Thánh Trí Năm Uẩn 24 - Trói Buộc & Vô Minh - Nhàm Chán & Giải Thoát
Kinh Nikāya Giảng Giải
Thánh Trí Năm Uẩn 24
Trói Buộc & Vô Minh
Nhàm Chán & Giải Thoát
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vô văn phàm phu PAGEREF _Toc139892737 \h 1
II. Vị đa văn Thánh đệ tử PAGEREF _Toc139892738 \h 4
III. Vô Minh PAGEREF _Toc139892739 \h 5
I. Vô văn phàm phu
Đạo tràng hôm nay chúng ta nghe tiếp phần cuối Thánh trí ngũ uẩn trong Tương Ưng Uẩn.
"-- Ở đây, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh... không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là kẻ vô văn phàm phu, bị trói buộc bởi các trói buộc của sắc, bị trói buộc bởi các trói buộc nội ngoại, kẻ không thấy bờ bên này, kẻ không thấy bờ bên kia, khi sanh bị trói buộc, khi chết bị trói buộc, khi đi từ đời này qua đời khác bị trói buộc.
... quán thọ... quán tưởng... quán các hành..." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, V. Trói Buộc)
Dù cho có tóc hay không có tóc, tại gia hay xuất gia nhưng nếu nhìn như vậy, quan điểm như vậy, suy nghĩ, nhận thức như vậy thì đều gọi là vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sự trói buộc của hình hài, thân xác này, người như vậy là bị trói buộc bởi sự trói buộc của tài sản, của những sở hữu, dù đó là ba y một bát nhưng nếu cho đó là tôi hay của tôi thì người đó vẫn bị trói buộc bởi cái sắc đó, những người như vậy gọi là kẻ không thấy bờ bên kia.
Khi còn sống thì bị trói buộc trong hình hài này, trong tài sản này, trong những đồ đạc, cảnh vật này, đó là trói buộc bên ngoài, bên trong là những thọ; tưởng; hành thức trói buộc, khi chết đi vẫn bị trói buộc, ràng buộc, bị cột chặt, bị khóa chặt trong đống sắc tướng, sắc pháp này.
Họ than khóc, bứt tóc, đấm ngực, ngất xỉu vì họ cho rằng hình hài này, tài sản này, những vật chất này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, họ sầu, bi, khổ, ưu, não, sống trong bất an, lo lắng, sợ hãi, sống trong sân hận, bực dọc, bực tức. Người đó thấy rằng "tôi bị tổn thương", "tôi bị thua thiệt", "tôi bị khinh thường", "tôi bị chê", "tôi đau khổ", "tôi bị mất mát, suy kiệt", "đồ của tôi bị người khác lấy, bị người khác giành, bị người khác cướp"… họ bị trói buộc trong những cảm giác, nhận thức, nghĩ tưởng như vậy, họ khổ đau, bất an, họ sầu bi, ưu não, không thấy bến bờ ở đâu nên cứ chìm đắm, lặn hụp trong biển khổ mãi mãi, từ kiếp này qua đời khác, từ đời khác qua kiếp nọ, từ thành kiếp đến hoại kiếp.
Họ trôi dạt, lặn hụp, họ bị biết bao ngọn sóng của sanh, già, bệnh, chết, của tham, sân, si, của hơn thua, lòng ganh tỵ, đố kỵ làm cho họ phải trôi dạt, trôi nổi. Trong sự chìm đắm khổ đau, đầy lo lắng, sợ hãi, tai họa như vậy thì họ nhìn xa xăm về chân trời, họ nhìn phía trước, họ quay phải quay trái để tìm kiếm nhưng chỉ thấy biển khổ mênh mông, chỉ toàn là nước mắt, máu. Họ ngẩng đầu lên bờ tìm kiếm nhưng vẫn không thấy bến bờ ở đâu, họ lặn sâu xuống dưới tìm kiếm mà vẫn không thấy ai cứu giúp cho họ, họ tìm bề dọc, bề ngang, bề trái, cùng khắp bốn phương tám hướng nhưng chỉ là nước mắt, là tham, sân, si, tai họa khổ sầu, bất an, là những lo lắng, buồn bực.
Họ không gặp các bậc chân nhân, không học pháp các bậc chân nhân, không thuần thục pháp các bậc chân nhân nên họ cho những hình hài, cảm giác, những cái tưởng, hình bóng trong tâm, những lời nói lầm thầm này là tôi, là của tôi, là ta, là tự ngã của ta, là mình, là tự ngã của mình. Họ chìm đắm, trôi lăn, họ đau khổ, họ rơi vào sáu tà kiến, sáu kiến chấp, cái này là ngã, cái này là tôi, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là tôi, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là thế giới, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này sau khi chết sẽ thường hằng, thường trú, sẽ không biến đổi, tan hoại.
Họ không học thánh trí vô ngã, không nghe thánh pháp, không tư duy, không tu tập được trí tuệ thần diệu tối thượng này nên họ bị trói cột trong những cảm giác, vui sướng cũng bị trói cột, buồn đau cũng bị trói cột, những cảm thọ si mê, thường thường cũng bị trói cột, họ chìm đắm, trôi lăn bồng bềnh trên biển sầu, bi, khổ, ưu, não, biển lo lắng, bất an, tai họa, nhìn ra phía trước, nhìn ra phía sau, nhìn bên phải bên trái bằng ánh mắt đâm chiêu xa xăm, tất cả chỉ là một sự mênh mông của biển nước mắt, máu và khổ sầu, họ không tìm thấy bờ, họ không gặp được bến bờ bên kia.
Tự thân mình đã được học thánh pháp, được nghe thánh pháp, được tư duy, quán chiếu thánh pháp thì có nỗ lực, tinh tấn hay không vẫn giữ quan điểm tà kiến, cho rằng hình hài, cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức thấy nghe này là tôi, là của tôi, bị trói buộc bởi những trói buộc bên trong lẫn bên ngoài cho nên chìm đắm, trôi nổi, trôi dạt, trôi lăn, không thấy được bến bờ ở đâu. Suốt ngày sống với những tư niệm của vô minh, tư niệm của dục ái, của tham, cái nghĩ, cái nhớ, cảm giác, tư tưởng trước kia tôi là như vậy, hiện tại tôi đang như vậy và sau này tôi sẽ như vậy, suốt ngày bị sắc trói buộc, bị thọ trói buộc, bị tưởng trói buộc, bị hành trói buộc, bị thức trói buộc, bị những hình bóng bên trong lẫn bên ngoài trói buộc, bị những cảm xúc bên ngoài lẫn bên trong trói buộc, bị những suy nghĩ từ bên ngoài tác động sanh khởi lên hoặc do sự tiếp xúc bên trong là nội xúc sanh khởi lên, xúc chạm với vô minh bên trong, không thấy được đúng như sự thật, không tuệ tri, không biết bằng trí tuệ chân chánh, thấy theo nghiệp, theo thói quen, sống theo tập quán, tập khí, tập tánh, cứ vậy nên từ đời này qua đời khác bị trói buộc.
Ở ngoài đời vì cái ăn cái mặc nên khổ biết bao nhiêu, đầu bù tóc rối, lấy được một đồng bạc của người khác phải chảy mồ hôi, sôi nước mắt, phải bị những lời nói, phải lo lắng biết bao để lo cái ăn cái mặc, mình tu thì không bị những cái này, được an nhàn hằng ngày mà không chịu nỗ lực hành trì, không chịu quyết tâm, không thấy được nỗi khổ.
Mình quên trước kia mình đã đi làm như thế nào, mình quên trước kia mình phải đi kiếm đồng tiền vất vả như thế nào, bị sỉ nhục như thế nào, phải mệt nhọc như thế nào, phải lo lắng, căng thẳng như thế nào. Bây giờ đi tu lâu ngày rồi nên quen cuộc sống vô tư vô lự, không biết lo lắng gì cả, sống an nhàn như vậy, lánh nặng tìm nhẹ, mình thấy xấu hổ và nhục nhã, ngồi nghe pháp một chút, ngồi thiền một chút thì thấy mệt mỏi, chán nản, mình cứ nghĩ những người đi khuân vác, chạy xe ôm sáng đêm, đi làm thuê làm mướn, đi giữ con cho người ta, đi ở đợ, đi làm công… biết bao đau khổ, người ta ở ngoài đời vì miếng ăn nên bị trói cột.
