Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tâm Hỷ Ngọt Ngào! Non Xanh Mây Bạc Trăng Vàng Trời Cao!

2026-03-03 00:53:54
Tinh Hoa Nikāya

Tâm Hỷ Ngọt Ngào!

Non Xanh Mây Bạc Trăng Vàng Trời Cao!

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. An trú tâm hỷ PAGEREF _Toc139303056 \h 1

II. Lợi ích của tâm hỷ PAGEREF _Toc139303057 \h 3

III. Như lý giác sát PAGEREF _Toc139303058 \h 5

IV. Lợi ích của tâm hỷ 2 PAGEREF _Toc139303059 \h 8

I. An trú tâm hỷ

Kính bạch chư tôn hiền đức và các bậc hiền trí. Sáng nay con ngồi thiền bên Thánh Pháp Viện, khi trải tâm rộng lớn thì nhìn thấy núi xanh mây trắng trăng vàng, bầu trời bao la rộng lớn, cả một đàn chim rất nhiều con bay vòng quanh ngọn núi như đi diễu hành. Trăng rất tròn, rất sáng, núi rất xanh, mây rất trắng và nhiều đàn chim kêu vang bay vòng ngọn núi, hôm nay là ngày rằm, là ngày của các vị Tứ Đại Thiên Vương đi tuần hành trong thế gian, là ngày trai giới của các Phật tử tại gia. Con khởi lên ý niệm "còn phải đi tìm ở đâu nữa? Còn phải đi tìm cái gì nữa? Núi xanh, mây trắng, trăng vàng, bầu trời bao la thênh thang, rộng lớn", mình phải cảm nhận hạnh phúc mà mình đang có được, những niềm vui mà mình đang có được, những nhân duyên lành mà mình đang có được, những lợi ích, lợi đắc, những phước lành, những hoa trái, quả ngọt, những nhân duyên thù thắng mà mình đang thưởng thức, được trải nghiệm, được nếm.

Thật là lợi đắc thay cho ta!

Thật là hạnh phúc thay cho ta!

Ta được sống trong một không gian tuy là tại nhân gian nhưng giống như thiên thượng, người ta gọi đây là "Cổng Trời", có biết bao người mong muốn được đến ngắm nhìn trong khi chúng ta được ở tại đây, chỉ riêng không gian thôi đã là niềm hạnh phúc hiếm có khó được huống hồ gì cái pháp tối thượng, cảnh viễn ly, thân viễn ly và tâm viễn ly. Những cảnh núi rừng này là cảnh của các bậc hiền Thánh, cảnh của các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, là nơi cư trú của các vị ly tham, chỗ này là chỗ đáng ưa, đáng thích, đáng vui. Người thế gian chỉ thích lên chơi chụp hình chứ không muốn ở vì không có điều kiện, không có những phương tiện của năm dục trưởng dưỡng nhưng người sống viễn ly, tâm hướng đến ly tham thì ưa thích, hạnh phúc, hoan hỉ. Mình ngồi phía trên nhìn xuống phía dưới thấy hạnh phúc, có biết bao căn nhà ở dưới như đồ chơi của những em bé đang ở dưới chân mình. Hòa Thượng Trúc Lâm có làm bài kệ:

Đường phố xe qua lại,

Sông biển tàu tới lui.

Dòng đời duyên biến đổi,

Bệ đá đạo nhân ngồi.

(Thiền Viện Chân Không, 07/1985 - Thích Thanh Từ)

Mình ngồi để nhìn sự chuyển đổi, sự biến thiên, sự vận hành của các pháp, mình không dính mắc vào đó, thật là tuyệt vời. Đó là lý do con thích ở chỗ cao, cực một chút cũng không sao, thích ở chỗ cao để ngắm nhìn tuồng diễn, mình thấy không có gì cả, chạy lăng xăng rồi dục tham, sân hận, hơn thua, đấu đá, chạy lăng xăng rồi đầu bạc như tơ, nằm trên gường, bao nhiêu người quây quanh khóc lóc đưa vào lò thiêu, đưa vào nghĩa trang. Mình ngồi để xem tuồng diễn rồi trải tâm rộng lớn, ngắm nhìn sự thênh thang, bao la của trời đất, vô lượng của hư không giới để thấy mình rất nhỏ bé, những ý nghĩ hơn thua, đúng sai, chấp nhặt của mình là trò chơi của con nít, là việc làm của kẻ ngu. Tại sao mình không mở tâm rộng lớn? Con chim rất khỏe vì chỉ có bộ lông, bộ cánh thôi, còn mình đi núi mà vác theo 4 cái vali, thở hổn hển nhưng vẫn phải vác theo, phải bỏ xuống để lên núi cho nhẹ.

Ngày xưa có nhiều vị về tu đem theo cái mền, cái gối, phải là cái mền của mình đắp thì mới ngủ được. Mình ngồi nhìn thế gian, nhìn cuộc đời nhưng thấy bình an, nhìn rồi nở nụ cười tại sao mình dại khờ quá, tại sao mình không có khôn ngoan. Ngồi nhìn thấy non xanh, mây trắng, trăng vàng, trời rộng, đất dày, tâm bao la, chim hót ca, trong lòng lắng dịu, đó là bức tranh vĩ đại, không còn muốn đi tìm kiếm gì nữa, không chờ mong, hi vọng gì nữa, chỉ muốn tịch tịnh, yên bình, an lành trong giây phút hiện tại.

