Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Mở Cửa Bất Tử 2

2026-03-03 00:53:53
MỞ CỬA BẤT TỬ 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lời cuối của Đức Phật: PAGEREF _Toc112164277 \h 1

II. Quán Bất Tịnh: PAGEREF _Toc112164278 \h 2

III. Bảy tưởng bất tử: PAGEREF _Toc112164279 \h 8

1. Tưởng chết 1: PAGEREF _Toc112164280 \h 9

2. Tưởng nhàm chán đối với các món ăn – tưởng bất tịnh: PAGEREF _Toc112164281 \h 12

3. Tưởng chết 2: PAGEREF _Toc112164282 \h 14

4. Tưởng không hân hỷ đối với tất cả thế giới: PAGEREF _Toc112164283 \h 15

5. Tưởng vô thường: PAGEREF _Toc112164284 \h 16

6. Tưởng khổ trong vô thường: PAGEREF _Toc112164285 \h 17

7. Tưởng vô ngã trong khổ: PAGEREF _Toc112164286 \h 17

IV. Tâm từ vi diệu: PAGEREF _Toc112164287 \h 19

I. Lời cuối của Đức Phật:

“Sự sống là một sự đổi thay không ngừng và không có gì cản trở được sự tan rã của thân xác, các con phải hân hoan khi nhận ra được các quy luật của biến đổi ấy và hiểu được rằng sự sống của con người chỉ là trống không mà thôi. Đừng cố gằng duy trì những khát vọng phi lý, mong muốn những gì tạm bợ, phải nhất định trở thành trường tồn. Này các môn đệ của ta, giây phút cuối cùng của ta cũng đã đến, tuy vậy, các con phải hiểu rằng, cái chết của con người chỉ là sự tan rã của xác thân và vật chất mà thôi. Thân xác con người được cha mẹ sinh ra, nó lớn lên nhờ thức ăn, nó không có cách gì tránh khỏi bệnh tật và cái chết.

Thân xác con người sẽ tiêu tan, nhưng trí tuệ của giác ngộ sẽ trường tồn, vô tận của đạo pháp trên con đường tu tập đạo pháp. Nếu có ai chỉ thấy thân xác ta thì kẻ ấy không thấy ta một cách thật sự. Chỉ có những người nào chấp nhận những lời giáo huấn của ta mới thật sự nhìn thấu ta, các người không nên ưu buồn, điều tốt nhất bây giờ là ai thắc mắc điều gì thì cứ hỏi, ta sẽ không ngần ngại để giải đáp.

Bạch Đức Thế Tôn, sau khi Ngài Niết-bàn, chúng con biết lấy ai làm thầy, chúng con biết an trụ vào đâu, làm sao để hàn phục được kẻ ác và về các tập kinh điển, làm sao để mọi người có thể tin?

Này Anan và các đại chúng, dù thân ta không còn, nhưng giáo pháp của ta đã truyền lại đầy đủ. Hãy lấy giới luật làm thầy, hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, bắt đầu kinh điển bằng từ: Tôi nghe như vậy…Hãy nương vào Tứ Niệm Xứ để tu tập, đó là thân bất tịnh, thọ là khổ, tâm vô thường và pháp vô ngã.

Dạ, chúng con sẽ làm theo lời của Đức Thế Tôn!”

II. Quán Bất Tịnh:

Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta có một buổi chia sẻ rất quan trọng về Pháp Hành, sự thực tập tại Linh Quy Pháp Ấn với chủ đề là Mở Cửa Bất Tử số 2 - mở ra cánh cửa bất tử. Trong khóa tu, Minh Thành có cho các huynh đệ trong đại chúng xem những clip về quán bất tịnh, tức là quán xét những sự không sạch sẽ của cơ thể con người. Gồm có một clip là Bất Tịnh Quán cùng Lời dạy Tứ Niệm Xứ của Đức Phật, trong đó mình thấy được một thân thể của một cô gái trẻ trung sau đó biến thành già rồi tới lúc suy lão, đến lúc chết, cơ thể phình trương lên, nứt nẻ ra, các mủ máu, những chất dịch bày tiết ra rồi đến lúc dòi ăn hết các bộ phận rồi đến cuối cùng trở thành bộ xương. Sau đó là mình xem được chín giai đoạn của một tử thi phân hủy, các nhà khoa học làm thực nghiệm trên một xác chết của con người thật. Clip tiếp theo là giải phẫu một cơ thể của một người nam và giải phẫu cơ thể của một người nữ để mình có thể thấy tất cả các bộ phận trong cơ thể của con người. Đó là Đức Thế Tôn dạy cho mình thấy được thực chất, bản chất của cơ thể mà trong kinh thường khen ngợi Đức Thế Tôn là bậc phơi bày ra những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để cho những người có mắt nhờ nơi ánh sáng đó mà thấy được rõ.

Lúc sáng này xem thì Minh Thành có nhắc các huynh đệ là phải khéo tác ý. Nếu như mình xem đó giống như mình đang xem phim là không đúng, nếu mình xem đó như là xem phim ảnh bình thường thì việc xem đó không mang lại lợi ích lớn mà khi mình xem thì thế naò gọi là khéo tác ý? Là lúc mở clip lên, lúc rọc cơ thể thì mình phải quán cơ thể đang nằm bị rọc đó chính là mình. Trước giờ các huynh đệ khi xem có quán như vậy không? Nên mình phải quán chiếu, quán tưởng cơ thể đang nằm đó là mình và phải cảm giác từng cái rọc đó là rọc trên cơ thể của mình, đó mới là thành tựu pháp quán.

Nên khi ở trong thất thầy mở ra xem thì nước mắt tràn trụa, khóc rúng động toàn thân là vì xem ở trong đó chính là mình thì mình mới phát sanh ra thọ, cảm giác đau đớn, ghê rợn, hôi thối kinh khủng. Thọ đó rúng động, đánh vào cảm giác si mê của chấp ngã, của thân kiến, bởi vì cái thấy của mình, cảm giác của mình về cái thân này là đẹp, là sạch, là bền lâu, là còn mãi, tốt đẹp, đó là thọ của mình. Giờ mình dùng những hình ảnh này, những đoạn clip này, những gì các nhà khoa học thực nghiệm cho mình thấy thì mình phải đặt mình vào trong đó, phơi bày những gì mà trước giờ bị che kín.

Thông thường thầy quán là thầy đặt như vậy nên lúc đó thấy rất đau đớn, rùng rợn, kinh khiếp nên chỉ mới cách đây vài ngày tại chùa Bửu Liên, thầy quán xác thân tứ đại đó và cũng chảy nước mắt nữa, toàn thân chấn động. Vì mình đặt mình trong đó, trong người bị cưa não, cưa hộp sọ để lấy từng miếng não ra thì đau đớn hết cả cơ thể, rúng động hết. Vì mình đặt hộp sọ đó là mình, cơ thể đó là mình, khi họ múc từng muỗng máu trong đó thì mình nhìn y hệt như lúc xưa mình đi ra chợ, nơi người ta bán thịt lợn cũng giống như vậy, mình cũng quán giống như vậy là cơ thể đó là chính mình, lúc đó mình mới sanh ra cảm thọ được, còn nếu mình chỉ như xem phim thì nó không có tác dụng lớn, đây là bí quyết của sự quán bất tịnh.

Nếu không đặt vô như vậy là không sanh được cảm thọ và không sanh cảm thọ thì không rúng động, sẽ không có sức công phá thọ chấp thân, thọ bình thường của vô minh. Nên mỗi khi thọ sanh lên thì sẽ làm rúng động việc thấy từ trước giờ của mình “Thân này là tôi, thân này là tự ngã của tôi, thân này là của tôi!”. Mỗi lần cảm thọ sanh lên là sẽ làm giống như địa chấn vậy, cái kiến chấp từ trước giờ bị cái này làm cho rung rinh, động chuyển, làm cho rung rinh nhiều lần như vậy thì sẽ có một tác dụng rất lớn, để làm cho xoay chuyển cái mà trước giờ mình cho là tịnh thì mình thấy ngược lại là bất tịnh. Nên có một sức chuyển động rất lớn trong lúc mà mình quán thì mình có đặt như vậy, có quán như vậy thì lúc đó, cảm giác mới sanh được. Đây là điều rất quan trọng mà các huynh đệ phải nhớ để thực tập.