Mình suy nghĩ, quán chiếu như vậy để nỗ lực tu tập, không để cho tấm thân này nhàn hạ, rảnh rang, mình phải tìm mọi phương pháp, cách thức tác ý, hành động để mình ra khỏi cảm thọ bất khổ bất lạc, trơ trơ, làm cho mình tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, nhiệt thành, nhiệt tâm, nhiệt huyết từ trong sự học pháp, hành pháp, từ trong sự công quả để thoát ra khỏi sự trói cột trong sắc pháp này, để thoát ra sự trói cột trong những cảm thọ, nghĩ tưởng, nhận thức của ngu si, vô minh, của tham ái, chấp thủ này.
Mình phải làm việc nhiều hơn những người ở ngoài đang đi kiếm cơm, kiếm ăn, kiếm mặc, mình phải làm việc gấp nhiều lần hơn cả khi mình còn ở ngoài đời. Phải thường nhớ cái khổ của mình và cái khổ của chúng sanh thì tự nhiên tâm mình sẽ tinh cần, tinh tấn, tự nhiên tâm mình sẽ có sự khích lệ, một động lực mạnh mẽ, nếu không mình sẽ bị sắc; thọ; tưởng; hành; thức này trói cột từ đời này sang đời khác, sanh ra cũng bị trói cột, khi chết đi cũng bị trói cột. Mình sẽ chìm đắm, trôi lăn, trôi nổi, trôi dạt trong biển khổ, trong biển nước mắt, máu mà không thấy được bờ bên kia.
II. Vị đa văn Thánh đệ tử
"Còn vị Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỳ-kheo, thấy rõ các bậc Thánh... tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là vị Ða văn Thánh đệ tử, không bị trói buộc bởi các trói buộc của sắc, không bị trói buộc bởi các trói buộc nội ngoại, vị đã thấy bờ bên này, vị đã thấy bờ bên kia. Ta nói, vị ấy được giải thoát hoàn toàn khỏi đau khổ.
... Ðối với thọ... với tưởng.... với các hành...
... không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là vị Ða văn Thánh đệ tử, không bị trói buộc bởi sự trói buộc của thức, không bị trói buộc bởi sự trói buộc nội ngoại; vị đã thấy bờ bên này, đã thấy bờ bên kia. Ta nói, vị ấy đã giải thoát hoàn toàn khỏi đau khổ" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, V. Trói Buộc)
Bậc Đa văn Thánh đệ tử không cho những món đồ vật là của mình, từ bỏ ý niệm là của mình, diệt tận ý niệm của mình, tẩy sạch ý niệm của mình, tẩy sạch ý nhiệm là mình. Bậc Đa văn Thánh đệ tử đối với những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm, đối với nhận thức, rõ biết không cho nó là mình, là của mình, không nghĩ cảm giác này là mình, mình ở trong cảm giác này, không cho suy nghĩ này là mình, mình ở trong suy nghĩ này, không cho mình là suy nghĩ này, từ bỏ ý nghĩ đó, từ bỏ cách nhìn đó, từ bỏ quan điểm đó.
Đối với thức cũng vậy, không cho cái thấy, cái nghe này, cái ngửi, nếm, xúc, biết này là mình, là của mình, là tự ngã của mình, không cho sáu cái rõ biết đó là mình hay mình là sáu cái rõ biết đó. Bậc Đa văn Thánh đệ tử từ bỏ cách nhìn đó, diệt tận cách nhìn đó, tẩy sạch cách nhìn đó, luôn luôn nhìn thấy được nó là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, đó là đống khổ, không tin tưởng nó, không nương tựa, dựa dẫm vào nó, không nương cậy nó, từ đó mới thoát khỏi sự trói cột, hệ lụy, ràng rịt, kiết sử, vượt ra.
Như vậy là không bị trói buộc từ bên trong lẫn bên ngoài, sắc là bên ngoài, thọ; tưởng; hành; thức là bên trong, sắc bên ngoài là những thứ bên ngoài, sắc trong là những thứ trong thân mình. Cảm thọ là những thứ từ bên ngoài do duyên xúc nên sanh khởi lên, có những cảm thọ nội xúc, do xúc chạm với vô minh nên sanh khởi lên. Tưởng cũng vậy, có những hình bóng do thấy rồi nên hồi tưởng lại, có những hình bóng không cần thấy mà tự mình tưởng ra, những nhân duyên tác động từ bên ngoài cho đến bên trong của sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Chúng ta thấy rõ sự trói cột của nó, sự gian manh, xảo trá, trá ngụy của nó, sự tinh ranh, xảo quyệt của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là thâm độc, thâm hiểm, thâm sâu. Chúng ta tu là càng ngày phải thấy được sự xảo quyệt của tâm thì trí huệ của chúng ta mới sắc bén, càng ngày chúng ta phải phát hiện ra sự tinh ranh, quỷ quyệt, gian trá của tâm.
Người nhận diện ngũ uẩn thường xuyên sâu sắc, tinh tấn, tinh cần thì người này ngày càng phát hiện ra sự xảo trá, xảo quyệt, tinh ranh vô cùng tận của ngũ uẩn này, người này mới đi đến sự nhàm chán, từ bỏ và thoát ra, còn nhận diện sơ sơ sẽ không nhìn thấy được những cái này, giống như đứng trước nhà nhìn vào thôi chứ không bước được vào căn nhà nội tâm thật sự của mình, như vậy làm sao quét dọn, vệ sinh.
Người vô văn phàm phu khi trình bày cái gì chỉ toàn nói cái tốt của họ, không ai dám nói "con nhục quá, con thấy tủi hổ, con hèn hạ quá" nhưng người tu, nhất là tu nhận diện ngũ uẩn thì nói những câu đó rất tự nhiên, rất chân thành. Người không nhận diện ngũ uẩn thì đạo tràng có thể biết được, chỉ hướng ngoại, học pháp trên ngôn từ, nghĩa lý, chữ nghĩa thôi, bị mất rất nhiều lợi ích.
III. Vô Minh
"Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến...
Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- 'Vô minh, vô minh', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh? Và cho đến như thế nào được gọi là vô minh?
-- Ở đây, này Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, không như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự tập khởi' là sắc chịu sự tập khởi, không như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự đoạn diệt" là sắc chịu sự đoạn diệt, không như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt" là sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt.
... 'Thọ... Tưởng... Các hành..'.
... không như thật biết rõ: 'Thức chịu sự tập khởi' là thức chịu sự tập khởi, không như thật biết rõ: 'Thức chịu sự đoạn diệt' là thức chịu sự đoạn diệt, không như thật biết rõ: "Thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt' là thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt.
Như vậy, này Tỳ-kheo, gọi là vô minh. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.
Khi được nói vậy, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- 'Minh, minh', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, bạch Thế Tôn? Cho đến như thế nào được gọi là minh?
-- Ở đây, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự tập khởi' là sắc chịu sự tập khởi, như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự đoạn diệt' là sắc chịu sự đoạn diệt, như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt' là sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt.
... 'Thọ... Tưởng... Các hành..'.
... Như thật biết rõ: 'Thức chịu sự tập khởi' là thức chịu sự tập khởi, như thật biết rõ: 'Thức chịu sự đoạn diệt' là thức chịu sự đoạn diệt, như thật biết rõ: 'Thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt' là thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt.
Như vậy, này Tỳ-kheo, được gọi là minh, cho đến như vậy được gọi là minh" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, III. Phẩm Vô Minh, I. Tập Pháp)
Ngày xưa con đọc những bài kinh này giống như đọc thần chú nhưng bây giờ đọc là chấn động thân tâm, chỉ riêng việc thấy rõ được sắc; thọ; tưởng; hành; thức thôi đã là trí tuệ siêu phàm, siêu thế. Bài kinh "Trói buộc" Đức Phật trình bày khía cạnh trói buộc đau khổ, đó là một phương diện của trí tuệ về Thánh trí ngũ uẩn, còn giờ Đức Phật trình bày một phương diện, khía cạnh khác, tại sao họ bị đau khổ, họ bị trói cột như vậy, vì họ không thấy, không biết ngũ uẩn là sanh diệt pháp, ngũ uẩn là duyên sanh. Khi nói đến cái này thì chúng ta thấy Đức Phật nói từng khía cạnh rất chậm rãi, lặp tới lặp lui rất nhiều lần nhưng chúng ta học thì cứ phớt qua.
