Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Quán Chiếu Tứ Đại 4 - Tứ Thánh Đế

2026-03-03 00:52:18
Kinh NIKAYA Giảng Giải

Quán Chiếu Tứ Đại 4 - Tứ Thánh Đế

Thích Minh Thành

Từ chỗ chấp thủ sáu giới nên nhập thai, vì nhập thai nên có danh sắc, có danh sắc nên mới có sáu sắc, do duyên sáu xứ nên có tiếp xúc, từ tiếp xúc mới có cảm thọ, với người có cảm thọ ta nêu rõ đây là khổ, đây là sự tập hợp của khổ, đây là sự chấm dứt khổ và đây là con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau. Trong kinh Nikāya không dùng từ "diệu" mà dùng từ "Thánh" cho nên nói chính xác phải là Tứ Thánh Đế, vì bốn chân lý này bậc Thánh mới chứng đạt, mới thấu rõ còn kẻ vô văn phàm phu không thấy, không biết, không chứng đạt. Điều này Minh Thành đã nhắc nhiều lần, đừng bao giờ tưởng rằng mình đã học, đã hiểu Tứ Đế nên nghĩ Tứ Đế là vậy, đó là sự học hiểu rất sai lầm. Mục đích của các vị thiện gia nam tử từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cứu cánh đời sống phạm hạnh, xuất gia trong quá khứ, hiện tại, tương lai với mục đích liễu tri "đây là khổ", liễu tri Khổ Tập, Khổ Diệt, Khổ Diệt Đạo. Như vậy mục đích, động cơ của các vị xuất gia trong thời Đức Phật còn tại thế là thành tựu Tứ Thánh Đế, Tứ Thánh Đế bao trùm hết đạo lộ của giác ngộ giải thoát và hiện tại chúng ta xuất gia đến ngày hôm nay, qua mấy chục năm qua thậm chí cả đời thì mình cũng chưa hiểu được ba chữ "Đây là khổ" vì nó rất thâm sâu. Nếu thật sự hiểu được ba chữ này thì tối thiểu cũng Hướng Dự Lưu Tu-đà-hoàn, tối đa là A-la-hán, đó mới gọi là hiểu. Ngay cả người xuất gia cũng chưa hiểu được chữ "Khổ" của Đạo Phật, chính Minh Thành hồi xưa học cơ bản đến Cao đẳng cũng chưa hiểu chính xác chữ khổ, cho đến trong vòng vài tháng gần đây mới hiểu chính xác theo tinh thần kinh Nikāya, chỗ này mọi người phải nắm vững để thực tập cũng như sau này giảng dạy, chia sẻ lại cho Phật tử, Tăng Ni. Nếu Tứ Thánh Đế không nắm vững thì sự tu học không có gì cả, dù cho chưa chứng chưa đắc, chưa thành tựu trí huệ nhưng giáo nghĩa căn bản, nền tảng phải nắm vững. Nếu không xác quyết về chữ "Khổ" này thì sâu thẳm trong nội tâm sẽ không chấp nhận nó là khổ. Thường thì nhìn người nghèo, bệnh hoạn, đám tang, bị tai nạn giao thông mới thấy đó là khổ, tội nghiệp nhưng nó vẫn chưa là gì, nếu đó là khổ thì kẻ vô văn phàm phu không xuất gia, không tu tập cũng biết cần gì phải đi tu mới biết khổ, trừ những người khùng điên mới không thấy đó là khổ còn nhận thức bình thường thấy là biết khổ. Như vậy cái khổ của Đạo Phật nói là gì? Cái khổ của bậc Đa văn Thánh đệ tử thành tựu trí huệ gọi là khổ trí cho nên hiểu được cái khổ thì bậc đó phải thành tựu trí huệ mới thấy khổ, còn mình chưa thấy khổ, mình chỉ thấy khổ được chút ít thôi chứ còn sâu trong tâm vẫn chưa thấy khổ, mà còn thấy ham muốn, khoan khoái, thích thú, vẫn còn dự tính, dự định rất nhiều, mình thấy vui chứ không thấy khổ, chính vì thế mình vẫn chưa vào hàng bốn đôi tám chúng.

Như vậy cái khổ trong Tứ Thánh Đế là sắc; thọ; tưởng; hành; thức là khổ. Tại sao khổ? Vì nó vô thường, vô ngã, cũng vì nó vô thường, vô ngã như vậy nên có phải quán nó là tôi, là của tôi không?

Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Thọ... tưởng... các hành...

Thức là thường hay vô thường?

-- Là vô thường, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?

-- Là khổ, bạch Thế Tôn.