Họ rọc cơ thể ra thì mình thấy là cần thiết là mình nhắm mắt lại còn không cần thì mình cứ mở ra nhìn và nhìn vào cơ thể mình, phải nhớ, lúc đó rõ tới đâu là mình đau đớn tới đó, máu chảy ra là cảm giác như cơ thể của mình đang bị chảy, như vậy mới gọi là quán, là tưởng. Đó là bí quyết của sự quán tưởng, quán chiếu.

Khi họ rọc dạ dày ra thấy những thức ăn trong đó, mình phải cảm thấy như đó là dạ dày của mình bị rọc ra như vậy. Từng bộ phận trong đó như tim, gan, phổi, lấy ra từng miếng và cắt ra làm mình đau đến rúng động. Mỗi lần mình đau đớn, rúng động, sợ hãi, lông tóc dựng ngược, dựng đứng lên hết thì lúc đó trí huệ sanh, cảm giác của tuệ giác tăng trưởng mỗi lần như vậy và tẩy rửa cái nhìn theo sai, theo mê, theo phàm, trong dục, ái, si, vô minh sẽ làm cho xoay chuyển dần dần. Lúc ông ấy cầm cây dao rọc trên đầu, thầy thấy đau đầu, lạnh cả người vì như đang rọc đầu mình chứ không phải rọc trong người đó, lúc đó nước mắt thầy chảy ra vì đau quá, khiếp quá, rồi lúc ông ấy nắm và lột ra như là lột đầu của mình, mình phải nhập vào như người đó là một, đó là sự quán tưởng quán chiếu. Khi thấy họ cưa hộ sọ, thầy quán như vậy nên tim đập rất mạnh và hơi thở rất dồn dập và đau đớn, quằn quại, đó là thọ sanh đến mức mãnh liệt. Nên Bất Tịnh Quán là pháp tu căn bản của Linh Quy Pháp Ấn, đây là cánh cửa của bất tử, ai đi vào được là vào thế giới của bất tử, nên mình phải nắm thật vững Quán Ba Mươi Hai Thể Trược và Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi. Khi nắm thật vững rồi thì mình phải khéo như lý tác ý, suy xét và có hình ảnh thì mình kết hợp quán tưởng.

Quang đứng lên đọc Ba Mươi Hai Thể Trược:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên sư phụ, quý thầy, sư cô và quý sư huynh con xin đọc:

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này, dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, thận, tủy, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm (niêm dịch), mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu".

Này các Tỷ-kheo, cũng như một bao đồ, hai đầu trống đựng đầy các loại hột như gạo, lúa, đậu xanh, đậu lớn, mè, gạo đã xay rồi. Một người có mắt, đổ các hột ấy ra và quán sát: "Đây là hột gạo, đây là hột lúa, đây là đậu xanh, đây là đậu lớn, đây là mè, đây là hột lúa đã xay rồi".

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo quán sát thân này dưới từ bàn chân trở lên, trên cho đến đảnh tóc, bao bọc bởi da và chứa đầy những vật bất tịnh sai biệt. Trong thân này: "đây là tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan, hoành cách mô, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, bụng, phân, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ da, nước miếng, nước mủ, nước ở khớp xương, nước tiểu". => Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân, hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về các vị trí các giới và sự sắp đặt các giới: "Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại". Này các Tỷ-kheo, như một người đồ tể thiện xảo, hay đệ tử của một người đổ tể giết một con bò, ngồi cắt chia từng thân phần tại ngã tư đường.

Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát thân này về vị trí các giới và về sự sắp đặt các giới: "Trong thân này có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại". => Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa một ngày, hai ngày, ba ngày, thi thể ấy trương phồng lên, xanh đen lại, nát thối ra. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy". => Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loài quạ ăn, hay bị các loài diều hâu ăn, hay bị các chim kên ăn, hay bị các loài chó ăn, hay bị các loài giả can ăn, hay bị các loài côn trùng ăn. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản chất là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy". ==> Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trênđời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Này các Tỷ-kheo, lại nữa, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, với các bộ xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại…... với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại... …với các bộ xương không còn dính thịt, dính máu, còn được các đường gân cột lại……chỉ còn có xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là xương đầu. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy". ==> Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay vị ấy sống quán tánh diệt tận trên thân; hay vị ấy sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.

Lại nữa này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như thấy một thi thể bị quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc... …chỉ còn một đống xương lâu hơn ba năm... …chỉ còn là xương thối trở thành bột. Tỷ-kheo quán thân ấy như sau: "Thân này tánh chất là như vậy, bản tánh là như vậy, không vượt khỏi tánh chất ấy". ==> Như vậy vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên nội thân, ngoại thân. Hay vị ấy sống quán tánh sanh khởi trên thân; hay sống quán tánh diệt tận trên thân; hay sống quán tánh sanh diệt trên thân. "Có thân đây", vị ấy sống an trú chánh niệm như vậy, với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Và vị ấy sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy là Tỷ-kheo sống quán thân trên thân.”

(Trung Bộ Kinh – 10. Kinh Niệm Xứ.)

Mình phải thuộc phần văn, tức là phần về chữ nghĩa, mình phải thuộc lòng ba mươi hai thứ. Khi mình ngồi quán thì khi quán tới tim thì phải hiện hình trái tim ra, quán tới lá phổi thì hiện lá phổi, quán tới mật là hiện ra mật, quán tới ruột, màng ruột hay nói tới chỗ nào thì cái đó sẽ hiện ra ở trước mặt của mình như vậy gọi là định tướng thành tựu, nếu như chưa hiện rõ thì mình đọc tới đọc lui tới khi hiện ra thấy rõ từng cái thì như vậy là định tướng của mình thành tựu.

Ví dụ như quán tới máu là ra tới máu, quán tới mủ là ra mủ, hay quán tới nước tiểu, tới phân… mỗi cái khi đọc ra đều hiện ra rõ tới đó. Khi thấy ông đó nằm và con ruồi bay vào mũi thì khó chịu, cảm thấy thốn, nếu như mình nằm đó và con ruồi bay vào như vậy thì rất thốn, con ruồi lớn như vậy bay vào mũi thì làm sao chịu được, mỗi lần thấy hình đó thì thấy thốn mũi, phải quán như vậy.

Khi con dòi tràn ra như vậy thì khủng khiếp quá, khủng khiếp cho tấm thân này, cái mình yêu mến, bám níu, sống chết thì cuối cùng nó lại là vậy. Mình nói với mình là “Tỉnh chưa? Ngộ chưa? Thấy rõ chưa? Hỡi cái tên ngu si, vô minh, tham ái?” Mình nói với chính mình như vậy cho rúng động hết ở trong ra, lúc đó sức quán của mình rất mạnh, đó là tuệ lực, sức mạnh của trí huệ, phải tác ý thật khéo léo, chánh tư duy, thật khéo léo dùng những thiện xảo trong khi mình quán, không phải mình ngồi trơ trơ đó. Lúc mình vận dụng giống như lên máy bay có bao nhiêu là thao tác, nó rất vi tế, rất sâu sắc, như vậy thì quán mới thành tựu.