Đức Phật nói vô minh là kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ sắc chịu sự tập khởi là sắc chịu sự đoạn diệt, không như thật biết rõ sắc chịu sự đoạn diệt là sắc chịu sự đoạn diệt, không như thật biết rõ sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt là sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt, ngài nói riêng sanh, nói riêng diệt và gộp chung sanh diệt để nói một lần nữa, mỗi lần nói ngài đều nhấn mạnh lại. Đây là cả một hành trình đạo lộ của Thánh trí huệ, thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt vì thế sắc chịu sự tập khởi, cũng như nhiều người cảm thấy mệt mỏi không còn muốn cái thân này nữa nên họ tự vẫn, khi họ chết rồi sẽ sanh ra một cái sắc khác, thọ; tưởng; hành; thức vô minh nên nó tham ái, chấp thủ tiếp tục. Họ không biết đâu là bến bờ, đâu là con đường xuất ly khỏi sắc này, vì thế mới gọi là kẻ vô văn phàm phu không thấy được bến bờ, không thấy rõ được bờ bên kia, không thấy được lối thoát.
Trước khi học giáo pháp này mình không thấy được lối thoát dù cho tu 30 năm, 50 năm, đó gọi là kẻ vô văn phàm phu, dù cho ở chùa suốt đời nhưng không thấy bến bờ, không thấy bờ bên kia, không biết lối thoát, không thấy xuất ly đạo lộ, sống trong vô minh, nói trong vô minh, làm trong vô minh, nghĩ trong vô minh, cảm xúc trong vô minh, nhận thức trong vô minh, tu tập trong vô minh vì không thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là thứ trói cột, là cái thứ phải chịu sự sanh diệt, nó là thứ làm mình khổ mà mình không thấy vì mình cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình.
Khi nhận diện ngũ uẩn là mình tách trí huệ mình ra một bên để nhìn lại đối tượng quán chiếu của mình, nó trở thành cái bị thấy, còn khi không học nhận diện ngũ uẩn thì mình và nó trở thành một, con mắt chỉ nhìn thấy những cái bên ngoài chứ không thấy được chính nó, chừng nào có gương mới thấy được con mắt ra sao, cái gương đó ví dụ cho thánh trí ngũ uẩn, soi ngược trở lại để thấy tự thân nó.
Đức Phật giao cho mình cái gương đó, gọi là gương pháp mà mình không chịu soi hoặc soi sơ sơ thì đó là lỗi của mình cho nên Thánh trí ngũ uẩn này là tối tôn, tối thượng, không thể có một người thứ hai trong tam thiên, đại thiên thế giới này trình bày cái thánh trí này. Kẻ vô văn phàm phu, không như thật biết rõ sắc chịu sự tập khởi là sắc chịu sự tập khởi, nó phải bị sanh, nó phải bị bệnh, bị già, bị chết, phải tàn hoại, tiêu ma, diệt vong, hủy hoại, hoại diệt, nó phải bị nhóm hợp lại rồi tan rã. Cái vô minh, tham ái, cái thọ; tưởng; hành; thức chấp thủ, ngu si, cái tâm mê này nắm giữ vào đây nên cái sắc này phải bị sanh ra, phải bị mất, nó phải chịu sự sanh diệt đó, tập khởi và đoạn diệt.
Chúng ta phải nhuần nhuyễn về 7 trí của sắc; thọ; tưởng; hành; thức để mình nắm vững được sanh diệt trí của ngũ uẩn, sự tập khởi của nó như thế nào, sự đoạn diệt của nó như thế nào. Bây giờ mình xuất gia tu học mà không học gì về ngũ uẩn, mình không biết thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt, đi tu 20-30 năm mà mình cứ ham ăn, mê ăn, suốt ngày chạy đi tìm những món ăn, mình nấu, mình làm cho đẹp, cho thơm ngon thì tu đến khi nào mới giải thoát?
Đó là do mình không biết, mình không biết là do không có học, mình không được học là do không gặp bậc chánh kiến chỉ cho mình, mình không gặp thánh pháp Nikāya. Mình nói mình tu giải thoát nhưng thật ra mình đang nuôi sanh tử luân hồi, nuôi cái sắc, tức là dính mắc trong sự ăn uống, không có tiết độ trong ăn uống.
Đó là sự thiệt thòi rất lớn khi không học thánh trí năm uẩn, vì không học nên cứ làm cho tăng trưởng các thọ mà không làm cho nó tổn giảm, suốt ngày đi tìm cái này, nghe cái nọ, ngửi cái kia, nếm vị, xúc chạm là nuôi ngũ uẩn cho lớn lên thêm cho luân hồi nhiều hơn nữa, không đi đến chỗ nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, thoát ra, xuất ly đối với ngũ uẩn. Tất cả là do không biết nên không học, không học thì không thực hành, không thực hành thì không đi đến kết quả giải thoát.
Sắc này chịu sự tập khởi nên nó phải sanh ra, dù cho muốn không sanh ra cũng không được, sau đó nó phải bị đoạn diệt, nó muốn không tiêu diệt cũng không được, đó gọi là sanh diệt pháp. Nó phải bị tiêu diệt, nó phải bị tan rã, nó phải bị tan nát, phải bị tan tành, tan hoang vì bản chất của nó là vậy, không thể vượt khỏi bản chất ấy nhưng mình lại quên, khi nó thành thì mình vui thích, hân hoan, phấn khởi, mình lạc thọ rồi dính mắc, khi nó bại hoại thì mình khổ đau, mình luyến tiếc vì mình không biết đó là sanh diệt pháp.
Bậc Đa văn Thánh đệ tử biết đúng như sự thật "sắc chịu sự tập khởi là sắc chịu sự tập khởi, như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự đoạn diệt' là sắc chịu sự đoạn diệt, như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt' là sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt", đối với thọ; tưởng; hành; thức cũng vậy, đó gọi là minh, là sáng suốt, là trí tuệ, là minh kiến, là thấy rõ. Nhưng muốn thấy rõ không phải chỉ trong một ngày là thấy được, chúng ta được nghe pháp hằng ngày nhưng khi trở ra vẫn vô minh chứ đừng nói gì không nghe pháp, mỗi ngày đều thiền quán đến xúc động ràng rụa nước mắt, quỳ xuống lạy xấu hổ, tàm quý, nhục nhã như vậy mà vài ngày sau cũng quên, trở lại sống với vô minh, bản ngã.
Qua đây chúng ta thấy được cái nghiệp này nặng cỡ nào, cái tập khí này nặng cỡ nào, thói quen này nặng cỡ nào, nó bao vây mình cỡ nào, mình tu mà không tha thiết chân thành, không đem cả sinh mạng quyết tử để tu thì làm sao phá vỡ được cái vô minh sâu dày trong vô lượng vô biên kiếp này, nó bao trùm cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Mình nghĩ là mắt mình thấy, tai mình nghe nhưng thật sự vô minh đã bịt mắt, bịt tai mình, nó phong tỏa mọi thứ, lâu lắm mình mới thấy được pháp là được một chút cảm thọ. Con kêu trình pháp là muốn lặp tới lặp lui trí tuệ đó để chúng ta không quên, sau khi giảng pháp rồi trình pháp là để đồ lại trí tuệ đó trong tim, trong tâm chúng ta được kéo dài thêm, nếu lên nói 45 phút rồi trở ra thì nhớ bao nhiêu. Chẳng những con kêu trình pháp mà còn phải ghi ra nhật kí cảm nhận tu học, đọc tới đọc lui bài đó rồi gửi lên nhóm cho mọi người đọc là để cho mọi người an trú trong pháp, sống trong trí tuệ đó càng nhiều càng tốt vì hễ buông ra là mù, là đui chột hoặc là cận thị, viễn thị, loạn thị, khiếm thị.
Chúng ta lên tụng kinh, thiền quán, đọc pháp bảo thì còn thấy lờ mờ nhưng vẫn còn cận thị, viễn thị, loạn thị chút đỉnh, hễ buông pháp ra là trở thành mù, đui, không thấy pháp nữa, không thấy ngũ uẩn nữa. Thật là khổ đau cho chúng ta! Chúng ta có lo lắng, suy tư nhiều không? Có thương mình không? Con nói tự thân con và chúng ta cũng như vậy, phải nhìn nhận chứ đừng sống trong ảo tưởng. Một ngày mình sống trong biết bao trạng thái, có khi đui mù, có khi thành chột, thấy có một con mắt, không thì lé, hoặc cận thị, viễn thị, nhìn lung tung hết, rất ít khi nào mình được minh kiến là thấy được rõ. Trong lúc tâm được rõ ràng, minh bạch, sáng tỏ là mình ở trong trạng thái hướng Dự Lưu, thậm chí Nhập Lưu trong lúc đó, còn khi quên hết những cái đó là mình trở về trạng thái của vô văn phàm phu, đó là lý do con muốn kéo dài cái pháp cho chúng ta, để cho ngấm càng nhiều càng tốt.