-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng, nếu quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Do vậy... thấy vậy... vị ấy biết: "Sanh đã tận... không còn trở lui trạng thái này nữa". (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm (Tạp 2, Ðại 2,14b) (S.iii,100) (Trung Bộ Kinh, trang 109, 110 Tham chiếu))

Cái gì không phải của mình thì hãy buông bỏ, từ bỏ sẽ được giải thoát. Trong Tăng Chi Bộ, Đức Phật nói các cảm thọ đều là khổ, nhưng nếu các cảm thọ đều là khổ thì chuyện nam nữ làm sao khổ được, người ta chỉ thấy hạnh phúc, sung sướng không thôi. Tại sao tất cả cảm giác, suy nghĩ, các tưởng, nhận thức đều là khổ? Như vậy làm sao mình chịu nổi? Từ thân thể, vật chất cho đến cảm giác, tư tưởng, nhận thức đều là khổ, nếu không qua được quan ải này sẽ không thể nhập được chánh tri kiến của Phật Giáo. Ái dục là cái vui sướng nhất của con người, ai cũng đi tìm nó. Nếu chưa được thì khổ vì phải ước mơ, ước ao, Đức Phật dùng từ khát ái. Đến khi tìm được có hết khổ chưa, có thỏa mãn chưa? Tại sao tìm được rồi vẫn chưa thỏa mãn? Mất rồi lại càng khổ. Như vậy ba thời đều khổ, chưa được thì khao khát, tưởng mơ, đợi chờ, mong ngóng, được rồi thì lo lắng, sợ hãi, nếu sở hữu người quá đẹp thì ăn không ngon ngủ không yên, sợ mất đi, đi đâu cũng phải canh chừng, sâu sắc là mình bị cảm giác đó trói buộc cho nên Đức Phật nói kẻ vô văn phàm phu khi cảm thọ một cảm giác vui sướng giống như người bị trói buộc, khi cảm thọ cảm giác khổ cũng giống như người bị trói buộc, khi cảm thọ không khổ không vui cũng giống như người bị trói buộc.

Nếu người ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng người ấy bị trói buộc bởi đau khổ. (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VI. Với Mũi Tên)

Mình bị trói buộc trong cảm giác vui sướng, đến khi muốn có lại cảm giác đó mà không được thì bức rứt, bực bội, khó chịu, muốn trở lại cảm giác đó, như vậy bản chất của dục ái là không bao giờ thỏa mãn cho nên người có vợ đẹp nhất hành tinh vẫn đau khổ, chính bản thân người vợ có chồng đẹp trai nhất hành tinh vẫn khổ vì bản chất của dục ái không bao giờ thỏa mãn. Có đi khắp thế giới thưởng thức tất cả món ngon vật lạ cũng chưa thỏa mãn, vẫn muốn đi tìm món mới, chính bản chất không thỏa mãn làm cho mình khổ. Dù có vợ có chồng, không vợ không chồng hoặc có đi tu chăng nữa mà ngồi lại thì thâm sâu bên trong vẫn có sự cô đơn, lẻ loi, thấy thiếu thốn nhưng không biết thiếu cái gì, chỗ trống trải đó là dục ái, không bao giờ lấp đầy được chỗ trống đó trừ khi nào ly dục, ly tham, đoạn tận ái thì mới hết được, nếu không ngồi lại mà không có pháp tu thì tự nhiên sẽ thấy buồn chán, vắng vẻ, hiu quạnh, muốn một điều gì đó mà không biết đó là gì thì đó là ái và điều này làm cho mình khổ. Cho nên bản chất ái là khổ dù là nam nữ, già hay trẻ cũng khổ như nhau, không phải người giàu có, có vợ đẹp là không khổ còn người nghèo khổ, vợ tật nguyền mới khổ, dù cho da trắng, da đen đi nữa thì dục ái vẫn không thỏa mãn, vẫn khao khát, tìm kiếm mãi thôi. Cho nên khi thành tựu Thánh trí mới hết tìm kiếm, còn không vẫn đi tìm hoài, tìm cảm giác, tìm những tư tưởng, nhận thức. Ái diệt là Niết-bàn, tức là mong muốn, tìm kiếm không còn nữa vì thấy nó là bất tịnh, vô thường, là giòi, là bộ xương, là đống thịt bầy nhầy thì tự động nhàm chán, ly tham, giải thoát, tâm giải thoát khi dục ái chấm dứt, tuệ giải thoát khi vô minh chấm dứt, là bậc A-la-hán. Thích café sữa nên uống liền mấy ly nhưng vài ngày sau hoặc tháng sau cũng thèm nữa, trong Tăng Chi Bộ kinh Đức Phật nói người nữ có hai điều không thỏa mãn, chính là giao cấu và sanh con.