"Người trí dẹp phóng dật,

Với hạnh không phóng dật,

Leo lầu cao trí tuệ,

Không sầu, nhìn khổ sầu,

Bậc trí đứng núi cao,

Nhìn kẻ ngu, đất bằng"

(Kinh Pháp Cú 02 – Phẩm Không Phóng Dật, kệ 28)

Con ở lầu 4 trên chùa Bửu Liên, lâu lâu đi kinh hành nhìn thấy người ta cự cãi, đánh nhau ở dưới, trong khi từng bước chân đi thiền hành mình thấy hạnh phúc tuyệt vời làm sao. Giữa những người rộn ràng mình được sống an tịnh, mình đóng cửa trong phòng một mình, tuy ở Sài Gòn nhưng lúc nào cũng giống như nhập thất, Sài Gòn cũng như ở núi, ở núi cũng như Sài Gòn. Khi mình được an tịnh thì mình sẽ thấy được niềm hạnh phúc kì diệu, mình thấy người ta hơn thua, xôn xao, lăng xăng trong khi mình không có những cái này thì mình vui, phải khéo tác ý lìa năm triền cái, hiện tại lạc trú.

Ở trên nhìn xuống thấy hai người cự cãi, hơn thua trong khi mình không có cự cãi, không hơn thua thì mình thấy an tịnh, lắng dịu, ngọt ngào, dễ chịu, mình thấy hạnh phúc, mình mỉm cười nhẹ. Không phải mình cười khinh bỉ người ta mà mình cười vui vì thoát ra những cái pháp phàm phu, thấp hèn, khổ đau, những cái pháp hạ nhân chứ không phải pháp thượng nhân, những cái pháp ồn ào, thị phi, dao động, dù cho mình có làm việc cũng làm trong an tịnh, lắng dịu, thậm chí người ta cũng không biết mình đang làm việc, giống như người vô hình.

II. Lợi ích của tâm hỷ

Làm trong âm thầm, tu trong âm thầm, học trong âm thầm, chiến đấu trong âm thầm, chiến thắng cũng trong âm thầm, sau khi thành công mình nói ra thì người ta mới biết. Phải tập vui trong an tịnh, vui trong sự rời xa, vui trong sự yên lặng, thoát ra, mình ngồi thiền thấy vui vì giờ này người ta ngủ, mình tỉnh thức giữa quần mê.

"Đệ tử Gotama

Luôn luôn tự tỉnh giác

Vô luận ngày hay đêm,

Tưởng sắc thân thường niệm"

(Kinh Pháp Cú 21 – Phẩm Tạp Lục, kệ 299)

"Như giữa đống rác nhớp,

Quăng bỏ trên đường lớn,

Chỗ ấy hoa sen nở,

Thơm sạch, đẹp ý người"

(Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa, kệ 58)

"Cũng vậy giữa quần sanh,

Uế nhiễm, mù, phàm tục,

Ðệ tử bậc Chánh Giác,

Sáng ngời với Tuệ Trí"

(Kinh Pháp Cú 04 – Phẩm Hoa, kệ 59)

Càng nhiều sình bùn chừng nào hoa sen càng đẹp chừng đó, không có bùn thì không có sen, chính những cái quậy trong người mình thì mình mới tu, không có thì tu cái gì cho nên chỗ nào nhiều bùn thì chỗ đó có sen nhiều. Mình thấy được những lậu hoặc, phiền não thì mình vui, mình thấy được cái bất thiện thì ngay đó là thiện, thiện của sự khởi đầu, của sự bắt đầu. Nếu cái đó không phải là thiện thì làm sao thấy được cái kia là bất thiện? Nó sẽ nhập cuộc vào luôn, trở thành bất thiện luôn.

Nếu mình lỡ mất chánh niệm, sau đó mình nhận ra thì lúc đó là mình có lại chánh niệm, cái biết đó là khởi đầu của thiện, thiện đó chỉ mới ở giai đoạn đầu chứ chưa ở giai đoạn cuối, nếu đi đến cuối luôn thì gọi là chí thiện, cái thiện tròn đầy, phải có cái thiện ban đầu, cái thiện ở giữa rồi mới có cái thiện sau cùng, gọi là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện cho nên khi nhìn thấy lỗi thì mình vui, được người khác chỉ lỗi thì cảm ơn rồi vui, cảm ơn một cách ngọt ngào chứ không phải cảm ơn miễn cưỡng, ngoài miệng thì cám ơn nhưng trong bụng thì khó chịu. Ngọt từ trong tim ngọt ra từng làn da, thớ thịt, nụ cười.