Mình làm dưa muối mà bỏ dưa leo và muối vào chỉ một chút rồi lấy ra, đến chiều lại để vô chung một chút rồi lại lấy ra thì chừng nào mới muối được, làm tương chao cũng vậy. Đó là lý do vào buổi sáng con không muốn có khoảng cách lâu giữa xả thiền và nghe pháp, xả thiền là phải nghe pháp liền, con sợ mọi người bị gián đoạn vì khi trở ra là cái tâm mình đã khác rồi, buổi sáng tâm mình được an trú trong pháp được 4 tiếng là giờ quý giá nhất của mỗi ngày. Khi chúng ta trở ra ăn uống, nói chuyện rồi quay vô là tâm đã khác rồi, không còn an tịnh, lắng dịu, không còn tinh minh, sáng tỏ nữa, con không muốn gián đoạn sự an trú vào pháp này, con muốn chúng ta sống trong minh nhiều hơn là sống trong vô minh, muốn mắt sáng nhiều hơn là mắt mù, mắt chột, lé, nhiều hơn loạn thị, cận thị, viễn thị, khiếm thị.
Khi đã nhận diện ngũ uẩn thì chúng ta sẽ nhìn nhiều góc độ, phương diện, khía cạnh trong ngũ uẩn, nó là pháp duyên sanh, nó là pháp sanh diệt, nó là thứ ác độc, là nguyên nhân của khổ, nó là thứ mưu mô, mưu sĩ. Phải lắng nghe thọ; tưởng; hành thật kĩ, nghe rồi dẫn chúng về tâm hiền, về bi tâm, về hỷ tâm, về xả tâm, nghe rồi phải dẫn chúng đến Thánh trí huệ, nghe rồi phải dẫn chúng đến Niết-bàn, về bỉ ngạn, về bến bờ kia.
Nếu không nghe thì làm sao dẫn dắt, dạy dỗ, huấn luyện năm đứa con sắc; thọ; tưởng; hành; thức? Nhìn lại để thấy năm đứa con này cứng đầu cỡ nào, ương ngạnh cỡ nào, nó khó dạy đến cỡ nào, chỉ cần mình phớt lờ nó một chút thôi, không có chánh niệm tỉnh giác, không kiểm soát chỉ một chút thôi là nó buông lung ngay lặp tức. Chỉ cần mình phớt lờ không nhìn ngó nó, không quản lý nó, không thu thúc là nó buông lung liền, buông thả, buông trôi, buông lơi, đó là lý do nhiều người đã tu lâu như vậy rồi mà tích tắc là nghe ra đời, chỉ trong tích tắc thôi là sụp đổ hết tất cả, tan tành hết tất cả đạo nghiệp, sự nghiệp tu hành.
" -- Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỳ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammam): Hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành, hãy sống nhàm chán nhiều đối với thức.
Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc... thọ... tưởng... các hành, biến tri thức.
Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, XI. Thiện Nam Tử Khổ)
Đức Phật thương mình biết bao nhiêu, còn mình thương Phật được bao nhiêu, kính Phật được bao nhiêu, nghe lời ngài được bao nhiêu? Mình tin Phật không phải là một sự mê tín mà là hiểu được thánh trí ngũ uẩn, hiểu được bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, hiểu được pháp ly tham, hiểu được bốn đôi tám chúng hiền Thánh, hiểu như vậy rồi tin tưởng ngài. Tín đó là tín căn, tín lực.
Các con đã bỏ cha bỏ mẹ, bỏ anh bỏ em, bỏ xóm làng, lục thân quyến thuộc, các con đã bỏ tuổi trẻ của mình khi tóc còn đen nhánh, các con đã từ bỏ tuổi thanh xuân đẹp nhất của cuộc đời, cắt ái tự thân, các con vì lý tưởng cao thượng giải thoát thì hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc. Chỉ một câu này mà thấu tim gan, nó đi vào da, thấm vào thịt, tới trong xương, ngấm vào tận tủy não, hãy sống nhàm chán nhiều đối với hình hài này, hãy sống nhàm chán nhiều đối với cảm giác này, hãy sống nhàm chán thật nhiều đối với hình bóng trong tâm này, hãy sống nhàm chán thật nhiều đối với các suy nghĩ này, hãy sống nhàm chán thật nhiều đối với nhận thức này. Hãy nhàm chán thật nhiều, ngao ngán thật nhiều, ê chề, não nề, chán chê những cái sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, cái tâm tham, sân, si, dục ái, bản ngã này.
Ai sống nhàm chán nhiều với sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì sẽ biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức một cách cùng tột, thấu suốt tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ, của ngũ uẩn, biết được sự tinh ranh, tinh ma, gian trá, xảo quyệt, thâm độc của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, của tham, sân, si, bản ngã, vô minh, dục ái này. Biến tri nghĩa là biết được một cách biến mãn cùng khắp tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ ngõ ngách, ngọn nguồn, căn nguyên của hình hài này, của cảm giác, suy tư, nhận thức này, biết được guồng máy vận hành của tham, sân, si, dục ái, bản ngã một cách trọn vẹn, thấu đáo, cùng tột, không có thiếu sót. Nếu một người thường sống với ngũ uẩn thì người đó sẽ biến tri ngũ uẩn, vị nào thấu suốt tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của ngũ uẩn thì vị ấy được giải thoát khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Những bài này cần phải thiền quán đến khi nào diệt tận tất cả các lậu hoặc mới thôi, hãy sống nhàm chán nhiều với sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì mình sẽ thấu suốt tận cùng mọi góc độ, phương diện, khía cạnh của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, khi đã thấu suốt tận cùng mọi phương diện của nó thì mình sẽ giải thoát khỏi nó, sẽ đi ra khỏi chúng nó, khi đã ra khỏi chúng nó thì mình sẽ thoát sanh, già, bệnh, chết, thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não.
Hãy sống thấy sự vô thường thật nhiều đối với sắc, hãy sống thấy sự vô thường thật nhiều đối với cảm giác, hãy sống thấy sự vô thường thật nhiều đối với những hình bóng này, hãy sống thấy sự vô thường thật nhiều đối với những suy nghĩ này, hãy sống thấy sự vô thường thật nhiều đối với những nhận thức này. Ai sống thấy vô thường thật nhiều với ngũ uẩn thì người đó sẽ thấu suốt tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độc của sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Ai thấu suốt tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì người đó sẽ thoát ra khỏi nó, người đó sẽ ra khỏi ngũ uẩn. Ai thoát ra khỏi ngũ uẩn thì người đó sẽ thoát ra khỏi sanh, già, bệnh, chết, buồn đau, khổ sầu. Như vậy ta nói người đó hoàn toàn thoát khỏi khổ đau.
Hãy sống thấy sự trống rỗng thật nhiều đối với sắc, hãy sống thấy sự trống rỗng thật nhiều đối với cảm giác, hãy sống thấy sự trống rỗng thật nhiều đối với những hình bóng này, hãy sống thấy sự trống rỗng, sự vô ngã thật nhiều đối với những suy nghĩ này, hãy sống thấy sự trống trơn, trống rỗng thật nhiều đối với những nhận thức này. Hãy sống với trí tuệ vô ngã, vô thường, trống rỗng, trống không đối với ngũ uẩn, ai sống được như vậy thì người đó sẽ thành tựu cái thấy biết tột cùng tất cả góc độ, khía cạnh, phương diện của ngũ uẩn, thoát ra khỏi ngũ uẩn, chấm dứt sanh, già, bệnh, chết, buồn đau, khổ sầu, vị đó thoát khỏi hoàn toàn mọi khổ đau.
./.
Thánh Trí Năm Uẩn 24
Trói Buộc & Vô Minh
Nhàm Chán & Giải Thoát
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Vô văn phàm phu PAGEREF _Toc139892737 \h 1
II. Vị đa văn Thánh đệ tử PAGEREF _Toc139892738 \h 4
III. Vô Minh PAGEREF _Toc139892739 \h 5
I. Vô văn phàm phu
Đạo tràng hôm nay chúng ta nghe tiếp phần cuối Thánh trí ngũ uẩn trong Tương Ưng Uẩn.
