Sức Sống Của Người Xuất Gia - Lục Hòa Kính 2
KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI – SỨC SỐNG CỦA NGƯỜI XUẤT GIA – LỤC HÒA KÍNH 2
-Thích Minh Thành-
Xin thưa đại chúng, hôm nay chúng ta tìm hiểu tiếp về sức sống của một người tu. Chất liệu của một người xuất gia, những nguyên liệu để tác thành một tu sĩ, sáu điều tâm niệm của Tỳ-kheo. Trong hai bài kinh Tăng Chi Bộ tập 3, cần phải nhớ số 1 và số 2.
Đức Phật dạy “Người xuất gia phải luôn luôn, thường xuyên, cần phải ghi nhớ, an trú thân làm từ, đối với các vị đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng, lời nói từ hòa, ý nghĩ từ hòa, đối với các lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp cho đến những đồ vật nhận được chỉ trong bình bát.
Vị ấy không phải là người không san sẻ các đồ vật nhận được. Phải là người san sẻ, dùng chung với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức. Đối với các giới luật, không có bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến thiền định.
Tỳ-kheo sống thành tựu giới luật trong các giới luật ấy, đối với các vị đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Tỳ-kheo đối với các tri kiến thuộc bậc Thánh có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau. Tỳ-kheo sống thành tựu tri kiến với các tri kiến như vậy, đối với các vị đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.
Đây là sáu pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí”.
Con xin thưa đại chúng là sáu pháp này, cần phải thực hiện suốt cuộc đời, học suốt đời, hành suốt đời, tu suốt đời. Lần trước chúng ta đã tìm hiểu về an trú thân làm từ, lời nói từ hòa, ý nghĩ từ hòa, đối với các vị cùng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng. Mình thực hiện được ba điều hành này là đại chúng mình đẹp lắm, vui lắm, hỷ lạc lắm. Chư Tăng (ngài Ứng Thuận) diễn ra nghĩa Hán Việt là “Thanh tịnh hòa lạc”, trong sạch, hoà hợp và an lạc. Đây là ba yếu tố để tác thành một người tu sĩ trong pháp và luật của Như Lai. Thanh tịnh, trong sạch đối với giới luật, căn bản giới. Những giới mình đã thọ, mình phải dốc lòng giữ gìn cho trong sạch, thanh tịnh, đem cả tâm huyết, cả cuộc đời của mình để giữ gìn cho được trong sạch. Đó là cái lõi của giới hạnh, giới đức người tu.
Bên ngoài hòa hợp, cung kính, luôn luôn ở những suy nghĩ, lời nói, hành động. Ở bên trong tinh thần hài hòa, hòa hợp, đoàn kết, hòa ái, hòa kính, hòa nhã. Và nếu được hai yếu tố này, thì tự nhiên yếu tố thứ ba xuất hiện, đó là sự an lạc sẽ có mặt, sự bình an sẽ hiện hữu, sẽ hạnh phúc với đời tu, đó là một sự thật, nó có thật.
Tại sao chúng ta không thấy được niềm vui ở trong đời sống Phạm hạnh? Tại sao chúng ta không nếm được hương vị an lạc của độc cư? Tại sao chúng ta không thưởng thức được giải thoát vị khi ở một mình, khi ngồi một mình, khi đứng một mình? Vì chúng ta không có đầy đủ những yếu tố mà nãy giờ chúng ta nói.
Tại sao mình bất an? Tại vì giới hạn của mình không tròn, tâm của mình bị trạo hối, khi ngồi lại nó sẽ dao động và hối hận (rất nhiều bài kinh Đức Phật sẽ dạy cho chúng ta, và chúng ta sẽ được học). Tâm của mình sở dĩ nó dao động, nó bất an, tại vì giới hạnh của mình không đầy đủ. Khi mình ngồi lại, thì ở bên trong nó sẽ xét xử mình, nó làm cho mình ray rứt, bứt rứt, làm cho tâm bất an, không định được. Những hình bóng, những cảm giác, những suy nghĩ của những sai quấy, lỗi lầm đó xuất hiện, nó ám ảnh, tâm mình không đi vào sự định tĩnh được.
Cho nên cái lõi của người tu mình là thanh tịnh, trong sạch. Từ sự trong sạch, thanh tịnh của giới hạnh, giới bổn, mình cố gắng hành trì, giữ gìn, phòng hộ, hộ trì, bảo hộ ở bên trong thân tâm của mình. Cách cư xử mình thể hiện ra bên ngoài là một sự hòa hợp, cung kính, trang nghiêm. Chúng ta biết “giới” trong kinh Nikāya không phải là “giới” mình thọ không thôi, ma là “thu thúc lục căn thanh tịnh giới”, sự phòng hộ, sự hộ trì mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Khi nhìn, khi nghe, khi nói, khi tiếp xúc, khi suy nghĩ. Khi đối diện với nội trần cũng phải có sự phòng hộ, tức là khi mình ngồi một mình, mà bên trong những hình bóng, những suy nghĩ, những cảm giác nó sanh khởi. Khi mình tiếp xúc với nó (ý xúc), mình cũng phải có sự phòng hộ, hộ trì, chứ đừng nói tới chuyện lúc mình tiếp xúc ở bên ngoài.
Cho nên, mình có sự giữ gìn oai nghi, phòng hộ, hộ trì sáu căn, thì cái hòa kính dễ lắm, rất là dễ. Đối với một người buông lung, phóng dật, hướng ngoại, không có thu thúc lục căn, không có hộ trì, giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, thì người đó rất khó để thực hành lục hòa cung kính, đó là một trong những kiết sử. Là mình bị trói buộc mà mình không biết, mình cứ tưởng khi mình bực, giận, tham muốn cái gì đó hay là khởi lên bản ngã, ta đây mới là kiết sử, là phiền não, không phải. Cái buông lung, phóng dật đó mới là thứ phiền não hết sức nặng nề “nó thích nói cho đã cái miệng, đi cho nó buông thả, những hành động cho nó phóng túng, nó quen cái đó, nó thích cái đó, nó muốn cái đó, đó là căn nhà của nó, đó là căn nhà của kiết sử”.
Chỉ trong một âm thanh phát ra, mà người có sự hộ trì và không hộ trì, mình nghe mình biết được liền. Âm giọng của một người có hộ trì căn nó khác với âm giọng của một người không có hộ trì căn. Sự tu tập nó phải sâu sắc, phải tỉ mỉ, phải vi tế như vậy đó. Trong dáng đi của mình cũng vậy, có hộ trì căn hay không có hộ trì căn là nó thể hiện ra. Trong cử chỉ của mình như trong cách gãi ngứa thôi, người có hộ trì căn thì gãi khác còn người không có hộ trì căn thì gãi khác. Chỉ cần ngứa là đưa tay lên gãi “rột rột” liền, còn người có hộ trì căn, có quán thọ ở trên các thọ, người ta đưa tay lên gãi từ từ, nhẹ nhẹ. Còn mình ngứa ở đâu thì cứ việc đưa lên gãi “soạt soạt”, ngay cả trong khi ngồi thiền, nhiều khi mình nghe đập một cái “bốp”(đập con muỗi), cái này là quá tệ rồi. Cái đó là đã phạm rất nhiều giới, không hộ trì căn, buông lung, phóng dật, không kiểm soát, thu nhiếp các cảm thọ sát sanh, ác tâm, thân hành ác, rồi còn nói nữa, khẩu hành cũng ác luôn.
Thành ra sự tu tập của chúng ta phải càng ngày càng vi tế, càng ngày phải càng nhìn thấy thân tâm của mình, chứ không phải nhìn người. Cho nên ta thấy, sự hòa kính này hay lắm, nó rất nhỏ nhiệm mà nó rất tuyệt vời, đây chính là sự trang điểm của tâm linh, oai nghi và giới hạnh lục hòa kính là thẩm mỹ viện của Phật giáo, là sự trang điểm của tâm linh, là sự làm đẹp của tinh thần, cái đẹp của người xuất gia là cái đẹp này. Chứ không phải cái đẹp của người xuất gia là được mặc áo mới, là đi xe đắt tiền, đeo đồng hồ xịn, không phải, cái đó là phàm phu. Cái đẹp người xuất gia chính là những cử chỉ và hành động, được dòm ngó, quản lý, theo dõi, dò xét, rèn luyện, đẽo gọt, đưa nó đến chỗ thiện mỹ, đó là nét đẹp của người tu.
Giới hạnh, giới đức, đạo hạnh, tăng thượng giới học. Làm cái gì ở trong chúng cũng không dám làm động chúng, nhẹ nhẹ. Thời gian đại chúng ngồi thiền, đại chúng chỉ tịnh, đại chúng đang yên lặng, thì làm bất cứ một cái gì cũng không dám cho tiếng động phát ra (nếu giờ đó mình có ca trực gì muốn đi ra bên ngoài), mình phải tu học.
