NGHIỆP & QUẢ BÁO 24_NGHIỆP CỦA NGƯỜI NỮ M1
Nikāya Giảng Giải
NGHIỆP VÀ QUẢ BÁO 24
NGHIỆP CỦA NGƯỜI NỮ - TĂNG CHI BỘ KINH
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Làm thế nào để gặp nhau trong đời sau? PAGEREF _Toc139102580 \h 1
II.Nghiệp Của Người Nữ PAGEREF _Toc139102581 \h 4
1.Vì sao người nữ không thành tựu sự nghiệp lớn PAGEREF _Toc139102582 \h 4
2.Vì sao người nữ bị đọa nhiều trong địa ngục PAGEREF _Toc139102583 \h 5
3.Vì sao người nữ không thoát khỏi hệ lụy của nữ tánh PAGEREF _Toc139102584 \h 8
4.Năm nỗi khổ của người nữ PAGEREF _Toc139102585 \h 11
5.Năm nguy hại của người nữ PAGEREF _Toc139102586 \h 12
6.Đức Phật giảng về Nam nhân và Nữ nhân PAGEREF _Toc139102587 \h 14
III.Trình pháp và Vấn đáp PAGEREF _Toc139102588 \h 15
Làm thế nào để gặp nhau trong đời sau?
Hôm nay chúng ta nghe bài kinh Xứng Đôi - Tăng Chi Bộ Kinh VI, tr668. Trong bài kinh này Đức Phật nói với chúng ta biết rằng những người nam nữ Phật tử cư sĩ vợ chồng mà muốn thấy mặt nhau ở đời sau thì phải làm sao?
Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ gia chủ cha Nakulà, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ cha Nakulà và nữ gia chủ mẹ Nakulà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ cha Nakulà bạch Thế Tôn:
- Từ khi nữ gia chủ mẹ Nakulà được đem về đây cho con khi con còn trẻ nhỏ, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến vợ con, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.
Nữ gia chủ mẹ Nakulà bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, từ khi con được đem về đây cho gia chủ cha Nakulà, khi con còn trẻ nhỏ, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến gia chủ cha Nakulà, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau, trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.
- Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí, đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, 4. Chương Bốn Pháp. VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước, bài kinh Xứng Đôi 1)
Bài kinh này tuy ngắn nhưng là một nguyên lý rất lớn, không chỉ dành cho những đôi vợ chồng, mà còn cả những người là mẹ con, cha con, anh em, bạn bè… đang là những người cư sĩ tại gia, có mong muốn về sau còn được gặp nhau. Nguyên lý này đọc lướt qua thì ta thấy rất là bình thường nhưng nếu có sự nghiên cứu, chiêm nghiệm, quán chiếu sâu sắc bài kinh này, ta sẽ thấy đây là một nguyên lý vĩ đại.
Trong đây từ Hán việt, chữ “đồng” là cùng; nếu ai cùng chung bốn phương diện đồng tín, đồng giới, đồng thí và đồng trí tuệ thì đời sau sẽ gặp nhau, đây là phương pháp dành cho những người chưa muốn giải thoát sinh tử luân hồi. Trong nhân thiên phước báu, những vị có bốn phương diện này giống nhau thì đời sau sẽ gặp nhau.
Điều thứ nhất là có cùng một niềm tin.
Điều thứ hai là cùng giữ giới. Ví dụ người này giữ năm giới người kia cũng phải giữ năm giới, người này giữ tám giới người kia cũng giữ tám giới, người này giữ mười giới người kia cũng phải giữ mười giới thập thiện, đó gọi là đồng giới, cùng sự tu tập giới pháp giống nhau.
Điều thứ ba là đồng thí. Có những đôi vợ chồng, mẹ con, cha con, anh em, khi làm phước thường rủ nhau, có những người bạn làm thì hai người cùng làm, không nghi ngờ lẫn nhau như vậy gọi là đồng thí, cùng chung với nhau để bố thí.
Thứ tư là đồng trí tuệ, điều này cũng rất quan trọng và đặc biệt. Trí tuệ ở đây là cùng hiểu nhân quả về tội phước, về thiện ác, nghiệp đen nghiệp trắng. Thế Tôn dạy rằng,“Này các Tỷ-kheo, nhân ác mà có quả vui sướng hạnh phúc sự kiện này không thể xảy ra, nhân thiện mà kết quả là khổ đau thì sự kiện này không thể xảy ra” cho nên trí tuệ ở đây là hiểu được nguyên nhân và kết quả, hiểu được nghiệp đen nghiệp trắng, hiểu được đâu là thiện, đâu là bất thiện.
Đức Phật có dạy, căn bản của bất thiện chính là tham sân si; căn bản của thiện là không tham, không sân, không si. Nghe không tham, không sân, không si thì đơn giản nhưng để tu được như vậy là không hề đơn giản. Tham sân si trong Tạng kinh Nikāya rất sâu sắc, thậm chí cái tham đó không phải lấy đồ của người ta mới là tham, mà dù cho chưa lấy, chỉ tham trong suy nghĩ, nhưng trong ý nghĩ có tham thì đó cũng là ý nghiệp bất thiện. Hoặc mình muốn la mắng người khác, dù chưa la mắng ra ngoài, chỉ có ý nghĩ là muốn la mắng thôi thì đó cũng là bất thiện.
Vì vậy, tu tập để nhiếp phục tham sân si theo tinh thần Nikāya là phải thấy được ngũ uẩn, nhận diện được cảm thọ, có những cách xử lý tham sân si khi chúng còn ở trong mầm mống, vừa mới manh nha sanh khởi từ bên trong ý nghĩ, cảm thọ và tư tưởng. Không giống như cách hiểu thông thường trước nay là ăn cắp mới là tham, cãi lộn mới là với sân, ngủ gục mới là si, mà tham sân si ở trong Nikāya rất là sâu sắc.
Bài kinh này chỉ cho chúng ta nguyên lý, muốn gặp nhau ở đời sau thì phải có bốn khía cạnh giống nhau: lòng tin giống nhau, giữ giới giống nhau, bố thí giống nhau và trí tuệ giống nhau. Ai muốn gặp lại ở kiếp sau thì cứ thực tập bốn phương diện này. Những người cư sĩ cùng thọ Tam Quy, Ngũ Giới, Tám giới hoặc Thập Thiện, cùng bố thí, cùng giữ giới, cùng có lòng tin Tam Bảo và cùng Trí tuệ thì sẽ có thể gặp lợi ở đời sau như lời Đức Thế Tôn đã nói: “Thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau”.
---
Trong những buổi lễ Vu lan báo hiếu, chúng ta thường nghe các người con nói rằng: “Con rất là hạnh phúc khi được làm con của mẹ, con mong muốn đời sau sinh ra con cũng được làm con của mẹ” – mong ước như vậy đối với người tại gia là điều chính đáng, vì họ chưa thành tựu tri kiến của bậc Thánh, khi còn ở trong thiện pháp của nhân thiên điều này là bình thường.
Trong kinh Bổn Sanh Bổn Sự có nói, không phải chỉ có đời này các vị đó là mẹ con, cha con, anh chị em, vợ chồng với nhau, mà trong kinh nói rằng, các mối quan hệ này có tới 500 đời đã làm mẹ con, cha con, anh chị em, vợ chồng với nhau. Bởi vậy trong dòng sanh tử luân hồi này rất khó để thấy hết được những mối quan hệ, mối liên hệ tương quan, tương duyên với nhau. Như trong Tương Ưng Vô Thỉ đã được học, chúng ta có thể hiểu rằng, huynh đệ, thầy trò, hay bạn đạo với nhau ở trên núi rừng này không phải là chuyện ngẫu nhiên, có khi từ thời 2600 năm trước, mình đã được ở tại Linh Sơn thắng hội nhưng vì biếng nhác, buông lung phóng dật cho nên trôi nổi tới tận bây giờ. Khi đó có thể mình tu học gục lên gục xuống, ngồi thiền ngủ lên ngủ xuống, lười biếng, giải đãi cho nên còn rớt lại ở đây. Rớt lại ở đây rồi mà còn không chịu nỗ lực thì mai sau sẽ gặp nhau không phải gặp ở cõi người, mà gặp ở cõi đầy lông lá, mang lông đội sừng, gặp ở trong đống phân có những con giòi, gặp ở trong những tấm thân rình mò bắt chuột...
Tại thất Minh Thành vừa mới dựng lên có hai con chim bồ câu tới ở, nhà chưa xong thì có đàn ong bay tới làm nguyên một cái tổ phía trước thiền thất, thầy Pháp An nói là “tốt lành lắm, tốt lành lắm”. Chúng ta thấy rằng những con ong đó cũng đồng tín, đồng giới, đồng thí, đồng tuệ từ nhiều đời nhiều kiếp, nhưng không phải là thiện pháp cho nên mình phải cố gắng gặp nhau trong thiện pháp chứ đừng có bất thiện pháp.
Nghiệp Của Người Nữ
Vì sao người nữ không thành tựu sự nghiệp lớn
Đức Phật có dạy nguyên nhân vì sao phụ nữ không đi đến Tinh Túy Của Sự Nghiệp (Tăng Chi Bộ Kinh – Tr710):
Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Ànanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi
xuống một bên, Tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn:
- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, nữ nhân không ngồi giữa trong pháp đình, không có dấn thân vào sự nghiệp, không đi đến tinh túy của sự nghiệp?
Ngài Ànanda hỏi Thế Tôn do nhân duyên gì mà người nữ không đạt đến chỗ tinh túy của sự nghiệp. Bởi vì xã hội Ấn Độ ngày xưa như chúng ta đã biết, cách đây 2.600 năm, thân phận người phụ nữ trong xã hội rất là thấp kém, bị xem nhẹ, đến ngày hôm nay cũng đã đỡ hơn. Tuy nhiên, người nữ có những đặc tính nhất định, được Đức Thế Tôn nhắc đến trong rất nhiều bài kinh, Ngài cũng dạy rất kỹ nguyên nhân tại sao thành người nữ. Tất cả những điều này được tổng hợp vào chuyên đề “Nữ nhân” trong 500 chủ đề của Nikāya phân loại.
Khi Ngài Ànanda hỏi như vậy, Đức Thế Tôn dạy như sau:
- Phẫn nộ là nữ nhân, này Ànanda.
- Tật đố là nữ nhân, này Ànanda.
- Xan tham là nữ nhân, này Ànanda.