Có hai điều, này các Tỳ-kheo, người phụ nữ khi lâm chung chưa được thỏa mãn, chưa được vừa đủ. Thế nào là hai? Sự giao cấu và sanh con. Hai điều này, này các Tỳ-kheo, người phụ nữ khi lâm chung chưa được thỏa mãn, chưa được vừa đủ. (Tăng Chi Bộ, Chương II - Hai Pháp, VI. Phẩm Người)

Không phải chỉ người nữ mà nam giới cũng giống vậy, vấn đề dâm dục, tiền của không bao giờ thỏa mãn. Vì thế cái khổ không nằm trong người này, món tiền kia mà chính là sự khát ái nhưng điều này mình không thấy, phải có thiền định, thiền quán mới thấy được. Phải học Thân Hành Niệm mới biết cách phá vỡ được dục ái, phá cái chấp về sắc uẩn thì lúc đó thọ; tưởng; hành; thức mới buông nhả được, sắc uẩn trong người bám chặt vào cái tôi, cái của tôi thì làm sao không đi tìm cảm giác, nhận thức cho tôi được. Cho nên quán tứ đại, quán chín giai đoạn tử thi, quán ba mươi hai thể trược, quán bất tịnh dùng để phá sắc uẩn nhưng ngày nào cũng phải thực hành thì mới lắng dịu được, quán thâm sâu là từ Sơ Quả đến Tứ Quả, phá luôn cả tham sân si, bản ngã. Khi quán tử thi, quán bất tịnh, niệm tử nhiều thì đối với cái lòe loẹt của thế giới mình sẽ quay lưng không còn thấy thích thú nữa, tâm mình sẽ có chiều hướng nhàm chán, ly tham, Thánh trí bắt đầu xuất hiện cho nên chữ "Khổ Đế" trong "đây là khổ" là suốt đời phải chiêm nghiệm. Ngài Ajahn Chah đi lòng vòng trong tu viện gặp các sư sẽ hỏi các ngài hôm nay có thấy khổ không, nếu có thì ngài nói tốt, còn mình gặp lại hỏi nhau có khỏe không, ăn cơm chưa, không khác gì thế gian. Gặp nhau phải hỏi hôm nay có thấy khổ không, nếu thấy khổ là tốt vì từ cái khổ mới phát sanh ra sự nhàm chán, ly tham. Cảm giác hành hạ mình mà mình cứ đi tìm cảm giác, vừa cúp điện thôi đã thấy khó chịu vì nóng nực, cảm giác thay đổi một chút là bấn loạn. Ngày xưa chưa có Internet, chưa có wifi mình vẫn sống bình thường, còn giờ mất wifi là mình khó chịu, cau có, đó là mình bị trói buộc, cho nên lâu lâu Minh Thành lên rừng ở cả tháng tách biệt với thế gian, tập sống viễn ly, độc cư thiền định, không lệ thuộc, không được để mất đi tài sản lớn lao Đức Phật truyền trao cho người xuất gia, lâu lâu mình phải lìa tịnh xá tu viện ở chỗ xa vắng để đối diện nội tâm, còn ở quen một chỗ mình không biết bị buộc mà phải đi ra khỏi nó mới thấy được sự buộc chặt đó.

Cái tưởng cũng làm mình khổ y như vậy, vào ngồi thiền lại vẽ vời đủ thứ không yên định được, tháng sau phải như thế nào, ra trường phải làm gì…. Ngồi thiền lại tưởng đủ thứ, không thì gặp chuyện không vừa lòng là ngồi lại rồi tưởng người đó như thế, sao lại như vậy… Những cái tưởng đó mình không biết từ đâu nó có, không biết nó vận hành như thế nào, cũng không biết cách làm cho nó dừng, vì mình không biết xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Vì xúc tập khởi nên thọ; tưởng; hành tập khởi, bây giờ mình có thể suy nghĩ về bất kì cái gì mà trước nay chưa từng nghe, chưa từng tiếp xúc không? Không thể nào, vì thế xúc tập khởi là tưởng tập khởi.

Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)