Con thưa đại chúng, đại chúng ngồi thiền, con bước đằng sau vô là con không dám đạp cái gót nghe ra tiếng. Đại chúng đang ngồi thiền là con đi con phải nhón gót chân lên, đó là hòa kính, vì đó là giờ ngồi thiền, hành động đó là hành động tôn kính, tôn trọng đại chúng. Khi đại chúng tụng kinh, mình mở cánh cửa, hay mình có đi bên ngoài, mình không có dám làm cho vang ra tiếng lớn. Khi đại chúng đang tu học thì mình không được nằm, nằm tức là không thực hành pháp hòa kính, trừ khi mình bị bệnh, không dậy nổi. Chúng ta thấy không, nếu cái này mà mình khai triển ra thì có nhiều cái hay lắm. Mình thực hiện được cái này nó tuyệt vời lắm, nhất định là có an lạc.
Cho nên “an thanh tịnh hòa lạc”, “hòa” thì nó sẽ lạc, mà “lạc” là hạnh phúc, là an vui, là bình yên, có hòa sẽ lạc. Như ngoài đời người ta gọi là “dĩ hòa vi quý”, “gia hòa vạn sự hưng”, lấy sự hòa hợp làm món đồ quý, làm báu vật, lấy sự hòa hợp làm của báu, trong gia đình có hòa hợp thì mọi chuyện đều hưng thịnh. Trong một công ty, một xí nghiệp, một đoàn thể, một tập đoàn, mà trên dưới đồng lòng, đoàn kết, hòa hợp, thì công ty đó phát triển. Trong một Tăng đoàn mà trên dưới cùng tu, từ ý nghĩ, lời nói, hành động đều hướng về sự từ hòa, làm sao không phát triển, làm sao không an lạc, làm sao không bình yên, làm sao không hạnh phúc được?
Cho nên con tha thiết, chân thành, cung kính, mong mỏi, đại chúng mà hòa hợp, trang nghiêm, thanh tịnh tu hành, thì con có chết cũng mãn nguyện. Mạng sống của con chẳng là cái gì cả, giáo pháp này mới là tối thượng, giáo pháp này có được tồn tại trên thế gian, có được tỏa sáng trên cuộc đời này hay không, là ở trong sự tu học của đại chúng.
Sự tu học của đại chúng thể hiện ở đâu? Đó là trong đời sống sinh hoạt. Đời sống sinh hoạt của đại chúng thể hiện ở đâu? Đó là ở trong suy nghĩ, lời nói, hành động. Suy nghĩ, hành động, lời nói mà được đặt trên nền tảng của hòa kính, thì đó là phúc lạc, phước báo, công đức. Đó là sự thành tích, thành công, thành quả của người tu.
Các vị đã từng ở những hội chúng trong nước, ngoài nước, trong chùa, trong trường học, trong các thư viện, trong những khóa tu, thì các vị cũng đã biết sự hòa hợp là tuyệt đối quan trọng cho sự bình an và an lạc tu hành. Cho nên phải luôn luôn tác ý và thực tập “an trú thân làm từ đối với các vị đồng Phạm Hạnh trước mặt lẫn sau lưng”. Chứ không phải trước mặt thì hòa hợp, mà sau lưng thì đi nói xấu, không phải. Phải hòa hợp trước mặt lẫn sau lưng, khi nghĩ về người đó vẫn là một suy nghĩ hòa kính, khi nói về người đó vẫn nói với một lời nói hoà ái, khi cùng làm việc chung với nhau, phải Chánh Niệm, tỉnh giác, an tịnh, lắng dịu.
Tại sao mình bất hòa? Tại sao mình một hồi có chuyện? Tại vì mình tháo động, mình buông lung, có chuyện gì là mình nói nói, nhưng đó là dục nói, bản ngã, tham ái nói. Như vậy thì cái bản ngã này đụng cái bản ngã kia, cái sân này chạm cái sân kia, thì cuối cùng một hồi sẽ xảy ra tranh cãi, bất hoà. Còn ai cũng có hộ trì căn, cũng có Chánh Niệm tỉnh giác, cũng biết thực hành sự an tịnh trầm mặc, làm việc tự hòa hợp, tôn kính, trang nghiêm, thanh tịnh, thì không có chuyện gì xảy ra hết. Mà nếu có chuyện đi nữa, thì mình cũng kiểm soát, nhiếp phục được trong tầm kiểm soát, chứ không để nó bung ra cái khẩu hành, bung ra thân hành, nó còn trong ý hành, thì mình tác ý, nhiếp phục, hoặc mình tránh duyên. Mình thấy bên trong này có có cảm thọ gì bất thường, thì mình đi ra chỗ khác, mình xử lý cái cảm thọ đó, chừng nào nó xong xuôi hết thì mình mới quay trở lại.
Con không muốn đại chúng làm gì nhiều hết, con mong muốn đại chúng một điều duy nhất mà thôi. Đó là thể nhập vào dòng pháp này, thấy chính xác thân tâm của mình, thấy cho đầy đủ cái dục, tham ái, vô minh, bản ngã, sân hận. Thấy đầy đủ toàn bộ tất cả cấu nhiễm, lậu hoặc, những rác bẩn đó. Hãy nhìn thấy nó, hãy sợ hãi đối với nó, phải ngao ngán, ghê gớm đối, nhàm chán đối với nó, phải khiếp đảm và kinh hãi đối với các lậu hoặc. Mình thấy nó giống như một cái cầu tiêu, không biết bao nhiêu người đi mà không dọn, để trong đó bốn, năm chục năm, nó bốc mùi lên như vậy, thật sự không ai chịu nổi. Phải quán như vậy, mỗi lần sân khởi lên, mỗi lần dục, tham, bản ngã, hơn thua, ganh tị, đố kỵ khởi lên, mình quán “thúi quá, thúi quá là thúi đi, quá hôi đi, kinh tởm, ta kinh tởm những tâm niệm này, những cảm giác này, những suy nghĩ này. Chẳng những thúi mà còn dơ, hôi, tanh, nồng nặc, giòi bò lởm ngởm trong đó”.
Phải quán những cái tâm sân hận, bản ngã, tham dục, là một cây cầu tiêu một trăm năm không dội, không vệ sinh, không quét dọn và trong đó là giòi tủa, dơ bẩn. Mỗi lần nó sanh khởi lên cái sân là mình quán liền “thúi thúi thúi, tanh hôi, ghê tởm, khiếp sợ, ta kinh hãi những thứ này. Xấu hổ và nhục nhã, đồi bại, hèn hạ, đê tiện, thấp hèn, phàm phu, vô minh, ngu si”. Mê muội ở cái tâm mê này, ở cái tâm ngu này, ở cái tâm trong bóng tối ngàn năm này. Cần phải được Thánh Trí soi chiếu, cần phải đưa ánh sáng vào, cần phải quét dọn, lau chùi. Cần có một cuộc tổng vệ sinh, một cuộc thanh lọc, tẩy rửa toàn diện, triệt để, với một nội tâm ô uế, bẩn thỉu, tanh hôi, nhơ nhớp, hèn hạ, nhục nhã, thối tha, thấp kém này.
Ta thấy nhàm chán những thứ đó, nhàm chán tột độ, nhàm chán như mình bước vô toilet, một cái mùi bốc ra làm mình muốn mửa. Hãy nhìn những tâm cấu uế đó giống như vậy, mỗi lần nó sanh khởi lên thiếu điều mình nôn, mình muốn mửa, mình muốn ói “xấu hổ quá đi, nhục nhã quá đi, tồi bại, hèn hạ, thấp kém, hạ liệt, ngu si, mê muội”. Làm cho mình sân khởi lên một sự đại tàm quý, xấu hổ, nhục nhã, sợ hãi vô cùng. Những thứ này đẩy mình xuống địa ngục, những thứ này đưa mình vô loài cô hồn, vất vơ vất vưởng trong tương lai. Những thứ này sẽ lôi đầu mình vào trong những đời sống của súc sanh, thú vật trong kiếp sau. “Ta kinh tởm cho mi, ta sợ hãi cho mi, ta ngao ngán và nhàm chán mi. Mi hãy chết đi, mi hãy tan biến thành mây, thành khói, thành hư không đi, đừng bao giờ trở lại sanh khởi trong tâm ta nữa. Cái thứ làm biếng, cái thứ buông lung, phóng dật, hơn thua, ganh tị, đố kỵ này. Chết đi, chết vĩnh viễn, mãi mãi, chết một cách triệt để, hoàn toàn, đừng bao giờ sanh khởi trở lại trong tâm ta nữa, ta phải là một con người trong sạch, thanh tịnh, cao thượng, thánh thiện, trong pháp và luật tối thượng này”.
Chúng ta phải tác ý như vậy, hằng ngày, chúng ta phải tác ý như vậy, một ngày ít nhất một chục lần, ghi mấy câu đó ra, học thuộc mấy câu đó. Sáng sớm mở mắt thức dậy mình tác ý, trưa tác ý, chiều tác ý, tối tác ý, khuya giật mình thức dậy tác ý. Phải ghi nhớ, “ta phải là người chiến thắng, ta phải là người thành công, sự xuất gia này của ta phải có thành tích, phải có thành quả. Ta không thể nào đi tu bốn năm, năm, sáu chục năm, cuối cùng kết quả của ta là địa ngục. Ta không thể nào đi tu, sau cả một cuộc đời “ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da”, khó khăn, gian khổ, mà cuối cùng ta phải rơi vào loài ngạ quỷ. Ta không thể nào đi tu, cả cuộc đời nhẫn sắc, nhẫn dục, chịu đói chịu khổ, lạnh lùng, đơn độc, lẻ loi, tẻ nhạt, mà cuối cùng khi nhắm mắt, ta phải đi vào loài súc sanh, thú vật. Làm sao ta phải ngẩng lên nhìn Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Mặt mũi nào mà ta nhìn cha mẹ, ông bà, tổ tiên ta. Làm sao ta có thể nhìn Đàn-na tín thí, những người tin tưởng, quỳ mọp, đảnh lễ, tôn trọng, cúng dường, dâng lên những thức ăn, những thực phẩm, những đồng tiền, bát gạo, mồ hôi, nước mắt và máu”.