- Ác tuệ là nữ nhân, này Ànanda.
Đây là nhân, đây là duyên, này Ànanda, nữ nhân không ngồi giữa pháp đình, không có dấn thân vào sự nghiệp, không đi đến tinh túy của sự nghiệp.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, 4. Chương Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, bài kinh Tinh Túy Của Sự Nghiệp)
Như vậy, những nguyên nhân làm cho người nữ không có được Tinh túy của sự nghiệp đó là: Phẫn nộ, tật đố, xan tham, ác tuệ. Đó chính là nhân là duyên mà nữ nhân không được ngồi giữa pháp đình, không dấn thân vào sự nghiệp, không đi đến tinh túy của sự nghiệp. Dù thông minh nhưng theo chiều thế gian là bất thiện; dù rất là giỏi, rất là hay, biết nhiều thứ nhưng biết theo chiều tham sân si hơn thua, ganh tị, tật đố. Đó là bốn pháp làm cho người nữ không thành tựu được việc lớn.
Vì sao người nữ bị đọa nhiều trong địa ngục
Qua đây, Minh Thành sẽ đọc thêm một vài bài kinh về chủ đề người nữ để các vị nữ cư sĩ cũng như các vị xuất gia cùng chiêm nghiệm, quán chiếu, soi rọi lại tự thân qua lời dạy của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, vì lời của Đức Thế Tôn thì không thể khác được, không bao giờ sai. Có rất nhiều bài kinh Đức Phật nói về những đặc thù của người nữ, chúng ta sẽ thấy rất nhiều điều bất ngờ.
Sau đây là bài kinh có liên hệ đến ngày A-na-luật – Thiên nhãn đệ nhất, khi đó Ngài A-na-luật đi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên và bạch Thế Tôn:
- Ở đây, bạch Thế Tôn, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, con thấy phần lớn các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do đầy đủ với bao nhiêu pháp, bạch Thế Tôn, các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?
Tức là bằng thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân của bậc Thiên nhãn đệ nhất thì Ngài A-na-luật nhìn thấy ở dưới địa ngục nhiều người nữ bị dọa xuống và Ngài không hiểu tại sao lại như vậy. Ngài đi đến chỗ Đức Phật, Ngài hỏi nguyên nhân lý do gì mà phần lớn người nữ đoạn địa ngục. Đức Thế Tôn giảng dạy như sau:
- Do đầy đủ ba pháp, này Anuruddha, các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thế nào là ba?
Ở đây, này Anuruddha:
Nữ nhân vào buổi sáng, sống ở trong nhà, tâm bị ám ảnh bởi cấu uế của xan lẫn;
Vào buổi trưa, sống ở trong nhà, tâm bị ám ảnh bởi cấu uế của tật đố.
Vào buổi chiều, sống ở trong nhà, tâm bị ám ảnh bởi cấu uế của dục tham.
Do đầy đủ ba pháp này, này Anuruddha, các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, 3. Chương Ba Pháp XIII. Phẩm Kusinàra, bài kinh Anuruddha 1)
Nói vậy không có nghĩa là người nam không có nghiệp, nhưng có nghiệp ở khía cạnh khác. Phần lớn phụ nữ đọa địa ngục là do ác bất thiện pháp. Người nữ có ba trạng thái tâm trong một ngày: buổi sáng thường là xan tham, keo kiệt; buổi trưa ganh tị, tật đố; buổi tối bị ám ảnh bởi cấu uế của dục tham, những điều này chúng ta phải chiêm nghiệm, phải nhận diện kỹ rồi sẽ thấy rất rõ, vì lời của bậc Chánh Đẳng Giác thì không có sai.
Như vậy, từ hai bài kinh trên, một bên người nữ không thành tựu được sự nghiệp lớn là do tính dễ phẫn nộ, sừng sộ, giận dữ và nguyên nhân người nữ rơi nhiều vào ba đường ác là do tâm luôn chất chứa xan tham, tật đố, dục tham.
---
Đức Phật cũng có nói, người nữ lấy phẫn nộ làm sức mạnh, sức mạnh của em bé là tiếng khóc, sức mạnh của người tu là nhẫn nhục, chịu đựng, kham nhẫn. Chính vì sự nổi nóng, dễ sân hận, dễ bực bội, hơn nữa, tâm người nữ còn tật đố, ganh tị, ganh ghét, xan tham, ác tuệ, cho nên không làm được việc lớn.
Liên hệ đến bài kinh Sức Mạnh – Tăng Chi Bộ Kinh III:
Này các Tỷ-kheo, có tám sức mạnh này. Thế nào là tám?
Này các Tỷ-kheo,
Sức mạnh của con đàn bà là phẫn nộ.
Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí.
Sức mạnh của các vua chúa là uy quyền.
Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo.
Sức mạnh của bậc Hiền trí là cảm hóa.
Sức mạnh của vị nghe nhiều là thẩm sát.
Sức mạnh của Sa-môn, Bà-la-môn là nhẫn nhục.
Này các Tỷ-kheo, đây là tám sức mạnh.
---
“Sức mạnh của vị nghe nhiều là thẩm sát”, nhờ nghe nhiều nên ta thu được nhiều vốn liếng của Thánh trí tuệ. Khi có sự kiện gì xảy đến, chúng ta sẽ có sự quan sát và suy xét rất sâu sắc theo trí tuệ của bậc Thánh, cho nên đó được gọi là tư duy thẩm sát, tư duy tu, tư huệ, còn gọi là thiền tư, thiền quán, quán chiếu. Nhờ nghe nhiều nên mới có sức quan sát và suy xét sâu sắc, vì vậy, sức mạnh của bậc nghe nhiều là thẩm sát.
Trước đây, khi chưa học Nikāya, chúng ta cũng suy nghĩ, suy xét rất nhiều nhưng đó chỉ là những sự suy xét theo thế gian, theo hơn thua, đúng sai, hay dở, phải quấy, tốt xấu. Bây giờ mình cũng suy xét rất nhiều nhưng suy xét theo chiều hướng lìa hơn thua, rời ham muốn, suy xét để dẹp cái bản ngã, cái tôi… đó là Chánh tư duy, đó là nghĩ đúng, đó là Thánh tư duy, đó là ly dục tư duy, ly sân tư duy, ly bất hại tư duy, đó là sức mạnh thẩm sát của người nghe nhiều, là Đa văn Thánh đệ tử. Mỗi bài kinh của trong tạng Nikāya là định lý của bậc Chánh Giác Tối Tôn Tối Thượng, cho nên chúng ta cần nghe thật nhiều để thiền quán.
Vì sao người nữ không thoát khỏi hệ lụy của nữ tánh
Tiếp theo chúng ta nghe bài kinh “Hệ Lụy” – Tăng Chi Bộ Kinh III:
“Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Thầy pháp môn về hệ lụy, và ly hệ lụy, hãy lắng nghe...
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn về hệ lụy?
Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo, tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức, thời nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy.
Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên tác ý đến nam căn ở ngoài, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy
Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên nữ nhân ấy ước muốn có sự hệ lụy ở ngoài.
Do duyên với hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ nên nữ nhân ấy ước muốn lạc hỷ ấy.
Này các Tỷ-kheo, do thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người đàn ông.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, nữ nhân không có thoát được nữ tánh của mình”.
(Tăng Chi Bộ Kinh III, 7. Chương Bảy Pháp V. Phẩm Đại Tế Đàn, bài kinh Hệ Lụy)
---
Chúng ta không học kinh Nikāya thì sẽ không nghe được những lời dạy sâu sắc của Đức Phật và không thể hiểu nổi tại sao người nữ không thoát được hệ lụy tham đắm nữ tánh của mình. Đây là cả một sự giác ngộ, người thông thường đọc những điều này sẽ rất khó hiểu. Những điều này phải hiểu sâu về Hán tạng, về chữ Hán Việt, hiểu về nghiệp, quán chiếu mới thấy thâm sâu ở trong những lời dạy của Đức Phật.
Vậy, tại sao người nữ không thoát được nữ tánh của của mình? Đầu tiên, ta tìm hiểu những từ ngữ trong bài kinh:
Nữ căn tức là chỉ cho bộ phận sinh dục của người nữ; nữ hành tức là cử chỉ, hành động của người nữ; nữ y phục tức là y phục của người nữ; nữ loại là những gì thuộc về người phụ nữ; nữ dục là những gì ham muốn của người phụ nữ. Chính vì nghĩ đến những thứ này, chúng ta ham, thích, muốn, say đắm, hoan hỷ, thích thú trong nên mình không thoát ra khỏi thân của người phụ nữ. Người nam cũng giống như vậy.
Do đó, người tu muốn giải thoát thì phải phá sắc uẩn bằng cách quán bất tịnh, quán ba mươi hai thể trược, quán để thấy không có cái nào sạch, không có cái nào đẹp, cái nào cũng hơi dơ. Nhờ đó phá được ái, phá được thủ, phá được sự tác ý yêu thích, khoan khoái, ham muốn trong nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thì tâm tham ái của nữ tính mới không còn, lúc đó mình mới thoát được thân nữ. Ngược lại, nếu vẫn thích những thứ đó thì đời sau sinh ra tiếp tục sẽ làm thân nữ.
Nhờ đọc những bài kinh sâu sắc như thế này, chúng ta mới thấy được Thánh trí tuệ của Đức Phật vô cùng tối thượng, thâm sâu, không dùng từ diễn tả được, đây là trí huệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài thấu hết tất cả những ngóc ngách, khía cạnh, góc độ, phương diện, nguyên nhân, căn nguyên, nhân gì, duyên gì mà lại có thân tướng của nam giới và nữ giới, nữ tánh và nam tánh. Do dục gì, ái gì, tham gì, thích gì, chấp thủ gì mà lại có sự hiện hữu đau khổ như vậy? Và làm thế nào để chặn đứng, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch, diệt tận, để thoát ra những thứ đó thì Đức Phật trình bày rất rõ ở trong tạng kinh Nikāya.
Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên tác ý đến nam căn ở ngoài, nghĩa là thích về tình dục, trong tâm bị ám ảnh, không phá được sự yêu thích đó. Tương tự, do nghĩ đến nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy và tìm cái đó, kiếm cái đó, muốn cái đó, mong cái đó, khao khát cái đó. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên nữ nhân ấy ước muốn có sự hệ lụy ở ngoài, nghĩa là muốn lập gia đình, có tình dục.