Khi mặt người tươi tắn, cô gái đẹp như vậy tự nhiên biến thành một bà cụ, trợn hai mắt lên làm mình hết hồn, rồi đến khi rớt cả tròng mắt, đến khi dòi sinh ra, chỉ hiện sọ đầu làm rúng động và cả tiếng chuông trong đó rung đúng lúc, phải quán chiếu cái đó. Vì sao ở đây mình phải lấy pháp Bất Tịnh Quán làm chủ lực và Quán Từ Bi vì pháp này công phá luôn cả tham, ái, dục, bản ngã, sân si… phá hết tất cả các phiền não. Quán cái này để phá chung hết tham, sân, si, bản ngã. Quán Bất Tịnh này rất mạnh, sức công phá rất lớn, trị luôn cả tham, sân, si, trị luôn cả vô minh, chấp ngã, về một cái ảo tưởng của tự ngã, lúc nào trong suy nghĩ cũng là tôi hết, tôi và của tôi, lúc nào mình cũng nghĩ là thân tròn vẹn, nguyên vẹn, đẹp đẽ, tốt đẹp mà mình không biết rằng sau lớp da này trong đó là cái gì, chỉ cần lớp da này rách ra thôi thì sẽ chảy ra trong đó những thứ gì, đó là trí huệ của Đức Phật mở ra cho mình thấy và mình thường tu tập việc này thì mình sẽ đi đến cảnh giới của bất tử.

Tại sao con người ta chỉ lo cái sống thôi mà khi cái chết ập tới thì ta lại hoảng loạn, ta không biết gì, sống trong lãng quên, sống trong cái không hiểu biết, tăm tối, vô minh nên cái sống đó đi đến cái chết. Còn đối với mình, Đức Phật dạy mình luôn luôn lúc nào cũng nhớ cái chết, thấy được bản chất của nó, chính mình thấy cái chết này để mình vượt lên tới nơi bất tử. Nên thường niệm tử thì đạt cảnh giới bất tử, còn cứ nhớ sanh rồi tử, tử xong lại sanh nên phương pháp này rất là quan trọng và trở thành phương pháp tu chính của mình ở đây, nên từ đây đến khi hết khóa tu là ngày nào cũng phải mở ra để quán.

Nhìn thấy khi trương phình lên tấm thân này thấy đau lòng vô cùng, xót xa vô cùng mà không ai nghĩ tới, đến trăm ngàn vạn người trên cuộc đời này, không ai nghĩ tới một ngày như vậy mà mải lo ăn, chơi, hưởng thụ và khi cái chết ập tới là bấn loạn, đau khổ, hoảng sợ, không biết gì về tự thân mình, tự tâm mình, đó là sự xót xa cho chính mình và xót xa cho khắp tất cả mọi người nên những giây phút mình ngồi lại Thiền Quán như vậy, những lúc mình rất tỉnh táo, tỉnh giác, trí huệ, đỉnh cao của trí huệ, đó không phải bình thường, lúc mình nhìn thấy được thực tướng của thân bại lộ như vậy là mình đứng trên lầu cao, trên núi cao của trí huệ để nhìn kẻ ngu đất bằng.

III. Bảy tưởng bất tử:

Mình nhìn thử trên khắp thế gian này, ngay cả những người bác sĩ làm ngành như vậy nhưng người ta đâu thấy là để nhàm chán, không ứng dụng tinh thần Bất Tịnh Quán của Đức Phật nên người ta không biết. Nên phương pháp này thật là tuyệt diệu, chưa từng có, thù thắng, tối thượng, phương pháp này đốt phá hết tất cả dục, tham, ái, đập vỡ hết tất cả tự ngã về tôi và của tôi để nhìn thấy được một đống ruột, phèo phổi, tim gan, không có cái gì là của mình, nó chỉ ráp lại như vậy thôi, chỉ cần có một bộ phận bị trục trặt xong là xong, không còn gì nữa hết. Như vậy đau khổ biết bao nhiêu, mê đắm biết bao nhiêu về nó rồi lại tạo biết bao nghiệp vì nó, vì cái thân này.

Nên những giây phút đó là những giây phút thiêng liêng, mình quán và ngồi, soi sáng, chiêm nghiệm được như vậy là cả trăm đời, ngàn kiếp của mình cũng chưa có được giây phút đó, nên mình phải biết trân trọng, trân quý nó. Lạy pháp Bất Tịnh Quán của Đức Phật dạy, lạy và đập đầu xuống, tôn kính xuống, không có người thứ hai chỉ cho mình ra được sự thật này. Và mỗi này mình đối với những sự thật này đến khi sự thật xảy ra với mình thì lúc đó mình rất là bình an, rất điềm nhiên, mình thấy rõ rồi nên ý mình quán chiếu như vậy mà tham dục trong tâm mình còn chưa hết, còn mạnh mà mình không quán nữa thì thôi, hoàn toàn khống chế mình hết.

Mình nhìn thấy ngày nay, bao nhiêu những tin tức về những tham dục đã hại con người ta biết bao nhiêu để nói, như một ông già bảy tám chục tuổi mà lại hãm hiếp những đứa trẻ thơ đáng cháu nội, cháu ngoại. Tất cả cái đó đều là từ dục, không thấy rõ vấn đề nên pháp của Đức Phật mới trị, trị các tâm bệnh của chúng sanh và làm cho chúng sanh bớt khổ, giảm khổ và đi đến chỗ hết khổ. Mình phải thấy được giá trị đó, mới thấy nó quý, phải phát cho được tâm cung kính, tôn trọng, hiếm có, khó được, thù thắng, phát được tâm đội lên trên đầu, pháp mà Đức Phật đã truyền trao cho mình.

Đức Phật dạy bảy sự quán tưởng này đưa mình thể nhập đến bất tử, là khi mình tu phải khéo léo tác ý, trong hằng ngày, bất cứ lúc nào mình cũng khéo léo tác ý:

“- Có bảy tưởng này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh”

(Bài kinh Tưởng 1, Tưởng 2 – Phẩm V. Phẩm Đại Tế Đàn – 7. Chương Bảy Pháp - Tăng Chi Bộ Tập 3)

1. Tưởng chết 1:

Mục đích của người xuất gia là đi đến chỗ đó, gọi là thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh, nên chủ đề thầy đặt là Mở Cửa Bất Tử, mình thực hành những phương pháp này là mình đang bước vào cánh cửa của bất tử không có chết, chấm dứt sự sống chết của luân hồi. Đầu tiên là tưởng bất tịnh, kế đến là tưởng chết, trong bài Niệm Tử thầy đã nói nhiều rồi, giờ đây thầy chỉ nói những điều mà trước giờ ít có nói thôi, Niệm Tử là luôn nhớ về cái chết. Nên từ cách đây mười lăm hay hai chục năm, từ khi thầy xuất gia thì thầy không có đọc báo, giờ khi đi chia sẻ Phật Pháp thì mỗi ngày thầy đều đọc hết, khi thầy đọc thì thầy tìm những tin tức như tai nạn giao thông, thiên tai, những người bị bệnh ung thư, hay những người xảy ra những chuyện qua đời, phải đọc những tin đó để mình thấy nên ở đây mới có một cái gọi là tưởng không hoan hỉ đối với tất cả thế giới – tưởng vô thường, tưởng khổ trong vô thường, tưởng vô ngã trong khổ, những tưởng này đều gồm chung trong đó.

Như chuyến xe mười ba người đi rước dâu ở ngoài miền Trung, khi họ lên xe họ đâu biết gì, cuối cùng lại chết hết, ngày đại hỷ trở thành ngày đại tang và cả xóm đó vang lên tiếng kêu than thấu trời xanh như đoạn clip người khác quay lại đăng lên mạng có bốn hay năm cái hòm nằm một dãy trong nhà, nhìn đó để mình quán chiếu về sự vô thường của cuộc đời này và khi người khác chụp lại hình của chiếc xe bị tai nạn, gần đó còn rơi chữ song hỷ.