"-- Ở đây, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các bậc Thánh... không tu tập pháp các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là kẻ vô văn phàm phu, bị trói buộc bởi các trói buộc của sắc, bị trói buộc bởi các trói buộc nội ngoại, kẻ không thấy bờ bên này, kẻ không thấy bờ bên kia, khi sanh bị trói buộc, khi chết bị trói buộc, khi đi từ đời này qua đời khác bị trói buộc.
... quán thọ... quán tưởng... quán các hành..." (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, V. Trói Buộc)
Dù cho có tóc hay không có tóc, tại gia hay xuất gia nhưng nếu nhìn như vậy, quan điểm như vậy, suy nghĩ, nhận thức như vậy thì đều gọi là vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sự trói buộc của hình hài, thân xác này, người như vậy là bị trói buộc bởi sự trói buộc của tài sản, của những sở hữu, dù đó là ba y một bát nhưng nếu cho đó là tôi hay của tôi thì người đó vẫn bị trói buộc bởi cái sắc đó, những người như vậy gọi là kẻ không thấy bờ bên kia.
Khi còn sống thì bị trói buộc trong hình hài này, trong tài sản này, trong những đồ đạc, cảnh vật này, đó là trói buộc bên ngoài, bên trong là những thọ; tưởng; hành thức trói buộc, khi chết đi vẫn bị trói buộc, ràng buộc, bị cột chặt, bị khóa chặt trong đống sắc tướng, sắc pháp này.
Họ than khóc, bứt tóc, đấm ngực, ngất xỉu vì họ cho rằng hình hài này, tài sản này, những vật chất này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, họ sầu, bi, khổ, ưu, não, sống trong bất an, lo lắng, sợ hãi, sống trong sân hận, bực dọc, bực tức. Người đó thấy rằng "tôi bị tổn thương", "tôi bị thua thiệt", "tôi bị khinh thường", "tôi bị chê", "tôi đau khổ", "tôi bị mất mát, suy kiệt", "đồ của tôi bị người khác lấy, bị người khác giành, bị người khác cướp"… họ bị trói buộc trong những cảm giác, nhận thức, nghĩ tưởng như vậy, họ khổ đau, bất an, họ sầu bi, ưu não, không thấy bến bờ ở đâu nên cứ chìm đắm, lặn hụp trong biển khổ mãi mãi, từ kiếp này qua đời khác, từ đời khác qua kiếp nọ, từ thành kiếp đến hoại kiếp.
Họ trôi dạt, lặn hụp, họ bị biết bao ngọn sóng của sanh, già, bệnh, chết, của tham, sân, si, của hơn thua, lòng ganh tỵ, đố kỵ làm cho họ phải trôi dạt, trôi nổi. Trong sự chìm đắm khổ đau, đầy lo lắng, sợ hãi, tai họa như vậy thì họ nhìn xa xăm về chân trời, họ nhìn phía trước, họ quay phải quay trái để tìm kiếm nhưng chỉ thấy biển khổ mênh mông, chỉ toàn là nước mắt, máu. Họ ngẩng đầu lên bờ tìm kiếm nhưng vẫn không thấy bến bờ ở đâu, họ lặn sâu xuống dưới tìm kiếm mà vẫn không thấy ai cứu giúp cho họ, họ tìm bề dọc, bề ngang, bề trái, cùng khắp bốn phương tám hướng nhưng chỉ là nước mắt, là tham, sân, si, tai họa khổ sầu, bất an, là những lo lắng, buồn bực.
Họ không gặp các bậc chân nhân, không học pháp các bậc chân nhân, không thuần thục pháp các bậc chân nhân nên họ cho những hình hài, cảm giác, những cái tưởng, hình bóng trong tâm, những lời nói lầm thầm này là tôi, là của tôi, là ta, là tự ngã của ta, là mình, là tự ngã của mình. Họ chìm đắm, trôi lăn, họ đau khổ, họ rơi vào sáu tà kiến, sáu kiến chấp, cái này là ngã, cái này là tôi, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là tôi, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là thế giới, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này sau khi chết sẽ thường hằng, thường trú, sẽ không biến đổi, tan hoại.
Họ không học thánh trí vô ngã, không nghe thánh pháp, không tư duy, không tu tập được trí tuệ thần diệu tối thượng này nên họ bị trói cột trong những cảm giác, vui sướng cũng bị trói cột, buồn đau cũng bị trói cột, những cảm thọ si mê, thường thường cũng bị trói cột, họ chìm đắm, trôi lăn bồng bềnh trên biển sầu, bi, khổ, ưu, não, biển lo lắng, bất an, tai họa, nhìn ra phía trước, nhìn ra phía sau, nhìn bên phải bên trái bằng ánh mắt đâm chiêu xa xăm, tất cả chỉ là một sự mênh mông của biển nước mắt, máu và khổ sầu, họ không tìm thấy bờ, họ không gặp được bến bờ bên kia.
Tự thân mình đã được học thánh pháp, được nghe thánh pháp, được tư duy, quán chiếu thánh pháp thì có nỗ lực, tinh tấn hay không vẫn giữ quan điểm tà kiến, cho rằng hình hài, cảm giác, suy nghĩ, hình bóng, nhận thức thấy nghe này là tôi, là của tôi, bị trói buộc bởi những trói buộc bên trong lẫn bên ngoài cho nên chìm đắm, trôi nổi, trôi dạt, trôi lăn, không thấy được bến bờ ở đâu. Suốt ngày sống với những tư niệm của vô minh, tư niệm của dục ái, của tham, cái nghĩ, cái nhớ, cảm giác, tư tưởng trước kia tôi là như vậy, hiện tại tôi đang như vậy và sau này tôi sẽ như vậy, suốt ngày bị sắc trói buộc, bị thọ trói buộc, bị tưởng trói buộc, bị hành trói buộc, bị thức trói buộc, bị những hình bóng bên trong lẫn bên ngoài trói buộc, bị những cảm xúc bên ngoài lẫn bên trong trói buộc, bị những suy nghĩ từ bên ngoài tác động sanh khởi lên hoặc do sự tiếp xúc bên trong là nội xúc sanh khởi lên, xúc chạm với vô minh bên trong, không thấy được đúng như sự thật, không tuệ tri, không biết bằng trí tuệ chân chánh, thấy theo nghiệp, theo thói quen, sống theo tập quán, tập khí, tập tánh, cứ vậy nên từ đời này qua đời khác bị trói buộc.
Ở ngoài đời vì cái ăn cái mặc nên khổ biết bao nhiêu, đầu bù tóc rối, lấy được một đồng bạc của người khác phải chảy mồ hôi, sôi nước mắt, phải bị những lời nói, phải lo lắng biết bao để lo cái ăn cái mặc, mình tu thì không bị những cái này, được an nhàn hằng ngày mà không chịu nỗ lực hành trì, không chịu quyết tâm, không thấy được nỗi khổ.
Mình quên trước kia mình đã đi làm như thế nào, mình quên trước kia mình phải đi kiếm đồng tiền vất vả như thế nào, bị sỉ nhục như thế nào, phải mệt nhọc như thế nào, phải lo lắng, căng thẳng như thế nào. Bây giờ đi tu lâu ngày rồi nên quen cuộc sống vô tư vô lự, không biết lo lắng gì cả, sống an nhàn như vậy, lánh nặng tìm nhẹ, mình thấy xấu hổ và nhục nhã, ngồi nghe pháp một chút, ngồi thiền một chút thì thấy mệt mỏi, chán nản, mình cứ nghĩ những người đi khuân vác, chạy xe ôm sáng đêm, đi làm thuê làm mướn, đi giữ con cho người ta, đi ở đợ, đi làm công… biết bao đau khổ, người ta ở ngoài đời vì miếng ăn nên bị trói cột.
Mình suy nghĩ, quán chiếu như vậy để nỗ lực tu tập, không để cho tấm thân này nhàn hạ, rảnh rang, mình phải tìm mọi phương pháp, cách thức tác ý, hành động để mình ra khỏi cảm thọ bất khổ bất lạc, trơ trơ, làm cho mình tinh cần, tinh tấn, dõng mãnh, nhiệt thành, nhiệt tâm, nhiệt huyết từ trong sự học pháp, hành pháp, từ trong sự công quả để thoát ra khỏi sự trói cột trong sắc pháp này, để thoát ra sự trói cột trong những cảm thọ, nghĩ tưởng, nhận thức của ngu si, vô minh, của tham ái, chấp thủ này.