Trên đây là những lời dạy rất là thâm sâu của Đức Phật, giảng giải rất rõ ràng về căn nguyên, manh nha, nguồn gốc, tại sao không thoát được ra thân nam tánh hay nữ tánh? Ngài nói rõ lí do tại sao mình ưa thích đối tượng đó, đồng thời chỉ ra nguyên nhân vì sao hai bên trói cột lại với nhau không giải thoát ra được:
Do duyên với hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ nên nữ nhân ấy ước muốn lạc hỷ ấy, người nữ muốn được sung sướng, khoan khoái, vui sướng. Này các tỷ-kheo, do thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người đàn ông. Như vậy, này các tỷ-kheo, nữ nhân không có thoát được nữ tánh của mình.
Thật sự khi đọc bài kinh này Minh Thành vô cùng rúng động, chấn động thân tâm. Bài kinh này là nguyên lý trói cột của tất cả chúng sanh nhân loại, giải mã ra lí do sâu kín nhất tại sao có sự yêu thích, trói cột, hệ lụy với nhau. Sanh ra là tự biết tìm kiếm, yêu thích, không cần ai dạy. Đức Phật dùng từ “tác ý”, tức là trong những suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng luôn hướng về những thứ tham dục đó. Quý Sư cô, các vị Hiền trí nữ cư sĩ nếu không đọc được những bài kinh như thế này là rất đáng tiếc.
Đoạn kinh tiếp theo, Đức phật dạy để không hệ lụy thì không được tác ý về không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thời nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Cần dẹp bỏ chiều hướng suy nghĩ ưa thích, phá tham ái, phá vô minh và khát ái, tham ái đối với sắc uẩn, đối với cảm thọ, đối với suy nghĩ, đối với hình bóng, đối với nhận thức, tư duy, tư tưởng thì mới thoát ra được khỏi ngũ uẩn, như vậy mới gọi là yểm ly, viễn ly, xuất ly, ly tham, từ bỏ, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn.
Năm nỗi khổ của người nữ
Tiếp theo, Minh Thành chia sẻ thêm bài kinh “Đặc thù”, để chúng ta thấy Đức Thế Tôn nhìn vấn đề một cách toàn diện, chứ Ngài không nói người nữ xấu hoàn toàn, Ngài cũng nhắc đến khía cạnh khó khổ của người nữ:
Này các Tỷ-kheo, có năm đau khổ riêng biệt mà người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người đàn bà lúc trẻ tuổi đi đến nhà chồng, không có bà con. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ nhất, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu điều đó khác biệt với đàn ông.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người đàn bà có kinh nguyệt. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ hai, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải mang thai. Ðây là sự đau khổ riêng biệt thứ ba, này các Tỷ- kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn
ông.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một người đàn bà phải sanh con. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ tư, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với
đàn ông.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người đàn bà hầu hạ đàn ông. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ năm, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.
Này các Tỷ-kheo, đây là năm đau khổ riêng biệt, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.
(Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương III. Tương Ưng Nữ Nhân,
Phần I. Phẩm Trung Lược, bài kinh Đặc Thù)
Người phụ nữ khi về nhà chồng không có người thân, có khi còn phải chịu cảnh mẹ chồng nàng dâu. Cho nên, quý vị Phật tử đang là mẹ chồng, nhớ đừng hành hạ, khắt khe với con dâu, vì đời sau người đó có thể hành lại lại mình, cứ hành qua hành lại đau khổ không dứt. Ngoài ra còn các mối quan hệ khác ở bên nhà chồng, cuộc sống thế gian hầu như ai cũng phải chịu những cảnh khổ như vậy, chỉ có những người xuất gia là không phải chịu những cái cảnh khổ này. Cho nên Đức Thế Tôn của chúng ta rất tuyệt diệu, khi Ngài nói đầy đủ các góc độ, khía cạnh, phương diện, không chỉ nói về phương diện chưa tốt, mà Ngài con trình bày về những nỗi khổ riêng biệt mà người phụ nữ phải chịu đựng.
Năm nguy hại của người nữ
Sau đây là một bài kinh khác để những người nữ quán chiếu và biết được nguyên nhân tại sao mình khó tu. Đức Phật rất thương chúng sanh nên Ngài mới giảng những điều này, chứ không phải ngài chê bai hay chỉ trích. Chúng ta cần hiểu tâm đại bi của Đức Phật, vì đây là Ngài chỉ cho mình thấy những điểm yếu, những nghiệp xấu và thói quen của người nữ để các vị khắc phục. Nếu Ngài không chỉ rõ thì làm sao mình thấy được, chỉ có Thánh nhãn, Phật nhãn mới nhìn thấy. Bài kinh Rắn Đen 2 – Tăng Chi Bộ Kinh II:
Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong con rắn đen.
Thế nào là năm?
Phẫn nộ,
Hiềm hận,
Có nọc độc,
Lưỡi chia hai,
Làm hại bạn.
Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong con rắn đen.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong nữ nhân.
Thế nào là năm?
Phẫn nộ,
Hiềm hận,
Có nọc độc,
Lưỡi chia hai,
Làm hại bạn.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, nọc độc của nữ nhân là như sau: Này các Tỷ-kheo, nữ nhân phần lớn hay tham đắm.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, lưỡi chia hai của nữ nhân là như sau: Này các Tỷ-kheo, nữ nhân phần lớn nói hai lưỡi.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, nữ nhân làm hại bạn như sau: Này các Tỷ-kheo, nữ nhân phần lớn ngoại tình!
Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong nữ nhân.
(Tăng Chi Bộ Kinh II, XXIII. Phẩm Du Hành Dài bài kinh Rắn Đen 2)
Nữ nhân phần lớn nói hai lưỡi, tức là đâm thọc, lại người này nói người kia, lại người kia thì nói người này, ngoài đời hay dùng câu đâm bị thóc chọc bị gạo, là lời nói ly gián làm chia rẽ. Con rắn có cái lưỡi chia ra làm hai do đời trước có nghiệp này cho nên cái lưỡi nó bị vậy. Người nữ ccug ó nghiệp này nặng, nghiệp này người nam cũng có nhưng phần lớn là người nữ. Những bài kinh này của bậc Tối Tôn Tối Thượng của chư Thiên và nhân loại.
Đức Phật giảng về Nam nhân và Nữ nhân
Minh Thành xin trích một đoạn trong bài kinh Mẹ Và Con – Tăng Chi Bộ Kinh II nhằm nhắc nhở quý Thầy và các chú:
Và này các Tỷ-kheo, loài hữu tình nào ái nhiễm, tham luyến, tham đắm, say đắm, say mê cảm xúc nữ nhân, chúng sẽ bị sầu ưu lâu dài, vì bị rơi vào uy lực của nữ xúc. Nữ nhân, khi đang đi, sẽ đứng lại để chinh phục tâm người đàn ông; khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi cười, khi nói, khi hát, khi khóc, khi bất tỉnh, khi chết, sẽ đứng lại để chinh phục tâm người đàn ông.
Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói rằng: "Là bẫy mồi toàn diện của Màra", thời người ấy đã nói một cách chơn chánh về nữ nhân, thật là "một bẫy mồi hoàn toàn của Màra”.
(Tăng Chi Bộ Kinh II, 5. Chương Năm Pháp , VI. Phẩm Triền Cái, bài kinh Mẹ Và Con)
---
Tôn giả phân loại 500 chủ đề trong tạng kinh Nikāya, trong đó có chủ đề “người nữ đang đi có thể là đứng lại chinh phục tâm của người đàn ông”, tức là người nữ có sức hấp dẫn, thu hút, lôi cuốn mạnh đối với người đàn ông. Đức Thế Tôn vì lòng thương đại bi, vì tình thương rộng lớn, phơi bày cho chúng ta thấy những điểm chúng ta không thấy:
Thế Tôn nói như sau:
- Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông như sắc người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
Ta không thấy một tiếng nào khác, này các Tỷ- kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như tiếng người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, tiếng người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
Ta không thấy một hương...một vị...một xúc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như hương...vị.. xúc người đàn bà.
Này các Tỷ-kheo, xúc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà như sắc người đàn ông. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn ông
xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà.
Ta không thấy một tiếng... một hương...một vị...một xúc nào khác. Này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà, như tiếng... hương... vị... xúc người đàn ông. Này các Tỷ-kheo, xúc người đàn ông xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, Chương Một Pháp, I. Phẩm Nữ Sắc, bài kinh Nữ Sắc)
Trình pháp và Vấn đáp
Phật Tử:
Kính thưa Thầy cho con xin được hỏi một câu, tâm và thân trong cuộc sống của con người nhiều lúc khổ không biết nói làm sao, làm sao để kìm hãm được thân và tâm?
Sư Phụ:
Bản chất của cuộc đời là khổ, ý thức được điều này rất quan trọng trong đường tu của chúng ta. Chính vì khổ cho nên mình mới tu, chính vì khổ nên hết sức phải cẩn thận đối với thân, miệng, ý. Như pháp hành trong kinh tạng Nikāya có dạy, bước đầu chúng ta phải an trú cảm giác toàn thân, luôn luôn kiểm tra, kiểm soát, dò xét, theo dõi cảm giác và nhắc nhở mình thực tập một cảm giác hiền lành, hiền thiện, hiền hòa. Nhờ vậy, ta có được sự canh chừng bảo vệ, bảo hộ, bảo hiểm, bảo an, bảo toàn ở nơi ý nghĩ, lời nói và hành động, đó là chính là lá bùa hộ mạng của mình. Trong sự quán sát cảm giác toàn thân, phải nhắc nhở thân, miệng, ý của mình đừng có thả lỏng, không được buông lung, nếu không mình sẽ buông trôi và rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Thế gian này đầy những cạm bẫy, Đức Phật nói phía trước cũng là gai, bên phải cũng là gai, bên trái cũng là gai, bên trên cũng là gai, bên dưới cũng là gai, những gai góc tham, sân, si đầy rẫy trong cuộc đời mình. Chính vì vậy chúng ta phải hết sức cẩn thận, đi không cẩn thận là đạp trúng cái gai của tham sân si, gai của giận hờn, hơn thua, bản ngã…Người tu phải hết sức cẩn thận để bảo vệ, bảo hộ, hộ trì giữ gìn tâm mình, giữ gìn lời nói và hành động. Điều này còn quan trọng hơn việc giữ tài sản, vì tài sản mất có khi tìm lại được; còn khi tâm buông thả, mất chánh niệm thì mình có thể rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ngay lập tức, do vậy, giữ tâm còn quan trọng hơn giữ tài sản. Đó là bảo hiểm an toàn nhất của người tu.