Mình xem những cảnh khổ ở Ấn Độ, những cảnh nghèo của khu ổ chuột, hay xem những cảnh người ta nhặt những thức ăn thừa trong đống rác để ăn, để mình quán chiếu cái này trong dòng luân hồi đâu không phải là mình đã từng như vậy, không chỉ một lần. Không phải mình đã từng trong những kiếp mang lông đội sừng, kiếp của những người khổ nạn, của những em bé tàn tật, mồ côi, không phải là mình đã từng rơi vào những thân mù lòa, đui điếc, câm ngọng hay đã từng rơi vào những cảnh bệnh nằm liệt giường, liệt chiếu, như hôm trước mình xem chú đó nằm đến mười bốn năm để hiến đầu cho y học.

Tất cả những cảnh đó, thầy muốn cho đại chúng xem để làm gì? Để phục vụ cho cảnh giới bất tử, cho mình bước qua cánh cửa của bất tử. Vì giờ mình nhìn ra ngoài là tịnh tướng, mở tivi xem thì toàn thấy những người đẹp, những nhà đẹp, cảnh đẹp, còn những cảnh khổ thì người ta không quay lại, thì mình chỉ xem được một mặt còn mặt khác mà đây là mặt của sự thật của cuộc đời nên mình phải thấy được cái toàn diện, thấy được vị ngọt của sắc và sự nguy hại của sắc, vị ngọt của dục và sự nguy hại của dục; không phải là mình chỉ thấy vị ngọt rồi thích thú lắm và đi tìm cái tưởng mà mình không thấy rằng đằng sau vị ngọt đó là một vị đắng, đắng kinh khiếp, sự nguy hiểm và tác hại của nó không lường được trong dòng luân hồi này. Thật sự cứ nghĩ cái đó là vui, lao vào, phăng vào đi tìm trong những vũ trường thâu đêm suốt sáng, rượu chè, những chất kích thích, ma túy say sưa như vậy người ta tìm trong đó cái vui mà không biết rằng đó làm gì có cái vui, toàn đưa đến khổ, khổ bản thân, gia đình và thậm chí khổ ảnh hưởng tới xã hội vì không thấy, không có trí huệ nên không biết.

Vì vậy Đức Phật mở ra cho mình thấy bảy tưởng này là đưa đến chỗ thể nhập bất tử nên khi mình xem, ví dụ như khi xem em bé mới chỉ 8 tuổi thôi, ở trong nhà bếp che các tấm phên, như vậy thì mình phải quán em bé đó chính là mình, hãy nhớ đây là bí quyết, tất cả những gì mình thấy đều phải quán mình bị như vậy thì lúc đó mình mới phát ra được cảm giác nhàm chán, rúng động cả cơ thể, cảm giác muốn ra khỏi luân hồi sanh tử, ra khỏi những nghiệp quả khốn đốn, khốn nạn, khốn khổ như vậy. Biết bao nhiêu những cảnh đời tang thương mình đâu có thấy được hết, lâu lâu mình chỉ coi được clip ngắn như vậy, mình biết còn ngoài kia biết bao nhiêu cảnh khổ, những nước chiến tranh, trong những tin tức thời sự Minh Thành xem qua và đứng dậy như không muốn nổi và nếu mình đặt mình vô những chỗ đó thì sao? Ngày ngày đêm đêm phải sống trong sự nơm nớp lo sợ, bất cứ lúc nào bom cũng nổ, đạn nổ, súng bắn. Những tin tức tìm em bé 3 tuổi, 2 tuổi mà bị trúng đạn cụt chân cụt tay mất, trong ảnh như vậy thì làm sao mình chịu nổi, vậy mà mình nhởn nhơ, đừng nói chi người đời, ngay cả người xuất gia cũng quên những cái đó, mình không nhớ và mình cứ sống đều đều, thấy giống như không có chuyện gì.

Đó là một sự vô tri, sự vô minh, sự lãng quên, sự thất niệm, không an trú niệm, không thắp sáng trí huệ, không tỉnh thức, như vị thiên đó nói: “Như kiếm chạm da, như lửa cháy trên đầu”. Kiếm chạm da là kiếm kề cổ, chỉ cần gạt ngang là rơi đầu, đời sống con người của mình cũng giống như vậy, đi trên xe mà có biết được an toàn không? Có giống như kiếm chạm da, chạm vào là như rơi đèo, chạm vào là rơi xuống bể đầu, gãy chân, chỉ tích tắt, mau chóng và vô thường, tưởng vô thường, tưởng không hoan hỉ đối với tất cả thế giới. Minh Thành được nhân duyên đi đây đi đó, qua các nước rồi, mình nhìn thấy đâu cũng vậy thôi, khác nhau một chút về vật chất thôi, còn ở đâu thì cũng tham, sân, si; Mỹ hay Úc, Canada, Hồng Kông, Đài Loan, Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar cũng vậy, cũng chỉ lẩn quẩn trong vòng tham, sân, si, vô minh, không thấy rõ được tự thân, không thấy được các pháp trong tâm mình vận hành nên mình may mắn, tận cùng của sự may mắn là mình gặp được Chánh Pháp, thấy được pháp hành, giờ mình chỉ còn là đi trên Thánh đạo để đến được Thánh Quả chứ mình không còn gì khác, phải nỗ lực, tinh tấn, tâm niệm giờ giờ phút phút giây giây, đặt tâm mình vào pháp, an trú trên niệm, các căn chế ngự, không thả lỏng các căn.

Khi mình xem lũ lụt ở miền Bắc làm sao mình tưởng tượng nổi khi đang ở trong nhà bảy tám người thì bị sập, nguyên căn nhà đi xuống hết và tìm xác không được. Nếu như mình ở trong hoàn cảnh đó thì sao? Mình chết một cách không biết gì, trong hoảng loạn đó thì lúc đó tâm thức sẽ đưa mình đi đâu? Khi đó là chết mà không biết tại sao mình chết, không biết chuyện gì đang xảy ra. Nên có những ngày đi kinh hành ở Vân Thủy Đường thầy quán chiếu bất thình lình ở đây, nguyên Vân Thủy Đường sạt xuống đè mình chết hết, mình thường quán như vậy, thường tưởng như vậy, thường soi xét như vậy thì tâm mình rất là mạnh, rất tinh tấn, đây là bí quyết để mình tu, nên khi thầy thấy các chú lên ngồi thiền mà ngủ thì thôi thầy lắc đầu, thầy nhắc hoài cũng vậy thì thôi thầy không nhắc nữa phải vận dụng, phải tu tập.

2. Tưởng nhàm chán đối với các món ăn – tưởng bất tịnh:

Đối với tưởng nhàm chán các món ăn thì mình nhìn thấy trong dạ dày, mình thấy đó là mình quán cái đó đủ, Đức Phật nói từng tác dụng của mỗi tưởng:

“Này các Tỷ-kheo, khi một Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán. Ví như, này các Tỷ-kheo, lông gà hay là dây gân quăng vào lửa thời thối lui, trở lưng, quay lưng, và không căng thẳng.”

(Bài kinh Tưởng 1, Tưởng 2 – Phẩm V. Phẩm Đại Tế Đàn – 7. Chương Bảy Pháp - Tăng Chi Bộ Tập 3)

Nên ở đây quan trọng là nói về sống nhiều với tưởng bất tịnh, tâm của mình sẽ quay lưng, không đắm vào các dâm dục, dục tưởng, dục thọ trong nội tâm của mình và mình có cách để nhiếp phục nó để mình trị nó, điều này khó nhất, rất khó mà phương pháp này trị được, nếu mình thực tập là trị được, nhiếp phục được.

“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, nhưng tâm lại chạy theo, đắm vào dâm dục, không khởi lên nhàm chán, thời Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Tưởng bất tịnh không được ta tu tập, ở nơi ta không có sựsai khác trước và sau. Ta không đạt được quả tu tập". Ở đấy, vị ấy tỉnh giác như vậy.”