Mình thấy lỗi, được chỉ lỗi, mình nhận lỗi và sám hối, sửa lỗi thì giai đoạn nào cũng thấy vui, đương nhiên tàm quý là cần thiết thì mới làm được nhưng sau đó mình vui. Ta nhận lỗi, ta sửa lỗi để đi đến chỗ hết lỗi, ngày hôm nay là ngày chúng ta phải tụng giới, là ngày trưởng tịnh, nuôi lớn sự trong sạch, tăng trưởng thanh tịnh, mình tu mà mình vui liên tục, trong con người mình có cảm thọ tươi thắm, tươi vui vì cảm thọ đó cho nên những người ở gần, tiếp xúc với mình, làm việc với mình, cùng tu với mình cảm nhận được sự ngọt ngào nơi mình chứ không phải thấy phiền não rồi mình sân lên với mình, sân lên với những người xung quanh, đó là chưa khéo léo tu tập tâm hỷ.

Hôm qua con đang chỉnh sửa quyển "Tâm hỷ ngọt ngào" để in ra 5000 quyển, có 5 lợi ích, tác dụng của tâm hỷ. Đầu tiên là tâm lượng sẽ dần trở nên rộng lớn, mình nhìn bằng trí tuệ, bằng tình thương nên cái vui của mình không phải là được cho ăn ngon nên vui, vui vì được cúng dường cho đôi dép đẹp đó là cái vui liên hệ đến vật chất. Còn cái vui này là không liên hệ đến vật chất, mình vui vì mình cảm thọ được cái pháp, cảm thọ được sự hoan hỉ rộng lớn trong trí tuệ, cái tâm của mình vui trong sự rộng lớn, quảng đại. Đứng trên lầu cao nhìn thấy người ta hơn thua, giành giật, cãi nhau trong khi mình thoát ra những cái đó, mình là người ngoài cuộc nên mình hoan hỉ, hoặc nhìn xuống thấy xe chạy đông đúc, đầy tham, sân, si, mình ở ngoài những cái đó, mình đứng trên cao mà ở trên cao thì sẽ rộng, tâm mình vui rộng lớn.

Lợi ích thứ hai của tu tâm hỷ là có khả năng diệt trừ những cảm giác bức xúc, bị dục chi phối bên trong. Tất cả chúng ta bị dục chi phối gây bức xúc bên trong mà mình không biết, khi mình nhận diện ngũ uẩn tinh tế, sâu sắc mới biết cái bức xúc đó là do dục. Ví dụ nói chuyện nhanh lẹ, cái dục bên trong muốn thể hiện sở đắc, bản ngã cho nên các pháp có sự liên kết, liên thủ với nhau để hoạt động.

Khi con ngồi thiền sáng nay thì con thấy được Đức Phật dạy trong Trung Bộ như lý giác sát, như lý tác ý thì đầu tiên phải nhận diện ngũ uẩn, đó là phần căn bản nhưng bên cạnh đó phải có sự trầm tĩnh của tâm, nếu sự nhận diện đó ở trong sự dao động không được trầm tĩnh, tức là mình thiếu an tịnh thì cái nhận diện của mình giống như mặt hồ gợn sóng, không được rõ ràng, chính xác.

Chính vì vậy nếu nhận diện ngũ uẩn mà thiếu sự trầm tĩnh, thiếu sự tập trung tâm ý thì sự nhận diện đó sẽ không đầy đủ, không rõ ràng cho nên dù có nhận diện nhưng mình không thấy, nói ra mình mới biết hoặc nói ra cũng không biết đến mức độ đó, chính vì vậy sự nhận diện đòi hỏi phải có một mức độ an tịnh của tâm cho nên lúc bình thường tu an tịnh, lắng dịu là hết sức quan trọng vì chúng ta chưa tu được các tầng thiền định thâm sâu cho nên chúng ta là cận định, phương tiện định, những cái gần đến định để giúp cho sự nhận diện của mình được chính xác, rõ ràng, đầy đủ hơn. Sau khi đã có mức độ an tịnh để nhận diện thì mới đến như lý giác sát, khi đủ mức an tịnh sẽ đến quán sát.

III. Như lý giác sát

Khi mặt hồ tĩnh lặng thì mình soi bóng phía dưới được rõ ràng, như lý giác sát là xem kĩ càng chứ đừng xem phớt qua, nếu vết dơ dính nhiều trên mặt thì hiện rõ dưới mặt hồ tĩnh lặng nhưng nếu chỉ dính chút ít mà nhìn phớt qua thì làm sao thấy được. Như lý giác sát là quán sát đúng như nó đang là, nó đang ra sao thì phải nhìn đúng ra như vậy, muốn được như vậy thì cái tâm phải khách quan, trong sáng, lúc đó không có năm triền cái, còn nếu đang có sự thúc giục bên trong thì làm sao nhìn rõ được.

Khi con nghe các vị trình pháp thì phải lắng tâm trong sáng còn nếu có thương ghét sẽ không nghe được hết, nghe người mình thương trình pháp thì mình cho là hay, là tốt, còn nghe người ghét trình pháp thì cho rằng người đó tu dở, như vậy nếu có năm triền cái thì tâm sẽ bị nghiêng lệch. Khi nghe bằng tâm trong sáng như vậy mới không bị thành kiến, đó là mình nói về người bên ngoài thì nhìn vào trong tâm cũng giống như vậy, nếu mình thích xe mà nếu có người chỉ trích sở thích của mình là mình không đồng ý, người có bản ngã lớn là tu không được cho nên muốn như lý giác sát thì tâm phải trong sáng nên các ngài mới đi đến chỗ lậu tận.