Mỗi bữa cơm của chúng ta có mồ hôi trong đó, nước mắt trong những hạt gạo, hạt cơm đó. Máu trong những bình ga, trong những thức ăn đó. Chiếc y chúng ta mặc, căn phòng chúng ta ở, tịnh thất chúng ta đang cư trú, là máu, nước mắt và mồ hôi.
Cửu huyền thất tổ, nhiều đời nhiều kiếp, ông bà, cha mẹ chúng ta đang vất vơ vất vưởng trong loài ngạ quỷ, đang kêu gào thảm thiết dưới địa ngục, hàn băng. Những đứa con, những người chồng, những người vợ của chúng ta trong quá khứ, bây giờ họ đang cấu xé, ăn nuốt lẫn nhau trong loài súc sanh. Họ đang quằn quại, đau thương và thống khổ trong ba đường ác. Họ đang trông chờ, hi vọng, mong muốn nương tựa về chúng ta.
Chúng ta đi xuất gia đã làm gì? Chúng ta ở chùa bao nhiêu năm nay được cái gì? Được một đống bản ngã ư? Một cái ta to lớn ư? Một cái tự ngã vênh váo, phình trương ư? Chúng ta bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ thân tộc, đi vào chùa để chất chứa những cảm giác sân hận, thiêu đốt, đốt cháy ư? Cha mẹ cắt từng đoạn ruột, hi sinh, cho chúng ta đi tu trong nước mắt, trong đau đớn, để chúng ta đi vào đây sống một đời sống “ẩn dương nương Phật”, si si, dại dại, suốt ngày trong hôn mê, vô minh, buông lung, phóng dật ư?
Thật là đau khổ cho chúng ta, thật là tội lỗi cho chúng ta. Không khéo tu, chúng ta sẽ trở thành tội đồ của Phật giáo, tội nhân của dòng tộc, tội lỗi đối với Đàn-na tín thí, Tam bảo, chúng sanh. Tội lớn nhất là đối với tự thân chúng ta, sau khi nhắm mắt sẽ rơi vào ác thú, đọa xứ, khổ cảnh. Chúng ta hãy suy nghĩ đi, phải rất lo sợ, phải biết lo, phải biết sợ hãi. Phải lấy địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh làm đề mục. Một ngày phải nhớ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh một trăm lần. Trừ khi nào mình nhập lưu, thì lúc đó mới an toàn, mới thật sự là không còn rơi vào ba đường ác, phải là bậc nhập lưu thành tựu Thánh Tri Kiến. Còn bằng không tất cả chúng ta, khả năng rơi rớt vào ba đường ác là hoàn toàn có thể xảy ra, một cách dễ dàng, mau chóng, tích tắc, chớp tắc, có nhiều cánh tay rơi xuống vực sâu.
Đừng sống trong quên lãng, đừng đi tìm những cái thoải mái, những cái dễ dãi, dễ dàng. Đừng chạy theo những cái dục, những cái tham, làm đời sống xuất gia của mình trở nên vất vơ vất vưởng, rày đây mai đó, lang thang, lang bạt, vô định, không hướng đi. Tội nghiệp cho cái thân này lắm, hãy thương nó mà thực hành thân, khẩu, ý nghiệp, từ hòa, đó là bước đầu của Phạm hạnh. Phải diệt những tâm chống đối, tâm nổi loạn, ngang bướng, bướng bỉnh, cứng đầu, cứng cổ, khó dạy, khó bảo, chống đối, không nghe lời, phải diệt. Phải giáo huấn, dạy dỗ, đào tạo, huấn luyện, cải tạo, cải cách, phải làm cho nó trở thành nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng. Phải thường an trú vào lòng từ. Phải thường ngày đêm tinh tấn, tinh cần, nhiệt tâm, đối với các thiện pháp. Đừng có mở mắt chiêm bao, tất cả thế giới đang đầy thảm họa.
Có khi tuần sau, tháng sau, năm sau, thậm chí ngày hôm sau đã trở thành kiếp khác của chúng ta. Không biết ngày mai là ngày mai, hay ngày mai là kiếp sau của chúng ta. Bây giờ ở tù, tai nạn, chết trẻ rất nhiều. Tâm tâm niệm niệm ngày đêm, phải đi ra khỏi những cái dơ bẩn, cấu nhiễm của một nội tâm hôn trầm này, phải cố gắng, thiết tha, chân thành, nỗ lực hành trì.
“Đối với các lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp, cho đến những đồ vật nhận được chỉ trong bình bát. Vị ấy san sẻ, chia sẻ với những người đồng tu có giới đức”. Những từ ngữ Đức Phật dùng, chúng ta đừng có đọc một cách vô tư, mà mình đọc một cách chiêm nghiệm “vị Tỳ-kheo đối với các lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp”. Quý vị thấy Đức Phật nhấn mạnh hai chỗ. Tại sao Đức Phật nhấn mạnh hai lần đối với các “lợi dưỡng đúng pháp” và “nhận được đúng pháp”. Mình phải học cái lợi dưỡng đó, các sự cúng dường đó, phải đúng pháp. Các món đồ đó, cái tứ vật dụng đó, phải là đúng pháp, chứ không phải người ta cho cái gì cũng nhận. Món đồ đó từ đâu? Có phải từ cái tâm chân thành, cung kính pháp, tu học không? Hay người ta đưa cái đó vì một ý gì?
Trong “Chương Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính”, Thế Tôn nói rất đầy đủ, rất tinh tế. Lợi dưỡng này là gì? Là đắng cay, là ác độc, là mũi tên, là vực sâu, là tiếng sấm sét giết người ta, sự lợi đắc cung kính. Cho nên Đức Phật nhấn mạnh “đối với các lợi dưỡng đúng pháp mà nhận được đúng pháp”, không phải ai cúng cũng nhận, không phải đưa cái gì cũng cầm. Mình phải xem, cái món đồ đó có phù hợp với người tu không? Sự nhận, tiếp nhận có đúng pháp không? Cái này nó nhiều lắm. Ở đây quý vị từ từ chiêm nghiệm, cái này rộng lắm, cái này một buổi học không cũng chưa hết về bốn chữ này, học mấy buổi cũng chưa hết. Cái đó phải đúng giới luật, đúng pháp, phải thanh tịnh.
Cho nên đọc những câu này mình thấy mình nhục lắm, “cho đến đồ vật chỉ trong bình bát”, mình đọc câu này mình thấy nhục lắm, tàm quý, xấu hổ. Thời Đức Thế Tôn, các vị Tỳ-kheo đi khất thực, nhận được ở trong bình bát đó thôi, còn bình bát đó đầy rồi là thôi, không nhận nữa. Bây giờ đồ của mình có ba, bốn bộ rồi, mà người ta cúng là không nhận nữa, nói “con có đủ rồi, hãy cúng cho các vị khác còn thiếu”. Hoặc nếu có giữ do trường hợp bất khả kháng, thì khi có nhân duyên mình đem cái đó đi cúng dường. Tại vì nếu mình để đồ nhiều như vậy, bảy tám bộ hay mười bộ, thì suốt ngày phải lựa, không biết mặc bộ nào, phải không? Có nhiều những thứ đó, nó làm cho cái tâm mình dao động, dính mắc vào những thứ đó.
Chẳng hạn như cái thất không đồ ăn, thì nó dễ tu, dễ ngồi thiền hơn cái thất có đồ ăn đầy ở trong đó, đi ra đi vô nhìn thấy nó chướng mắt, xúc sanh thọ (nói chướng mắt là nói ngược đó), thấy là “bóc một miếng bỏ vô miệng”. Hay vô nhà bếp cũng vậy, không có tu nó khác, gặp cái gì thì bóc ăn cái đó, tất cả cái đó đều phạm hết. Mình phải tập ăn đúng giờ, ngoài giờ đó không ăn, được như vậy là nhiếp phục được cái dục, cái tham, cái ái đối với đoàn thực. Ăn đúng giờ, nếu mình chưa giữ được trọn vẹn, thì ít nhất mình cũng phải giữ được ăn đúng một lần giờ đó “nhất toạ thực”.