---
Phật tử Thanh Bình:
Kính bạch Thượng Tọa thật là phúc duyên con thu xếp được thời gian học đúng tiết dạy của Thượng Tọa và bài pháp hôm nay đã giúp cho con cảnh tỉnh bản thân vì sao mình là thân nữ khó thành tựu trong cuộc đời, chúng con biết cách để tu tập, tiết chế, hạn chế mà Đức Phật đã từ bi chỉ dạy cho bởi ba trạng thái của tâm. Do kém tiết chế mà bị đọa vào thân nữ này, một lần nữa giúp cho con quan sát, tinh tấn tu có được kiến thức cơ bản về pháp hành trì và chuyên tâm tu theo con đường mà Đức Phật đã chỉ dạy và thêm một lần nữa các Thầy dẫn dắt cho chúng con đi vào con đường đạo để giác ngộ.
Con có một câu hỏi muốn Thượng Tọa hoan hỉ chỉ dạy cho. Với chúng con là chúng sinh chúng con thấy được rằng mình là thân nữ thông qua bài pháp mà Thượng tọa đã giảng, Thầy đã dành rất nhiều thời gian để tìm nhiều bài pháp khác, ví dụ khác để minh họa một cách rõ ràng cho chúng con hiểu rõ vấn đề để mà tinh tấn tu tập, cho con xin được hỏi có khi nào do hạnh nguyện từ kiếp trước mà vốn là một người nữ giống như ngài Quan Thế Âm Bồ Tát. Con thấy trong kinh dạy, khi người nam cần Ngài sẽ hiện ra thân nam để độ, khi cần người nữ hoặc thanh đồng tử Ngài sẽ thị hiển để giúp. Ví dụ như Sư bà Hải Triều Âm đã độ cho rất là nhiều người, Sư bà cũng rất là tuyệt vời, khi bà viên tịch cũng để lại những điều vô cùng vi diệu con xin Thượng Tọa chỉ dạy cho, chúng ta nên hiểu như thế nào hạnh nguyện của các Ni trưởng từ kiếp trước có phải muốn hóa độ cho chúng sanh, chỉ dạy cho người nữ có con đường tu chân chánh có phải là hóa ra thân nữ để chỉ dạy hay không?
Sư Phụ:
Sự tu của tự thân mình là quan trọng nhất, những việc của các vị khác mình khó biết được.
Như Đức Phật dạy, buổi sáng chúng ta thường tham lam, keo kiệt, bỏn xẻn; bây giờ mình thay đổi, tu tập tâm rộng rãi, độ lượng, bố thí để trị cái tâm tham lam, bỏn xẻn, keo kiệt đó. Đối với tâm tật đố, ganh ghét thì mình phải dùng tâm tha thứ, tâm tùy hỷ, tức là vui theo sự thành công của người khác; ví dụ, do mặc cảm mình xấu xí, không ai biết tới nên khi thấy một người đẹp, nổi tiếng thì mình không ưa, chúng ta không nên như vậy.
Trong bài “Hỷ Vô Lượng Tâm” Minh Thành đã chia sẻ hãy vui vì người ta đẹp, vui vì người ta giàu, vui vì người ta được an lành, hạnh phúc, vui vì người ta được cung kính, vui vì người ta được thành công, vui vì người ta có trí tuệ, vui vì người ta có phước đức. Vui theo những niềm vui đó để chúng ta phá giải, nhiếp phục tâm ganh tị, tật đố, nhỏ mọn, nhỏ hẹp. Còn tâm tham muốn, tham dục nhiều thì mình nhớ niệm thân bất tịnh, đó là những pháp đối trị lại ba trạng thái tham, sân, si của tâm vào buổi sáng, buổi trưa, buổi tối.
Căn bản trong kinh Nikāya là tu tâm hiền và Bốn tâm vô lượng, điều này rất là quan trọng. Thay vì tâm tham lam, bỏn xẻn, keo kiệt, hơn thua, sân si, phẫn nộ, tật đố thì bây giờ chúng ta tu tâm hiền, ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương, dễ mến. Tất cả đều có pháp đối trị rất là rõ, chứ không phải chỉ đề cập đến mặt xấu, chúng ta còn có phương pháp để đưa cái tốt thay thế vào những tâm xấu ác. Vì vậy, phải cố gắng tu tâm hiền, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương, nói đơn giản là tâm hiền và Bốn vô lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả. Tu được bốn tâm này thì mình không còn là người nữ hay người nam, mà sẽ trở thành Phạm thiên. Bốn tâm vô lượng này làm cho mình vượt ra khỏi thân nam nữ của thế gian thấp kém, thành tựu được tâm của Vua trời. Đây là Minh Thành đang hướng dẫn pháp hành.
Còn cảnh giới thừa nguyện tái lai trong kinh Nikāya có gọi là “ý sanh thân”, đây là cảnh giới của các bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác và các bậc Đại Thánh. Việc này mình không suy đoán bừa bãi được nhưng trong kinh Nikāya có những bài kinh Đức Thế Tôn nói: “Ý Ta muốn hiện ra hình tướng trong chúng hội của Sa-môn thì lúc đó ta sẽ thành Sa-môn, Ta muốn vào hình tướng của Bà-la-môn thì ta trong chúng hội của Bà-la-môn, Ta muốn là hình tướng của một doanh nhân thì ta là người doanh nhân”, các vị mà thành tựu được thần lực gọi là ý sanh thân. Các Ngài muốn ý như thế nào thì hiện ra thân thế đó, đó là cảnh giới của các bậc đại Thánh. Còn hiện tại, chúng ta cứ cố gắng tu để thoát khỏi nghiệp xấu, thành tựu nghiệp thiện, nỗ lực đoạn tận tham sân si.
---
Phật Tử Minh Anh:
Lời đầu tiên con xin tri ân chư Tôn Đức Tăng Ni trong Ban Hoằng Pháp Trung Ương đã tổ chức cho chúng con buổi pháp thoại ngày hôm nay. Con tri ân Thầy đã giảng pháp ngày hôm nay. Con cảm nhận bài pháp Thượng Tọa giảng ngày hôm nay có một chút nhạy cảm nếu không có lòng từ bi thì có một chút phân biệt. Đây là những yếu tố để cho người phụ nữ hiểu và tránh những điểm yếu bởi vì không biết được những điểm yếu này những người có tính xấu người ta sẽ biết được điểm yếu của người phụ nữ người ta sẽ lợi dụng. Con thấy bài pháp ngày hôm nay cũng là con dao hai lưỡi nếu như người ta có ác tâm học được điều này thì quả thực là nguy hiểm, rất may mắn đây là bài kinh Đức Phật thuyết vì lòng từ bi cho nên con hiểu điểm này là như vậy. Bài pháp ngày hôm này nó diễn rộng ra ngoài xã hội, con cũng gặp rất nhiều trường hợp bạn bè của con rất nhiều người ly hôn, một trong hai người đã thực hành pháp tà dâm, ngoại tình khiến cho hôn nhân đổ vỡ rất nhiều. Có những người bạn nữ bị ly hôn, bị chồng phản bội, bị chồng ngoại tình như thế thì họ rất đau khổ, con cũng không biết khuyên họ như thế nào chỉ biết khuyên là bây giờ nếu đã như vậy mình cứ cố gắng sống tốt.
Như bài kinh đầu tiên những người không cùng đạo đức với nhau thì khó có thể đi được với nhau lâu dài trong một quãng đường trong kiếp này chưa nói đến kiếp sau, ngay trong kiếp này đã phải chia lìa rồi. Đối với pháp tà dâm mạnh hơn là kẻ xâm lược ngày xưa, con nghĩ rằng nạn giặc dã chiến tranh không nặng bằng pháp tà dâm. Ngày hôm nay xã hội họ ưa thích pháp này, mong muốn pháp này, họ thỏa mãn pháp này, họ có thể ngồi bàn tán pháp này nhưng họ không hiểu được hậu quả mà nước mắt của rất nhiều người phải đổ xuống trong gia đình thì vợ chồng biến thành kẻ thù của nhau, bố mẹ biến thành kẻ thù của con cái, bởi vì họ đã thực hành pháp này, chắc chắn họ là kẻ thù của gia đình.
Con chỉ biết khuyên các bạn của con nếu như vậy thì cũng đành phải chia tay cố gắng sống tốt, sẽ tìm được một điều tốt hơn, con khuyên các bạn của con như vậy chưa được chín chắn xin Thượng Tọa giảng dạy thêm cho con.
Sư phụ
Lời khuyên cho bạn như vậy rất tốt đúng như lời Phật dạy, đúng Chánh pháp.
---
Phật Tử Phan Nhân
Thượng tọa xin cho con hỏi Đức Phật nói là đi tu là đoạn diệt dục nhưng tại sao Ngài Ànanda vì sắc đẹp muốn được thiên nữ, Ngài Ànanda đi tu?
Sư Phụ
Ngài Ànanda được Đức Phật khen trong kinh Nikāya là bậc Hộ trì căn bậc nhất trong hàng Thánh Đệ Tử thời đó, cho nên mới được gần Đức Phật, Ngài là một con người rất nghiêm túc, rất trang nghiêm, rất cẩn trọng, sau này có sự thêm thắt. Trong tạng kinh Nikāya không có chuyện đó, cho nên Phật tử đừng hiểu lầm và hãy tìm hiểu thêm trong tạng kinh Nikāya.
./.
NGHIỆP VÀ QUẢ BÁO 24
NGHIỆP CỦA NGƯỜI NỮ - TĂNG CHI BỘ KINH
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Làm thế nào để gặp nhau trong đời sau? PAGEREF _Toc139102580 \h 1
II.Nghiệp Của Người Nữ PAGEREF _Toc139102581 \h 4
1.Vì sao người nữ không thành tựu sự nghiệp lớn PAGEREF _Toc139102582 \h 4
2.Vì sao người nữ bị đọa nhiều trong địa ngục PAGEREF _Toc139102583 \h 5
3.Vì sao người nữ không thoát khỏi hệ lụy của nữ tánh PAGEREF _Toc139102584 \h 8
4.Năm nỗi khổ của người nữ PAGEREF _Toc139102585 \h 11
5.Năm nguy hại của người nữ PAGEREF _Toc139102586 \h 12
6.Đức Phật giảng về Nam nhân và Nữ nhân PAGEREF _Toc139102587 \h 14
III.Trình pháp và Vấn đáp PAGEREF _Toc139102588 \h 15
Làm thế nào để gặp nhau trong đời sau?