Mình phải làm việc nhiều hơn những người ở ngoài đang đi kiếm cơm, kiếm ăn, kiếm mặc, mình phải làm việc gấp nhiều lần hơn cả khi mình còn ở ngoài đời. Phải thường nhớ cái khổ của mình và cái khổ của chúng sanh thì tự nhiên tâm mình sẽ tinh cần, tinh tấn, tự nhiên tâm mình sẽ có sự khích lệ, một động lực mạnh mẽ, nếu không mình sẽ bị sắc; thọ; tưởng; hành; thức này trói cột từ đời này sang đời khác, sanh ra cũng bị trói cột, khi chết đi cũng bị trói cột. Mình sẽ chìm đắm, trôi lăn, trôi nổi, trôi dạt trong biển khổ, trong biển nước mắt, máu mà không thấy được bờ bên kia.
II. Vị đa văn Thánh đệ tử
"Còn vị Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỳ-kheo, thấy rõ các bậc Thánh... tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc. Người như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là vị Ða văn Thánh đệ tử, không bị trói buộc bởi các trói buộc của sắc, không bị trói buộc bởi các trói buộc nội ngoại, vị đã thấy bờ bên này, vị đã thấy bờ bên kia. Ta nói, vị ấy được giải thoát hoàn toàn khỏi đau khổ.
... Ðối với thọ... với tưởng.... với các hành...
... không quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Vị như vậy, này các Tỳ-kheo, được gọi là vị Ða văn Thánh đệ tử, không bị trói buộc bởi sự trói buộc của thức, không bị trói buộc bởi sự trói buộc nội ngoại; vị đã thấy bờ bên này, đã thấy bờ bên kia. Ta nói, vị ấy đã giải thoát hoàn toàn khỏi đau khổ" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, V. Trói Buộc)
Bậc Đa văn Thánh đệ tử không cho những món đồ vật là của mình, từ bỏ ý niệm là của mình, diệt tận ý niệm của mình, tẩy sạch ý niệm của mình, tẩy sạch ý nhiệm là mình. Bậc Đa văn Thánh đệ tử đối với những cảm giác, suy nghĩ, hình bóng trong tâm, đối với nhận thức, rõ biết không cho nó là mình, là của mình, không nghĩ cảm giác này là mình, mình ở trong cảm giác này, không cho suy nghĩ này là mình, mình ở trong suy nghĩ này, không cho mình là suy nghĩ này, từ bỏ ý nghĩ đó, từ bỏ cách nhìn đó, từ bỏ quan điểm đó.
Đối với thức cũng vậy, không cho cái thấy, cái nghe này, cái ngửi, nếm, xúc, biết này là mình, là của mình, là tự ngã của mình, không cho sáu cái rõ biết đó là mình hay mình là sáu cái rõ biết đó. Bậc Đa văn Thánh đệ tử từ bỏ cách nhìn đó, diệt tận cách nhìn đó, tẩy sạch cách nhìn đó, luôn luôn nhìn thấy được nó là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, đó là đống khổ, không tin tưởng nó, không nương tựa, dựa dẫm vào nó, không nương cậy nó, từ đó mới thoát khỏi sự trói cột, hệ lụy, ràng rịt, kiết sử, vượt ra.
Như vậy là không bị trói buộc từ bên trong lẫn bên ngoài, sắc là bên ngoài, thọ; tưởng; hành; thức là bên trong, sắc bên ngoài là những thứ bên ngoài, sắc trong là những thứ trong thân mình. Cảm thọ là những thứ từ bên ngoài do duyên xúc nên sanh khởi lên, có những cảm thọ nội xúc, do xúc chạm với vô minh nên sanh khởi lên. Tưởng cũng vậy, có những hình bóng do thấy rồi nên hồi tưởng lại, có những hình bóng không cần thấy mà tự mình tưởng ra, những nhân duyên tác động từ bên ngoài cho đến bên trong của sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Chúng ta thấy rõ sự trói cột của nó, sự gian manh, xảo trá, trá ngụy của nó, sự tinh ranh, xảo quyệt của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là thâm độc, thâm hiểm, thâm sâu. Chúng ta tu là càng ngày phải thấy được sự xảo quyệt của tâm thì trí huệ của chúng ta mới sắc bén, càng ngày chúng ta phải phát hiện ra sự tinh ranh, quỷ quyệt, gian trá của tâm.
Người nhận diện ngũ uẩn thường xuyên sâu sắc, tinh tấn, tinh cần thì người này ngày càng phát hiện ra sự xảo trá, xảo quyệt, tinh ranh vô cùng tận của ngũ uẩn này, người này mới đi đến sự nhàm chán, từ bỏ và thoát ra, còn nhận diện sơ sơ sẽ không nhìn thấy được những cái này, giống như đứng trước nhà nhìn vào thôi chứ không bước được vào căn nhà nội tâm thật sự của mình, như vậy làm sao quét dọn, vệ sinh.
Người vô văn phàm phu khi trình bày cái gì chỉ toàn nói cái tốt của họ, không ai dám nói "con nhục quá, con thấy tủi hổ, con hèn hạ quá" nhưng người tu, nhất là tu nhận diện ngũ uẩn thì nói những câu đó rất tự nhiên, rất chân thành. Người không nhận diện ngũ uẩn thì đạo tràng có thể biết được, chỉ hướng ngoại, học pháp trên ngôn từ, nghĩa lý, chữ nghĩa thôi, bị mất rất nhiều lợi ích.
III. Vô Minh
"Rồi một Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến...
Ngồi xuống một bên, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- 'Vô minh, vô minh', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh? Và cho đến như thế nào được gọi là vô minh?
-- Ở đây, này Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, không như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự tập khởi' là sắc chịu sự tập khởi, không như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự đoạn diệt" là sắc chịu sự đoạn diệt, không như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt" là sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt.
... 'Thọ... Tưởng... Các hành..'.
... không như thật biết rõ: 'Thức chịu sự tập khởi' là thức chịu sự tập khởi, không như thật biết rõ: 'Thức chịu sự đoạn diệt' là thức chịu sự đoạn diệt, không như thật biết rõ: "Thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt' là thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt.
Như vậy, này Tỳ-kheo, gọi là vô minh. Cho đến như vậy được gọi là vô minh.
Khi được nói vậy, Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
-- 'Minh, minh', bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Thế nào là minh, bạch Thế Tôn? Cho đến như thế nào được gọi là minh?
-- Ở đây, bậc Ða văn Thánh đệ tử như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự tập khởi' là sắc chịu sự tập khởi, như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự đoạn diệt' là sắc chịu sự đoạn diệt, như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt' là sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt.
... 'Thọ... Tưởng... Các hành..'.
... Như thật biết rõ: 'Thức chịu sự tập khởi' là thức chịu sự tập khởi, như thật biết rõ: 'Thức chịu sự đoạn diệt' là thức chịu sự đoạn diệt, như thật biết rõ: 'Thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt' là thức chịu sự tập khởi và đoạn diệt.
Như vậy, này Tỳ-kheo, được gọi là minh, cho đến như vậy được gọi là minh" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, III. Phẩm Vô Minh, I. Tập Pháp)
Ngày xưa con đọc những bài kinh này giống như đọc thần chú nhưng bây giờ đọc là chấn động thân tâm, chỉ riêng việc thấy rõ được sắc; thọ; tưởng; hành; thức thôi đã là trí tuệ siêu phàm, siêu thế. Bài kinh "Trói buộc" Đức Phật trình bày khía cạnh trói buộc đau khổ, đó là một phương diện của trí tuệ về Thánh trí ngũ uẩn, còn giờ Đức Phật trình bày một phương diện, khía cạnh khác, tại sao họ bị đau khổ, họ bị trói cột như vậy, vì họ không thấy, không biết ngũ uẩn là sanh diệt pháp, ngũ uẩn là duyên sanh. Khi nói đến cái này thì chúng ta thấy Đức Phật nói từng khía cạnh rất chậm rãi, lặp tới lặp lui rất nhiều lần nhưng chúng ta học thì cứ phớt qua.
Đức Phật nói vô minh là kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ sắc chịu sự tập khởi là sắc chịu sự đoạn diệt, không như thật biết rõ sắc chịu sự đoạn diệt là sắc chịu sự đoạn diệt, không như thật biết rõ sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt là sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt, ngài nói riêng sanh, nói riêng diệt và gộp chung sanh diệt để nói một lần nữa, mỗi lần nói ngài đều nhấn mạnh lại. Đây là cả một hành trình đạo lộ của Thánh trí huệ, thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt vì thế sắc chịu sự tập khởi, cũng như nhiều người cảm thấy mệt mỏi không còn muốn cái thân này nữa nên họ tự vẫn, khi họ chết rồi sẽ sanh ra một cái sắc khác, thọ; tưởng; hành; thức vô minh nên nó tham ái, chấp thủ tiếp tục. Họ không biết đâu là bến bờ, đâu là con đường xuất ly khỏi sắc này, vì thế mới gọi là kẻ vô văn phàm phu không thấy được bến bờ, không thấy rõ được bờ bên kia, không thấy được lối thoát.