Có cái gì đó là mình phải san sẻ, chia sẻ cùng với các bậc đồng Phạm hạnh, với bạn đạo, cái này là hết sức quan trọng. Món ăn gì người ta cúng dường, phải chia đều ra hết tất cả đại chúng, tứ chúng, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, chúng xuất gia và chúng tại gia, nếu đầy đủ. Còn nếu mà không đủ, thì chúng xuất gia trước, nếu mà ít hơn nữa mình cúng các bậc có giới đức, những thầy, những cô lớn (tại vì phần đó ít quá không đủ), phải đồng đều, chia đều ra hết tất cả, cái này là giới luật “lợi hòa đồng quân”. Chứ không phải mình truy khố, mình giữ đồ, hay là mình ở trong bếp, mà ai thương thì mình cho ăn, là phạm giới, tội nặng. Vì đồ đó không phải của riêng mình, mình không có quyền. Mình phải cúng dường đồng đều hết cho tất cả đại chúng, dẫu một người một miếng nhỏ, nhưng cũng phải có đầy đủ tất cả, ngay cả quý thầy nhập thất. Nếu mà chia không đồng đều, thì cái người chia đó là có tội, lấy phần của người khác, trộm cắp của thường trụ. Cái này trong giới luật là khủng khiếp lắm, đọa địa ngục là dễ dàng.
Cho nên, nếu mình không học kỹ lưỡng, thận trọng, không biết, thì nhiều khi mình nghĩ rằng là có phước, nhưng mà cái tội nó nhiều hơn. Không được tự ý lấy đồ cho ai mà mình thấy thích thì mình đem cho, phải chia đều đồ cúng dường, phổ đồng hết tất cả đại chúng, bất cứ cái gì người ta cúng dường. Thí dụ bây giờ có người cúng gương sen, mà người ta cúng có bảy, tám hay mười cái, mà chúng mình bây giờ ba chục người, thì phải chia đều mỗi người mấy hột. Chẳng hạn như có những thực phẩm không thể đem đi xa được, nó hư, thì thôi mình chịu. Các vị đem vào trong thất cái nào không bị hư, tiện lợi, thì mình đem vô cúng dường một lần, mình để đó, để dành tới cái lúc hộ thất, mình đem đi cho đầy đủ.
Không phải riêng thức ăn, mà áo mặc, nước uống, tất cả mọi thứ, những gì cúng dường phải san sẻ. “Vị ấy không phải là người không san sẻ các đồ vật nhận được, phải là người san sẻ, dùng chung với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức. Đối với giới luật không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến thiền định. Tỳ-kheo sống thành tựu giới luật trong các giới luật ấy đối với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng”.
Mấy cái này nói ra càng hổ thẹn, càng tàm quý nhiều hơn. Nếu mình căn cứ đúng giới luật ngày xưa của Đức Phật, thì bây giờ mình giữ được bao nhiêu? Mình phạm rất nhiều. Cho nên mình phải cố gắng học giới luật, cố gắng tác ý hết sức mình. “Không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến thiền định”.
Những giới bổn mà mình đã thọ, những cái oai nghi, sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận học pháp. Những cái đó mình phải để tâm nhiều vô, để tăng thượng giới đức, chứ mình không có để tâm, thì như con lừa nó đi theo mấy con bò, nó cho nó là bò nhưng nó không có chân của con bò, không có màu sắc của con bò, không có tiếng kêu của con bò, nhưng nó nói nó là con bò. Thì cũng vậy, mình theo sau lưng Tỳ-kheo, nói rằng ta là Tỳ-kheo, nhưng không có tăng thượng giới hạnh, không có tăng thượng sự tịnh tâm, không có phát triển trí tuệ.
Cho nên tha thiết đối với cái giới này, để tâm đối với cái giới này, làm sao để nâng cao lên những oai nghi, giới hạnh, giới đức, đức hạnh của người xuất gia, thì cái đó mới là người tu. Mình tu học có một chút là bắt đầu mình hài lòng, mình tự mãn rồi, thì nó uổng lắm. Tại vì mình bước thêm một bước nữa là không bị chấp thủ, mình giữ được giới này, người ta không giữ được, bắt đầu mình nhìn, mình xem thường người ta, mình có ý nghĩ “tôi giữ, người kia không giữ. Tôi tu, người kia không tu. Tôi biết, người kia không biết”. Cho nên giữ mà không bị chấp thủ, giữ là để cho đức hạnh, cho tâm của mình được an định, để trí huệ của mình thành tựu Thánh Trí Huệ, để mình giải thoát. Chứ không phải giữ để mình cho người ta biết, mình khoe khoang, mình biểu hiện mình hơn người ta. Cái đó là mình đi qua cái bản ngã rồi. Cho nên “không bị chấp thủ, đưa đến thiền định”.
Cái sau cùng là “Tỳ-kheo đối với tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau”.
Thế nào là “các tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng?”.
Tri kiến thuộc bậc Thánh là nhìn thấy được ngũ uẩn.
Tri kiến thuộc bậc Thánh là thấy được thân xác này là vô thường, khổ não, trống rỗng.
Tri kiến thuộc bậc Thánh là thấy được các cảm giác này là duyên sanh, là sanh diệt, là bức xúc, là thúc dục, thấy được những cảm giác khao khát, khát ái, tìm kiếm.
Tri kiến thuộc bậc Thánh là thấy được những hình bóng, thô tế trong tâm là ảo mộng, dạ quyển.
Tri kiến thuộc bậc Thánh là thấy được tất cả các dòng suy nghĩ, suy tư, vô thường, đau khổ, tan hoại, vô minh và khát ái.
Tri kiến thuộc bậc Thánh là thấy được thức là duyên sanh, sự nhận thức này, sự rõ biết này là sự rõ biết đi theo tham, sân, si, bản ngã, khổ đau. Sự phổ biến ở trong si mê, ở trong vô minh, trong si ám, trong bóng đêm.
Tri kiến thuộc bậc Thánh là thấy ngũ uẩn này là đau khổ, duyên sanh, vô thường, tận hoại. Là cái thứ không đáng tham, không đáng muốn, không đáng dục, không đánh thích, không đáng ưa. Là cái thứ đáng nhàm chán, đáng từ bỏ, đáng chấm dứt, đó là tri kiến thuộc bậc Thánh.
“Có khả năng hướng thượng” là làm cho mình hướng lên, nhìn lên, đi lên, đó là có khả năng hướng thượng. Khiến cho “người thực hành tri kiến, chơn chánh thật sự, diệt tận tất cả mọi khổ đau”. Chỉ có tri kiến bậc Thánh mới có thể diệt tận, chấm dứt toàn bộ các đại khổ uẩn này. Nếu không thành tựu tri kiến đó, thì đóng khổ này không thể nào giảm thiểu và đoạn tận. Ngày nào cũng phải tác ý về Thánh Tri Kiến này hết “cái đống này, đống thịt da này, đống phèo, phổi, gan, ruột. Cái đống bầy nhầy, thịt, mỡ, máu, mủ này, là cái thứ khổ. Cái tâm tham chấp, dính mắc, bám víu trong đây, là gốc của khổ”. Đó là tri kiến, trí tuệ, thấy biết, căn nhà, trú xứ, giường chổng, phòng ốc, căn cứ địa của bậc Thánh.
Đó là thân, hành, ý, Quán Tứ Đại, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Chín Giai Đoạn Một Tử Thi, là căn nhà của bậc Thánh, là địa chỉ thường trú của Thánh Giả. Hình bóng, thô tế, trung tâm chuyển những cảm giác, những hình bóng, thô tế trong tâm này, những suy nghĩ này, nhận thức này, khổ. Cái tâm bám chấp, dính mắc, lấy nó là mình, là của mình, là tôi, là của tôi, tự ngã của tôi. Cái tâm đó là gốc khổ, khổ uẩn, là khổ đau, mà cái tâm dính mắc, tham ái, ngũ uẩn.
Cái tâm đó là gốc khổ, mà cái tâm này nói chui vô ngũ uẩn, làm hang, làm ổ, làm tổ, làm sào, làm quyệt, nó làm tự ngã của nó. Để rồi nó đau đớn, quằn quại, khổ não, sầu bi, đó là tri kiến của bậc Thánh, là trí tuệ, giường chổng, phòng ốc, nhà cửa, trú xứ, già lam của bậc Thánh, đó là chỗ bậc Thánh trụ trì, chân thật đó.
Địa chỉ thường trú của Thánh Giả, căn nhà đại bình an của tuệ giác, có khả năng công phá hết tất cả toàn bộ vũ trụ, thế giới này. Ở trong trí huệ này, không có bất cứ một cái gì có thể đứng vững. Trong Thánh Trí Huệ này, tất cả đều phải sụp đổ, tan biến, tan hoại hết, trước ánh sáng, trí tuệ, thần thánh này, soi chiếu, phơi bày và giải mã hết toàn bộ vô lượng hành tinh, mười ngàn thế giới. Còn cái gì cao thượng hơn cái này nữa? Còn của báu nào có thể quý hơn trí huệ thần Thánh, vi diệu này nữa? Có cái gì trên cuộc đời này có thể so sánh nổi giới mượn, thế gian chí bảo này nữa? Hãy cầm đi, nắm cho chặt, nắm cho chắc, nắm cho vững. Hãy bước lên, bước nhanh lên, mạnh lên, mau lên, tiến lên, hạnh phúc, dũng mãnh, oai hùng lên và đi theo Đấng Chiến Thắng.