(Bài kinh Tưởng 1, Tưởng 2 – Phẩm V. Phẩm Đại Tế Đàn – 7. Chương Bảy Pháp - Tăng Chi Bộ Tập 3)

Tức đã tu như vậy, đã quán như vậy mà vẫn còn chạy theo thì mình phải khởi lên một sự xấu hổ và phải rõ biết rằng là mình đã tu bất tịnh như vậy mà mình tu chưa khéo, tu chưa tới, tu chưa đủ mà lúc trước như vậy mà bây giờ cũng y chang như vậy, mình không được kết quả tu tập thì mình phải tỉnh giác để biết rõ là mình tu chưa tới và đừng chán, đây là chỗ quan trọng. Nếu không lại nói là “Mình tu cũng y như vậy thì thôi khỏi tu!” đây là suy nghĩ rất sai lầm, phi như lý tác ý, là tà tư duy, suy xét không trúng. Mình phải nhận thức và biết rõ rằng mình tu chưa đúng mức, mình cần cố gắng hơn nữa. Chứ không nói rằng “Tu thì tôi cũng thấy tịnh chứ không thấy bất tịnh đâu?” vậy là thất bại, suy nghĩ như vậy là hỏng, mình không có tiến.

“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng bất tịnh, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng để không đắm vào các dâm dục, do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán, thời Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: " Tưởng bất tịnh được ta tu tập; ở nơi ta có sự sai khác trước và sau. Ta đạt được quả tu tập". Ở đấy, vị ấy tỉnh giác như vậy.”

(Bài kinh Tưởng 1, Tưởng 2 – Phẩm V. Phẩm Đại Tế Đàn – 7. Chương Bảy Pháp - Tăng Chi Bộ Tập 3)

Lúc nãy chưa tiến thì mình cũng tỉnh giác biết rằng mình chưa tiến, giờ thì có tiến, có kết quả thì mình phải biết rằng mình có tiến có kết quả và mình tỉnh giác, không rơi vào bản ngã, cho rằng “Ta tu hay! Ta tu giờ thành công còn mấy người kia chưa biết tu!” rơi vào vô ngã ngay, là khen mình chê người.

3. Tưởng chết 2:

“Tưởng chết cũng như vậy, Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống nhiều với tưởng chết, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng không thích thú sự sống, do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.”

(Bài kinh Tưởng 1, Tưởng 2 – Phẩm V. Phẩm Đại Tế Đàn – 7. Chương Bảy Pháp - Tăng Chi Bộ Tập 3)

Nếu thường quán chiếu về tưởng chết này, niệm tử thường nhớ mình sẽ chết thì tâm của mình sẽ quay lưng, không thích thú trong sự sống, không đam mê sự sống, không ảo tưởng về sự sống, không đầu tư tiếp tục cho những thân ngũ uẩn trong tương lai. Tưởng chết đưa đến hiệu quả đó.

“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng nhàm chán đối với các món ăn, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng không tham ái các vị; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.”

(Bài kinh Tưởng 1, Tưởng 2 – Phẩm V. Phẩm Đại Tế Đàn – 7. Chương Bảy Pháp - Tăng Chi Bộ Tập 3)

Tưởng nhàm chán đối với các món ăn, “thời tâm thối lui, tâm trở lưng, tâm quay lưng, không tham ái các vị”. Tức không tham ái, không ham thích các món ngon, các hương vị, nếu mình thường quán chiếu đến tưởng nhàm chán đối với các món ăn. Vì cái ăn rất đơn giản nhưng ảnh hưởng rất lớn, từ mất thời gian, vất vả tới phiền não, nấu nhiều quá có phiền não không? Rồi lại khi ăn nhiều quá, no quá rồi lên ngồi thiền không được, rồi lại ngủ rồi lại ảnh hưởng tới sức khỏe. Nên thấy vậy, Đức Thế Tôn nói một chuyện gì Ngài đưa ra thì có nhiều nguyên nhân sâu xa trong đó nên buổi chiều mình không thể không ăn mà mình ăn thì thấy hổ thẹn nên ăn nhẹ chút thôi hay ăn cho một tô đầy hay cả bát rồi lại vào ngồi giống như “ông Địa” thì làm sao thiền? Mình không ăn chiều được mình thấy hổ thẹn, pháp này mình chưa tu được nhưng mình ăn nhẹ thôi, không để ảnh hưởng đến việc chính yếu của mục đích của sự tu mình. Nên mình thường quán tưởng nhàm chán các món ăn thì tâm mình sẽ quay lưng, không tham ái các vị.

4. Tưởng không hân hỷ đối với tất cả thế giới:

“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với tâm không hoan hỷ đối với các thế giới, thời tâm thối lui, tâm trở lưng, quay lưng với các lòe loẹt của thế giới, do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.”

(Bài kinh Tưởng 1, Tưởng 2 – Phẩm V. Phẩm Đại Tế Đàn – 7. Chương Bảy Pháp - Tăng Chi Bộ Tập 3)

Tưởng này rất sâu sắc, tưởng này nhàm chán đối với tất cả cuộc đời, tất cả thế gian, tất cả thế giới, không có gì trong này là vui thật, hạnh phúc thật sự, chỉ là tạm bợ vô thường thôi. Mình thường quán chiếu như vậy thì đối với những lòe loẹt mình xem bình thường lắm.

Như lúc Minh Thành qua Mỹ hoằng pháp, có nhiều Phật tử mời lên “Thầy ơi lên đây xem nhà này đến bốn triệu đô la, mời thầy đến thăm bà con của con!” Minh Thành lên nhìn thì thấy “Có gì đâu ta?” Nhiều khi mình nói ra người ta cười mình nhưng cái này còn thua trên núi mình. Mình thấy không có gì vì mình thường quán chiếu cái này, nhìn thấy thì không có cái gì trong đó nhưng nếu mình không khéo tác ý thì “À, dữ dằn ha!” hay tính tiền ra bao nhiêu rồi vào xem kĩ này kia tướng chung tướng riêng là mình dính mắc liền, như ngồi thiền mà lâu lâu lại nhớ đến cái nhà bốn triệu đô. Nên mình có tưởng này bảo hộ, phòng hộ, ngăn chặn các bất thiện pháp, duyên phang duyên tham, thích ưa những cái đẹp, những tưởng này rất quan trọng. Khi mình tưởng những cái này, đối với những lòe loẹt của thế giới mình quay lưng, có thì xài không có thì thôi.

Các Phật tử mời thầy đi qua những chỗ giàu có này kia, hay như đi đến khách sạn năm sao ăn cơm hay đi đến Las Vegas nhìn bên ngoài thấy hào nhoáng vậy nhưng các Phật tử cũng nói “Thầy ơi, đây là thiên đàng mà đây cũng là địa ngục.” Thầy hỏi “Tại sao vậy?” Thì họ nói là khi mới đến cầm tiền mặt mày hớn hở, bước xuống xe là có người đứng kế bên đưa vào, mời vô phòng đều không tốn tiền, miễn phí hết tới khi trở ra là địa ngục không còn tiền về xe, không còn tiền vé máy bay đi về nên đó cũng là thiên đàng mà cũng là địa ngục. Có nhiều nơi dát vàng và dụ người, như vậy thì có gì đâu, nhìn sâu sắc vậy nhưng không có gì hết mà mình không khéo thì mình sẽ bị cái lòe loẹt đó giết mình chết. Nên những pháp này mở ra những cánh cửa bất tử cho mình bước vào, mình tu tập những pháp này rồi thì mình đi tới đâu cũng vậy, tâm mình bình an, bình thản, điềm nhiên, kì diệu thay là giáo pháp của Đức Thế Tôn, kì diệu thay là trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác, kì diệu thay là con người khéo tác ý tư duy, tu tập.

5. Tưởng vô thường:

“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với tưởng vô thường, thời tâm thối lui, tâm trởlưng, quay lưng với các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng; do đó tâm vị ấy không căng thẳng, thanh thản, khởi lên nhàm chán.”