Trước khi học giáo pháp này mình không thấy được lối thoát dù cho tu 30 năm, 50 năm, đó gọi là kẻ vô văn phàm phu, dù cho ở chùa suốt đời nhưng không thấy bến bờ, không thấy bờ bên kia, không biết lối thoát, không thấy xuất ly đạo lộ, sống trong vô minh, nói trong vô minh, làm trong vô minh, nghĩ trong vô minh, cảm xúc trong vô minh, nhận thức trong vô minh, tu tập trong vô minh vì không thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức là thứ trói cột, là cái thứ phải chịu sự sanh diệt, nó là thứ làm mình khổ mà mình không thấy vì mình cho nó là mình, là của mình, là tự ngã của mình.
Khi nhận diện ngũ uẩn là mình tách trí huệ mình ra một bên để nhìn lại đối tượng quán chiếu của mình, nó trở thành cái bị thấy, còn khi không học nhận diện ngũ uẩn thì mình và nó trở thành một, con mắt chỉ nhìn thấy những cái bên ngoài chứ không thấy được chính nó, chừng nào có gương mới thấy được con mắt ra sao, cái gương đó ví dụ cho thánh trí ngũ uẩn, soi ngược trở lại để thấy tự thân nó.
Đức Phật giao cho mình cái gương đó, gọi là gương pháp mà mình không chịu soi hoặc soi sơ sơ thì đó là lỗi của mình cho nên Thánh trí ngũ uẩn này là tối tôn, tối thượng, không thể có một người thứ hai trong tam thiên, đại thiên thế giới này trình bày cái thánh trí này. Kẻ vô văn phàm phu, không như thật biết rõ sắc chịu sự tập khởi là sắc chịu sự tập khởi, nó phải bị sanh, nó phải bị bệnh, bị già, bị chết, phải tàn hoại, tiêu ma, diệt vong, hủy hoại, hoại diệt, nó phải bị nhóm hợp lại rồi tan rã. Cái vô minh, tham ái, cái thọ; tưởng; hành; thức chấp thủ, ngu si, cái tâm mê này nắm giữ vào đây nên cái sắc này phải bị sanh ra, phải bị mất, nó phải chịu sự sanh diệt đó, tập khởi và đoạn diệt.
Chúng ta phải nhuần nhuyễn về 7 trí của sắc; thọ; tưởng; hành; thức để mình nắm vững được sanh diệt trí của ngũ uẩn, sự tập khởi của nó như thế nào, sự đoạn diệt của nó như thế nào. Bây giờ mình xuất gia tu học mà không học gì về ngũ uẩn, mình không biết thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt, đi tu 20-30 năm mà mình cứ ham ăn, mê ăn, suốt ngày chạy đi tìm những món ăn, mình nấu, mình làm cho đẹp, cho thơm ngon thì tu đến khi nào mới giải thoát?
Đó là do mình không biết, mình không biết là do không có học, mình không được học là do không gặp bậc chánh kiến chỉ cho mình, mình không gặp thánh pháp Nikāya. Mình nói mình tu giải thoát nhưng thật ra mình đang nuôi sanh tử luân hồi, nuôi cái sắc, tức là dính mắc trong sự ăn uống, không có tiết độ trong ăn uống.
Đó là sự thiệt thòi rất lớn khi không học thánh trí năm uẩn, vì không học nên cứ làm cho tăng trưởng các thọ mà không làm cho nó tổn giảm, suốt ngày đi tìm cái này, nghe cái nọ, ngửi cái kia, nếm vị, xúc chạm là nuôi ngũ uẩn cho lớn lên thêm cho luân hồi nhiều hơn nữa, không đi đến chỗ nhàm chán, ly tham, từ bỏ, chấm dứt, thoát ra, xuất ly đối với ngũ uẩn. Tất cả là do không biết nên không học, không học thì không thực hành, không thực hành thì không đi đến kết quả giải thoát.
Sắc này chịu sự tập khởi nên nó phải sanh ra, dù cho muốn không sanh ra cũng không được, sau đó nó phải bị đoạn diệt, nó muốn không tiêu diệt cũng không được, đó gọi là sanh diệt pháp. Nó phải bị tiêu diệt, nó phải bị tan rã, nó phải bị tan nát, phải bị tan tành, tan hoang vì bản chất của nó là vậy, không thể vượt khỏi bản chất ấy nhưng mình lại quên, khi nó thành thì mình vui thích, hân hoan, phấn khởi, mình lạc thọ rồi dính mắc, khi nó bại hoại thì mình khổ đau, mình luyến tiếc vì mình không biết đó là sanh diệt pháp.
Bậc Đa văn Thánh đệ tử biết đúng như sự thật "sắc chịu sự tập khởi là sắc chịu sự tập khởi, như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự đoạn diệt' là sắc chịu sự đoạn diệt, như thật biết rõ: 'Sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt' là sắc chịu sự tập khởi và đoạn diệt", đối với thọ; tưởng; hành; thức cũng vậy, đó gọi là minh, là sáng suốt, là trí tuệ, là minh kiến, là thấy rõ. Nhưng muốn thấy rõ không phải chỉ trong một ngày là thấy được, chúng ta được nghe pháp hằng ngày nhưng khi trở ra vẫn vô minh chứ đừng nói gì không nghe pháp, mỗi ngày đều thiền quán đến xúc động ràng rụa nước mắt, quỳ xuống lạy xấu hổ, tàm quý, nhục nhã như vậy mà vài ngày sau cũng quên, trở lại sống với vô minh, bản ngã.
Qua đây chúng ta thấy được cái nghiệp này nặng cỡ nào, cái tập khí này nặng cỡ nào, thói quen này nặng cỡ nào, nó bao vây mình cỡ nào, mình tu mà không tha thiết chân thành, không đem cả sinh mạng quyết tử để tu thì làm sao phá vỡ được cái vô minh sâu dày trong vô lượng vô biên kiếp này, nó bao trùm cả sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Mình nghĩ là mắt mình thấy, tai mình nghe nhưng thật sự vô minh đã bịt mắt, bịt tai mình, nó phong tỏa mọi thứ, lâu lắm mình mới thấy được pháp là được một chút cảm thọ. Con kêu trình pháp là muốn lặp tới lặp lui trí tuệ đó để chúng ta không quên, sau khi giảng pháp rồi trình pháp là để đồ lại trí tuệ đó trong tim, trong tâm chúng ta được kéo dài thêm, nếu lên nói 45 phút rồi trở ra thì nhớ bao nhiêu. Chẳng những con kêu trình pháp mà còn phải ghi ra nhật kí cảm nhận tu học, đọc tới đọc lui bài đó rồi gửi lên nhóm cho mọi người đọc là để cho mọi người an trú trong pháp, sống trong trí tuệ đó càng nhiều càng tốt vì hễ buông ra là mù, là đui chột hoặc là cận thị, viễn thị, loạn thị, khiếm thị.
Chúng ta lên tụng kinh, thiền quán, đọc pháp bảo thì còn thấy lờ mờ nhưng vẫn còn cận thị, viễn thị, loạn thị chút đỉnh, hễ buông pháp ra là trở thành mù, đui, không thấy pháp nữa, không thấy ngũ uẩn nữa. Thật là khổ đau cho chúng ta! Chúng ta có lo lắng, suy tư nhiều không? Có thương mình không? Con nói tự thân con và chúng ta cũng như vậy, phải nhìn nhận chứ đừng sống trong ảo tưởng. Một ngày mình sống trong biết bao trạng thái, có khi đui mù, có khi thành chột, thấy có một con mắt, không thì lé, hoặc cận thị, viễn thị, nhìn lung tung hết, rất ít khi nào mình được minh kiến là thấy được rõ. Trong lúc tâm được rõ ràng, minh bạch, sáng tỏ là mình ở trong trạng thái hướng Dự Lưu, thậm chí Nhập Lưu trong lúc đó, còn khi quên hết những cái đó là mình trở về trạng thái của vô văn phàm phu, đó là lý do con muốn kéo dài cái pháp cho chúng ta, để cho ngấm càng nhiều càng tốt.