-Thích Minh Thành-
Xin thưa đại chúng, hôm nay chúng ta tìm hiểu tiếp về sức sống của một người tu. Chất liệu của một người xuất gia, những nguyên liệu để tác thành một tu sĩ, sáu điều tâm niệm của Tỳ-kheo. Trong hai bài kinh Tăng Chi Bộ tập 3, cần phải nhớ số 1 và số 2.
Đức Phật dạy “Người xuất gia phải luôn luôn, thường xuyên, cần phải ghi nhớ, an trú thân làm từ, đối với các vị đồng Phạm hạnh, trước mặt lẫn sau lưng, lời nói từ hòa, ý nghĩ từ hòa, đối với các lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp cho đến những đồ vật nhận được chỉ trong bình bát.
Vị ấy không phải là người không san sẻ các đồ vật nhận được. Phải là người san sẻ, dùng chung với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức. Đối với các giới luật, không có bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến thiền định.
Tỳ-kheo sống thành tựu giới luật trong các giới luật ấy, đối với các vị đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Tỳ-kheo đối với các tri kiến thuộc bậc Thánh có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau. Tỳ-kheo sống thành tựu tri kiến với các tri kiến như vậy, đối với các vị đồng Phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng.
Đây là sáu pháp cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí”.
Con xin thưa đại chúng là sáu pháp này, cần phải thực hiện suốt cuộc đời, học suốt đời, hành suốt đời, tu suốt đời. Lần trước chúng ta đã tìm hiểu về an trú thân làm từ, lời nói từ hòa, ý nghĩ từ hòa, đối với các vị cùng tu, cả trước mặt lẫn sau lưng. Mình thực hiện được ba điều hành này là đại chúng mình đẹp lắm, vui lắm, hỷ lạc lắm. Chư Tăng (ngài Ứng Thuận) diễn ra nghĩa Hán Việt là “Thanh tịnh hòa lạc”, trong sạch, hoà hợp và an lạc. Đây là ba yếu tố để tác thành một người tu sĩ trong pháp và luật của Như Lai. Thanh tịnh, trong sạch đối với giới luật, căn bản giới. Những giới mình đã thọ, mình phải dốc lòng giữ gìn cho trong sạch, thanh tịnh, đem cả tâm huyết, cả cuộc đời của mình để giữ gìn cho được trong sạch. Đó là cái lõi của giới hạnh, giới đức người tu.
Bên ngoài hòa hợp, cung kính, luôn luôn ở những suy nghĩ, lời nói, hành động. Ở bên trong tinh thần hài hòa, hòa hợp, đoàn kết, hòa ái, hòa kính, hòa nhã. Và nếu được hai yếu tố này, thì tự nhiên yếu tố thứ ba xuất hiện, đó là sự an lạc sẽ có mặt, sự bình an sẽ hiện hữu, sẽ hạnh phúc với đời tu, đó là một sự thật, nó có thật.
Tại sao chúng ta không thấy được niềm vui ở trong đời sống Phạm hạnh? Tại sao chúng ta không nếm được hương vị an lạc của độc cư? Tại sao chúng ta không thưởng thức được giải thoát vị khi ở một mình, khi ngồi một mình, khi đứng một mình? Vì chúng ta không có đầy đủ những yếu tố mà nãy giờ chúng ta nói.
Tại sao mình bất an? Tại vì giới hạn của mình không tròn, tâm của mình bị trạo hối, khi ngồi lại nó sẽ dao động và hối hận (rất nhiều bài kinh Đức Phật sẽ dạy cho chúng ta, và chúng ta sẽ được học). Tâm của mình sở dĩ nó dao động, nó bất an, tại vì giới hạnh của mình không đầy đủ. Khi mình ngồi lại, thì ở bên trong nó sẽ xét xử mình, nó làm cho mình ray rứt, bứt rứt, làm cho tâm bất an, không định được. Những hình bóng, những cảm giác, những suy nghĩ của những sai quấy, lỗi lầm đó xuất hiện, nó ám ảnh, tâm mình không đi vào sự định tĩnh được.
Cho nên cái lõi của người tu mình là thanh tịnh, trong sạch. Từ sự trong sạch, thanh tịnh của giới hạnh, giới bổn, mình cố gắng hành trì, giữ gìn, phòng hộ, hộ trì, bảo hộ ở bên trong thân tâm của mình. Cách cư xử mình thể hiện ra bên ngoài là một sự hòa hợp, cung kính, trang nghiêm. Chúng ta biết “giới” trong kinh Nikāya không phải là “giới” mình thọ không thôi, ma là “thu thúc lục căn thanh tịnh giới”, sự phòng hộ, sự hộ trì mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Khi nhìn, khi nghe, khi nói, khi tiếp xúc, khi suy nghĩ. Khi đối diện với nội trần cũng phải có sự phòng hộ, tức là khi mình ngồi một mình, mà bên trong những hình bóng, những suy nghĩ, những cảm giác nó sanh khởi. Khi mình tiếp xúc với nó (ý xúc), mình cũng phải có sự phòng hộ, hộ trì, chứ đừng nói tới chuyện lúc mình tiếp xúc ở bên ngoài.
Cho nên, mình có sự giữ gìn oai nghi, phòng hộ, hộ trì sáu căn, thì cái hòa kính dễ lắm, rất là dễ. Đối với một người buông lung, phóng dật, hướng ngoại, không có thu thúc lục căn, không có hộ trì, giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, thì người đó rất khó để thực hành lục hòa cung kính, đó là một trong những kiết sử. Là mình bị trói buộc mà mình không biết, mình cứ tưởng khi mình bực, giận, tham muốn cái gì đó hay là khởi lên bản ngã, ta đây mới là kiết sử, là phiền não, không phải. Cái buông lung, phóng dật đó mới là thứ phiền não hết sức nặng nề “nó thích nói cho đã cái miệng, đi cho nó buông thả, những hành động cho nó phóng túng, nó quen cái đó, nó thích cái đó, nó muốn cái đó, đó là căn nhà của nó, đó là căn nhà của kiết sử”.
Chỉ trong một âm thanh phát ra, mà người có sự hộ trì và không hộ trì, mình nghe mình biết được liền. Âm giọng của một người có hộ trì căn nó khác với âm giọng của một người không có hộ trì căn. Sự tu tập nó phải sâu sắc, phải tỉ mỉ, phải vi tế như vậy đó. Trong dáng đi của mình cũng vậy, có hộ trì căn hay không có hộ trì căn là nó thể hiện ra. Trong cử chỉ của mình như trong cách gãi ngứa thôi, người có hộ trì căn thì gãi khác còn người không có hộ trì căn thì gãi khác. Chỉ cần ngứa là đưa tay lên gãi “rột rột” liền, còn người có hộ trì căn, có quán thọ ở trên các thọ, người ta đưa tay lên gãi từ từ, nhẹ nhẹ. Còn mình ngứa ở đâu thì cứ việc đưa lên gãi “soạt soạt”, ngay cả trong khi ngồi thiền, nhiều khi mình nghe đập một cái “bốp”(đập con muỗi), cái này là quá tệ rồi. Cái đó là đã phạm rất nhiều giới, không hộ trì căn, buông lung, phóng dật, không kiểm soát, thu nhiếp các cảm thọ sát sanh, ác tâm, thân hành ác, rồi còn nói nữa, khẩu hành cũng ác luôn.
Thành ra sự tu tập của chúng ta phải càng ngày càng vi tế, càng ngày phải càng nhìn thấy thân tâm của mình, chứ không phải nhìn người. Cho nên ta thấy, sự hòa kính này hay lắm, nó rất nhỏ nhiệm mà nó rất tuyệt vời, đây chính là sự trang điểm của tâm linh, oai nghi và giới hạnh lục hòa kính là thẩm mỹ viện của Phật giáo, là sự trang điểm của tâm linh, là sự làm đẹp của tinh thần, cái đẹp của người xuất gia là cái đẹp này. Chứ không phải cái đẹp của người xuất gia là được mặc áo mới, là đi xe đắt tiền, đeo đồng hồ xịn, không phải, cái đó là phàm phu. Cái đẹp người xuất gia chính là những cử chỉ và hành động, được dòm ngó, quản lý, theo dõi, dò xét, rèn luyện, đẽo gọt, đưa nó đến chỗ thiện mỹ, đó là nét đẹp của người tu.
Giới hạnh, giới đức, đạo hạnh, tăng thượng giới học. Làm cái gì ở trong chúng cũng không dám làm động chúng, nhẹ nhẹ. Thời gian đại chúng ngồi thiền, đại chúng chỉ tịnh, đại chúng đang yên lặng, thì làm bất cứ một cái gì cũng không dám cho tiếng động phát ra (nếu giờ đó mình có ca trực gì muốn đi ra bên ngoài), mình phải tu học.
Con thưa đại chúng, đại chúng ngồi thiền, con bước đằng sau vô là con không dám đạp cái gót nghe ra tiếng. Đại chúng đang ngồi thiền là con đi con phải nhón gót chân lên, đó là hòa kính, vì đó là giờ ngồi thiền, hành động đó là hành động tôn kính, tôn trọng đại chúng. Khi đại chúng tụng kinh, mình mở cánh cửa, hay mình có đi bên ngoài, mình không có dám làm cho vang ra tiếng lớn. Khi đại chúng đang tu học thì mình không được nằm, nằm tức là không thực hành pháp hòa kính, trừ khi mình bị bệnh, không dậy nổi. Chúng ta thấy không, nếu cái này mà mình khai triển ra thì có nhiều cái hay lắm. Mình thực hiện được cái này nó tuyệt vời lắm, nhất định là có an lạc.
