Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm An Tâm Người Bệnh 4

2026-03-03 00:53:53
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI

LÀM AN TÂM NGƯỜI BỆNH 4

–Thích Minh Thành–

"Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli, tại làng Beluva.

Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

-- Hãy đến, này các Tỳ-kheo, hãy an cư vào mùa mưa xung quanh Vesàli, chỗ nào có bạn bè, có người quen biết (sandittham), có người thân thiết (sambhattam). Ở đây, Ta sẽ an cư mùa mưa tại làng Beluva này.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn, an cư mùa mưa xung quanh Vesàli, tại chỗ có bạn bè, có người quen biết, có người thân thiết. Còn Thế Tôn thời an cư mùa mưa tại làng Beluva.

Trong khi Thế Tôn an cư mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng khởi lên, những cảm thọ khốc liệt gần như chết tiếp diễn. Ở đây, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác, không có than vãn.

Rồi Thế Tôn suy nghĩ: 'Thật không tương xứng đối với Ta, nếu Ta không báo trước các vị ủng hộ Ta và không từ giã chúng Tỳ-kheo mà nhập Niết-bàn. Vậy Ta hãy tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh này, lưu giữ mạng hành (jìvitasankhàra) và sống'. Rồi Thế Tôn với sức tinh tấn nhiếp phục trọng bệnh ấy, lưu giữ mạng hành và sống.

Rồi Thế Tôn thoát khỏi cơn bệnh; thoát khỏi cơn bệnh không bao lâu, Ngài đi ra khỏi nhà bệnh, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, trong bóng im, sau lưng ngôi nhà.

Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn kham nhẫn! Bạch Thế Tôn, con thấy Thế Tôn chịu đựng! Bạch Thế Tôn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy, mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng. Pháp không được tỏ rõ cho con vì Thế Tôn bị bệnh. Nhưng bạch Thế Tôn, con được chút an ủi rằng Thế Tôn sẽ không diệt độ, nếu Ngài không có lời di giáo lại cho chúng Tỳ-kheo.

-- Này Ananda, chúng Tỳ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở nơi Ta. Này Ananda, Ta giảng pháp không có phân biệt trong ngoài. Vì, này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo Sư còn nắm tay. Này Ananda, những ai nghĩ rằng Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo, hay : Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta, thời này Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo. Này Ananda, Như Lai không có nghĩ rằng: 'Ta sẽ là vị cầm đầu chúng Tỳ-kheo', hay 'Chúng Tỳ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta', thời này Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỳ-kheo?

Này Ananda, Ta nay đã già, bậc trưởng thượng, bậc trưởng lão, đã đạt đến đoạn cuối của đời, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda, như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây thừng chằng chịt. Cũng vậy, thân Như Lai được duy trì sự sống giống như chính nhờ dây thừng chằng chịt.

Này Ananda, chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng tâm định, chính khi ấy, thân Như Lai được thoải mái. Vậy này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một điều gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Và này Ananda, thế nào là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác?

Này Ananda, ở đây, Tỳ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời; quán thọ trên các thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này Ananda, như vậy là Tỳ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa cho chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một điều gì khác.

Này Ananda, những ai hiện nay hoặc sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một điều gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một gì khác; những vị ấy, này Ananda, là những vị tối thượng trong hàng Tỳ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi. (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh) 

Kính bạch chư Tăng Ni và toàn thể quý Phật tử, vừa rồi chúng ta vừa nghe bài kinh Bệnh trong Tương Ưng Bộ, tập V, chúng ta còn một bài kinh về tuổi già.

"Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Pubbàràma, trong lâu đài của mẹ Migàra.

Lúc bấy giờ, Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ độc cư đứng dậy, ngồi sưởi ấm lưng trong ánh nắng phương Tây.

Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, với tay xoa bóp chân tay cho Thế Tôn, thưa rằng:

-- Thật kinh hoàng thay, bạch Thế Tôn! Thật kỳ dị thay, bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, màu da Thế Tôn nay không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời (sithilàni), nhăn nheo, thân được thấy còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

-- Sự thể là vậy, này Ananda, tánh già nằm trong tuổi trẻ; tánh bệnh ở trong sức khỏe; tánh chết ở trong sự sống. Như vậy, màu da không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời, nhăn nheo, thân còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.

Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

-- Bất hạnh thay tuổi già! Ðáng sợ thay cuộc sống! Tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da. Hình bóng trước khả ý, nay già đã phá tan! Ai sống được trăm tuổi, cuối cùng cũng phải chết, không bỏ sót ai, tất cả bị phá sập". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (b), V. Phẩm Về Già, I. Già).