Còn bây giờ nhìn phất phơ, nhìn qua loa, nhìn cho có sẽ không thấy được lậu hoặc, đừng nói gì cư sĩ hay người đời, đến ngay cả người tu nếu tu lâu, tu tinh cần tinh tấn nhưng lại không có phương pháp đúng chỉ cho mình chính xác, không có bậc đạo sư thành tựu pháp hành thì làm sao hướng dẫn nổi cho mình. Người chỉ dẫn còn không biết thì làm sao người học biết được? Cho nên Đức Thế Tôn nói rằng thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, bậc thiện tri thức quyết định toàn bộ phạm hạnh của người xuất gia.

"Ngồi một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Một nửa Phạm hạnh này, bạch Thế Tôn, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình.

-- Chớ có nói vậy, này Ananda! Chớ có nói vậy, này Ananda! Toàn bộ Phạm hạnh này, này Ananda, là thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình. Với Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, này Ananda, thời được chờ đợi Thánh đạo Tám ngành được tu tập, Thánh đạo Tám ngành được làm cho viên mãn.

Và này Ananda, thế nào là Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập và làm cho viên mãn Thánh đạo Tám ngành? Ở đây, này Ananda, Tỳ-kheo tu tập chánh tri kiến liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Tỳ-kheo tu tập chánh tư duy... tu tập chánh ngữ... tu tập chánh nghiệp... tu tập chánh mạng... tu tập chánh tinh tấn... tu tập chánh niệm... tu tập chánh định liên hệ đến viễn ly, liên hệ đến ly tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Như vậy, này Ananda, là Tỳ-kheo thiện bạn hữu, thiện bạn đãng, thiện thân tình, tu tập Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành"

(Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (a), I. Phẩm Vô Minh, II. Một Nửa)

Nếu không có bậc đạo sư, bậc thiện tri thức chỉ dẫn là mình không bao giờ biết được, chỗ đó mãi mãi là góc khuất của tâm không thể đụng tới được, không chạm tới thì còn chỗ không thấy không biết, nếu còn chỗ không thấy không biết thì còn vô minh, vô minh về góc khuất đó cho nên như lý giác sát rất quan trọng. Đó là lý do con thường nhắc mọi người trả lời nhanh là sự thất bại, hỏi là trả lời liền không cần suy nghĩ, không cần nhìn lại gì cả, phản ứng lập tức thì đó là thiếu mức độ an tịnh, lắng dịu, trong đạo gọi là thiếu niệm lực, định lực, ngoài đời gọi là không có sâu sắc hoặc là không trầm tĩnh.

Sau khi như lý giác sát nhìn đúng vấn đề thì mình mới xem trong đó là bệnh gì, cần thuốc gì rồi như lý tác ý. Như lý tác ý của mình ở mức độ nào, mình có dám đao hạ bất lưu tình không, dưới con dao này không có dung chứa tình cảm, nghĩa là mình có thẳng tay trừng trị nội tâm mình không hay là đao hạ lưu tình. Trong như lý tác ý còn cái ái, muốn lưu giữ lại một chút cho nên trong Phật giáo phát triển có câu "lưu hoặc" nghĩa là chừa lại một chút lậu hoặc, khi đó nghe rất hay nhưng giờ là sai hoàn toàn, lưu hoặc là tu nhưng giữ lại một chút lậu hoặc chứ không để cho hết vì hết là không còn để độ chúng sanh, những tư tưởng này hết sức nguy hiểm.

Trong sự tu của mình, trong suy nghĩ như lý tác ý của mình không có sự dứt khoát 100%, chính cái còn lại một chút đó sẽ ngăn cản không cho mình Dự Lưu, tùy theo mức độ của sự thấy biết, tùy theo sự như lý tác ý của tâm ở mức độ nào, tâm nghĩ gì thì mình sẽ trở thành như thế đó, tâm mình nghĩ như thế nào thì đời sống của mình sẽ như thế đó vì tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi, mình nghĩ ra sao thì mình sẽ y như vậy. Nếu nghĩ "con nghiệp chướng nặng nề, bản ngã nhiều lắm tu không được, lên đây gieo duyên thôi" thì mình cũng chỉ lên gieo duyên nhưng nếu mình nhất tâm "trong thời gian ở đây con phải thấy được ngũ uẩn, thấy được tham, sân, si, lậu hoặc và phải hướng Dự Lưu, Nhập Lưu" thì mình có khả năng đi tới những cái đó, tất cả đều do suy nghĩ quyết định.