Cho nên “an thanh tịnh hòa lạc”, “hòa” thì nó sẽ lạc, mà “lạc” là hạnh phúc, là an vui, là bình yên, có hòa sẽ lạc. Như ngoài đời người ta gọi là “dĩ hòa vi quý”, “gia hòa vạn sự hưng”, lấy sự hòa hợp làm món đồ quý, làm báu vật, lấy sự hòa hợp làm của báu, trong gia đình có hòa hợp thì mọi chuyện đều hưng thịnh. Trong một công ty, một xí nghiệp, một đoàn thể, một tập đoàn, mà trên dưới đồng lòng, đoàn kết, hòa hợp, thì công ty đó phát triển. Trong một Tăng đoàn mà trên dưới cùng tu, từ ý nghĩ, lời nói, hành động đều hướng về sự từ hòa, làm sao không phát triển, làm sao không an lạc, làm sao không bình yên, làm sao không hạnh phúc được?
Cho nên con tha thiết, chân thành, cung kính, mong mỏi, đại chúng mà hòa hợp, trang nghiêm, thanh tịnh tu hành, thì con có chết cũng mãn nguyện. Mạng sống của con chẳng là cái gì cả, giáo pháp này mới là tối thượng, giáo pháp này có được tồn tại trên thế gian, có được tỏa sáng trên cuộc đời này hay không, là ở trong sự tu học của đại chúng.
Sự tu học của đại chúng thể hiện ở đâu? Đó là trong đời sống sinh hoạt. Đời sống sinh hoạt của đại chúng thể hiện ở đâu? Đó là ở trong suy nghĩ, lời nói, hành động. Suy nghĩ, hành động, lời nói mà được đặt trên nền tảng của hòa kính, thì đó là phúc lạc, phước báo, công đức. Đó là sự thành tích, thành công, thành quả của người tu.
Các vị đã từng ở những hội chúng trong nước, ngoài nước, trong chùa, trong trường học, trong các thư viện, trong những khóa tu, thì các vị cũng đã biết sự hòa hợp là tuyệt đối quan trọng cho sự bình an và an lạc tu hành. Cho nên phải luôn luôn tác ý và thực tập “an trú thân làm từ đối với các vị đồng Phạm Hạnh trước mặt lẫn sau lưng”. Chứ không phải trước mặt thì hòa hợp, mà sau lưng thì đi nói xấu, không phải. Phải hòa hợp trước mặt lẫn sau lưng, khi nghĩ về người đó vẫn là một suy nghĩ hòa kính, khi nói về người đó vẫn nói với một lời nói hoà ái, khi cùng làm việc chung với nhau, phải Chánh Niệm, tỉnh giác, an tịnh, lắng dịu.
Tại sao mình bất hòa? Tại sao mình một hồi có chuyện? Tại vì mình tháo động, mình buông lung, có chuyện gì là mình nói nói, nhưng đó là dục nói, bản ngã, tham ái nói. Như vậy thì cái bản ngã này đụng cái bản ngã kia, cái sân này chạm cái sân kia, thì cuối cùng một hồi sẽ xảy ra tranh cãi, bất hoà. Còn ai cũng có hộ trì căn, cũng có Chánh Niệm tỉnh giác, cũng biết thực hành sự an tịnh trầm mặc, làm việc tự hòa hợp, tôn kính, trang nghiêm, thanh tịnh, thì không có chuyện gì xảy ra hết. Mà nếu có chuyện đi nữa, thì mình cũng kiểm soát, nhiếp phục được trong tầm kiểm soát, chứ không để nó bung ra cái khẩu hành, bung ra thân hành, nó còn trong ý hành, thì mình tác ý, nhiếp phục, hoặc mình tránh duyên. Mình thấy bên trong này có có cảm thọ gì bất thường, thì mình đi ra chỗ khác, mình xử lý cái cảm thọ đó, chừng nào nó xong xuôi hết thì mình mới quay trở lại.
Con không muốn đại chúng làm gì nhiều hết, con mong muốn đại chúng một điều duy nhất mà thôi. Đó là thể nhập vào dòng pháp này, thấy chính xác thân tâm của mình, thấy cho đầy đủ cái dục, tham ái, vô minh, bản ngã, sân hận. Thấy đầy đủ toàn bộ tất cả cấu nhiễm, lậu hoặc, những rác bẩn đó. Hãy nhìn thấy nó, hãy sợ hãi đối với nó, phải ngao ngán, ghê gớm đối, nhàm chán đối với nó, phải khiếp đảm và kinh hãi đối với các lậu hoặc. Mình thấy nó giống như một cái cầu tiêu, không biết bao nhiêu người đi mà không dọn, để trong đó bốn, năm chục năm, nó bốc mùi lên như vậy, thật sự không ai chịu nổi. Phải quán như vậy, mỗi lần sân khởi lên, mỗi lần dục, tham, bản ngã, hơn thua, ganh tị, đố kỵ khởi lên, mình quán “thúi quá, thúi quá là thúi đi, quá hôi đi, kinh tởm, ta kinh tởm những tâm niệm này, những cảm giác này, những suy nghĩ này. Chẳng những thúi mà còn dơ, hôi, tanh, nồng nặc, giòi bò lởm ngởm trong đó”.
Phải quán những cái tâm sân hận, bản ngã, tham dục, là một cây cầu tiêu một trăm năm không dội, không vệ sinh, không quét dọn và trong đó là giòi tủa, dơ bẩn. Mỗi lần nó sanh khởi lên cái sân là mình quán liền “thúi thúi thúi, tanh hôi, ghê tởm, khiếp sợ, ta kinh hãi những thứ này. Xấu hổ và nhục nhã, đồi bại, hèn hạ, đê tiện, thấp hèn, phàm phu, vô minh, ngu si”. Mê muội ở cái tâm mê này, ở cái tâm ngu này, ở cái tâm trong bóng tối ngàn năm này. Cần phải được Thánh Trí soi chiếu, cần phải đưa ánh sáng vào, cần phải quét dọn, lau chùi. Cần có một cuộc tổng vệ sinh, một cuộc thanh lọc, tẩy rửa toàn diện, triệt để, với một nội tâm ô uế, bẩn thỉu, tanh hôi, nhơ nhớp, hèn hạ, nhục nhã, thối tha, thấp kém này.
Ta thấy nhàm chán những thứ đó, nhàm chán tột độ, nhàm chán như mình bước vô toilet, một cái mùi bốc ra làm mình muốn mửa. Hãy nhìn những tâm cấu uế đó giống như vậy, mỗi lần nó sanh khởi lên thiếu điều mình nôn, mình muốn mửa, mình muốn ói “xấu hổ quá đi, nhục nhã quá đi, tồi bại, hèn hạ, thấp kém, hạ liệt, ngu si, mê muội”. Làm cho mình sân khởi lên một sự đại tàm quý, xấu hổ, nhục nhã, sợ hãi vô cùng. Những thứ này đẩy mình xuống địa ngục, những thứ này đưa mình vô loài cô hồn, vất vơ vất vưởng trong tương lai. Những thứ này sẽ lôi đầu mình vào trong những đời sống của súc sanh, thú vật trong kiếp sau. “Ta kinh tởm cho mi, ta sợ hãi cho mi, ta ngao ngán và nhàm chán mi. Mi hãy chết đi, mi hãy tan biến thành mây, thành khói, thành hư không đi, đừng bao giờ trở lại sanh khởi trong tâm ta nữa. Cái thứ làm biếng, cái thứ buông lung, phóng dật, hơn thua, ganh tị, đố kỵ này. Chết đi, chết vĩnh viễn, mãi mãi, chết một cách triệt để, hoàn toàn, đừng bao giờ sanh khởi trở lại trong tâm ta nữa, ta phải là một con người trong sạch, thanh tịnh, cao thượng, thánh thiện, trong pháp và luật tối thượng này”.
Chúng ta phải tác ý như vậy, hằng ngày, chúng ta phải tác ý như vậy, một ngày ít nhất một chục lần, ghi mấy câu đó ra, học thuộc mấy câu đó. Sáng sớm mở mắt thức dậy mình tác ý, trưa tác ý, chiều tác ý, tối tác ý, khuya giật mình thức dậy tác ý. Phải ghi nhớ, “ta phải là người chiến thắng, ta phải là người thành công, sự xuất gia này của ta phải có thành tích, phải có thành quả. Ta không thể nào đi tu bốn năm, năm, sáu chục năm, cuối cùng kết quả của ta là địa ngục. Ta không thể nào đi tu, sau cả một cuộc đời “ăn chay rát ruột, cạo đầu rát da”, khó khăn, gian khổ, mà cuối cùng ta phải rơi vào loài ngạ quỷ. Ta không thể nào đi tu, cả cuộc đời nhẫn sắc, nhẫn dục, chịu đói chịu khổ, lạnh lùng, đơn độc, lẻ loi, tẻ nhạt, mà cuối cùng khi nhắm mắt, ta phải đi vào loài súc sanh, thú vật. Làm sao ta phải ngẩng lên nhìn Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác. Mặt mũi nào mà ta nhìn cha mẹ, ông bà, tổ tiên ta. Làm sao ta có thể nhìn Đàn-na tín thí, những người tin tưởng, quỳ mọp, đảnh lễ, tôn trọng, cúng dường, dâng lên những thức ăn, những thực phẩm, những đồng tiền, bát gạo, mồ hôi, nước mắt và máu”.