Khi đang nghe bài kinh Bệnh thì Minh Thành nhớ lại bài kinh Già cho nên chúng ta cùng nhau chia sẻ kết hợp cả hai bài kinh này vì có sự liên hệ với nhau. Những lời trong bài kinh này rất thấm thía, thiết tha, sâu sắc, vừa mang trí tuệ rộng lớn vừa chuyển tải tình thương bao la, Đức Thế Tôn là thầy và ngài Anan là trò nói chuyện với nhau, đệ tử chăm sóc cho sư phụ trong khi ngài đã lớn tuổi. Bài kinh này chuyển tải trí tuệ rộng lớn, tình thương bao la, trong đó bao gồm cả tình sư đồ thầy trò, lời bài kinh rất thấm đượm dạt dào vì thế đây là một trong những bài kinh rất quan trọng, tóm thâu nhân sinh quan của Phật giáo, cái nhìn về đời sống, về bản chất của nhân sinh. Những lời trong đây được cố Hòa Thượng viện trưởng Thượng Minh Hạ Châu của chúng ta dịch rất tuyệt vời, từng lời từng chữ rất xúc động, đậm đà chất tuệ giác và chất của tình thương, tình nghĩa.

Lúc này Thế Tôn đã già, gần 80 tuổi, ngài từ thiền định đứng dậy sưởi ấm lưng trong ánh nắng phương Tây, khi ngồi ngài vén tấm y lên cho ánh nắng chiếu vào, ngài Anan là thị giả gần gũi Đức Phật nhưng nghi lễ không bao giờ thiếu, khi đến là ngài đảnh lễ dưới chân Đức Phật. Đảnh là đỉnh, cũng chính là đầu, lễ là lạy vì có nhiều cách lạy nhưng cái lạy cung kính trong tất cả cái lạy, cái đại lễ nhất trong tất cả cái lễ là dùng đỉnh đầu cao nhất để lạy xuống chỗ thấp nhất của người mình tôn kính, tức là dùng đỉnh đầu chạm đến đầu ngón chân thì gọi là đảnh lễ. Dù ngài Anan đã làm thị giả cho Đức Phật 25 năm nhưng trong những giây phút cuối thì cái lễ vẫn không bao giờ thiếu, nhìn lại mình ở gần thầy một thời gian là xem thầy ngang hàng với mình luôn, mới vào chùa rất oai nghi nhưng ở một thời gian là buông thả, đây là điều mình cần phải học. Khi Thế Tôn già cả, lớn tuổi vén tấm y phơi nắng thì nếu ngài Anan quá thân thiết đến là giữ tấm y cho Thế Tôn ngay chứ đâu cần lễ lạy nhưng trước tiên vẫn lạy dưới chân Đức Phật, chúng ta cần nhớ ngài Anan là người kề cận bên Đức Phật trong khoảng thời gian dài nhưng lễ nghĩa thầy trò không bao giờ thiếu nên ngài Anan mới được khen ngợi là thị giả bậc nhất. Sự thất bại của chúng ta chính là việc hay xem thường cho nên có biết bao người tu không thành công hoặc làm việc không thành công là do vậy, mới vào chùa là cung kính nhưng ở một thời gian là không còn gì nữa, chỉ còn trên hình thức, khi có nghi lễ mới làm còn bình thường là không có, đó là tâm có trước mà không có sau cho nên người nào mang tâm đó tu sẽ không thành tựu. Vì thế một cái lạy của ngài Anan trong hoàn cảnh này giúp chúng ta học được bài học lớn như vậy, đây là năm thứ 25 ngài Anan làm thị giả cho Thế Tôn nhưng vẫn lễ lạy cung kính như thuở ban đầu, sau khi lạy xong ngài mới xoa bóp tay chân cho Thế Tôn, khi nãy là lễ kính còn giờ là tình nghĩa, chúng ta phải nhìn sâu sắc vào mỗi một hành động của bậc Thánh chứ không thể đọc lướt qua được, cái lễ lạy là hành động tôn kính của người học trò đối với thầy, hành động lễ nghĩa của một người đệ tử đối với sư phụ, còn giờ là hành động tình nghĩa xoa bóp chân tay cho Đức Thế Tôn. Tuy rằng trong kinh nói rất vắn tắt nhưng mình phải dùng thọ; tưởng; hành quán chiếu cảnh tượng lúc đó, trong hành động, nghĩa cử đó đẹp biết bao nhiêu, tình nghĩa biết bao nhiêu , ấm áp tình thầy trò biết bao nhiêu, cung kính biết bao nhiêu.