Do tiếp xúc nên mới suy nghĩ, những hình bóng, cảm giác. Từ xúc sanh thọ, thọ sanh ái, tiếp xúc mới có cảm giác rồi khoái cảm giác đó, muốn cảm giác đó lập lại nên phải đi tìm, nếu tìm không được thì đau khổ, nếu tìm được thì dính mắc, bám giữ vào đó. Vì thế mười hai nhân duyên rất cần thiết trong sự tu học, xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ nên nắm chặt vào đó, "món đồ đó của tôi", "con người đó của tôi", hễ ai đụng vào thì xảy ra chuyện, vậy là sanh ra nghiệp, bám chặt vào đó vì không biết đó là tứ đại, tự thân nó không biết vì lúc nào cũng ở trong vô minh, tham ái, không phải là bậc Đa văn, không tư duy, thiền quán, không biết bản chất của pháp nên nghĩ cái gì cũng là tôi và của tôi. Nếu ngày mai về quê là trong tâm hiện ra cái bóng lờ mờ của mình leo xe chiếc xe, về quê gặp người này người kia nhưng đó chỉ là ảo ảnh về cái tôi, sâu sắc trong nội tâm là ảo ảnh về mình hiện ra lờ mờ, đó là thân kiến, nếu phá được thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ sẽ vào bậc Thánh thứ nhất, là hoàn toàn trong nội tâm thấy rõ nó là tứ đại, là sắc uẩn, chỉ là cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức chứ không có cái tôi thật sự trong này, xác quyết như vậy là Hướng Dự Lưu cho đến Nhập Lưu, dự vào bốn đôi tám chúng của hiền Thánh, đây là việc cần làm, phải làm, nên làm, phải nỗ lực hành trì là ở đây. Đức Phật không dạy người xuất gia đi làm từ thiện, đó là việc của cư sĩ, người xuất gia phải chuyên chú phá thân kiến nhưng hiện tại những điều cội gốc đang bị mai một, hướng ngoại rồi lấy việc bên ngoài để làm việc của mình cho nên bổn phận của người xuất gia bị quên lãng vì thế không thể đi vào Thánh đạo thì làm sao có Thánh quả?

Suy nghĩ phải ly dục tư duy, ly sân tư duy, ly hại tư duy mới là suy nghĩ chân chánh, là chánh tư duy. Suy nghĩ nào đưa đến rời dục, lìa dục, lìa tham, lìa ái thì đó là những suy nghĩ chân chánh cho nên khi ngồi thiền không phải là không suy nghĩ. Khi có suy nghĩ về dục thì dùng Như lý tác ý đánh tan suy nghĩ dục, đó là chánh tư duy. Ly sân tư duy là suy nghĩ nào giúp mình rời khỏi sự nóng giận, sân hận. Ly hại tư duy là những suy nghĩ hại người, khi sân lên sẽ tìm cách hãm hại người khác, mong cho người ta gặp cảnh khổ, đó là hại tư duy và đó là suy nghĩ bất thiện, tà tư duy, cho nên lìa dục, lìa sân, lìa hại là những suy nghĩ đó là chánh tư duy, cần phát huy. Đang ngồi học cũng có tư duy và là chánh tư duy, khi đang ngồi thiền mà bảo không nghĩ gì, khởi lên cái gì là bỏ hết rồi mong một ngày bừng lên giác ngộ, đó không phải là thiền của Phật Giáo. Thiền của Phật Giáo là nhìn thấy tất cả ngũ uẩn vận hành, sanh khởi, chấm dứt đều được thấy rõ, vì thế trong Trường Bộ Kinh có nhiều ngoại đạo và phàm phu khen ngợi Đức Phật rất nhiều điều nhưng Đức Phật nói đó là kẻ vô văn phàm phu, ngoại học khen Như Lai nhưng một điều này chỉ có bậc trí huệ mới biết đó là cảm thọ sanh khởi như thế nào Như Lai thấy rõ biết rõ, cảm thọ vận hành như thế nào Như Lai thấy rõ biết rõ, cảm thọ chấm dứt như thế nào Như Lai thấy rõ biết rõ, đây là điều đặc biệt mà bậc trí huệ mới biết để khen ngợi Đức Như Lai.

Này các Tỳ-kheo, Như Lai tuệ tri như thế này: "Những sở kiến ấy, chấp trước như vậy, chấp thủ như vậy, sẽ đưa đến những cõi thú như vậy, sẽ tác thành những định mạng như vậy". Như Lai biết như vậy, Ngài lại biết hơn thế nữa, và Ngài không chấp sở tri ấy. Nhờ không chấp trước sở tri ấy, nội tâm chứng được tịch tịnh. Ngài như thật biết sự tập khởi, sự diệt trừ của các thọ, vị ngọt, những nguy hiểm và sự xuất ly của chúng. Nhờ biết vậy, này các Tỳ-kheo, Như Lai được giải thoát hoàn toàn, không có chấp thủ.