Hôm nay chúng ta nghe bài kinh Xứng Đôi - Tăng Chi Bộ Kinh VI, tr668. Trong bài kinh này Đức Phật nói với chúng ta biết rằng những người nam nữ Phật tử cư sĩ vợ chồng mà muốn thấy mặt nhau ở đời sau thì phải làm sao?
Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga tại núi Sumsumàra, rừng Bhesakalà, ở vườn Nai. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ gia chủ cha Nakulà, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ cha Nakulà và nữ gia chủ mẹ Nakulà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ cha Nakulà bạch Thế Tôn:
- Từ khi nữ gia chủ mẹ Nakulà được đem về đây cho con khi con còn trẻ nhỏ, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến vợ con, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.
Nữ gia chủ mẹ Nakulà bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, từ khi con được đem về đây cho gia chủ cha Nakulà, khi con còn trẻ nhỏ, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến gia chủ cha Nakulà, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau, trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.
- Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí, đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, 4. Chương Bốn Pháp. VI. Phẩm Nguồn Sanh Phước, bài kinh Xứng Đôi 1)
Bài kinh này tuy ngắn nhưng là một nguyên lý rất lớn, không chỉ dành cho những đôi vợ chồng, mà còn cả những người là mẹ con, cha con, anh em, bạn bè… đang là những người cư sĩ tại gia, có mong muốn về sau còn được gặp nhau. Nguyên lý này đọc lướt qua thì ta thấy rất là bình thường nhưng nếu có sự nghiên cứu, chiêm nghiệm, quán chiếu sâu sắc bài kinh này, ta sẽ thấy đây là một nguyên lý vĩ đại.
Trong đây từ Hán việt, chữ “đồng” là cùng; nếu ai cùng chung bốn phương diện đồng tín, đồng giới, đồng thí và đồng trí tuệ thì đời sau sẽ gặp nhau, đây là phương pháp dành cho những người chưa muốn giải thoát sinh tử luân hồi. Trong nhân thiên phước báu, những vị có bốn phương diện này giống nhau thì đời sau sẽ gặp nhau.
Điều thứ nhất là có cùng một niềm tin.
Điều thứ hai là cùng giữ giới. Ví dụ người này giữ năm giới người kia cũng phải giữ năm giới, người này giữ tám giới người kia cũng giữ tám giới, người này giữ mười giới người kia cũng phải giữ mười giới thập thiện, đó gọi là đồng giới, cùng sự tu tập giới pháp giống nhau.
Điều thứ ba là đồng thí. Có những đôi vợ chồng, mẹ con, cha con, anh em, khi làm phước thường rủ nhau, có những người bạn làm thì hai người cùng làm, không nghi ngờ lẫn nhau như vậy gọi là đồng thí, cùng chung với nhau để bố thí.
Thứ tư là đồng trí tuệ, điều này cũng rất quan trọng và đặc biệt. Trí tuệ ở đây là cùng hiểu nhân quả về tội phước, về thiện ác, nghiệp đen nghiệp trắng. Thế Tôn dạy rằng,“Này các Tỷ-kheo, nhân ác mà có quả vui sướng hạnh phúc sự kiện này không thể xảy ra, nhân thiện mà kết quả là khổ đau thì sự kiện này không thể xảy ra” cho nên trí tuệ ở đây là hiểu được nguyên nhân và kết quả, hiểu được nghiệp đen nghiệp trắng, hiểu được đâu là thiện, đâu là bất thiện.
Đức Phật có dạy, căn bản của bất thiện chính là tham sân si; căn bản của thiện là không tham, không sân, không si. Nghe không tham, không sân, không si thì đơn giản nhưng để tu được như vậy là không hề đơn giản. Tham sân si trong Tạng kinh Nikāya rất sâu sắc, thậm chí cái tham đó không phải lấy đồ của người ta mới là tham, mà dù cho chưa lấy, chỉ tham trong suy nghĩ, nhưng trong ý nghĩ có tham thì đó cũng là ý nghiệp bất thiện. Hoặc mình muốn la mắng người khác, dù chưa la mắng ra ngoài, chỉ có ý nghĩ là muốn la mắng thôi thì đó cũng là bất thiện.
Vì vậy, tu tập để nhiếp phục tham sân si theo tinh thần Nikāya là phải thấy được ngũ uẩn, nhận diện được cảm thọ, có những cách xử lý tham sân si khi chúng còn ở trong mầm mống, vừa mới manh nha sanh khởi từ bên trong ý nghĩ, cảm thọ và tư tưởng. Không giống như cách hiểu thông thường trước nay là ăn cắp mới là tham, cãi lộn mới là với sân, ngủ gục mới là si, mà tham sân si ở trong Nikāya rất là sâu sắc.
Bài kinh này chỉ cho chúng ta nguyên lý, muốn gặp nhau ở đời sau thì phải có bốn khía cạnh giống nhau: lòng tin giống nhau, giữ giới giống nhau, bố thí giống nhau và trí tuệ giống nhau. Ai muốn gặp lại ở kiếp sau thì cứ thực tập bốn phương diện này. Những người cư sĩ cùng thọ Tam Quy, Ngũ Giới, Tám giới hoặc Thập Thiện, cùng bố thí, cùng giữ giới, cùng có lòng tin Tam Bảo và cùng Trí tuệ thì sẽ có thể gặp lợi ở đời sau như lời Đức Thế Tôn đã nói: “Thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau”.
---
Trong những buổi lễ Vu lan báo hiếu, chúng ta thường nghe các người con nói rằng: “Con rất là hạnh phúc khi được làm con của mẹ, con mong muốn đời sau sinh ra con cũng được làm con của mẹ” – mong ước như vậy đối với người tại gia là điều chính đáng, vì họ chưa thành tựu tri kiến của bậc Thánh, khi còn ở trong thiện pháp của nhân thiên điều này là bình thường.
Trong kinh Bổn Sanh Bổn Sự có nói, không phải chỉ có đời này các vị đó là mẹ con, cha con, anh chị em, vợ chồng với nhau, mà trong kinh nói rằng, các mối quan hệ này có tới 500 đời đã làm mẹ con, cha con, anh chị em, vợ chồng với nhau. Bởi vậy trong dòng sanh tử luân hồi này rất khó để thấy hết được những mối quan hệ, mối liên hệ tương quan, tương duyên với nhau. Như trong Tương Ưng Vô Thỉ đã được học, chúng ta có thể hiểu rằng, huynh đệ, thầy trò, hay bạn đạo với nhau ở trên núi rừng này không phải là chuyện ngẫu nhiên, có khi từ thời 2600 năm trước, mình đã được ở tại Linh Sơn thắng hội nhưng vì biếng nhác, buông lung phóng dật cho nên trôi nổi tới tận bây giờ. Khi đó có thể mình tu học gục lên gục xuống, ngồi thiền ngủ lên ngủ xuống, lười biếng, giải đãi cho nên còn rớt lại ở đây. Rớt lại ở đây rồi mà còn không chịu nỗ lực thì mai sau sẽ gặp nhau không phải gặp ở cõi người, mà gặp ở cõi đầy lông lá, mang lông đội sừng, gặp ở trong đống phân có những con giòi, gặp ở trong những tấm thân rình mò bắt chuột...
Tại thất Minh Thành vừa mới dựng lên có hai con chim bồ câu tới ở, nhà chưa xong thì có đàn ong bay tới làm nguyên một cái tổ phía trước thiền thất, thầy Pháp An nói là “tốt lành lắm, tốt lành lắm”. Chúng ta thấy rằng những con ong đó cũng đồng tín, đồng giới, đồng thí, đồng tuệ từ nhiều đời nhiều kiếp, nhưng không phải là thiện pháp cho nên mình phải cố gắng gặp nhau trong thiện pháp chứ đừng có bất thiện pháp.
Nghiệp Của Người Nữ
Vì sao người nữ không thành tựu sự nghiệp lớn
Đức Phật có dạy nguyên nhân vì sao phụ nữ không đi đến Tinh Túy Của Sự Nghiệp (Tăng Chi Bộ Kinh – Tr710):
Một thời, Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita. Rồi Tôn giả Ànanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi
xuống một bên, Tôn giả Ànanda bạch Thế Tôn:
- Do nhân gì, do duyên gì, bạch Thế Tôn, nữ nhân không ngồi giữa trong pháp đình, không có dấn thân vào sự nghiệp, không đi đến tinh túy của sự nghiệp?
Ngài Ànanda hỏi Thế Tôn do nhân duyên gì mà người nữ không đạt đến chỗ tinh túy của sự nghiệp. Bởi vì xã hội Ấn Độ ngày xưa như chúng ta đã biết, cách đây 2.600 năm, thân phận người phụ nữ trong xã hội rất là thấp kém, bị xem nhẹ, đến ngày hôm nay cũng đã đỡ hơn. Tuy nhiên, người nữ có những đặc tính nhất định, được Đức Thế Tôn nhắc đến trong rất nhiều bài kinh, Ngài cũng dạy rất kỹ nguyên nhân tại sao thành người nữ. Tất cả những điều này được tổng hợp vào chuyên đề “Nữ nhân” trong 500 chủ đề của Nikāya phân loại.
Khi Ngài Ànanda hỏi như vậy, Đức Thế Tôn dạy như sau:
- Phẫn nộ là nữ nhân, này Ànanda.
- Tật đố là nữ nhân, này Ànanda.
- Xan tham là nữ nhân, này Ànanda.
- Ác tuệ là nữ nhân, này Ànanda.
Đây là nhân, đây là duyên, này Ànanda, nữ nhân không ngồi giữa pháp đình, không có dấn thân vào sự nghiệp, không đi đến tinh túy của sự nghiệp.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, 4. Chương Bốn Pháp, VIII. Phẩm Không Hý Luận, bài kinh Tinh Túy Của Sự Nghiệp)
Như vậy, những nguyên nhân làm cho người nữ không có được Tinh túy của sự nghiệp đó là: Phẫn nộ, tật đố, xan tham, ác tuệ. Đó chính là nhân là duyên mà nữ nhân không được ngồi giữa pháp đình, không dấn thân vào sự nghiệp, không đi đến tinh túy của sự nghiệp. Dù thông minh nhưng theo chiều thế gian là bất thiện; dù rất là giỏi, rất là hay, biết nhiều thứ nhưng biết theo chiều tham sân si hơn thua, ganh tị, tật đố. Đó là bốn pháp làm cho người nữ không thành tựu được việc lớn.