"Thật kinh hoàng thay, bạch Thế Tôn! Thật kỳ dị thay, bạch Thế Tôn!", ngài Anan nói rằng ngài rất lấy làm lạ, ngạc nhiên thì thân thể Thế Tôn đã biến đổi, màu da không còn săn chắc, trong sáng như trước nữa, ngài thật lo lắng, sợ hãi vì tay chân Thế Tôn rã rời, nhăn nheo đầy gân guốc, lưng Thế Tôn đã còng về phía trước. "Các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn", đây là nói tắt nhưng mình phải hiểu tóc Thế Tôn đã bạc, mắt mờ, lưng còng gối mỏi, da nhăn, tay chân rã rời, ốm yếu, đau bệnh, qua đây chúng ta mới thấy kinh Nikāya diễn tả Đức Phật rất chân thật, tuổi già là vậy và ai cũng phải như vậy thôi, đó là một sự thật. Ngày xưa da Thế Tôn vàng ánh như vàng ròng, thân tướng Thế Tôn có sức khỏe hơn người, cao lớn đẹp đẽ, dung nghi siêu việt, ngài có 32 tướng hảo nhưng nay thật khác lạ, kì dị, tại vì đã biến đổi hết rồi, biến hoại để đi đến chỗ hoại diệt. Chúng ta dùng bài kinh này để đối chiếu với 32 tướng hảo của Đức Phật.

"Này các Tỳ-kheo, ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này là gì mà những ai đầy đủ những tướng Ðại Trượng phu này sẽ chọn đi hai con đường, không còn con đường nào khác? Nếu sống tại gia, sẽ làm vị Chuyển luân Thánh vương... Nếu vị ấy xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình, vị ấy sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời?

Này các Tỳ-kheo, vị này có lòng bàn chân bằng phẳng. Tướng này được xem là tướng tốt của bậc Ðại nhân.

Này các Tỳ-kheo, dưới hai bàn chân của vị này có hiện ra hình bánh xe, với ngàn tăm xem với trục xe vành xe, với các bộ phận hoàn toàn đầy đủ...

Này các Tỳ-kheo, vị này có gót chân thon dài...

Vị này có ngón tay, ngón chân dài...

Vị này có tay chân mềm mại...

Vị này tay chân có màn da lưới...

Vị này có mắt cá tròn như con sò...

Vị này có ống chân như con dê rừng....

Vị này đứng thẳng, không co lưng xuống có thể sờ đầu gối với hai bàn tay...

Vị này có tướng mã âm tàng...

Vị này có màu da đồng, màu sắc như vàng...

Vị này có da trơn mướt, khiến bụi không thể bám dính vào...

Vị này có lông da mọc từ lông một, mỗi lỗ chân lông có một lông...

Vị này có lông mọc xoáy trong thẳng lên, mỗi sợi lông đều vậy, màu xanh đậm như thuốc bôi mắt, xoáy lên từng xoáy tròn nhỏ, và xoáy về hướng mặt...

Vị này có thân hình cao thẳng...

Vị nầy có thân với các góc cạnh tròn đầy, đều đặn...

Vị này có nửa thân trước như thân con sư tử...

Vị này không có lõm khuyết xuống giữa hai vai...

Vị này có thân thể cân đối như cây bàng. Bề cao của thân ngang bằng bề dài của hai tay sải rộng, bề dài của hai tay sải rộng ngang bằng bề cao của thân...

Vị này có bán thân trên vuông tròn...

Vị này có vị giác rất nhạy bén...

Vị này có quai hàm như con sư tử...

Vị này có bốn mươi cái răng...

Vị này có răng đều đặn...

Vị này có răng không khuyết hở...

Vị này có răng cửa trơn láng...

Vị này có tướng lưỡi rộng dài...

Vị này có giọng nói tuyệt diệu như tiếng chim Ca-lăng-tần-già...

Vị này có hai mắt màu xanh đậm...

Vị này có lông mi con bò cái...

Vị này có hai lông mày, có sợi lông trắng mọc lên, mịn màng như bông nhẹ...

Vị này có nhục kế trên đầu...

Này các Tỳ-kheo, những ai có đầy đủ ba mươi hai tướng Ðại Trượng phu này, những vị ấy sẽ chọn hai con đường này thôi, không có con đường nào khác. Nếu sống tại gia, sẽ làm vị Chuyển luân Thánh vương, dùng Chánh pháp trị nước, là vị Pháp vương, bình định bốn phương, đem lại an toàn cho quốc độ, đầy đủ bảy món báu. Bảy món báu trở thành vật sở hữu của vị này, tức là xe báu, voi báu, ngựa báu, ngọc báu, nữ báu, gia chủ báu và thứ bảy là tướng quân báu. Vị này có đến một ngàn thái tử, những bậc anh hùng, chiến thắng, thân thể dõng kiện, nhiếp phục địch quân. Vị này chinh phục quả đất này cho đến hải biên và trị nước với Chánh pháp, không dùng trượng, không dùng đao. Nếu vị này từ bỏ gia đình xuất gia, sống không gia đình, vị này sẽ thành bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, vén lui màn vô minh che đời" (Trường Bộ Kinh, 30. Kinh Tướng)