Những chấp pháp ấy, này các Tỳ-kheo, là những pháp sâu kín, khó thấy, khó chứng, tịch tịnh, mỹ diệu, vượt ngoài tầm của luận lý suông, tế nhị, chỉ những người có trí mới có thể phân biệt. Những pháp ấy, Như Lai đã thắng tri, giác ngộ và tuyên thuyết; và chính những pháp ấy, những ai như thật chân chánh tán thán Như Lai mới nói đến. (Trường Bộ Kinh, 1. Kinh Phạm võng)

Chính vì thế Minh Thành hay nhắc mọi người thực tập ba pháp, cảm giác toàn thân, chính là nhìn lại cảm thọ. Phải thường nhìn lại cảm giác vì trong đó có tham sân si, bản ngã nên không nhìn thì không thấy, không phát hiện. Và nếu không phát hiện thì nó điều khiển, xâm chiếm, chế ngự, chinh phục nội tâm và suốt ngày mình chạy đi tìm cảm giác, cho rằng cảm giác đó là tôi là của tôi chứ không biết cảm giác đó là khổ. Nếu biết cảm giác là khổ sẽ có nhiều lợi ích, ví dụ có cô gái trẻ đẹp cúng dường cho thầy một món đồ, vô tình tay cô đó chạm trúng tay thầy. Như vậy xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ, thế là về chùa cảm giác đó khởi lại, nhớ lại cảm giác lúc xúc chạm đó, hình bóng hiện lên là sắc tưởng, âm thanh nói chuyện là thanh tưởng lên hiện, nhớ lại mùi nước hoa mà người đó dùng là hương tưởng, sự xúc chạm êm ái ngay đó là xúc tưởng, bắt đầu pháp tưởng vận hành, những lời nói suy nghĩ hiện ra liên tiếp, vậy là mình bị nó dẫn dắt vì mình không thấy thọ; tưởng; hành; thức vận hành mà chỉ thấy tôi đang có cảm giác thích thú, mình không phát hiện đó là dục ái tham, không quán sự nguy hại của nó "trói buộc vào nó là chết, từ bỏ đời sống Phạm hạnh, sụp đổ đời sống sự nghiệp tu hành, tan hoang chí nguyện giải thoát". Lúc đó mình không có chánh niệm tỉnh giác, không quán chiếu để thấy sự nguy hại này nên nó dẫn mình đi vào vòng xoáy tội lỗi đó, dù nam hay nữ cũng bị nó dụ hoặc, dân gian có câu "70 chưa gọi là lành" cho nên ông già 70 tuổi chưa chắc thoát được ái dục. Cho nên đừng nói "Con 70 tuổi rồi nên thầy yên tâm đi, con không có vậy đâu", chưa chắc đâu vì báo chí đăng tin 80 tuổi còn gây ra sự việc khủng khiếp, dục ái không có già, nó là cây cổ thụ ngàn năm rồi và nó không bao giờ thỏa mãn, cứ đi tìm hoài. Nó vào những cái thân heo, bò, chó, ngựa… cũng như vậy vì bản chất nó là vậy, con người có Đông Tây, mập ốm, giàu nghèo nhưng dục ái cũng giống như vậy, không khác gì hết. Hãy nhìn thấy nó, phát giác ra nó, nhiếp phục nó, đoạn tận, diệt tận nó, đó là trọng trách của người xuất gia, đó là hiền Thánh Tăng, đó là tối thượng trên đời. Thường nhìn lại, thường để ý, quán chiếu tu tập thì đó là bậc tối thượng trong Tam giới.

Làm sao để thấy được sắc là khổ, tư tưởng, nhận thức, cảm giác là khổ? Mỗi khi khởi lên tương ưng ái, dục, tham phải biết đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ nên phải đoạn tận, diệt sạch, từ bỏ nó, chặt nó như chặt cây tala không cho mọc trở lại "Ta đã thấy ngươi rồi, ngươi hãy tan biến đi. Chính ngươi là thủ phạm lôi ta vào vòng luân hồi sanh tử khổ đau, lôi ta vào dục ái tham, vào sự khao khát, hi vọng, ước mơ. Ngươi còn tìm kiếm gì nữa? Tìm kiếm bộ xương, đống giòi, một đống bầy nhầy lá lách, ruột gan, phèo phổi à? Ngươi đã ôm ấp nó trong vòng sanh tử hàng triệu năm rồi còn chưa thỏa mãn hay sao? Ngươi hãy tan thành mây khói đi". Đó là Như lý tác ý, tuệ lực nghĩa là sức mạnh của trí huệ, sử dụng sức mạnh đó mới nhiếp phục được, còn nhẹ nhàng với nó mình sẽ chết dưới tay nó, nó đã giết mình, đang giết mình và sẽ giết mình, một ngày mình chết với nó không biết bao nhiêu lần, thật sự là mình đang chấp nhận, nuôi dưỡng và nó đang tăng trưởng, phát triển lớn mạnh trong nội tâm chứ không phải mình đang từ bỏ nó. Mình không muốn từ bỏ dục tham, nếu có từ bỏ cũng rất ít, cạn cợt trên ý hành, nói vài câu từ bỏ trong tâm chứ không xuyên thấu vào cảm giác. Có những cái nói ra tiếng nhưng có những cái ở trong cảm thọ chứ không nói ra lời, cực kì thâm sâu, bằng con mắt trí huệ mới thấy được sự nguy hiểm còn nhìn bằng mắt thường sẽ bị gạt ngay, nhìn chỉ thấy đứa bé nhưng thật chất trong bụng nó toàn là lửa như Hồng Hài Nhi. Nhìn thấy bạch cốt tinh đang đến thì phải dùng bạch cốt tưởng để trị nó, nếu không như vậy thì một ngày mình chết không biết bao lần với dục tham ái. Chết trong khi ăn, chết trong khi ngủ, chết trong khi tiếp xúc giao thiệp… mình không thấy rõ nó sanh khởi, vận hành, chiếm ngự tâm mình như thế nào nên cực kì nguy hiểm, vì thế ba chữ "đây là khổ" rất thâm sâu, cần phải chiêm nghiệm quán chiếu liên tục để thấy rõ đây là khổ.