Mình làm dưa muối mà bỏ dưa leo và muối vào chỉ một chút rồi lấy ra, đến chiều lại để vô chung một chút rồi lại lấy ra thì chừng nào mới muối được, làm tương chao cũng vậy. Đó là lý do vào buổi sáng con không muốn có khoảng cách lâu giữa xả thiền và nghe pháp, xả thiền là phải nghe pháp liền, con sợ mọi người bị gián đoạn vì khi trở ra là cái tâm mình đã khác rồi, buổi sáng tâm mình được an trú trong pháp được 4 tiếng là giờ quý giá nhất của mỗi ngày. Khi chúng ta trở ra ăn uống, nói chuyện rồi quay vô là tâm đã khác rồi, không còn an tịnh, lắng dịu, không còn tinh minh, sáng tỏ nữa, con không muốn gián đoạn sự an trú vào pháp này, con muốn chúng ta sống trong minh nhiều hơn là sống trong vô minh, muốn mắt sáng nhiều hơn là mắt mù, mắt chột, lé, nhiều hơn loạn thị, cận thị, viễn thị, khiếm thị.
Khi đã nhận diện ngũ uẩn thì chúng ta sẽ nhìn nhiều góc độ, phương diện, khía cạnh trong ngũ uẩn, nó là pháp duyên sanh, nó là pháp sanh diệt, nó là thứ ác độc, là nguyên nhân của khổ, nó là thứ mưu mô, mưu sĩ. Phải lắng nghe thọ; tưởng; hành thật kĩ, nghe rồi dẫn chúng về tâm hiền, về bi tâm, về hỷ tâm, về xả tâm, nghe rồi phải dẫn chúng đến Thánh trí huệ, nghe rồi phải dẫn chúng đến Niết-bàn, về bỉ ngạn, về bến bờ kia.
Nếu không nghe thì làm sao dẫn dắt, dạy dỗ, huấn luyện năm đứa con sắc; thọ; tưởng; hành; thức? Nhìn lại để thấy năm đứa con này cứng đầu cỡ nào, ương ngạnh cỡ nào, nó khó dạy đến cỡ nào, chỉ cần mình phớt lờ nó một chút thôi, không có chánh niệm tỉnh giác, không kiểm soát chỉ một chút thôi là nó buông lung ngay lặp tức. Chỉ cần mình phớt lờ không nhìn ngó nó, không quản lý nó, không thu thúc là nó buông lung liền, buông thả, buông trôi, buông lơi, đó là lý do nhiều người đã tu lâu như vậy rồi mà tích tắc là nghe ra đời, chỉ trong tích tắc thôi là sụp đổ hết tất cả, tan tành hết tất cả đạo nghiệp, sự nghiệp tu hành.
" -- Ðối với vị thiện nam tử vì lòng tin xuất gia, này các Tỳ-kheo, đây là thuận pháp (anudhammam): Hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành, hãy sống nhàm chán nhiều đối với thức.
Ai sống nhàm chán nhiều đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành, ai sống nhàm chán nhiều đối với thức thời sẽ biến tri sắc... thọ... tưởng... các hành, biến tri thức.
Vị nào biến tri sắc, biến tri thọ, biến tri tưởng, biến tri các hành, biến tri thức, thời được giải thoát khỏi sắc, được giải thoát khỏi thọ, được giải thoát khỏi tưởng, được giải thoát khỏi các hành, được giải thoát khỏi thức, được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói vị ấy được giải thoát khỏi đau khổ" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, IV. Phẩm Than Ðỏ, XI. Thiện Nam Tử Khổ)
Đức Phật thương mình biết bao nhiêu, còn mình thương Phật được bao nhiêu, kính Phật được bao nhiêu, nghe lời ngài được bao nhiêu? Mình tin Phật không phải là một sự mê tín mà là hiểu được thánh trí ngũ uẩn, hiểu được bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, hiểu được pháp ly tham, hiểu được bốn đôi tám chúng hiền Thánh, hiểu như vậy rồi tin tưởng ngài. Tín đó là tín căn, tín lực.
Các con đã bỏ cha bỏ mẹ, bỏ anh bỏ em, bỏ xóm làng, lục thân quyến thuộc, các con đã bỏ tuổi trẻ của mình khi tóc còn đen nhánh, các con đã từ bỏ tuổi thanh xuân đẹp nhất của cuộc đời, cắt ái tự thân, các con vì lý tưởng cao thượng giải thoát thì hãy sống nhàm chán nhiều đối với sắc. Chỉ một câu này mà thấu tim gan, nó đi vào da, thấm vào thịt, tới trong xương, ngấm vào tận tủy não, hãy sống nhàm chán nhiều đối với hình hài này, hãy sống nhàm chán nhiều đối với cảm giác này, hãy sống nhàm chán thật nhiều đối với hình bóng trong tâm này, hãy sống nhàm chán thật nhiều đối với các suy nghĩ này, hãy sống nhàm chán thật nhiều đối với nhận thức này. Hãy nhàm chán thật nhiều, ngao ngán thật nhiều, ê chề, não nề, chán chê những cái sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, cái tâm tham, sân, si, dục ái, bản ngã này.
Ai sống nhàm chán nhiều với sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì sẽ biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức một cách cùng tột, thấu suốt tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ, của ngũ uẩn, biết được sự tinh ranh, tinh ma, gian trá, xảo quyệt, thâm độc của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, của tham, sân, si, bản ngã, vô minh, dục ái này. Biến tri nghĩa là biết được một cách biến mãn cùng khắp tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ ngõ ngách, ngọn nguồn, căn nguyên của hình hài này, của cảm giác, suy tư, nhận thức này, biết được guồng máy vận hành của tham, sân, si, dục ái, bản ngã một cách trọn vẹn, thấu đáo, cùng tột, không có thiếu sót. Nếu một người thường sống với ngũ uẩn thì người đó sẽ biến tri ngũ uẩn, vị nào thấu suốt tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của ngũ uẩn thì vị ấy được giải thoát khỏi sắc; thọ; tưởng; hành; thức.
Những bài này cần phải thiền quán đến khi nào diệt tận tất cả các lậu hoặc mới thôi, hãy sống nhàm chán nhiều với sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì mình sẽ thấu suốt tận cùng mọi góc độ, phương diện, khía cạnh của sắc; thọ; tưởng; hành; thức, khi đã thấu suốt tận cùng mọi phương diện của nó thì mình sẽ giải thoát khỏi nó, sẽ đi ra khỏi chúng nó, khi đã ra khỏi chúng nó thì mình sẽ thoát sanh, già, bệnh, chết, thoát khỏi sầu, bi, khổ, ưu, não.
Hãy sống thấy sự vô thường thật nhiều đối với sắc, hãy sống thấy sự vô thường thật nhiều đối với cảm giác, hãy sống thấy sự vô thường thật nhiều đối với những hình bóng này, hãy sống thấy sự vô thường thật nhiều đối với những suy nghĩ này, hãy sống thấy sự vô thường thật nhiều đối với những nhận thức này. Ai sống thấy vô thường thật nhiều với ngũ uẩn thì người đó sẽ thấu suốt tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độc của sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Ai thấu suốt tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì người đó sẽ thoát ra khỏi nó, người đó sẽ ra khỏi ngũ uẩn. Ai thoát ra khỏi ngũ uẩn thì người đó sẽ thoát ra khỏi sanh, già, bệnh, chết, buồn đau, khổ sầu. Như vậy ta nói người đó hoàn toàn thoát khỏi khổ đau.
Hãy sống thấy sự trống rỗng thật nhiều đối với sắc, hãy sống thấy sự trống rỗng thật nhiều đối với cảm giác, hãy sống thấy sự trống rỗng thật nhiều đối với những hình bóng này, hãy sống thấy sự trống rỗng, sự vô ngã thật nhiều đối với những suy nghĩ này, hãy sống thấy sự trống trơn, trống rỗng thật nhiều đối với những nhận thức này. Hãy sống với trí tuệ vô ngã, vô thường, trống rỗng, trống không đối với ngũ uẩn, ai sống được như vậy thì người đó sẽ thành tựu cái thấy biết tột cùng tất cả góc độ, khía cạnh, phương diện của ngũ uẩn, thoát ra khỏi ngũ uẩn, chấm dứt sanh, già, bệnh, chết, buồn đau, khổ sầu, vị đó thoát khỏi hoàn toàn mọi khổ đau.
./.