Vì sao người nữ bị đọa nhiều trong địa ngục
Qua đây, Minh Thành sẽ đọc thêm một vài bài kinh về chủ đề người nữ để các vị nữ cư sĩ cũng như các vị xuất gia cùng chiêm nghiệm, quán chiếu, soi rọi lại tự thân qua lời dạy của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, vì lời của Đức Thế Tôn thì không thể khác được, không bao giờ sai. Có rất nhiều bài kinh Đức Phật nói về những đặc thù của người nữ, chúng ta sẽ thấy rất nhiều điều bất ngờ.
Sau đây là bài kinh có liên hệ đến ngày A-na-luật – Thiên nhãn đệ nhất, khi đó Ngài A-na-luật đi đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên và bạch Thế Tôn:
- Ở đây, bạch Thế Tôn, với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, con thấy phần lớn các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Do đầy đủ với bao nhiêu pháp, bạch Thế Tôn, các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục?
Tức là bằng thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân của bậc Thiên nhãn đệ nhất thì Ngài A-na-luật nhìn thấy ở dưới địa ngục nhiều người nữ bị dọa xuống và Ngài không hiểu tại sao lại như vậy. Ngài đi đến chỗ Đức Phật, Ngài hỏi nguyên nhân lý do gì mà phần lớn người nữ đoạn địa ngục. Đức Thế Tôn giảng dạy như sau:
- Do đầy đủ ba pháp, này Anuruddha, các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Thế nào là ba?
Ở đây, này Anuruddha:
Nữ nhân vào buổi sáng, sống ở trong nhà, tâm bị ám ảnh bởi cấu uế của xan lẫn;
Vào buổi trưa, sống ở trong nhà, tâm bị ám ảnh bởi cấu uế của tật đố.
Vào buổi chiều, sống ở trong nhà, tâm bị ám ảnh bởi cấu uế của dục tham.
Do đầy đủ ba pháp này, này Anuruddha, các nữ nhân, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, 3. Chương Ba Pháp XIII. Phẩm Kusinàra, bài kinh Anuruddha 1)
Nói vậy không có nghĩa là người nam không có nghiệp, nhưng có nghiệp ở khía cạnh khác. Phần lớn phụ nữ đọa địa ngục là do ác bất thiện pháp. Người nữ có ba trạng thái tâm trong một ngày: buổi sáng thường là xan tham, keo kiệt; buổi trưa ganh tị, tật đố; buổi tối bị ám ảnh bởi cấu uế của dục tham, những điều này chúng ta phải chiêm nghiệm, phải nhận diện kỹ rồi sẽ thấy rất rõ, vì lời của bậc Chánh Đẳng Giác thì không có sai.
Như vậy, từ hai bài kinh trên, một bên người nữ không thành tựu được sự nghiệp lớn là do tính dễ phẫn nộ, sừng sộ, giận dữ và nguyên nhân người nữ rơi nhiều vào ba đường ác là do tâm luôn chất chứa xan tham, tật đố, dục tham.
---
Đức Phật cũng có nói, người nữ lấy phẫn nộ làm sức mạnh, sức mạnh của em bé là tiếng khóc, sức mạnh của người tu là nhẫn nhục, chịu đựng, kham nhẫn. Chính vì sự nổi nóng, dễ sân hận, dễ bực bội, hơn nữa, tâm người nữ còn tật đố, ganh tị, ganh ghét, xan tham, ác tuệ, cho nên không làm được việc lớn.
Liên hệ đến bài kinh Sức Mạnh – Tăng Chi Bộ Kinh III:
Này các Tỷ-kheo, có tám sức mạnh này. Thế nào là tám?
Này các Tỷ-kheo,
Sức mạnh của con đàn bà là phẫn nộ.
Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí.
Sức mạnh của các vua chúa là uy quyền.
Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo.
Sức mạnh của bậc Hiền trí là cảm hóa.
Sức mạnh của vị nghe nhiều là thẩm sát.
Sức mạnh của Sa-môn, Bà-la-môn là nhẫn nhục.
Này các Tỷ-kheo, đây là tám sức mạnh.
---
“Sức mạnh của vị nghe nhiều là thẩm sát”, nhờ nghe nhiều nên ta thu được nhiều vốn liếng của Thánh trí tuệ. Khi có sự kiện gì xảy đến, chúng ta sẽ có sự quan sát và suy xét rất sâu sắc theo trí tuệ của bậc Thánh, cho nên đó được gọi là tư duy thẩm sát, tư duy tu, tư huệ, còn gọi là thiền tư, thiền quán, quán chiếu. Nhờ nghe nhiều nên mới có sức quan sát và suy xét sâu sắc, vì vậy, sức mạnh của bậc nghe nhiều là thẩm sát.
Trước đây, khi chưa học Nikāya, chúng ta cũng suy nghĩ, suy xét rất nhiều nhưng đó chỉ là những sự suy xét theo thế gian, theo hơn thua, đúng sai, hay dở, phải quấy, tốt xấu. Bây giờ mình cũng suy xét rất nhiều nhưng suy xét theo chiều hướng lìa hơn thua, rời ham muốn, suy xét để dẹp cái bản ngã, cái tôi… đó là Chánh tư duy, đó là nghĩ đúng, đó là Thánh tư duy, đó là ly dục tư duy, ly sân tư duy, ly bất hại tư duy, đó là sức mạnh thẩm sát của người nghe nhiều, là Đa văn Thánh đệ tử. Mỗi bài kinh của trong tạng Nikāya là định lý của bậc Chánh Giác Tối Tôn Tối Thượng, cho nên chúng ta cần nghe thật nhiều để thiền quán.
Vì sao người nữ không thoát khỏi hệ lụy của nữ tánh
Tiếp theo chúng ta nghe bài kinh “Hệ Lụy” – Tăng Chi Bộ Kinh III:
“Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Thầy pháp môn về hệ lụy, và ly hệ lụy, hãy lắng nghe...
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn về hệ lụy?
Một nữ nhân, này các Tỷ-kheo, tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức, thời nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy.
Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên tác ý đến nam căn ở ngoài, nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy
Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên nữ nhân ấy ước muốn có sự hệ lụy ở ngoài.
Do duyên với hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ nên nữ nhân ấy ước muốn lạc hỷ ấy.
Này các Tỷ-kheo, do thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người đàn ông.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, nữ nhân không có thoát được nữ tánh của mình”.
(Tăng Chi Bộ Kinh III, 7. Chương Bảy Pháp V. Phẩm Đại Tế Đàn, bài kinh Hệ Lụy)
---
Chúng ta không học kinh Nikāya thì sẽ không nghe được những lời dạy sâu sắc của Đức Phật và không thể hiểu nổi tại sao người nữ không thoát được hệ lụy tham đắm nữ tánh của mình. Đây là cả một sự giác ngộ, người thông thường đọc những điều này sẽ rất khó hiểu. Những điều này phải hiểu sâu về Hán tạng, về chữ Hán Việt, hiểu về nghiệp, quán chiếu mới thấy thâm sâu ở trong những lời dạy của Đức Phật.
Vậy, tại sao người nữ không thoát được nữ tánh của của mình? Đầu tiên, ta tìm hiểu những từ ngữ trong bài kinh:
Nữ căn tức là chỉ cho bộ phận sinh dục của người nữ; nữ hành tức là cử chỉ, hành động của người nữ; nữ y phục tức là y phục của người nữ; nữ loại là những gì thuộc về người phụ nữ; nữ dục là những gì ham muốn của người phụ nữ. Chính vì nghĩ đến những thứ này, chúng ta ham, thích, muốn, say đắm, hoan hỷ, thích thú trong nên mình không thoát ra khỏi thân của người phụ nữ. Người nam cũng giống như vậy.
Do đó, người tu muốn giải thoát thì phải phá sắc uẩn bằng cách quán bất tịnh, quán ba mươi hai thể trược, quán để thấy không có cái nào sạch, không có cái nào đẹp, cái nào cũng hơi dơ. Nhờ đó phá được ái, phá được thủ, phá được sự tác ý yêu thích, khoan khoái, ham muốn trong nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thì tâm tham ái của nữ tính mới không còn, lúc đó mình mới thoát được thân nữ. Ngược lại, nếu vẫn thích những thứ đó thì đời sau sinh ra tiếp tục sẽ làm thân nữ.
Nhờ đọc những bài kinh sâu sắc như thế này, chúng ta mới thấy được Thánh trí tuệ của Đức Phật vô cùng tối thượng, thâm sâu, không dùng từ diễn tả được, đây là trí huệ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, Ngài thấu hết tất cả những ngóc ngách, khía cạnh, góc độ, phương diện, nguyên nhân, căn nguyên, nhân gì, duyên gì mà lại có thân tướng của nam giới và nữ giới, nữ tánh và nam tánh. Do dục gì, ái gì, tham gì, thích gì, chấp thủ gì mà lại có sự hiện hữu đau khổ như vậy? Và làm thế nào để chặn đứng, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, tẩy sạch, diệt tận, để thoát ra những thứ đó thì Đức Phật trình bày rất rõ ở trong tạng kinh Nikāya.
Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên tác ý đến nam căn ở ngoài, nghĩa là thích về tình dục, trong tâm bị ám ảnh, không phá được sự yêu thích đó. Tương tự, do nghĩ đến nam hành, nam y phục, nam loại, nam dục, nam thanh, nam trang sức mà nữ nhân ấy tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy và tìm cái đó, kiếm cái đó, muốn cái đó, mong cái đó, khao khát cái đó. Do tham đắm trong ấy, thích thú tại đấy nên nữ nhân ấy ước muốn có sự hệ lụy ở ngoài, nghĩa là muốn lập gia đình, có tình dục.