Qua bài kinh tướng chúng ta thấy Thế Tôn có dung sắc hơn người như thế nào, khi ngài còn là Thái tử thi bắn cung giỏi đến thế nào, dung nghi tướng mạo khi còn trẻ hơn người đến nỗi các nhà vua nhìn còn ngưỡng mộ, những người có địa vị xã hội hoặc thường dân nhìn thấy ngài thôi đã kính phục mà giờ ngài 80 tuổi thì tất cả những cái đó điều biến đổi, hoại diệt cho nên ngài Anan mới thảng thốt, biểu cảm bằng những câu nói "Thật kinh hoàng thay, bạch Thế Tôn! Thật kỳ dị thay, bạch Thế Tôn!", ngài Anan không ngờ thân thể Thế Tôn biến đổi tàn khốc như vậy.

 "-- Sự thể là vậy, này Ananda, tánh già nằm trong tuổi trẻ; tánh bệnh ở trong sức khỏe; tánh chết ở trong sự sống. Như vậy, màu da không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời, nhăn nheo, thân còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (b), V. Phẩm Về Già, I. Già).

Thế Tôn nói bản chất của già nằm trong tuổi trẻ, bản tánh của sự bệnh hoạn nằm trong sức khỏe, bản tánh của cái chết ở trong sự sống. Chỉ một câu này là tóm thâu chân lý cuộc đời. Như vậy, tay chân ta mòn mỏi, da nhăn nheo, thân thể bị còm về phía trước, các căn đều đổi khác hết, mắt giờ đã mờ, gối đã mỏi, bản thể của sự sống này là như vậy, bản tánh của cuộc đời này là như vậy, bản chất của hình hài này là như vậy, Ananda ơi. Sau đây là lời kết rất thâm thúy.

"-- Bất hạnh thay tuổi già! Ðáng sợ thay cuộc sống! Tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da. Hình bóng trước khả ý, nay già đã phá tan! Ai sống được trăm tuổi, cuối cùng cũng phải chết, không bỏ sót ai, tất cả bị phá sập". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (b), V. Phẩm Về Già, I. Già).

Thật là bất hạnh cho tuổi già, cuộc sống này thật là đáng sợ. Tuổi già làm thay đổi màu sắc của làn da, hình bóng lúc trước đáng yêu, vừa lòng, thích ý mà nay đã bị tuổi già phá tan. Hình bóng lúc trước của ta ai nhìn vào cũng hoan hỉ, yêu thích, ngưỡng mộ, khen ngợi, bất cứ người nào nhìn vào cũng thích nhưng hình tướng đó nay đã bị tuổi già phá tan, phá vỡ. Dù sống đến trăm tuổi thì cuối cùng cũng phải chết, cái chết không bỏ sót bất cứ ai trên đời này, tất cả đều bị phá sập, tất cả đều bị cái vô thường phá nát, tất cả đều bị già bệnh làm cho tàn phai, tàn tạ, tất cả đều bị cái chết làm cho tan tành, đó là sự vô thường của đời sống này, sự hủy diệt của sanh diệt pháp, dù cho tấm thân chứa đựng vô lượng công đức của Như Lai vậy mà cuối cùng vẫn không vượt qua được cái chết. Vì thế học giáo pháp đừng học trên ảo tưởng, phải học sự thật, Đức Phật là một con người, chỗ đặc biệt của ngài hơn tất cả người khác là ngài thấy được khổ, thấy được đạo lộ thoát khổ nên ngài chứng đắc đạo lộ đó, còn thân thể ngài cũng như thân thể tứ đại của mọi người, đừng học riết rồi thấy thân Phật đầy khắp hư không giới, ngài là một con người thật, có tên tuổi thật, có cha mẹ thật, có dòng họ thật, chỉ khác mọi người ở chỗ ngài chứng ngộ sự thật, không còn mê lầm nữa. Đạo Phật là nói sự thật mà học một thời gian rồi nói toàn chuyện viễn vong, xa vời trên trời, trong khi bài kinh Đức Phật nói chưa đầy trang giấy, chỉ có vài câu thôi mà Đức Thế Tôn đã nói lên hết nhân sinh quan, cái nhìn thấu đáo triệt để tận cùng của cuộc sống này, của nhân sinh này, nếu học kinh mà không bám sát lời kinh sẽ diễn giải sai, đi xa ý kinh, không có người nào làm tượng Phật già, trong phim nói về cuộc đời Đức Phật đến tập ngài nhập Niết-bàn tóc vẫn còn đen nhánh, đó là do không chấp nhận sự thật, sống trong ảo tưởng, đúng ra trong phim lúc Đức Phật viên tịch là tóc phải bạc đi, già cả. Chúng ta không thành tựu chánh kiến nên không chấp nhận sự thật vì sự thật quá phũ phàng, có một Phật tử bình luận "sự thật rất khó chấp nhận nhưng không thể phủ nhận được", Đức Phật còn nhập Niết-bàn thì mình là gì mà không chết. Phải thấy được vấn đề Đức Phật cũng già, cũng bệnh, cũng chết cho nên mình phải nhìn thấy cái già, cái bệnh, cái chết là một sự thật hiển hiên để chấp nhận nó khi nó xảy ra, còn giờ cứ mong cầu cho khỏe mạnh, bình yên rồi đến khi xảy ra bệnh sẽ như thế nào, còn sống thì cầu an nhưng cầu an không được đến khi chết thì cầu siêu, như vậy là mất lòng tin, mình phải giúp cho người đó thấy được sự thật của già, bệnh, chết để họ chấp nhận, khi đã thấy sự thật, đã chấp nhận rồi thì lúc nó xảy ra họ vẫn có sự an ổn. Bây giờ tu mà cứ che giấu sự thật, nói những cái tươi đẹp, hay ho nhưng nếu sự việc không tốt lành xảy ra thì lúc đó sẽ thế nào, người ta càng mất lòng tin hơn nữa cho nên đạo Phật không bao giờ che giấu điều gì.