(Bài kinh Tưởng 1, Tưởng 2 – Phẩm V. Phẩm Đại Tế Đàn – 7. Chương Bảy Pháp - Tăng Chi Bộ Tập 3)

Nếu Tỳ-kheo sống nhiều với tưởng vô thường thì mình sẽ quay lưng lại với các lợi dưỡng cung kính và danh vọng, điều này thấy vậy chứ không thường. Mình thường quán tưởng về vô thường, về cái chết, về sự biến đổi đột ngột của cuộc đời này thì mình sẽ quay lưng lại các lợi dưỡng khi mình được lợi, cúng dường, cung kính, được danh tiếng này kia, mình sẽ quay lưng, thối lui, không tham thích trong đó, có gì đâu nổi tiếng, Linh Quy Pháp Ấn có gì nổi tiếng? Có nhà tranh, có chánh điện và mấy tấm phên tre, lấy gì để mà tự hào? Không có gì nổi tiếng, đều là giả danh, chẳng có là gì. Có được hay không là thành tựu trí huệ của mình, đó mới là có thật, cứu cánh phạm hạnh, nhiếp phục được tham, sân, si đó mới là điều quan trọng.

Mình tu tập được như vậy rồi thì mình thanh thản lắm, không căng thẳng, mình sẽ nhàm chán đối với các lợi dưỡng, cung kính, danh vọng. Dầu cho được cung kính hay bị chê bai, đưa lên hay hạ mình xuống thì đều thanh thản, điềm nhiên trước thế sự vô thường, mưa mình cũng tu, nắng mình cũng tu, không phải trời mưa thì mình nghỉ tu, hay khen thì mình cũng là người tu mà chê thì mình cũng là người tu, không lẽ chê rồi lúc đó mình không là người tu nữa, người ta khen và vô tay ầm ầm theo pháp từ thì cũng là theo pháp từ, chê thậm tệ cũng là theo pháp từ, tâm của mình có như vậy không? Mình giữ được sức định tĩnh trong sự quán chiếu này, đi tới chỗ bất động tâm giải thoát của bậc A-la-hán, đại công cáo thành, mã đáo thành công, phước trí nhị nghiêm, làm cho quan tông diệu tổ, không phải chín đời hay bảy đời cha mẹ cửu huyền mà vô lượng vô biên kiếp của cha mẹ mình đều được lợi lạc hết.

6. Tưởng khổ trong vô thường:

“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng khổ trên vô thường, thời các tưởng sợ hãi sắc bén được an lập trên thụ động, biếng nhác, thả lỏng, phóng dật, không chú tâm, không quán sát. Ví như một kẻ giết người giơ đao lên.

Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng khổ trên vô thường, nhưng các tưởng sợ hãi sắc bén không được an lập trên thụ động, biếng nhác, thả lỏng, phóng dật, không chú tâm, không quán sát; thời giống như một kẻ giết người giơ đao lên.”

(Bài kinh Tưởng 1, Tưởng 2 – Phẩm V. Phẩm Đại Tế Đàn – 7. Chương Bảy Pháp - Tăng Chi Bộ Tập 3)

Ý nói kẻ giết người giơ con dao lên, nếu người này thường quán tưởng cái khổ trên vô thường là người này giống như có người sát thủ, họ giơ con dao lên chuẩn bị giết mình và lúc nào mình cũng ở trong sợ hãi, mình không có biếng nhác, không thả lỏng, không buông lung phóng dật, mình luôn luôn chú tâm, mình không thụ động mà mình có một sự sợ hãi rất sắc bén, lúc nào cũng sợ, vì đứng kế bên sát thủ, đang chĩa súng nhắm mình bắn, luôn luôn lo sợ, tránh né, vậy sao dám ngủ? Như có người ở đằng xa đang cầm súng nhắm bắn mình thì mình có dám ngủ, dám thả lỏng, buông lung, cười giỡn, biếng nhác không?

Vậy nên Đức Phật mới dạy mình là quán chiếu giống như có kẻ giết người đang giơ dao lên ở kế bên mình, như kiếm chạm da, như lửa cháy trên đầu, quán chiếu như vậy làm cho mình tinh tấn, chú tâm, tỉnh giác. Cũng giống như nãy Đức Phật dạy, giống như mình tu chưa có kết quả thì mình phải cố gắng lên, tỉnh giác, mình phải biết còn nếu mình tu có kết quả rồi thì mình cũng phải tỉnh giác, phải biết.

7. Tưởng vô ngã trong khổ:

“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với các tưởng vô ngã trên khổ, này các Tỷ-kheo, ý của vị ấy thoát khỏi các tư tưởng ngã, ngã sở, ngã mạn, đối với cái thân có thức nầy và đối với tất cả tướng ở ngoài, khéo giải thoát, được an tịnh, vượt qua các thiên kiến.”

(Bài kinh Tưởng 1, Tưởng 2 – Phẩm V. Phẩm Đại Tế Đàn – 7. Chương Bảy Pháp - Tăng Chi Bộ Tập 3)

Khéo giải thoát đối với thân có thức này, khéo giải thoát đối với các tướng ở bên ngoài, nhìn thấy tất cả mọi cái là duyên hợp, là lắp ráp, không có gì có lõi chắc mà chỉ là đồ gốm thôi mà đồ gốm đó ở trong lò đưa ra, hay là chưa được đưa vào lò đất đã được nung rồi hay chưa nung thì tánh bể đã nằm ở trong đó. Giờ như em bé mới sanh ra, hay một người trưởng thành mười tám tuổi, thì tánh chết đã ở trong đó, không có khác. Quán chiếu được như vậy, tư duy được như vậy làm cho mình có một trí huệ an tịnh, đối với cái thân có thức này hay đối với tất cả tướng bên ngoài mình khéo giải thoát là mình không còn bị buộc vào đó nhiều nữa, mình nhẹ lắm, nếu như thân này có xảy ra chuyện gì thì mình cũng nhẹ lắm hay rủi như bên ngoài có hư cái này bể cái kia, mất mát gì ở tất cả bên ngoài thì tâm mình khéo giải thoát, mình mở ra một cách rất nhẹ, tháo ra một cách dễ dàng, mình thoát ra một cách điềm nhiên, điềm tĩnh lắm.

Tiếp theo là tuyệt vời, tưởng vô ngã ở trên khổ, ngay ở trên khổ đó mình thấy được cái vô ngã trong đó, cuộc đời là khổ mà mình còn thấy cái vô ngã trong cái khổ đó nữa thì mình được khéo giải thoát, tâm an tịnh.

“Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống nhiều với tâm chất chứa tưởng vô ngã trên khổ, này các Tỷ-kheo, ý của vị ấy không thoát khỏi các tư tưởng ngã, ngã sở, ngã mạn, đối với cái thân có thức nầy và đối với tất cả tướng ở ngoài, khéo giải thoát, được an tịnh, vượt qua các thiên kiến.

Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Tưởng vô ngã trên khổ không được ta tu tập; ở nơi ta không có sự sai khác trước và sau. Ta không đạt được quả của sự tu tập." Ở đây, vị ấy tỉnh giác như vậy.”

(Bài kinh Tưởng 1, Tưởng 2 – Phẩm V. Phẩm Đại Tế Đàn – 7. Chương Bảy Pháp - Tăng Chi Bộ Tập 3)

Mình tu tập chưa có kết quả mình phải tỉnh giác, tu tập chưa tới mức, chưa đúng mức, chưa nỗ lực, chưa tinh tấn, đối với pháp này, mình phải biết là mình đang ở trong tình trạng như vậy mình tỉnh giác còn nếu mình tu được, mình thoát được những điều kia thì mình phải biết rằng

“Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Tưởng vô ngã trên khổ được ta tu tập; ở nơi ta có sự sai khác trước và sau. Ta đạt được quả của sự tu tập." Ở đây, vị ấy tỉnh giác như vậy Tưởng vô ngã trên khổ, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh, được nói đến như vậy.