Trên đây là những lời dạy rất là thâm sâu của Đức Phật, giảng giải rất rõ ràng về căn nguyên, manh nha, nguồn gốc, tại sao không thoát được ra thân nam tánh hay nữ tánh? Ngài nói rõ lí do tại sao mình ưa thích đối tượng đó, đồng thời chỉ ra nguyên nhân vì sao hai bên trói cột lại với nhau không giải thoát ra được:
Do duyên với hệ lụy ấy, khởi lên lạc, hỷ nên nữ nhân ấy ước muốn lạc hỷ ấy, người nữ muốn được sung sướng, khoan khoái, vui sướng. Này các tỷ-kheo, do thích thú trong nữ tánh của mình, các loài hữu tình đi đến hệ lụy với những người đàn ông. Như vậy, này các tỷ-kheo, nữ nhân không có thoát được nữ tánh của mình.
Thật sự khi đọc bài kinh này Minh Thành vô cùng rúng động, chấn động thân tâm. Bài kinh này là nguyên lý trói cột của tất cả chúng sanh nhân loại, giải mã ra lí do sâu kín nhất tại sao có sự yêu thích, trói cột, hệ lụy với nhau. Sanh ra là tự biết tìm kiếm, yêu thích, không cần ai dạy. Đức Phật dùng từ “tác ý”, tức là trong những suy nghĩ, cảm giác, tư tưởng luôn hướng về những thứ tham dục đó. Quý Sư cô, các vị Hiền trí nữ cư sĩ nếu không đọc được những bài kinh như thế này là rất đáng tiếc.
Đoạn kinh tiếp theo, Đức phật dạy để không hệ lụy thì không được tác ý về không tác ý nội nữ căn, nữ hành, nữ y phục, nữ loại, nữ dục, nữ thanh, nữ trang sức thời nữ nhân ấy không tham đắm trong ấy, không thích thú tại đấy. Cần dẹp bỏ chiều hướng suy nghĩ ưa thích, phá tham ái, phá vô minh và khát ái, tham ái đối với sắc uẩn, đối với cảm thọ, đối với suy nghĩ, đối với hình bóng, đối với nhận thức, tư duy, tư tưởng thì mới thoát ra được khỏi ngũ uẩn, như vậy mới gọi là yểm ly, viễn ly, xuất ly, ly tham, từ bỏ, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, chứng ngộ Niết-bàn.
Năm nỗi khổ của người nữ
Tiếp theo, Minh Thành chia sẻ thêm bài kinh “Đặc thù”, để chúng ta thấy Đức Thế Tôn nhìn vấn đề một cách toàn diện, chứ Ngài không nói người nữ xấu hoàn toàn, Ngài cũng nhắc đến khía cạnh khó khổ của người nữ:
Này các Tỷ-kheo, có năm đau khổ riêng biệt mà người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, người đàn bà lúc trẻ tuổi đi đến nhà chồng, không có bà con. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ nhất, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu điều đó khác biệt với đàn ông.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người đàn bà có kinh nguyệt. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ hai, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải mang thai. Ðây là sự đau khổ riêng biệt thứ ba, này các Tỷ- kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn
ông.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một người đàn bà phải sanh con. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ tư, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với
đàn ông.
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, người đàn bà hầu hạ đàn ông. Ðây là đau khổ riêng biệt thứ năm, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.
Này các Tỷ-kheo, đây là năm đau khổ riêng biệt, này các Tỷ-kheo, người đàn bà phải gánh chịu, khác biệt với đàn ông.
(Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương III. Tương Ưng Nữ Nhân,
Phần I. Phẩm Trung Lược, bài kinh Đặc Thù)
Người phụ nữ khi về nhà chồng không có người thân, có khi còn phải chịu cảnh mẹ chồng nàng dâu. Cho nên, quý vị Phật tử đang là mẹ chồng, nhớ đừng hành hạ, khắt khe với con dâu, vì đời sau người đó có thể hành lại lại mình, cứ hành qua hành lại đau khổ không dứt. Ngoài ra còn các mối quan hệ khác ở bên nhà chồng, cuộc sống thế gian hầu như ai cũng phải chịu những cảnh khổ như vậy, chỉ có những người xuất gia là không phải chịu những cái cảnh khổ này. Cho nên Đức Thế Tôn của chúng ta rất tuyệt diệu, khi Ngài nói đầy đủ các góc độ, khía cạnh, phương diện, không chỉ nói về phương diện chưa tốt, mà Ngài con trình bày về những nỗi khổ riêng biệt mà người phụ nữ phải chịu đựng.
Năm nguy hại của người nữ
Sau đây là một bài kinh khác để những người nữ quán chiếu và biết được nguyên nhân tại sao mình khó tu. Đức Phật rất thương chúng sanh nên Ngài mới giảng những điều này, chứ không phải ngài chê bai hay chỉ trích. Chúng ta cần hiểu tâm đại bi của Đức Phật, vì đây là Ngài chỉ cho mình thấy những điểm yếu, những nghiệp xấu và thói quen của người nữ để các vị khắc phục. Nếu Ngài không chỉ rõ thì làm sao mình thấy được, chỉ có Thánh nhãn, Phật nhãn mới nhìn thấy. Bài kinh Rắn Đen 2 – Tăng Chi Bộ Kinh II:
Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong con rắn đen.
Thế nào là năm?
Phẫn nộ,
Hiềm hận,
Có nọc độc,
Lưỡi chia hai,
Làm hại bạn.
Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong con rắn đen.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong nữ nhân.
Thế nào là năm?
Phẫn nộ,
Hiềm hận,
Có nọc độc,
Lưỡi chia hai,
Làm hại bạn.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, nọc độc của nữ nhân là như sau: Này các Tỷ-kheo, nữ nhân phần lớn hay tham đắm.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, lưỡi chia hai của nữ nhân là như sau: Này các Tỷ-kheo, nữ nhân phần lớn nói hai lưỡi.
Ở đây, này các Tỷ-kheo, nữ nhân làm hại bạn như sau: Này các Tỷ-kheo, nữ nhân phần lớn ngoại tình!
Này các Tỷ-kheo, có năm nguy hại này trong nữ nhân.
(Tăng Chi Bộ Kinh II, XXIII. Phẩm Du Hành Dài bài kinh Rắn Đen 2)
Nữ nhân phần lớn nói hai lưỡi, tức là đâm thọc, lại người này nói người kia, lại người kia thì nói người này, ngoài đời hay dùng câu đâm bị thóc chọc bị gạo, là lời nói ly gián làm chia rẽ. Con rắn có cái lưỡi chia ra làm hai do đời trước có nghiệp này cho nên cái lưỡi nó bị vậy. Người nữ ccug ó nghiệp này nặng, nghiệp này người nam cũng có nhưng phần lớn là người nữ. Những bài kinh này của bậc Tối Tôn Tối Thượng của chư Thiên và nhân loại.
Đức Phật giảng về Nam nhân và Nữ nhân
Minh Thành xin trích một đoạn trong bài kinh Mẹ Và Con – Tăng Chi Bộ Kinh II nhằm nhắc nhở quý Thầy và các chú:
Và này các Tỷ-kheo, loài hữu tình nào ái nhiễm, tham luyến, tham đắm, say đắm, say mê cảm xúc nữ nhân, chúng sẽ bị sầu ưu lâu dài, vì bị rơi vào uy lực của nữ xúc. Nữ nhân, khi đang đi, sẽ đứng lại để chinh phục tâm người đàn ông; khi đứng, khi ngồi, khi nằm, khi cười, khi nói, khi hát, khi khóc, khi bất tỉnh, khi chết, sẽ đứng lại để chinh phục tâm người đàn ông.
Này các Tỷ-kheo, nếu có ai nói rằng: "Là bẫy mồi toàn diện của Màra", thời người ấy đã nói một cách chơn chánh về nữ nhân, thật là "một bẫy mồi hoàn toàn của Màra”.
(Tăng Chi Bộ Kinh II, 5. Chương Năm Pháp , VI. Phẩm Triền Cái, bài kinh Mẹ Và Con)
---
Tôn giả phân loại 500 chủ đề trong tạng kinh Nikāya, trong đó có chủ đề “người nữ đang đi có thể là đứng lại chinh phục tâm của người đàn ông”, tức là người nữ có sức hấp dẫn, thu hút, lôi cuốn mạnh đối với người đàn ông. Đức Thế Tôn vì lòng thương đại bi, vì tình thương rộng lớn, phơi bày cho chúng ta thấy những điểm chúng ta không thấy:
Thế Tôn nói như sau:
- Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông như sắc người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
Ta không thấy một tiếng nào khác, này các Tỷ- kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như tiếng người đàn bà. Này các Tỷ-kheo, tiếng người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
Ta không thấy một hương...một vị...một xúc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông, như hương...vị.. xúc người đàn bà.
Này các Tỷ-kheo, xúc người đàn bà xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn ông.
Ta không thấy một sắc nào khác, này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà như sắc người đàn ông. Này các Tỷ-kheo, sắc người đàn ông
xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà.
Ta không thấy một tiếng... một hương...một vị...một xúc nào khác. Này các Tỷ-kheo, xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà, như tiếng... hương... vị... xúc người đàn ông. Này các Tỷ-kheo, xúc người đàn ông xâm chiếm và ngự trị tâm người đàn bà.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, Chương Một Pháp, I. Phẩm Nữ Sắc, bài kinh Nữ Sắc)
Trình pháp và Vấn đáp
Phật Tử:
Kính thưa Thầy cho con xin được hỏi một câu, tâm và thân trong cuộc sống của con người nhiều lúc khổ không biết nói làm sao, làm sao để kìm hãm được thân và tâm?
Sư Phụ:
Bản chất của cuộc đời là khổ, ý thức được điều này rất quan trọng trong đường tu của chúng ta. Chính vì khổ cho nên mình mới tu, chính vì khổ nên hết sức phải cẩn thận đối với thân, miệng, ý. Như pháp hành trong kinh tạng Nikāya có dạy, bước đầu chúng ta phải an trú cảm giác toàn thân, luôn luôn kiểm tra, kiểm soát, dò xét, theo dõi cảm giác và nhắc nhở mình thực tập một cảm giác hiền lành, hiền thiện, hiền hòa. Nhờ vậy, ta có được sự canh chừng bảo vệ, bảo hộ, bảo hiểm, bảo an, bảo toàn ở nơi ý nghĩ, lời nói và hành động, đó là chính là lá bùa hộ mạng của mình. Trong sự quán sát cảm giác toàn thân, phải nhắc nhở thân, miệng, ý của mình đừng có thả lỏng, không được buông lung, nếu không mình sẽ buông trôi và rơi xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Thế gian này đầy những cạm bẫy, Đức Phật nói phía trước cũng là gai, bên phải cũng là gai, bên trái cũng là gai, bên trên cũng là gai, bên dưới cũng là gai, những gai góc tham, sân, si đầy rẫy trong cuộc đời mình. Chính vì vậy chúng ta phải hết sức cẩn thận, đi không cẩn thận là đạp trúng cái gai của tham sân si, gai của giận hờn, hơn thua, bản ngã…Người tu phải hết sức cẩn thận để bảo vệ, bảo hộ, hộ trì giữ gìn tâm mình, giữ gìn lời nói và hành động. Điều này còn quan trọng hơn việc giữ tài sản, vì tài sản mất có khi tìm lại được; còn khi tâm buông thả, mất chánh niệm thì mình có thể rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ngay lập tức, do vậy, giữ tâm còn quan trọng hơn giữ tài sản. Đó là bảo hiểm an toàn nhất của người tu.