Những cái nặng, thô thì mình nhận diện ngũ uẩn thấy được nhưng đến cái nhẹ thì mình lại bỏ qua "cái này đâu có gì đâu, cho qua đi", cũng giống như cháy nhà, lúc mới cháy thì làm sao bùng lên hết cả 30 tầng lầu, chiếc thuyền trước khi bị chìm sẽ bị thấm nước từ từ rồi sau đó nước mới tràn vào ào ào làm thuyền chìm cho nên không có cái nhỏ thì làm sao có cái lớn, chính những suy nghĩ chừa lại làm cho mình ở lại lớp, ở lại đời, ở lại luân hồi, ở lại với tham, sân, si, bản ngã cho nên trong sự nhận diện ngũ uẩn phải có mức độ an tịnh rồi mới như lý giác sát, sau cùng là như lý tác ý.

IV. Lợi ích của tâm hỷ 2

Khi đã diệt trừ những cảm giác bức xúc của dục thì tu tâm hỷ rất hay, ví dụ khi mình quyết định làm chuyện gì đó hoặc là muốn đi tu nhưng khi gặp chuyện khó chịu là bỏ không làm nữa, bỏ không tu, đó là sự bức xúc theo dục, theo sự buông thả, theo thói quen, muốn rảnh rang, thư thới, thông thả chứ không muốn cực khổ, không muốn nhiếp phục, chế ngự, không muốn chiến đấu, chiến thắng, chỉ muốn buông trôi, buông lơi "tu vậy được rồi". Khi có những suy nghĩ này cần phải diệt nó ngay không cho nó tồn tại, không cho nó sanh khởi trở lại trong tương lai, còn nếu mình im lặng nghĩa là mình chấp nhận, đồng ý với tư tưởng, cảm giác đó vì vậy khi đã nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì những cái lúc trước mình cho là bình thường thì sau này mình sẽ thấy rất nghiêm trọng, những cái lúc trước mình cho là chuyện nhỏ nhưng khi tu kĩ, tu sâu thì bây giờ rất lớn, đó là lý do Đức Thế Tôn nói phải biết sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt nhưng chỉ mình biết chứ người ngoài không ai biết, trừ các bậc chứng đắc tha tâm thông cho nên tu tâm hỷ sẽ hóa giải những bức xúc đó.

Khi đã có tâm hỷ nhiều rồi thì những chuyện nhỏ nhặt giữa các huynh đệ, bạn đồng tu sẽ không là gì cả, nhẹ như miếng bông gòn, như ngọn gió có chút cát thổi qua người mình rồi cũng mất đi, không để tâm cũng không lưu giữ ngọn gió. Một người đã quyết liệt leo lên đỉnh núi thì dưới chân có bùn đạp lên bùn, có cây thì đạp lên cây hoặc tránh né để đi lên, không phải có chút bùn sình hay cây đổ là từ bỏ "đi về thôi, mệt rồi, đi nữa dơ chân", vì thế đối với những cái bức xúc này phải khéo léo để nhìn ra được nó, nhìn đúng như trạng thái nó đang có mặt để có cách trị liệu, xử lý nó, tức là mình nhẹ nhàng với nó không được thì làm mạnh tay, nếu không được nữa thì bỏ mặc nó luôn để lo tu.

Hai ngày trước con đưa cô út Hồng đi khám bệnh, 2h khuya thì cô từ quê lên còn con ở đây ra bệnh viện. Cô chưa ăn gì cả nhưng bác sĩ nói khám mắt thì ăn bình thường nên chú tài xế chạy đi tìm quán cháy mua đồ ăn nhưng do chỉ mới 6h sáng nên chưa có đồ, cuối cùng đi đến một quán có tên "Thôi Kệ", khi gặp người hơn thua với mình thì "thôi kệ đi", gặp người nhỏ mọn với mình cũng "thôi kệ đi", gặp người hay kiếm chuyện với mình cũng "thôi kệ họ".

Khi đã thấy một cái đống khổ to lớn thì những chuyện này không là gì cả, nếu không chỉ cần một ánh nhìn thôi cũng làm mình không ngồi thiền được "tại sao lại nhìn tôi như vậy", có suy nghĩ này thì phải la rầy tâm "đồ ngu, mày khổ gần chết mà không lo, người ta nhìn sao thì kệ người ta", con dùng cái này rất nhiều, "thôi kệ", "thế à", "vậy hả", có người lại bảo "thầy hay gì chưa, có người nói thầy như vậy" thì con bảo "vậy hả, thôi kệ", vậy mà con được yên sống mấy chục năm trong chùa. Có nhiều người lại nói này nói kia thì con bảo bận lắm, lo kinh, lo pháp, lo tu nên thôi kệ đi.

Có một vị chia buồn với Minh Thành vì nghe nói trên đây đã bán rồi thì Minh Thành nói không có chuyện này, nghe vậy thì một vị khác bảo chúc mừng, con cũng dạ thôi, họ tung tin đồn trên đây đã bán rồi, con nghe nhưng cũng thôi kệ, mình cứ lo tu thôi, có long thiên hộ pháp lo việc đó, ở đây có thần rừng, thần núi, thần cây, thần đất lo những chuyện đó, còn con chỉ lo chứng nhập khổ thánh trí thôi.