Này các Tỳ-kheo, một sự thật các thầy cần phải cố gắng để thấy rõ được đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là sự chấm dứt khổ và đây là con đường đưa đến diệt tận khổ đau (Tương Ưng Bộ, Tập V- Thiên Đại Phẩm, Chương XII. Tương Ưng Sự Thật, I. Phẩm Định).

Phải nỗ lực để thấy đó là khổ vậy mà mình bây giờ suốt ngày chạy ngoài đường, gọi là Phật Giáo nhập thế, những thứ này rất nguy hiểm, nếu không thành tựu trí huệ là dẫn mọi người đi xuống vực thẳm. Tự thân mình chưa thấy dục tham ái, bản ngã, vô minh, ngũ uẩn, tứ đại mà mình nói là đi độ chúng sanh, học như vậy thì làm sao thành tựu cho nên Đức Phật nói người mù dẫn một đoàn người mù chỉ đó đi xuống vực thẳm do không thấy không biết.

Ví như này, Bharadvaja, một chuỗi người mù ôm lưng nhau, người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy; cũng vậy, này Bharadvaja, Ta nghĩ rằng, lời nói của các Bà-la-môn cũng giống như chuỗi người mù: người trước không thấy, người giữa cũng không thấy, người cuối cùng cũng không thấy. (Trung Bộ Kinh, 95. Kinh Cankì)

Sanh là khổ, già là khổ, tóm lại năm thủ uẩn là khổ. Sự bám chặt vào sắc, tư tưởng, cảm giác, nhận thức cho đó là mình, đó là cội gốc của khổ. Luôn sống trong trạng thái không thấy không biết dục khởi lên, sân khởi lên, tham lam, bản ngã khởi lên đều không biết, nhận hết những thứ đó là nó nên gọi là vô minh. Từ cái không hiểu biết đó nên phát ra thân hành, khẩu hành, ý hành, những suy nghĩ của tâm, những lời nói của miệng, những hành động của thân nên tạo ra nghiệp.

Thế nào là khổ Thánh đế? Vô minh diệt không có tàn dư nên hành diệt, một khi trí huệ thấy rõ được năm uẩn thành tựu sẽ phá hết vô minh, không còn nhận năm uẩn là nó nữa thì vô minh không còn tàn dư nữa nên hành diệt. Các hành tức là những suy nghĩ về mình, của mình, những lời nói, hành động để gom góp về tôi và của tôi sẽ chấm dứt, không tạo nghiệp nữa, như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này. Điều này rất khó hiểu và khó chấp nhận, nếu không thành tựu trí huệ sâu sắc là không thể hiểu được. Như thế nào gọi là sự đoạn diệt toàn bộ khổ uẩn này? Nếu không chấm dứt năm uẩn thì còn tiếp tục luân hồi sanh tử cho nên nhập Niết-bàn là vượt ra khỏi năm uẩn, không còn tái tục tiếp nối những thân xác năm uẩn vô thường nữa. Còn mình cứ nói tu giải thoát nhưng vẫn mong đời sau sanh ra tốt đẹp hơn bây giờ, ý nghĩ mong muốn đời sau sanh ra được tốt đẹp hơn bây giờ là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, mình còn mong muốn được hiện hữu tiếp tục. Vì thế Đức Thế Tôn và các bậc A-la-hán nói đây là kiếp sống cuối cùng, không còn trở lại nữa, hoàn toàn thoát ra khỏi năm uẩn.

Này các Tỳ-kheo, cho đến khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta không tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta:

"Tâm Ta giải thoát, bất động. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa" (Tương Ưng Bộ, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt).