Do duyên gì được nói đến như vậy. Bảy tưởng này, này các Tỷ-kheo, được tu tập, được làm cho sung mãn, có quả lớn, có lợi ích lớn, thể nhập vào bất tử, lấy bất tử làm cứu cánh.”

(Bài kinh Tưởng 1, Tưởng 2 – Phẩm V. Phẩm Đại Tế Đàn – 7. Chương Bảy Pháp - Tăng Chi Bộ Tập 3)

IV. Tâm từ vi diệu:

Ở đây mình tu có hai món ruột, một món ruột là Bất Tịnh Quán và một món ruột nữa là Tứ Vô Lượng Tâm mà nói gọn là trải tâm từ, đó là hai món đặc sản mỗi khi ngồi thiền chúng ta phải khéo tu tập. Khi bước ra kinh Tâm Từ, tại sao mình phải tu Quán Bất Tịnh và tu trải tâm từ. Quán Bất Tịnh khi nãy là tu tập trí huệ, trí tuệ đó phá hiểu biết sai lầm để chấm dứt cái khổ, từ hiểu biết sai lầm bám chấp tự thân, bám vào những cảm giác, những tưởng, suy nghĩ, nhận thức bám chấp vào ngũ uẩn thì mình bị vô minh, đau khổ nên mình tu tập trí huệ để phá vô minh mê lầm đó rồi mình tu tập tâm từ để từ bi đối với tất cả mọi người, để đem lại sự an lạc cho mình và cho mọi người.

Vì vậy, món ruột thứ hai mình thực tập ở đây là thực tập tâm từ. Tâm từ trong đây thầy sẽ chia sẻ một vài ý chính để các huynh đệ trong đây ngồi trải tâm từ để biết cách thực tập nếu không thì mình chỉ ngồi nghe giống như nghe kinh thì đó không phải là trải tâm từ. Cũng giống như khi nãy mình nghe kinh, đọc tới đâu là mình quán hình ảnh tới đó, mình phải sử dụng tưởng và thọ, cần thiết là sử dụng luôn cả hành, mình lặp tới lặp lui việc đó trong tâm mình. Nên khi đọc tới đâu trong tâm mình phải có hình bóng xuất hiện ra tới đó, cảm thọ tới đó thì như vậy mới gọi là quán tưởng, trải tâm, còn khi ngồi và nghe đọc thôi thì đó chỉ là nghe kinh không phải trải tâm từ.

Phải nhớ kĩ về quán trải tâm từ, khi mình nghe bài kinh Tâm Từ thì Đức Thế Tôn dạy các Tỳ-kheo là mong tất cả cho những ai có mạng sống, người yếu hay mạnh, cả những con vật, vi trùng, tất cả loại chúng sanh được thấy được biết hiện đang sống đều được sống an lạc hạnh phúc hết. Khi mình nghe tới bài kinh đó mình tưởng ra, ví dụ như nói có những loại dài thì mình đã biết loại dài nhắc tới là gì. Việc này rất hay, chính bản thân Minh Thành thấy có thật là từ trước giờ khi Minh Thành tu, nhập thất nhiều nơi mà đều không bị những loài trùng độc hại vì Minh Thành thường thực tập tâm từ, lúc xưa mình còn chưa biết nhiều về kinh Nikāya thì đã được vậy giờ thực tập nhiều thì còn tốt hơn. Lúc đó ở trên tịnh thất Quán Âm Phật Đài ở Vũng Tàu, chỗ đó là bãi giữa, thì nghe đâu thất đó lúc xưa hòa thượng Thanh Từ đã từng tu ở đó, Minh Thành lên đó trong mấy tháng, lúc đó buổi tối, khi đi tiểu trong toilet ở bên ngoài thất, cách khoảng mười lăm mét đến hai mươi mét, đèn pin lúc pin sắp hết pin nên lờ mờ thì tự nhiên cảm thấy ở chân mình hơi lạnh lạnh thì mình đưa đèn pin vào thì thấy đầu của một con rắn đưa lên, lúc đó thì Minh Thành trải tâm từ và nói ba pháp quy y, “Con về con nương tựa với Phật, nương tựa với Pháp, nương tựa với Tăng để thoát khỏi thân súc sanh, để làm người, để gặp giáo pháp tu hành giác ngộ.” Nói xong thì nó bò đi.

Rồi lại một ngày, ngày đó đang nằm nghỉ trưa trên võng, đang nằm thì nghe ở trên rầm rầm, nghe rồi thì kệ đi, lại nằm tiếp thì lại nghe rầm rầm, chắc việc này không ổn nên phải mở ra xem để xem là gì, thì thấy một con rắn dài cỡ hai mét nằm trên nóc nhà bằng tôn tre, thì lúc đó Minh Thành cũng trải tâm từ và nói ba pháp quy y rồi nó cũng bỏ đi. Và nghe lại rằng trụ trì nói cách đó không lâu có người bị rắn cắn chết, nơi đó có rắn rất độc, lúc đó thầy Pháp Đăng lên phụ thầy dịch kinh thì thầy ấy nằm ở ngoài chánh điện có một phòng nhỏ để thờ Phật và thầy ngủ ở phía sau, thầy nằm ở đó thầy ngủ. Sáng thầy kể lại thì lúc tối đang nằm ngủ có gì cộm cộm trong vai rồi thầy giũ mạnh tay áo, lúc đó có con rết to bằng ngón tay cái dài và to nếu kẹp vào thì sẽ phải đi bệnh viện, vì đó là rết núi chứ không phải rết thường.

Rồi lại một lần, cũng ngay trên đó, ở ngay trong áo mình mặc thì nó chui vào trong đó, may sao không bị cắn. Nên hiệu quả của trải tâm từ rất hay, không chỉ một lần mà cả trăm lần. Nếu như mình không trải tâm từ thì giờ cũng có lẽ bốn mươi chín ngày hay giỗ thứ năm, hay mười lăm rồi.

Như một lần thầy đi về với thất, có những việc mình thấy đặc biệt nên mình tin tưởng vào pháp mà Đức Phật dạy. Tự nhiên đi như vậy và nhiều khi không mở đèn, tự nhiên lại muốn xem kĩ lại nên mới soi đường đi, thì vừa mới soi thì không tới một thước thì thấy rắn lại ngẩng đầu lên như vậy, mình suy nghĩ “Tới để cầu pháp hay quy y Tam Bảo thì thôi rồi để đọc ba pháp quy y” thì nó bò đi hay có khi đang bò mà mình đứng lại nói ba pháp quy y thì đứng lại, nghe xong ba pháp quy y rồi mới bò đi thì mình biết là linh tính lắm.

Lúc thầy đi qua Esthelake 74:40 chỗ đó Phật tử Việt Nam rất nhiều người làm nghề bác sĩ, lúc đó đang đi với mấy bác sĩ dạo bờ biển vì ngoài giờ pháp thoại hướng dẫn các bác sĩ ngồi thiền thì bác sĩ dành những giờ dư đưa mình đi dạo các cảnh đẹp ở đó. Đang đi với các bác sĩ như vậy thì tự nhiên có một cô người Úc dẫn một con chó rất lớn, tự nhiên giật sợi dây của cô đó ra rồi chạy đến bên thầy quấn quit giống như quen thân lúc đó thầy trải tâm từ và nói ba pháp quy y, nó không chịu đi rồi cô chủ phải tới kéo thì nó mới chịu đi.