Vậy là một người chia buồn, còn một người thì chúc mừng, còn mình ở giữa không biết mừng hay buồn, có rất nhiều chuyện nhưng cái cần đáng nghe chính là đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ. Mình càng hiểu về khổ thì mình càng vui, đây là điểm đặc biệt. Tại sao lại như vậy? Vỉ hiểu về khổ rồi thì không còn đi theo khổ nữa, đây là điểm độc đáo, những cái này phàm phu làm sao hiểu nổi, mình càng chứng nhập cái khổ nhiều chừng nào thì mình càng an lạc, an vui, an bình chừng đó.

Con có những trải nghiệm rất lạ đời, họ tráng bê tông, đổ thuốc độc cho những cây tùng của mình chết, họ xăm đầy người đi qua đây xin cái bảng thì mình hiểu thông điệp họ muốn gì rồi, con chỉ mỉm cười nhẹ thôi, lấn đất, mưu tính đủ chuyện, chỉ có tâm hỷ vô lượng và tâm từ vô lượng mới xem tất cả là vô giá trị, vô nghĩa, mình bao bọc cả tâm từ cho họ. Bây giờ đấu đá với nhau hay trải tâm từ bao bọc nhau, cái nào khỏe? Mình hỷ lạc trong pháp thì thấy mình là người hạnh phúc nhất hành tinh, hôm trước mình có câu "mình là người đáng thương nhất hành tinh", hôm nay mình có câu "mình là người hạnh phúc nhất hành tinh". Khi mình học và thực hành giáo pháp ly tham, hướng đến sự nhàm chán, từ bỏ, thoát ra khỏi ngũ uẩn thì mình là người hạnh phúc nhất hành tinh, cả hành tinh này trừ các bậc Đa văn Thánh đệ tử, Thế Tôn và các bậc Thánh chúng là đệ tử chánh tông của Đức Phật thì mới có cái hướng tâm đó, ngoài ra không thể có được. Cho nên nếu mình không phải là người hạnh phúc nhất hành tinh thì ai là người hạnh phúc?

Mình tập trung vào định tướng quán về bất tịnh, quán về chín giai đoạn của một tử thi, an trú vào các pháp mà mình đã được học để tập trung vào phá thân kiến, phá những cái tâm nắm giữ vào thân xác này bằng những hình ảnh được Đức Phật dạy trong Tứ Niệm Xứ hoặc là ngài Xá-lợi-phất đã hướng dẫn chúng ta. Chúng ta cứ an trú vào các định tướng đó để phá các tầng cảm thọ sâu sắc, phá vào những sự nắm giữ, chấp thủ bên trong mình, những hình ảnh mà mình thấy cũng chỉ là tưởng. Sự tu học này của chúng ta là không có sự cầu mong từ bên ngoài, chỉ nhận diện ngũ uẩn để phá trừ vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã, khi nào làm xong là thành tựu. Những lần mình vỡ òa cảm xúc là rất tốt, cảm thọ bắt đầu được khai mở, những cảm thọ vô minh, cứng chắc, ương ngạnh trong vô lượng vô biên kiếp bị ánh sáng thánh trí tuệ chiếu phá làm cho rung chuyển, bắt đầu đi xuyên qua cho nên cứ việc để cho cảm thọ vỡ òa, đừng kiềm hãm.

Khi vỡ òa ra thì mình thấy xót xa, ngao ngán, mình thấy mình tăng trưởng sự nhàm chán đối với sắc uẩn vô thường, bất tịnh, đối với cái tâm đầy cấu nhiễm này, như vậy là đi đúng đường, mình cứ lấy đạo lộ của Đức Phật đã được học làm kim chỉ nam thì không bao giờ đi sai.

"Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: 'Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn', thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: 'Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn'. Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: 'Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: 'Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn'". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VIII. Phẩm Về Luật, (IX). Thông Điệp)

Khi ôm bình bát thì hồi tưởng lại Đức Phật, hồi tưởng lại cuộc đời của Đức Phật, hồi tưởng lại tôn giả Ca-diếp, tôn giả Ananda, tôn giả Xá-lợi-phất, mình hồi tưởng lại đời sống viễn ly của các bậc Thánh. Mình sanh khởi lên cảm xúc mình thật sự là đứa con của Phật, mình được sống nơi núi rừng, được ôm chiếc bình bát thiêng liêng, được về tới Trúc Lâm "con đã về gần tới các bậc Thánh chúng, con đã về tới Lộc Uyển, Kỳ Viên", vừa ôm bình bát vừa tác ý như vậy "con đã về với Đức Thế Tôn, con hạnh phúc quá vì con được giống ngài, con được giống các bậc hiền Thánh. Thật sự là lợi đắc cho con, thật sự phúc lành, phước đức cho con khi ôm chiếc bình bát thánh vật này, đây là báu vật của ba đời chư Phật, là đồ dùng của thánh chúng. Giờ này con được cầm trên tay và con được thực hiện đời sống hiền lành, hiền thiện, thánh thiện của các ngài". Mình ôm bình bát và có thể tuôn trào nước mắt, dạt dào những cảm xúc tràn ngập trào dâng lên ân đức của Phật, của tôn giả Xá-lợi-phất, tôn giả Ananda, tôn giả Ca-diếp.