Còn mình tu nhưng vẫn muốn tiếp tục nữa thì đây là cái tu trong nhân thiên, vẫn chưa ra khỏi luân hồi. Mình muốn nói những lời thiện lành, phước lành để đời sau tiếp tục nữa, vẫn còn ái sắc thân này, còn yêu thích cảm giác, tư tưởng, nhận thức, mình chưa muốn chấm dứt. Chấm dứt ở đây không phải là đoạn diệt mà là chấm dứt vòng vô minh, ái dục để tạo ra cái thân năm uẩn, còn trí huệ tâm giải thoát và tuệ giải thoát của các bậc A-la-hán là không thể tưởng tượng cảnh giới đó vì cái tưởng của mình là cái tưởng trong năm uẩn, ngoài năm uẩn ra mình không còn biết gì nữa, trong khi thành tựu Niết-bàn là vượt ra khỏi năm uẩn cho nên chỉ có chứng đắc mới biết được Niết-bàn là như thế nào, chính là đoạn tận tham sân si, đoạn tận cái ái, tâm muốn tái tục thì toàn bộ khổ uẩn này chấm dứt, cái này rất thâm sâu nên khó có người chấp nhận được nhưng chấp nhận được mới gọi là tu giải thoát sanh tử luân hồi. Đức Thế Tôn còn là Thái tử khi đi dạo quanh bốn cửa thành, khi về ngài xin đi tu nhưng vua Tịnh Phạn không cho thì ngài nói chừng nào phụ vương cho con không còn sanh, già, bệnh, chết nữa thì lúc đó ngài không đi tu nữa, như vậy thành tựu đạo quả, chấm dứt sanh tử luân hồi mới giải quyết triệt để vấn đề của ngài. Còn mình giống như con cá trong chậu, con chim trong lồng, chỉ biết lòng vòng bao nhiêu đó thôi cho nên ngoài cái đó không biết được, vì thế chấm dứt năm uẩn, tâm giải thoát, tuệ giải thoát là cảnh giới không thể biết được, chừng nào chấm dứt tham sân si, vô minh, tham ái, chấp thủ sẽ biết được. Hiện tại bây giờ không thể diễn tả được Niết-bàn là như thế nào vì tất cả cái thấy, nghe, biết của mình đều ở trong năm uẩn thì làm sao diễn tả được cái ở ngoài năm uẩn? Cho nên mình nghĩ rằng chấm dứt là không còn gì nữa, không còn tái sanh nữa là xong rồi nhưng không phải vậy, vì thế chỗ này cần nắm thật vững, mình còn ý niệm muốn sanh, muốn tôi phải như thế này thế nọ cho nên có người hỏi sau khi nhập diệt là còn hay không còn, hay là vừa còn vừa không còn thì Phật không trả lời vì cái còn của mình là còn năm uẩn, còn không còn là không còn gì nữa hết, như vậy mình giống như ếch ngồi đáy giếng, chỉ biết có bao nhiêu đó thôi cho nên chỗ thâm sâu để chấm dứt toàn bộ khổ uẩn này chỉ có giáo pháp quán từ bỏ, quán đoạn diệt, quán ly tham, quán chín giai đoạn một tử thi, quán ba mươi hai thể trược cho thâm sâu để nhàm chán thân này, nhàm chán cảm thọ, tư tưởng, nhận thức này, không còn muốn tiếp tục trong cái vô thường, tham dục, sân hận, si mê, bản ngã nữa, mình muốn tẩy sạch hoàn toàn thì mới bước vào Thánh trí. Ví dụ mình lo công việc bên ngoài mà bỏ quên bao đồ ăn trong nhà nửa tháng, đến khi bốc mùi hôi thối thì lúc đó phải làm sao? Ôm bao đó ngủ hay quăng bỏ nhanh lẹ? Đức Phật và các bậc A-la-hán, những bậc thành tựu trí huệ nhìn thân này như bao đồ ăn hôi thối nửa tháng đó, hoàn toàn không tham muốn, nắm giữ nó, chỉ quán ly tham, đoạn diệt, quăng bỏ năm uẩn như bao đồ ăn thối đó. Còn mình bây giờ vẫn còn yêu thương, chăm sóc, cưng chiều thân này vô cùng, ai chạm nhẹ vào thân này có chuyện liền, chính vì thế mới khổ vì thấy có cái tôi rõ ràng chứ không thấy nó là bao đồ thối, phải tu đến mức như vậy mới là Thánh đạo, Thánh quả. Cái tu bây giờ chỉ muốn đi ra ngoài làm cho nhiều việc, được đăng báo, vỗ tay hoan nghênh, trầm trồ thì cho đó là thành công, hoàn toàn không tương ưng với cái pháp của Đức Phật vì chỉ hướng ra bên ngoài chứ không nhìn lại nội tâm nên mỗi khi đụng chuyện là sân giận "Từ nay ai làm gì làm đừng kêu tôi nữa, không làm nữa", không hề chạm vào trí vô ngã, không thấy sự sanh diệt của năm uẩn.