"Vì, này Ananda, đối với các pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo Sư còn nắm tay". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Đại Phẩm, Chương III. Tương Ưng Niệm Xứ (a), I. Phẩm Ambapàli, IX. Bệnh)

Câu kinh trên có nghĩa Đức Phật là vị đạo sư không hề có sự che giấu gì ở đây, tất cả đều đã được ngài phơi bày ra trước ánh sáng, ngài là người phơi bày những gì bị che kín vậy mà giờ tu lại không chịu phơi bày, cứ che giấu sự thật thì làm sao tu. Vì thế người già, bệnh, chết thì phải nói cho họ biết cái già, bệnh, chết, còn đằng này nói không bệnh, không chết đâu, đừng sợ hay sao, chỉ khi nào thấy được sự thật mới bớt lo, bớt sợ, bớt khổ, tâm được nhẹ nhàng. Khi bà Năm là mẹ Minh Thành sắp sửa ra đi, mọi người trong gia đình đều muốn giấu nhưng con muốn phải nói cho bà biết, trình bày cho bà biết, chuẩn bị mọi thứ, bà hiểu được thì tâm bà buông xả ra đi nhẹ nhàng, an lành, vì thế giáo pháp của Đức Phật là phơi bày những gì bị che kín nhưng tại sao khi học pháp lại che giấu sự thật? Trong kinh Nikāya nói chúng sanh sống chỉ toàn dục tham, sân si, vô minh, bản ngã, ganh tỵ, mưu mô, trá ngụy, nếu bình thường nghe sẽ có cảm giác tiêu cực, đáng lẽ phải nhìn đời bằng màu hồng mới có sức sống nhưng đến khi mình gặp chuyện sẽ bị sốc, Đức Phật nói hết sự thật để mình thấy, mình hiểu được cuộc đời để đừng đam mê nữa, nhàm chán, thoát ra từ thân đến tâm, nếu không chấp nhận thì mình chịu khổ cũng phải ráng chịu, ở đây chỉ mới là một phần của sắc uẩn thôi cho nên mọi thứ đều không rời khỏi năm uẩn.

Tại sao lại gọi là tánh già nằm trong tuổi trẻ? Nhìn thấy một con người trẻ đẹp nhưng tánh già nằm trong đó, rồi sẽ đi đến tuổi già, cái trẻ bị suy lão thì cái già hiện ra. Như thế nào gọi là tánh bệnh trong sức khỏe? Chính trong cái khỏe đó có cái bệnh, cái khỏe đó là nền móng, chất liệu để cái bệnh nảy mầm, sanh trưởng, cái khỏe bớt thì cái bệnh hiện ra, còn nếu chưa là do hạt chưa nảy mầm thôi, chỉ là hoa chưa nở ra thôi, chỉ là quả chưa kết trái thôi, cái già, bệnh, chết là kết quả của trẻ, khỏe và sự sống, nó là cái đưa đến già cỗi, bệnh tật và chết chóc, đó là nhân quả của nhau, nó nằm trong nhau.

"Có những loài hữu tình, này các Tỳ-kheo, đang còn trẻ, kiêu mạn trong tuổi trẻ, say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác.

Có những loài hữu tình khỏe mạnh, này các Tỳ-kheo, kiêu mạn trong khỏe mạnh. Do say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác" (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII). Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)

Người trẻ tuổi thường kiêu ngạo trong tuổi trẻ nên tạo ác nghiệp vì họ không biết bản chất của già nằm trong tuổi trẻ. Họ cứ nghĩ rằng bản thân họ còn trẻ, còn khỏe, còn đẹp mà không biết rằng tiềm ẩn trong tuổi trẻ là sự già nua, họ không quán chiếu cái già, bệnh, chết, nghiệp quả cho nên họ kiêu ngạo, kiêu căng, kiêu mạn trong sức khỏe đó rồi tạo ác nghiệp, họ phải mang lấy kết quả khổ đau.