Từng bước chân của mình không bị dục chi phối, không bị tham chi phối, đi trong an tịnh, trong trầm mặc, trong nhẹ nhàng, lắng dịu, đi trong thanh tịnh, trong bình yên, tịnh lạc, mình khởi lên niềm vui, niềm hạnh phúc vì con đã về. Mình đi khất thực như vậy là đức hạnh của thánh hiền, trải nghiệm đời sống ly tham, đời sống cao thượng, cao đẹp, ai muốn đi chân không thì cứ việc đi, nếu đi chân không thì không ngồi trong Ni xá mà ngồi ngoài bụi tre dùng bữa. Không cần đợi đến khóa tu mới thực hành, nếu muốn mình có thể thực hành mỗi ngày, mình ngồi xuống bụi tre, khóm trúc dùng cơm, mình niệm đức của Phật, ân đức pháp, ân đức Tăng, mình niệm hạnh phúc của đời sống rời xa thế tục, mình niệm hạnh phúc của sự trải nghiệm viễn ly, mình ăn cơm trong sự bình an, thanh tịnh, dạt dào tràn ngập trong thế giới biết ơn, cảm ơn, nhớ ơn đối với tam bảo tối thượng. Mình cứ thực tập mỗi ngày chứ đừng đợi tới khóa tu mới làm.

Mình đừng ăn trong sự trơ trơ, đừng ăn trong cảm giác dục tham, khoái thích để hưởng thụ cái sắc, cái hương, cái vị của thức ăn. Mình phải có sự nhiếp phục, chế ngự và khi đã nhiếp phục, chế ngự được những cái đó thì mình vui, mình vui vì nhiếp phục, chế ngự được sự tham ăn. Mình để tâm vào thực hành, quán chiếu trong từng pháp, quý vị nào bệnh thì mở chuyên đề con có chia sẻ trong lúc dịch bệnh xảy ra là "Làm an tâm người bệnh" của Đức Phật, ngài Xá-lợi-phất và các bậc Thánh tuyên thuyết. Trong lúc bệnh là cơ hội rất tốt để mình quán chiếu, hành trì. Trong lúc quét sân cũng vui vì mình quét sạch để đại chúng dùng cơm, thọ trai, nghe pháp, để quý thầy quý cô đi thiền hành, đây là việc làm sạch sân, làm sạch rác cũng là làm sạch thân, sạch tâm, nếu muốn sanh khởi cảm giác hỷ thì sanh khởi. Mình hút bụi trong thiền đường cũng có thể liên hệ đến pháp, mình hoan hỉ trong tu học, mình hạnh phúc trong tu học, mình tập ăn thật trầm mặc chứ không phải có khách hay có công việc là ăn buông thả, dù cho ở chỗ nào cũng tập ăn trong trầm mặc, an tịnh, trong lặng lẽ, trong niềm vui của pháp, khi ăn thì nhiếp phục dục, tham, ái, nếm hương vị của bất tử. Mình hoan hỉ trong sự nhiếp phục, chế ngự đó, mình vui thích trong đó. Khi ngồi thiền thì tác ý mình được thực hành sự im lặng của bậc Thánh, mình được chia sẻ, mình được học hỏi những thánh trí tuệ, mình khéo như lý tác ý, khéo vận dụng tâm để tu học, thích nghi trong giai đoạn này.

Công năng tiếp theo của tu tập tâm hỷ là diệt trừ tâm buồn phiền, buồn chán. Tâm phàm của mình thường hay nghĩ ngược lại "ăn khó quá", mình tu theo kiểu trước nay quen rồi, ăn trong sự hưởng thụ dục, tham, ái, còn giờ ăn phải nhiếp phục dục, tham, ái nên thấy buồn, để diệt trừ cái buồn đó thì tu tâm hỷ này. Lúc trước mình muốn nói gì là nói, muốn làm gì là làm, mình bung xõa, thả lỏng, bây giờ mình tác ý nhiếp phục "đi chậm vầy là hạnh phúc, đi chậm vầy là chiến thắng, đi chậm như vầy là sự vững chải, vững chắc, là sức mạnh trong con người mình", giống như chiếc xe có phanh, còn xe không có phanh là xuống vực, mình tác ý như vậy là mình vui rồi đi chậm lại, mình vui, mình thích vì cái đi nhẹ nhàng, khoan khoái, ung dung, điềm đạm, thanh tịnh, mình đi như bước trên mây, đi như làn gió thổi, đi mà cả người tỏa ra cảm giác nhẹ như bông gòn. Mình tập liên tục thì mình hạnh phúc trong cái tu, có hương vị, có hỷ lạc, sung sướng, nếu không tác ý những cái này thì buồn chán, khó chịu vì đi ngược lại cái dục, bình thường ăn nhanh còn giờ phải ăn chậm để nhiếp phục cái dục cho nên tu tâm hỷ để không còn buồn nữa.