Mỗi bữa cơm của chúng ta có mồ hôi trong đó, nước mắt trong những hạt gạo, hạt cơm đó. Máu trong những bình ga, trong những thức ăn đó. Chiếc y chúng ta mặc, căn phòng chúng ta ở, tịnh thất chúng ta đang cư trú, là máu, nước mắt và mồ hôi.
Cửu huyền thất tổ, nhiều đời nhiều kiếp, ông bà, cha mẹ chúng ta đang vất vơ vất vưởng trong loài ngạ quỷ, đang kêu gào thảm thiết dưới địa ngục, hàn băng. Những đứa con, những người chồng, những người vợ của chúng ta trong quá khứ, bây giờ họ đang cấu xé, ăn nuốt lẫn nhau trong loài súc sanh. Họ đang quằn quại, đau thương và thống khổ trong ba đường ác. Họ đang trông chờ, hi vọng, mong muốn nương tựa về chúng ta.
Chúng ta đi xuất gia đã làm gì? Chúng ta ở chùa bao nhiêu năm nay được cái gì? Được một đống bản ngã ư? Một cái ta to lớn ư? Một cái tự ngã vênh váo, phình trương ư? Chúng ta bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ thân tộc, đi vào chùa để chất chứa những cảm giác sân hận, thiêu đốt, đốt cháy ư? Cha mẹ cắt từng đoạn ruột, hi sinh, cho chúng ta đi tu trong nước mắt, trong đau đớn, để chúng ta đi vào đây sống một đời sống “ẩn dương nương Phật”, si si, dại dại, suốt ngày trong hôn mê, vô minh, buông lung, phóng dật ư?
Thật là đau khổ cho chúng ta, thật là tội lỗi cho chúng ta. Không khéo tu, chúng ta sẽ trở thành tội đồ của Phật giáo, tội nhân của dòng tộc, tội lỗi đối với Đàn-na tín thí, Tam bảo, chúng sanh. Tội lớn nhất là đối với tự thân chúng ta, sau khi nhắm mắt sẽ rơi vào ác thú, đọa xứ, khổ cảnh. Chúng ta hãy suy nghĩ đi, phải rất lo sợ, phải biết lo, phải biết sợ hãi. Phải lấy địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh làm đề mục. Một ngày phải nhớ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh một trăm lần. Trừ khi nào mình nhập lưu, thì lúc đó mới an toàn, mới thật sự là không còn rơi vào ba đường ác, phải là bậc nhập lưu thành tựu Thánh Tri Kiến. Còn bằng không tất cả chúng ta, khả năng rơi rớt vào ba đường ác là hoàn toàn có thể xảy ra, một cách dễ dàng, mau chóng, tích tắc, chớp tắc, có nhiều cánh tay rơi xuống vực sâu.
Đừng sống trong quên lãng, đừng đi tìm những cái thoải mái, những cái dễ dãi, dễ dàng. Đừng chạy theo những cái dục, những cái tham, làm đời sống xuất gia của mình trở nên vất vơ vất vưởng, rày đây mai đó, lang thang, lang bạt, vô định, không hướng đi. Tội nghiệp cho cái thân này lắm, hãy thương nó mà thực hành thân, khẩu, ý nghiệp, từ hòa, đó là bước đầu của Phạm hạnh. Phải diệt những tâm chống đối, tâm nổi loạn, ngang bướng, bướng bỉnh, cứng đầu, cứng cổ, khó dạy, khó bảo, chống đối, không nghe lời, phải diệt. Phải giáo huấn, dạy dỗ, đào tạo, huấn luyện, cải tạo, cải cách, phải làm cho nó trở thành nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng. Phải thường an trú vào lòng từ. Phải thường ngày đêm tinh tấn, tinh cần, nhiệt tâm, đối với các thiện pháp. Đừng có mở mắt chiêm bao, tất cả thế giới đang đầy thảm họa.
Có khi tuần sau, tháng sau, năm sau, thậm chí ngày hôm sau đã trở thành kiếp khác của chúng ta. Không biết ngày mai là ngày mai, hay ngày mai là kiếp sau của chúng ta. Bây giờ ở tù, tai nạn, chết trẻ rất nhiều. Tâm tâm niệm niệm ngày đêm, phải đi ra khỏi những cái dơ bẩn, cấu nhiễm của một nội tâm hôn trầm này, phải cố gắng, thiết tha, chân thành, nỗ lực hành trì.
“Đối với các lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp, cho đến những đồ vật nhận được chỉ trong bình bát. Vị ấy san sẻ, chia sẻ với những người đồng tu có giới đức”. Những từ ngữ Đức Phật dùng, chúng ta đừng có đọc một cách vô tư, mà mình đọc một cách chiêm nghiệm “vị Tỳ-kheo đối với các lợi dưỡng đúng pháp, nhận được đúng pháp”. Quý vị thấy Đức Phật nhấn mạnh hai chỗ. Tại sao Đức Phật nhấn mạnh hai lần đối với các “lợi dưỡng đúng pháp” và “nhận được đúng pháp”. Mình phải học cái lợi dưỡng đó, các sự cúng dường đó, phải đúng pháp. Các món đồ đó, cái tứ vật dụng đó, phải là đúng pháp, chứ không phải người ta cho cái gì cũng nhận. Món đồ đó từ đâu? Có phải từ cái tâm chân thành, cung kính pháp, tu học không? Hay người ta đưa cái đó vì một ý gì?
Trong “Chương Tương Ưng Lợi Đắc Cung Kính”, Thế Tôn nói rất đầy đủ, rất tinh tế. Lợi dưỡng này là gì? Là đắng cay, là ác độc, là mũi tên, là vực sâu, là tiếng sấm sét giết người ta, sự lợi đắc cung kính. Cho nên Đức Phật nhấn mạnh “đối với các lợi dưỡng đúng pháp mà nhận được đúng pháp”, không phải ai cúng cũng nhận, không phải đưa cái gì cũng cầm. Mình phải xem, cái món đồ đó có phù hợp với người tu không? Sự nhận, tiếp nhận có đúng pháp không? Cái này nó nhiều lắm. Ở đây quý vị từ từ chiêm nghiệm, cái này rộng lắm, cái này một buổi học không cũng chưa hết về bốn chữ này, học mấy buổi cũng chưa hết. Cái đó phải đúng giới luật, đúng pháp, phải thanh tịnh.
Cho nên đọc những câu này mình thấy mình nhục lắm, “cho đến đồ vật chỉ trong bình bát”, mình đọc câu này mình thấy nhục lắm, tàm quý, xấu hổ. Thời Đức Thế Tôn, các vị Tỳ-kheo đi khất thực, nhận được ở trong bình bát đó thôi, còn bình bát đó đầy rồi là thôi, không nhận nữa. Bây giờ đồ của mình có ba, bốn bộ rồi, mà người ta cúng là không nhận nữa, nói “con có đủ rồi, hãy cúng cho các vị khác còn thiếu”. Hoặc nếu có giữ do trường hợp bất khả kháng, thì khi có nhân duyên mình đem cái đó đi cúng dường. Tại vì nếu mình để đồ nhiều như vậy, bảy tám bộ hay mười bộ, thì suốt ngày phải lựa, không biết mặc bộ nào, phải không? Có nhiều những thứ đó, nó làm cho cái tâm mình dao động, dính mắc vào những thứ đó.
Chẳng hạn như cái thất không đồ ăn, thì nó dễ tu, dễ ngồi thiền hơn cái thất có đồ ăn đầy ở trong đó, đi ra đi vô nhìn thấy nó chướng mắt, xúc sanh thọ (nói chướng mắt là nói ngược đó), thấy là “bóc một miếng bỏ vô miệng”. Hay vô nhà bếp cũng vậy, không có tu nó khác, gặp cái gì thì bóc ăn cái đó, tất cả cái đó đều phạm hết. Mình phải tập ăn đúng giờ, ngoài giờ đó không ăn, được như vậy là nhiếp phục được cái dục, cái tham, cái ái đối với đoàn thực. Ăn đúng giờ, nếu mình chưa giữ được trọn vẹn, thì ít nhất mình cũng phải giữ được ăn đúng một lần giờ đó “nhất toạ thực”.
