con đường này chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác duy nhất không có người thứ hai nói được, sau đó là các bậc Thánh A-la-hán, sau đó nữa là những người được hai vị này nói. Phương pháp này thất truyền sau thời Đức Phật 500 năm cho tới bây giờ. Thời kỳ Chánh pháp được 500 năm sau khi Đức Phật nhập diệt, sau 500 năm Đức Phật nhập diệt cho tới bây giờ là thời kỳ tượng pháp. Cho nên chúng ta phải nắm thật là vững, thật là kỹ, thật là rõ, nếu không chúng ta sẽ tu lòng vòng, tu lờ mờ, tu tới đâu không biết, tu bất khả tư nghì nói không được, khó nói. Cũng như mình đi ra ngoài đường mà không biết đi tới đâu. Sự tu của chúng ta hiện nay là chung chung không rõ ràng. Còn chúng ta tu theo tạng kinh Nikāya rất rõ ràng, rành mạch. Thế nào là bậc Dự Lưu? Thế nào là bậc Nhất Lai? Thế nào là bậc Bất Lai? Thế nào là bậc Vô sanh? Rõ ràng, minh bạch, tỏ tường, trong sáng đi tới đâu mình biết tới đó.
Cho nên ngay bây giờ và ở đây mình luôn phá vô minh bằng cách nhận diện ngũ uẩn, nếu mình không nhận diện ngũ uẩn thì làm sao phá vô minh và hết vô minh. Cho nên ngày nào cũng phải nhận diện ngũ uẩn. Bây giờ những dục vọng, những ác tham, sân hận, bản ngã, vô minh của con người là khủng khiếp, kinh hãi, những ác và bất thiện pháp bây giờ là khủng hoảng. Đến nỗi mà các nhà nghiên cứu về đạo đức phải gọi là khủng hoảng đạo đức toàn cầu, khủng hoảng nhân đạo cả thế giới, dùng những từ mà từ xưa đến nay chưa từng nghe, hiện nay nó đang diễn ra sự thật trên cuộc đời này.