"Có những lời hữu tình đang sống, này các Tỳ-kheo, kiêu mạn trong sự sống. Do say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác" (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII). Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)

Có những người tràn đầy sức sống không biết bản tánh của cái chết nằm trong sự sống nên họ ỷ lại, họ kiêu mạn trong sự sống rồi lại tạo ác nghiệp ngay khi họ còn sống, vì họ không biết tánh già nằm trong tuổi trẻ, tánh bệnh nằm trong sức khỏe và tánh chết nằm trong sự sống. Nếu họ biết cái già nằm trong tuổi trẻ, cái bệnh ở ngay trong cái khỏe, cái chết ở ngay trong cái sống thì họ sẽ bớt tham, sân, si, bản ngã, họ sẽ giảm ác nghiệp, họ sẽ lo làm việc lành, nói lời lành, nghĩ ý lành, họ sẽ lo tích tụ phước báo và công đức.

"Ðứng một bên, vị Thiên ấy nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:

Mạng sống bị dắt dẫn,

Tuổi thọ chẳng là bao,

Bị dẫn đến già nua,

Không có nơi dừng bước.

Ai đem tâm quán tưởng,

Sợ hãi tử vong này,

Hãy làm các công đức,

Ðưa đến chơn an lạc.

Thế Tôn:

Mạng sống bị dắt dẫn,

Tuổi thọ chẳng là bao,

Bị dẫn đến già nua,

Không có nơi dừng bước.

Ai đem tâm quán tưởng,

Sợ hãi tử vong này,

Hãy bỏ mọi thế lợi,

Tâm hướng cầu tịch tịnh.

(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương I. Tương Ưng Chư Thiên, I. Phẩm Cây Lau, III. Ðưa Ðến Ðoạn Tận )

Ngay khi lúc còn sống, còn trẻ, khỏe thì phải quán chiếu cái già, cái bệnh, cái chết. Ngay khi sống quán cái chết, ngay khi trẻ quán sự già nua, ngay khi khỏe phải xét nghĩ đến cái bệnh. Vì thế học già, bệnh, chết không phải để chán nản mà ngược lại thấy già, bệnh, chết để tinh tấn tu tập các thiện pháp, nỗ lực viên thành các công đức, để ngày đêm dốc sức thành tựu tuệ giác tối thượng, đây là cái mà Đức Phật muốn trao gửi cho chúng ta chứ không phải đem cái chết ra hù dọa người ta, không phải đem cái bệnh để khủng bố người ta, chính là thấy được già, bệnh, chết để tu tập các công đức đưa đến chơn an lạc, tu tập các trí tuệ để đưa đến tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Khi đã thấy được sự thật cuộc đời này tâm sẽ nhẹ nhàng, bình an, dù cho già, bệnh, chết xảy ra thì cũng chấp nhận, còn không chấp nhận sự thật mà nó bất thình lình ập đến là kinh hoàng cho nên khi ngài Anan thưa là Đức Thế Tôn nói rằng "Sự thể là vậy, này Ananda", đối với Thế Tôn điều đó là đương nhiên, ngài nói rất nhẹ nhàng, bình thản chứ không có sự tiếc nuối nào ở đây. "Bất hạnh thay tuổi già! Ðáng sợ thay cuộc sống", hai câu này là trí tuệ đưa đến viễn ly, yểm ly, nhàn chán đối với đời sống này, mình lấy Thánh pháp ấn của Đức Phật ấn định tất cả các bài kinh, bài kinh nào đi ra khỏi Thánh pháp ấn này là không phải Phật nói, chính là nhàm chán, yểm ly, ly tham, hướng đến từ bỏ, đoạn diệt, chấm dứt, chứng ngộ, Niết-bàn. Cuộc sống mà chấp thủ vào thân xác này, trong hình hài này, lo nâng niu, o bế, trang điểm, tham ái, dính mắc vào nó là một điều đáng sợ vì mai đây sẽ khổ đau, mình đầu tư hết tâm huyết vào cục thịt này rồi mai đây nó tàn lụn, mà chắc chắn nó sẽ biến hoại nên sẽ khổ đau, màu da không còn trong sáng mà trở nên nhăn nheo, thân còm về phía trước là điều ai cũng phải trải qua. Có rất nhiều hình ảnh đau lòng cho chúng ta quán chiếu, nằm bất động đại tiện tiểu tiện một chỗ, bốc mùi hôi thối, người phục vụ bực bội, sân hận, đến con ruột còn chịu không nổi thì nói gì người ngoài, một ngày còn được chứ nằm lâu dài hết ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác thì đó là một sự hành xác cho nên Đức Phật mới nói "bất hạnh thay tuổi già". Nhưng không phải nằm vậy là xong mà nằm lâu sẽ bị lở loét, giòi trong những vết lở đó tuôn ra, chưa cần chết mới có giòi mà ngay khi còn sống thân thể này đã có giòi rồi, nằm lâu có khi bị lú lẫn hoặc mê man như người thực vật, nhưng do tâm mê làm hang, làm ổ, làm tổ trong này nên không thấy, không biết gì cả.