Có cái gì đó là mình phải san sẻ, chia sẻ cùng với các bậc đồng Phạm hạnh, với bạn đạo, cái này là hết sức quan trọng. Món ăn gì người ta cúng dường, phải chia đều ra hết tất cả đại chúng, tứ chúng, cư sĩ nam, cư sĩ nữ, chúng xuất gia và chúng tại gia, nếu đầy đủ. Còn nếu mà không đủ, thì chúng xuất gia trước, nếu mà ít hơn nữa mình cúng các bậc có giới đức, những thầy, những cô lớn (tại vì phần đó ít quá không đủ), phải đồng đều, chia đều ra hết tất cả, cái này là giới luật “lợi hòa đồng quân”. Chứ không phải mình truy khố, mình giữ đồ, hay là mình ở trong bếp, mà ai thương thì mình cho ăn, là phạm giới, tội nặng. Vì đồ đó không phải của riêng mình, mình không có quyền. Mình phải cúng dường đồng đều hết cho tất cả đại chúng, dẫu một người một miếng nhỏ, nhưng cũng phải có đầy đủ tất cả, ngay cả quý thầy nhập thất. Nếu mà chia không đồng đều, thì cái người chia đó là có tội, lấy phần của người khác, trộm cắp của thường trụ. Cái này trong giới luật là khủng khiếp lắm, đọa địa ngục là dễ dàng.
Cho nên, nếu mình không học kỹ lưỡng, thận trọng, không biết, thì nhiều khi mình nghĩ rằng là có phước, nhưng mà cái tội nó nhiều hơn. Không được tự ý lấy đồ cho ai mà mình thấy thích thì mình đem cho, phải chia đều đồ cúng dường, phổ đồng hết tất cả đại chúng, bất cứ cái gì người ta cúng dường. Thí dụ bây giờ có người cúng gương sen, mà người ta cúng có bảy, tám hay mười cái, mà chúng mình bây giờ ba chục người, thì phải chia đều mỗi người mấy hột. Chẳng hạn như có những thực phẩm không thể đem đi xa được, nó hư, thì thôi mình chịu. Các vị đem vào trong thất cái nào không bị hư, tiện lợi, thì mình đem vô cúng dường một lần, mình để đó, để dành tới cái lúc hộ thất, mình đem đi cho đầy đủ.
Không phải riêng thức ăn, mà áo mặc, nước uống, tất cả mọi thứ, những gì cúng dường phải san sẻ. “Vị ấy không phải là người không san sẻ các đồ vật nhận được, phải là người san sẻ, dùng chung với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức. Đối với giới luật không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến thiền định. Tỳ-kheo sống thành tựu giới luật trong các giới luật ấy đối với các vị đồng Phạm hạnh, cả trước mặt lẫn sau lưng”.
Mấy cái này nói ra càng hổ thẹn, càng tàm quý nhiều hơn. Nếu mình căn cứ đúng giới luật ngày xưa của Đức Phật, thì bây giờ mình giữ được bao nhiêu? Mình phạm rất nhiều. Cho nên mình phải cố gắng học giới luật, cố gắng tác ý hết sức mình. “Không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, không bị uế nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, đi đến thiền định”.
Những giới bổn mà mình đã thọ, những cái oai nghi, sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận học pháp. Những cái đó mình phải để tâm nhiều vô, để tăng thượng giới đức, chứ mình không có để tâm, thì như con lừa nó đi theo mấy con bò, nó cho nó là bò nhưng nó không có chân của con bò, không có màu sắc của con bò, không có tiếng kêu của con bò, nhưng nó nói nó là con bò. Thì cũng vậy, mình theo sau lưng Tỳ-kheo, nói rằng ta là Tỳ-kheo, nhưng không có tăng thượng giới hạnh, không có tăng thượng sự tịnh tâm, không có phát triển trí tuệ.
Cho nên tha thiết đối với cái giới này, để tâm đối với cái giới này, làm sao để nâng cao lên những oai nghi, giới hạnh, giới đức, đức hạnh của người xuất gia, thì cái đó mới là người tu. Mình tu học có một chút là bắt đầu mình hài lòng, mình tự mãn rồi, thì nó uổng lắm. Tại vì mình bước thêm một bước nữa là không bị chấp thủ, mình giữ được giới này, người ta không giữ được, bắt đầu mình nhìn, mình xem thường người ta, mình có ý nghĩ “tôi giữ, người kia không giữ. Tôi tu, người kia không tu. Tôi biết, người kia không biết”. Cho nên giữ mà không bị chấp thủ, giữ là để cho đức hạnh, cho tâm của mình được an định, để trí huệ của mình thành tựu Thánh Trí Huệ, để mình giải thoát. Chứ không phải giữ để mình cho người ta biết, mình khoe khoang, mình biểu hiện mình hơn người ta. Cái đó là mình đi qua cái bản ngã rồi. Cho nên “không bị chấp thủ, đưa đến thiền định”.
Cái sau cùng là “Tỳ-kheo đối với tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, khiến người thực hành chơn chánh diệt tận khổ đau”.
Thế nào là “các tri kiến thuộc bậc Thánh, có khả năng hướng thượng?”.
Tri kiến thuộc bậc Thánh là nhìn thấy được ngũ uẩn.
Tri kiến thuộc bậc Thánh là thấy được thân xác này là vô thường, khổ não, trống rỗng.
Tri kiến thuộc bậc Thánh là thấy được các cảm giác này là duyên sanh, là sanh diệt, là bức xúc, là thúc dục, thấy được những cảm giác khao khát, khát ái, tìm kiếm.
Tri kiến thuộc bậc Thánh là thấy được những hình bóng, thô tế trong tâm là ảo mộng, dạ quyển.
Tri kiến thuộc bậc Thánh là thấy được tất cả các dòng suy nghĩ, suy tư, vô thường, đau khổ, tan hoại, vô minh và khát ái.
Tri kiến thuộc bậc Thánh là thấy được thức là duyên sanh, sự nhận thức này, sự rõ biết này là sự rõ biết đi theo tham, sân, si, bản ngã, khổ đau. Sự phổ biến ở trong si mê, ở trong vô minh, trong si ám, trong bóng đêm.
Tri kiến thuộc bậc Thánh là thấy ngũ uẩn này là đau khổ, duyên sanh, vô thường, tận hoại. Là cái thứ không đáng tham, không đáng muốn, không đáng dục, không đánh thích, không đáng ưa. Là cái thứ đáng nhàm chán, đáng từ bỏ, đáng chấm dứt, đó là tri kiến thuộc bậc Thánh.
“Có khả năng hướng thượng” là làm cho mình hướng lên, nhìn lên, đi lên, đó là có khả năng hướng thượng. Khiến cho “người thực hành tri kiến, chơn chánh thật sự, diệt tận tất cả mọi khổ đau”. Chỉ có tri kiến bậc Thánh mới có thể diệt tận, chấm dứt toàn bộ các đại khổ uẩn này. Nếu không thành tựu tri kiến đó, thì đóng khổ này không thể nào giảm thiểu và đoạn tận. Ngày nào cũng phải tác ý về Thánh Tri Kiến này hết “cái đống này, đống thịt da này, đống phèo, phổi, gan, ruột. Cái đống bầy nhầy, thịt, mỡ, máu, mủ này, là cái thứ khổ. Cái tâm tham chấp, dính mắc, bám víu trong đây, là gốc của khổ”. Đó là tri kiến, trí tuệ, thấy biết, căn nhà, trú xứ, giường chổng, phòng ốc, căn cứ địa của bậc Thánh.
Đó là thân, hành, ý, Quán Tứ Đại, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Chín Giai Đoạn Một Tử Thi, là căn nhà của bậc Thánh, là địa chỉ thường trú của Thánh Giả. Hình bóng, thô tế, trung tâm chuyển những cảm giác, những hình bóng, thô tế trong tâm này, những suy nghĩ này, nhận thức này, khổ. Cái tâm bám chấp, dính mắc, lấy nó là mình, là của mình, là tôi, là của tôi, tự ngã của tôi. Cái tâm đó là gốc khổ, khổ uẩn, là khổ đau, mà cái tâm dính mắc, tham ái, ngũ uẩn.
Cái tâm đó là gốc khổ, mà cái tâm này nói chui vô ngũ uẩn, làm hang, làm ổ, làm tổ, làm sào, làm quyệt, nó làm tự ngã của nó. Để rồi nó đau đớn, quằn quại, khổ não, sầu bi, đó là tri kiến của bậc Thánh, là trí tuệ, giường chổng, phòng ốc, nhà cửa, trú xứ, già lam của bậc Thánh, đó là chỗ bậc Thánh trụ trì, chân thật đó.
Địa chỉ thường trú của Thánh Giả, căn nhà đại bình an của tuệ giác, có khả năng công phá hết tất cả toàn bộ vũ trụ, thế giới này. Ở trong trí huệ này, không có bất cứ một cái gì có thể đứng vững. Trong Thánh Trí Huệ này, tất cả đều phải sụp đổ, tan biến, tan hoại hết, trước ánh sáng, trí tuệ, thần thánh này, soi chiếu, phơi bày và giải mã hết toàn bộ vô lượng hành tinh, mười ngàn thế giới. Còn cái gì cao thượng hơn cái này nữa? Còn của báu nào có thể quý hơn trí huệ thần Thánh, vi diệu này nữa? Có cái gì trên cuộc đời này có thể so sánh nổi giới mượn, thế gian chí bảo này nữa? Hãy cầm đi, nắm cho chặt, nắm cho chắc, nắm cho vững. Hãy bước lên, bước nhanh lên, mạnh lên, mau lên, tiến lên, hạnh phúc, dũng mãnh, oai hùng lên và đi theo Đấng Chiến Thắng.