Con đường đưa đến khổ diệt là chánh tri kiến, chánh tư duy, Bát Chánh Đạo. Vì thế không có gì nằm ngoài năm uẩn, năm uẩn tóm thâu toàn bộ pháp hành của Phật Giáo. Chánh tri kiến là thấy đây không phải là tôi, không phải của tôi mà chỉ là năm uẩn, đây chỉ là một mớ cảm giác, suy nghĩ, hình bóng mà thôi. Hình ảnh trong nội tâm là tưởng, những suy nghĩ lời nói lầm thầm là hành, cái biết suy nghĩ, hình bóng, cảm giác là thức. Cho nên mình không học duyên sanh pháp nên không biết, mình tưởng là mình biết nhưng thực tế mình không biết, rõ biết tất cả sắc là nhãn thức và nhãn thức chỉ biết sắc chứ không biết những cái khác, rõ biết tất cả âm thanh là nhĩ thức, rõ biết tất cả mùi là tỷ thức, rõ biết tất cả vị là thiệt thức, thân thức là rõ biết sự xúc chạm của thân như hiện tại da thịt đang xúc chạm vào quần áo, ghế ngồi, còn ý thức chỉ biết được thọ; tưởng; hành. Như vậy sáu thức này rời rạc, gọi là nhãn thức giới, nhĩ thức giới… Giới là phạm vi, giới vực, nó chỉ biết trong lãnh vực đó thôi ngoài ra không thể biết được cái khác, nhãn thức chỉ biết các sắc chứ không thể biết được âm thanh cho nên nếu có ảnh hưởng đến con mắt sẽ không thấy sắc nữa, bị mù, chột… nhưng các bộ phận khác vẫn còn, lỗ tai vẫn còn nên nghe được âm thanh. Cho nên mỗi một thức có nhiệm vụ riêng trong phạm vi của nó, vì thế khi quán nhận diện sáu thức sẽ thấy nó rời rạc, là duyên sanh pháp. Còn không biết sáu thức mình sẽ tưởng mình có cái tâm thấy nghe hay biết là chân tâm, điều này rất nguy hiểm, thức là vô thường, là pháp duyên sanh. Do có con mắt, có các sắc và sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ giao thoa với nhau tạo ra sự tiếp xúc, sanh ra cảm giác, lúc đó phải thấy sự tiếp xúc của con mắt, gọi là nhãn xúc. Khi có nhãn xúc sẽ sanh ra thọ gọi là thọ do nhãn xúc sanh, lúc đó sẽ có sự ham thích. Vì thế có sáu thọ, thọ do nhãn xúc sanh, thọ do tỉ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Cảm giác cũng vậy, có rất nhiều cảm giác nhưng đều khác nhau hết nhưng mình không thấy không biết, vì thế mới gọi là vô minh. Khi nghe một âm thanh thì giận liền hoặc thích liền chứ không biết đó là pháp vận hành cho nên tu quán tuệ, thiền tuệ sẽ thấy dòng vận hành chạy qua nhiều khâu mới ra được cái yêu thích hay cái ghét bỏ, cái đó gọi là duyên sanh pháp. Còn đằng này mình chỉ thấy phần đuôi, giận quá hoặc tức quá nhưng không biết cái tức đó từ đâu mà có rồi nhận cái tức đó là mình "tôi đang tức quá", "tôi đang bực quá", vậy là thất bại rồi, một ngày mình thất bại không biết bao nhiêu lần với nó. Chỉ có chánh kiến mới thấy được đây chỉ là những pháp duyên sanh, nói kĩ sẽ có rất cả 36 pháp và mình phải thấy được sự vận hành, hoạt động liên tiếp của nó, đến ngủ cũng còn làm việc. Khi gắp đồ ăn cho vào lưỡi mình sẽ cảm nhận được vị của nó, nước bọt tứa ra, đó là xúc mà mình không biết, chỉ thấy ngon hoặc dở, mình không biết do có lưỡi, do có đồ ăn, do có sự rõ biết đồ ăn, ba pháp này giao thoa sanh ra thọ, cảm giác này là vô thường, không đáng để mê đắm, nếu không khéo mình sẽ bị trói buộc đưa đến sầu bi khổ ưu não, cho nên hãy quán chiếu từ bỏ cảm giác, không ưa thích. Ngon thì biết là ngon nhưng không dính mắc vào cái ngon này, dở thì biết là dở nhưng không dính mắc vào cái dở này, không bị trói buộc vào nó mà từ bỏ nó, đó là bậc trí huệ đang thọ thực mà thọ thực như vậy thì cái phước của tín chủ là vô lượng vô biên. Phải thọ thực được như vậy mới được ngồi cho người khác lạy, còn ngồi ăn chỉ thấy ngon hay dở thì những cái lạy đó không thể đền đáp được.

./.