Thân trống rỗng không ai trong đó

Tâm vào đây làm tổ chi tâm

Tâm vào đây làm ổ làm gì

Thân trống rỗng dễ tan vỡ lắm.

Đức Phật muốn dùng Thánh trí tuệ để phá cái tổ, cái sào huyệt đó nằm trong sắc uẩn này, chẳng những tham đắm thân mình mà còn tham đắm thân xác của người, biết bao hệ lụy, trói buộc như vậy suốt cuộc đời, cứ đeo đuổi, khao khát rồi thèm thuồng, như vậy gọi là bất hạnh, cuộc sống như vậy là cuộc sống đau khổ, sống trong bất an, thèm khát, khát khao, đói khát, sống trong tưởng tượng, đợi chờ. Sống mà cả cuộc đời cứ chạy theo dục, theo ái, theo tham, cung phụng cho thân xác này.

Các thân không trường cửu,

Các thân không vững bền,

Nay sanh rồi mai diệt

Chẳng phải là của ta.

Thế mà ta vì nó

Lại cung phụng đủ điều,

Lại tôn thờ đủ kiểu,

Ai đụng, ta chẳng tha.

Thế mà ta vì nó,

Cái thân của tử thần,

Lại thương yêu, chiều chuộng

Ai đụng là ta sân.

Ai kính thân, ta mến

Ai bất kính, ta sân

Ta hăng say tôn kính

Một cái sắc vô thường.

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tính Toàn)

Chỉ cần nói một câu thôi là giận đùng đùng lên, ai chạm vào thân này là ta không tha cho, chúng ta ôm ấp, tôn thờ đủ kiểu thân xác này vậy mà cuối cùng thân này nhăn nheo, rã rời, tàn tạ, bị phá sập hoàn toàn "tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da. Hình bóng trước khả ý, nay già đã phá tan!". Diễn viên đóng vai Đường Tăng trong Tây Du Kí thời điểm đó tướng hảo quang minh vậy mà giờ già cả, mập lên, những diễn viên khác có một số người đã qua đời, có những diễn viên lừng danh một thời vậy mà tuổi già lại ở ngoài vỉa hè, đi ăn xin, mắc bệnh tâm thần. Tất cả đều bị phá sập, phải thấy được điều này để tâm mình cởi bỏ, tháo ra sự chấp thủ vào trong sắc uẩn này, vào đống xương da, máu mủ này, vì nó mà mình khổ vô cùng vô tận, không thể nói hết nỗi khổ của mình về thân xác này, kéo dài hết đời này đến đời sau, đời nào sanh ra cũng đau đớn, chấp thủ vào thân xác này cho nên mình phải tận dụng thời gian khi còn trẻ, còn khỏe, còn minh mẫn để tu tập, nếu không tâm vô minh đam mê, chấp thủ vào thân này cho đây là tôi, là của tôi sẽ không có lối ra, nó đã làm ổ, làm tổ trong thân này rồi cho nên những pháp này đánh thẳng vào đây cho vỡ ra cái chấp thủ uẩn này.

"Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con người chị của Vanavaccha. Khi mẹ ngài được tin Vanavaccha xuất gia, thọ Ðại giới, đã sống trong rừng. Mẹ ngài nói với ngài: 'Này Sìvaka, con hãy xuất gia dưới sự chỉ dẫn của Vanavaccha và phục vụ cho ngài, vì nay ngài đã già!'. Ngài nghe theo lời mẹ xuất gia sống ở trong rừng phục vụ săn sóc Vanavaccha. Một hôm, khi đi đến gần làng, ngài bị đau nặng; khi thuốc không chữa được, ngài không về và Trưởng lão Vanavaccha đi tìm và thấy ngài bị đau. Sau khi cho ngài uống thuốc và săn sóc ngài, khi bình minh mới bắt đầu, vị Trưởng lão nói với ngài: 'Này Sìvaka, từ khi ta xuất gia, ta không sống ở trong làng. Vậy chúng ta hãy đi vào rừng'. Sìvaka trả lời: 'Dầu thân con ở trong làng, nhưng tâm con bao giờ cũng hướng về rừng núi. Vậy nay con tuy nằm ở đây, con sẵn sàng đi vào rừng'. Vị Trưởng lão cầm tay ngài, dắt ngài đi vào rừng, khích lệ ngài. Ngài nhờ sự khích lệ này, tự mình sách tấn và chứng quả A-la-hán.