Lúc đó mình mới thấy sức của tâm từ mãnh lực lắm, không phải chuyện đơn giản. Rồi ở Sydney, tại chùa Vĩnh Nghiêm, đang ngồi giảng pháp thì một con mèo to lớn nhảy lên ngồi trên pháp tòa, mọi người ở dưới quýnh quáng thì thầy nói để nó nghe pháp đi thì họ đuổi nó xuống. Nhiều trường hợp lắm, như ngày ở chùa Bửu Liên có con bồ câu múc ở dưới kia bay lên đậu trên vai hoài không chịu đi và mổ mổ vào mặt mà nó nói cái gì mình nghe không được thì thầy nói giờ thầy chưa chứng thiên nhãn thông nên giờ nói thầy nghe không hiểu được nên giờ thầy nói ba pháp quy y cho nghe thôi. Nó cứ đậu hoài không chịu đi, đuổi nó rồi nó lại bay lại nữa, rồi nó lại nói và nó mổ mổ vô, giỡn, mổ mạnh quá rồi nên phải đuổi đi, đóng cửa không cho vô nữa.

Như vậy, mình biết rằng mình thực tập tâm từ có thể cảm được tất cả các loài vật mà không những loài vật có hình mà cả loài vô hình, những chúng sanh không có hình, nên từ tâm này rất quan trọng. Thời xưa của Đức Phật, các vị Tỳ-kheo thường ở trong núi trong rừng có nhiều phi nhân, Đức Phật thường dạy các vị thường bị phi nhân quấy rối thì Đức Phật dạy trải tâm từ vào thời gian hết, tốt đi cho được an lành. Có một vị Tỳ-kheo là một vị cao tăng, ở vùng đó lúc nào Ngài cũng luôn luôn trải tâm từ, thường thì Ngài ở một chỗ chỉ ba tháng, xong ba tháng thì chuẩn bị Ngài đi chỗ khác thì lúc đó các phi nhân đến đảnh lễ Ngài và xin phép Ngài nói rằng “Nếu Ngài đi thì ở đây nó quậy tụi con lắm! Con chịu không nổi đâu. Đánh lộn, chửi lộn, đấu đá với nhau dữ lắm mà từ khi Ngài về đây an lành lắm, Ngài đừng đi, ở đây thêm đi.” Xin Ngài ở thêm ba tháng, đến khi sắp hết Ngài chuẩn bị đi thì đến xin nữa, cứ xin riết rồi Ngài ở đó luôn. Nên người tu tập tâm từ đi đến đâu là âm dương lưỡng lợi.

Tâm từ này rất hay, rất quan trọng, mình phải để ý tu tập, từ tâm giải thoát, nó có thể tháo gỡ tất cả sự sân hận của mình và của người, có thể chuyển hóa tâm của những kẻ thù trở thành bạn, những người ác trở thành thiện, những người dữ trở thành lành. Mình có thấy Angolimala gặp Đức Thế Tôn với tâm hung hăn ác bạo thì tự nhiên lúc đó nép phục hết, lạy dưới chân của Đức Phật, bị từ tâm vô lượng của Đức Phật trùm phủ hết, trải ra đại bi tâm. Nên đại bi tâm này tuyệt vời và người tu tập tâm từ thì sẽ biểu hiện trong dung sắc, tâm ác cũng biểu hiện trong dung sắc rất rõ nên phải cố gắng thực tập tâm từ này, vi diệu lắm.

Như lúc mới nhập thất lần này cũng vậy, đang ngồi đọc Đại Tăng Kinh, khi đọc xong bước xuống thì con rắn kế bên cách chừng một tấc và đưa đầu lên như vậy, nếu bước trúng một tấc nữa thì thôi xong rồi. Nhưng lúc nào mình cũng kĩ, lên buổi tối đốt đèn cầy, đốt hương trên bàn Phật rồi tự nhắc là lát nhớ tắt cây đèn cầy vì bàn là bằng gỗ, sàn dưới cũng bằng gỗ, nhà cũng bằng gỗ hết thì mình sợ tối chuột chạy làm rớt chung đèn cầy thì xem như… Vậy mà lại quên, sáng lên thắp nhang thấy ly đèn cầy bị ngã, rớt xuống đất mà may không cháy, nếu cháy thì sáng có “heo quay” rồi, nếu tới giờ là lên bàn thờ ngồi ngày thứ bốn mươi chín rồi. Nên mình phải quán chiếu vô thường, quán chiếu tính chất mong manh, tích tắt, biến hoại, kinh khiếp, nhanh chóng, từ từ bi chuyển qua vô thường đó rất hay, cứ quán chiếu không gì phải sợ, mình phải tu tâm từ. Giờ lên đây chỗ nào cũng có con cắt kè, không có thất nào là không có mà người ta nói có con đó là tốt mà mình không đuổi nó, dưới thất của thầy có con to lớn như cánh tay, thầy thấy mà giật mình mà giờ tầm bảy tám con bên dưới, ngày nào cũng đi quét cho nó. Mà cứ kệ, cho nó ở ké để hưởng pháp, có lẽ là do đại chúng tu tâm từ rồi sau này nhà mới nó qua thăm, chỗ nào mới đều có các “cụ” tới. Gọi là các “cụ” vì đều chọn ở trung tâm, chọn ngay giữa thất hay giữa bàn Phật, đều chọn ngay chỗ tốt thôi. Như các con chó con mèo lên chùa thì mình không có kêu, tự động lên đây rồi lại đăng báo, được lên mạng nhiều lắm mà mình không có nuôi, tự động nó về rồi dẫn đường cho người ta đi chùa. Đó là do công đức đại chúng tu tâm từ trải ra lúc trước ít mà giờ mỗi ngày tu thì sau này chim chóc, hổ, cọp hay beo, sư tử về. Như một ngôi chùa ở Thái Lan có mấy trăm con hổ nhưng mình thì không dám chơi như vậy. Ở Dubai có để cọp, sư tử trong nhà, có nhà để đến bốn năm con sư tử trong đó đều là có thật.

Trở lại vấn đề, tâm từ rất hay, mình nghe đọc đến đâu, quán tưởng tới đó, những loài sống xa, không xa, tất cả loài chúng sanh mình cầu cho được sống an lạc hạnh phúc hết, mong rằng không có ai lường đạt, lừa dối ai, không ai khinh mạng ai, không giận hờn nhau, không chống đối, mong rằng không ai làm khổ đau cho ai nữa, mình nghe tới đó thì mình phải khởi lên một cảm giác, khởi lên tưởng, đọc tới đâu là hình ảnh hiện ra tới đó, để mình trải tâm tới đó, không phải chỉ ngồi đó mà nghe, đó chỉ là nghe kinh, còn đây là trải tâm từ, quán tâm từ. Giống như mẹ thương con duy nhất, mình đối với tất cả chúng sanh đều phải khởi được tâm đó và lúc đó mình quán tưởng. Tâm từ này không hạn lượng mới gọi là vô lượng tâm, phía trên phía dưới, bề dọc, bề ngang, nói tới đâu là ra tới đó, tâm mình tưởng tới đó, nói phía trên là quán tận cùng lên tới hư không đỉnh, ở phía dưới là tận cùng hết, vô biên tới hư không hay nói câu nào là tâm mình đi tới đó mới được, phải nhớ, đó là phương pháp quán tưởng. Nếu nói bề ngang là cho ngang ra cùng khắp các giới, vô biên giới, cùng tận hư không, đọc tới đâu là tâm mình quán tới đó. Không hận, không thù địch, bất cứ đi đứng ngồi nằm, khi còn đang tỉnh thức hãy trú vào niệm này, đó là đời sống tối thượng.

Hôm nay mình đã nói về hai pháp hành rất quan trọng là Quán Bất Tịnh và trải tâm từ, là hai pháp căn bản để cho chúng ta thiền tập trong đạo tràng, huynh đệ phải nắm vững để có chân đứng trong giáo pháp, mình đoạn trừ được những cái cần đoạn trừ, chứng đắc được những thứ cần chứng đắc, chứng ngộ được những điều mình chưa chứng ngộ để mình thành tựu được đời sống cứu cánh phạm hạnh.

./.