---
Phật tử Thanh Bình:
Kính bạch Thượng Tọa thật là phúc duyên con thu xếp được thời gian học đúng tiết dạy của Thượng Tọa và bài pháp hôm nay đã giúp cho con cảnh tỉnh bản thân vì sao mình là thân nữ khó thành tựu trong cuộc đời, chúng con biết cách để tu tập, tiết chế, hạn chế mà Đức Phật đã từ bi chỉ dạy cho bởi ba trạng thái của tâm. Do kém tiết chế mà bị đọa vào thân nữ này, một lần nữa giúp cho con quan sát, tinh tấn tu có được kiến thức cơ bản về pháp hành trì và chuyên tâm tu theo con đường mà Đức Phật đã chỉ dạy và thêm một lần nữa các Thầy dẫn dắt cho chúng con đi vào con đường đạo để giác ngộ.
Con có một câu hỏi muốn Thượng Tọa hoan hỉ chỉ dạy cho. Với chúng con là chúng sinh chúng con thấy được rằng mình là thân nữ thông qua bài pháp mà Thượng tọa đã giảng, Thầy đã dành rất nhiều thời gian để tìm nhiều bài pháp khác, ví dụ khác để minh họa một cách rõ ràng cho chúng con hiểu rõ vấn đề để mà tinh tấn tu tập, cho con xin được hỏi có khi nào do hạnh nguyện từ kiếp trước mà vốn là một người nữ giống như ngài Quan Thế Âm Bồ Tát. Con thấy trong kinh dạy, khi người nam cần Ngài sẽ hiện ra thân nam để độ, khi cần người nữ hoặc thanh đồng tử Ngài sẽ thị hiển để giúp. Ví dụ như Sư bà Hải Triều Âm đã độ cho rất là nhiều người, Sư bà cũng rất là tuyệt vời, khi bà viên tịch cũng để lại những điều vô cùng vi diệu con xin Thượng Tọa chỉ dạy cho, chúng ta nên hiểu như thế nào hạnh nguyện của các Ni trưởng từ kiếp trước có phải muốn hóa độ cho chúng sanh, chỉ dạy cho người nữ có con đường tu chân chánh có phải là hóa ra thân nữ để chỉ dạy hay không?
Sư Phụ:
Sự tu của tự thân mình là quan trọng nhất, những việc của các vị khác mình khó biết được.
Như Đức Phật dạy, buổi sáng chúng ta thường tham lam, keo kiệt, bỏn xẻn; bây giờ mình thay đổi, tu tập tâm rộng rãi, độ lượng, bố thí để trị cái tâm tham lam, bỏn xẻn, keo kiệt đó. Đối với tâm tật đố, ganh ghét thì mình phải dùng tâm tha thứ, tâm tùy hỷ, tức là vui theo sự thành công của người khác; ví dụ, do mặc cảm mình xấu xí, không ai biết tới nên khi thấy một người đẹp, nổi tiếng thì mình không ưa, chúng ta không nên như vậy.
Trong bài “Hỷ Vô Lượng Tâm” Minh Thành đã chia sẻ hãy vui vì người ta đẹp, vui vì người ta giàu, vui vì người ta được an lành, hạnh phúc, vui vì người ta được cung kính, vui vì người ta được thành công, vui vì người ta có trí tuệ, vui vì người ta có phước đức. Vui theo những niềm vui đó để chúng ta phá giải, nhiếp phục tâm ganh tị, tật đố, nhỏ mọn, nhỏ hẹp. Còn tâm tham muốn, tham dục nhiều thì mình nhớ niệm thân bất tịnh, đó là những pháp đối trị lại ba trạng thái tham, sân, si của tâm vào buổi sáng, buổi trưa, buổi tối.
Căn bản trong kinh Nikāya là tu tâm hiền và Bốn tâm vô lượng, điều này rất là quan trọng. Thay vì tâm tham lam, bỏn xẻn, keo kiệt, hơn thua, sân si, phẫn nộ, tật đố thì bây giờ chúng ta tu tâm hiền, ngọt ngào, dễ chịu, dễ thương, dễ mến. Tất cả đều có pháp đối trị rất là rõ, chứ không phải chỉ đề cập đến mặt xấu, chúng ta còn có phương pháp để đưa cái tốt thay thế vào những tâm xấu ác. Vì vậy, phải cố gắng tu tâm hiền, an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, dễ thương, nói đơn giản là tâm hiền và Bốn vô lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả. Tu được bốn tâm này thì mình không còn là người nữ hay người nam, mà sẽ trở thành Phạm thiên. Bốn tâm vô lượng này làm cho mình vượt ra khỏi thân nam nữ của thế gian thấp kém, thành tựu được tâm của Vua trời. Đây là Minh Thành đang hướng dẫn pháp hành.
Còn cảnh giới thừa nguyện tái lai trong kinh Nikāya có gọi là “ý sanh thân”, đây là cảnh giới của các bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác và các bậc Đại Thánh. Việc này mình không suy đoán bừa bãi được nhưng trong kinh Nikāya có những bài kinh Đức Thế Tôn nói: “Ý Ta muốn hiện ra hình tướng trong chúng hội của Sa-môn thì lúc đó ta sẽ thành Sa-môn, Ta muốn vào hình tướng của Bà-la-môn thì ta trong chúng hội của Bà-la-môn, Ta muốn là hình tướng của một doanh nhân thì ta là người doanh nhân”, các vị mà thành tựu được thần lực gọi là ý sanh thân. Các Ngài muốn ý như thế nào thì hiện ra thân thế đó, đó là cảnh giới của các bậc đại Thánh. Còn hiện tại, chúng ta cứ cố gắng tu để thoát khỏi nghiệp xấu, thành tựu nghiệp thiện, nỗ lực đoạn tận tham sân si.
---
Phật Tử Minh Anh:
Lời đầu tiên con xin tri ân chư Tôn Đức Tăng Ni trong Ban Hoằng Pháp Trung Ương đã tổ chức cho chúng con buổi pháp thoại ngày hôm nay. Con tri ân Thầy đã giảng pháp ngày hôm nay. Con cảm nhận bài pháp Thượng Tọa giảng ngày hôm nay có một chút nhạy cảm nếu không có lòng từ bi thì có một chút phân biệt. Đây là những yếu tố để cho người phụ nữ hiểu và tránh những điểm yếu bởi vì không biết được những điểm yếu này những người có tính xấu người ta sẽ biết được điểm yếu của người phụ nữ người ta sẽ lợi dụng. Con thấy bài pháp ngày hôm nay cũng là con dao hai lưỡi nếu như người ta có ác tâm học được điều này thì quả thực là nguy hiểm, rất may mắn đây là bài kinh Đức Phật thuyết vì lòng từ bi cho nên con hiểu điểm này là như vậy. Bài pháp ngày hôm này nó diễn rộng ra ngoài xã hội, con cũng gặp rất nhiều trường hợp bạn bè của con rất nhiều người ly hôn, một trong hai người đã thực hành pháp tà dâm, ngoại tình khiến cho hôn nhân đổ vỡ rất nhiều. Có những người bạn nữ bị ly hôn, bị chồng phản bội, bị chồng ngoại tình như thế thì họ rất đau khổ, con cũng không biết khuyên họ như thế nào chỉ biết khuyên là bây giờ nếu đã như vậy mình cứ cố gắng sống tốt.
Như bài kinh đầu tiên những người không cùng đạo đức với nhau thì khó có thể đi được với nhau lâu dài trong một quãng đường trong kiếp này chưa nói đến kiếp sau, ngay trong kiếp này đã phải chia lìa rồi. Đối với pháp tà dâm mạnh hơn là kẻ xâm lược ngày xưa, con nghĩ rằng nạn giặc dã chiến tranh không nặng bằng pháp tà dâm. Ngày hôm nay xã hội họ ưa thích pháp này, mong muốn pháp này, họ thỏa mãn pháp này, họ có thể ngồi bàn tán pháp này nhưng họ không hiểu được hậu quả mà nước mắt của rất nhiều người phải đổ xuống trong gia đình thì vợ chồng biến thành kẻ thù của nhau, bố mẹ biến thành kẻ thù của con cái, bởi vì họ đã thực hành pháp này, chắc chắn họ là kẻ thù của gia đình.
Con chỉ biết khuyên các bạn của con nếu như vậy thì cũng đành phải chia tay cố gắng sống tốt, sẽ tìm được một điều tốt hơn, con khuyên các bạn của con như vậy chưa được chín chắn xin Thượng Tọa giảng dạy thêm cho con.
Sư phụ
Lời khuyên cho bạn như vậy rất tốt đúng như lời Phật dạy, đúng Chánh pháp.
---
Phật Tử Phan Nhân
Thượng tọa xin cho con hỏi Đức Phật nói là đi tu là đoạn diệt dục nhưng tại sao Ngài Ànanda vì sắc đẹp muốn được thiên nữ, Ngài Ànanda đi tu?
Sư Phụ
Ngài Ànanda được Đức Phật khen trong kinh Nikāya là bậc Hộ trì căn bậc nhất trong hàng Thánh Đệ Tử thời đó, cho nên mới được gần Đức Phật, Ngài là một con người rất nghiêm túc, rất trang nghiêm, rất cẩn trọng, sau này có sự thêm thắt. Trong tạng kinh Nikāya không có chuyện đó, cho nên Phật tử đừng hiểu lầm và hãy tìm hiểu thêm trong tạng kinh Nikāya.
./.