Rồi ngài nói lên bài kệ của mình hợp chung lời vị Trưởng lão và lời mình, nói lên sự ưa thích sống viễn ly và quả chứng của mình, sự vâng lời thầy của mình và chứng đắc chánh trí:

Thầy ta nói với ta,

'Hãy đi, Sìvaka!'

Thân ta sống ở làng,

Nhưng tâm hướng về rừng,

Dầu còn nằm ta đi,

Người biết, không trói buộc.

(Tiểu Bộ, Tập III - Trưởng Lão Tăng Kệ, Chương I - Một Kệ, Phẩm Hai, (XIV) Sìvaka (Thera. 3) (Một Sa-di phục vụ cho Vanavaccha))

Sìvaka nghe theo lời mẹ xuất gia, sống trong rừng trở thành một Sa-di phục vụ cho vị trưởng lão. Khi đi đến gần làng ngài bị bệnh nên không trở về rừng được, trưởng lão đi tìm ngài, cho ngài uống thuốc và dẫn ngài về rừng. Trong lúc còn đang bệnh thì ngài dựa vào cái bệnh để chứng ngộ sự thật đang diễn ra ngay nơi thân ngài để chứng quả A-la-hán, đoạn tận các lậu hoặc. Bài kệ ngài đọc lên là ngài đang kể lại câu chuyện sư phụ kêu ngài đi trong khi ngài đang bệnh nặng nhưng ngài vẫn nghe lời sư phụ, dù thân ngài trong làng nhưng tâm ngài lúc nào cũng hướng về núi rừng. Hình ảnh lúc này là sư phụ phải đỡ ngài hoặc cõng vì ngài đang bệnh nặng không thể đi được, trở về chỗ ẩn tu trong rừng rồi sư phụ khích lệ và tự bản thân ngài tu tập tinh tấn, nỗ lực tu tập thì diệt tận được tham, sân, si, sạch hết các lậu hoặc. Thầy ngài nói có chết thì chết trong rừng, về rừng tu chứ đừng ở trong làng đầy cảnh sắc, dục lạc, âm thanh là gai nhọn của thiền định, về rừng nghe chim hót, gió thổi vậy mà tu được, còn giờ ta có chết cũng chết ở Linh Quy, chết trong núi rừng này. "Dầu còn nằm ta đi", nghĩa là chỉ có thể nằm chứ ngồi không nổi nhưng vẫn quyết định đi, và đi thì sư phụ phải cõng. "Người biết, không trói buộc", biết ở đây nghĩa là người thấy biết về pháp, không trói buộc trong hoàn cảnh bài kinh này chính là không bị thân bệnh trói buộc, không bị làng mạc trói buộc, còn mình bệnh nặng sẽ nói với sư phụ từ từ con khỏe rồi về, cái học của người xưa rất hay, gần chết nhưng vẫn không cãi lời thầy, còn Minh Thành nhiều khi muốn nói để người đó tăng thượng, tinh tấn tu học mà mới nói ra đã bị cãi lại, thật sự là khổ tâm, còn trong kinh bệnh sắp chết đi không nổi nhưng vẫn nghe lời thầy, thể hiện sự tôn trọng bậc đạo sư, có như vậy mới chứng quả. Bậc thầy là bậc có trí tuệ, mình bỏ cha bỏ nương theo thầy học đạo mà thầy nói gì là cãi lại thì mình học cái gì, làm gì có sự chứng ngộ, làm gì có Thánh quả, những gì thầy nói ra đều mang lại lợi lạc cho mình thì tại sao mình không bình tĩnh, dẹp bỏ bản ngã để lắng nghe rồi suy nghĩ, còn bây giờ cứ nói ra là cãi trước rồi tính sau thì làm sao học được đạo? Còn ngài Sìvaka không bị tấm thân bệnh tật trói buộc, không bị cảnh sắc của làng mạc trói buộc và cái thứ ba sâu sắc bên trong là cảm thọ đau đớn, khó chịu bệnh tật không trói buộc được ngài, đối với người thấy biết thành tựu chánh kiến thì những cái đó không trói buộc được nên ngài thành tựu Thánh quả A-la-hán. Qua bài kinh này chúng ta thấy được một điều, nếu mình nỗ lực, cố gắng học pháp, hành pháp, tư duy, quán chiếu, triển khai thiền quán về pháp ngay trong thân bệnh sẽ có khả năng đốt cháy hết các lậu hoặc, thành tựu những gì cần thành tựu, chứng đắc những gì cần chứng đắc, chứng ngộ những gì cần chứng ngộ.

./.