Mình tu tập cảm giác hạnh phúc để đánh đuổi cảm giác buồn chán của tâm chán nản trong tu học. Ngoài ra còn thêm một công năng, tác dụng của tâm hỷ là để diệt trừ những cảm thọ lang thang, mông lung, buông lung, bất an, bất ổn trong tâm, những cảm xúc mơ mơ màng màng, miên man, ngồi trên Bồ-đoàn nhưng lại thẩn thờ, không biết đang làm gì, cái tâm lậu hoặc lang thang. Tu tâm hỷ để hết lang thang, đem tâm trở về thân nên vui, có khi đang nói chuyện mà không nhìn mặt mình lại nhìn ra ngoài thơ thẩn, có khi làm rớt đồ cũng không hay, đó là tâm đang bận đi rong chơi cho nên phải tu tâm hỷ để đem tâm trở về thân, thân đâu tâm đó. Nồi nghe pháp mà không thấy hỷ lạc gì cả vì tâm bận đi lang thang, còn bận suy nghĩ "lát nghe xong làm gì ăn", đang tính toán đi đâu, làm gì, đó là tâm cô hồn lang thang, còn an trú hỷ lạc trong pháp thì tâm ở ngay đó, mình làm gì thì để tâm ngay đó.

Đức Phật dạy trong Tứ Niệm Xứ là "biết rõ việc mình đang làm", vui trong việc mình đang làm nếu mình cần cho vui, còn nếu cần an tịnh thì an tịnh, cần quán khổ thì quán khổ, thật là tuyệt diệu, mình sử dụng tâm thật tuyệt vời cho nên sau này có các vị nói thiền sư là kĩ sư tâm hồn, Minh Thành nói thêm là nhà kiến trúc tinh thần. Mình muốn an trú vào khổ thánh trí là cái gì cũng thấy khổ, mình muốn an trú vào tâm hỷ thì cái gì cũng thấy vui, mình muốn an trú vào tâm an tịnh thì bất cứ cái gì cũng làm trong an tịnh, lắng dịu, muốn an trú vào tâm xả thì dù chỉ một vết bụi cũng không còn, mình phải luyện tâm mình đến mức như vậy, muốn tâm từ là trú vô tâm từ, tùy theo lúc cần trị nhưng tâm hỷ là để đối trị và dành cho những người mới, còn mình đã an trú trong pháp thì không cần hỷ nhiều nữa mà đi sâu vào khổ thánh trí để phá sự chấp thủ trong ngũ uẩn. Đức Phật nói ngài và các bậc Thánh muốn an trú sơ thiền là an trú vào sơ thiền, muốn an trú nhị thiền là vào nhị thiền, muốn trú trong tam thiền, tứ thiền là trú trong đó, chừng nào muốn ra thì ra. Các bậc Thánh tu như vậy, các ngài sử dụng Thánh chánh định, còn mình gần chết rồi vẫn không thể vào nổi sơ thiền, vào ngồi thiền còn mê hơn cả lúc không ngồi thiền vì vào ngồi chỉ ngủ thôi, gọi là mê thiền, si thiền.

Chúng ta tu thiền quán rất hay, muốn trú vào cái nào là trú, nếu trú vào tâm xả là buông bỏ hết, nhẹ nhàng, khỏe khoắn. Cố hòa thượng Thích Minh Thành là trụ trì chùa Ấn Quang, hòa thượng nói rằng có chỗ toilet ghi là "Phòng nhẹ, khỏe", mỗi lần tâm mình nặng nề thì mình xả ra cho nhẹ, khỏe, trong lòng mình có buồn ai, bực ai, giận ai thì phải tống ra cho nhẹ nhàng. Người tu mà không có tâm xả giống như căn nhà không có toilet, nếu không tu tâm xả thì cái gì cũng chấp nên rất khổ, nghe gì cũng khó chịu, nhìn gì cũng bực bội, gặp chuyện gì cũng không vừa ý cho nên hằng ngày phải tu tâm xả khi mình thấy hay mình nghe mà thấy bức xúc. Nếu bình thường không tu thì khi gặp chuyện sẽ không tu được, lúc bình thường tu thuần thục thì khi có chuyện mới xài được, vì thế cần tu tâm xả, tâm thương, tâm xót, tâm vui và tâm bỏ (tâm xả). Mỗi ngày phải lớn mạnh tâm thương, hôm nay giận hơi nhiều thì phải an trú vào tâm thương, nhìn gì cũng thương, hoặc là tu tâm xót, thấy xót xa cho mình vì cứ bản ngã, xót xa cho người, xót xa cho tất cả mọi người.

Tu tâm xót xa để trị tâm muốn làm hại người khác, tu tâm vui để trị tâm buồn chán, Đức Phật cho thuốc trị bệnh vô cùng chuẩn, thuốc này đặc biệt không có thời hạn, không bao giờ bị quá hạn sử dụng, những dược phẩm của thế gian có hạn dùng nhưng với thánh dược, pháp dược, diệu dược của Phật là vĩnh viễn không bao giờ hết hạn dùng, nó là siêu việt thời không, bất cứ thời gian nào, con người nào, mức độ nào, tâm thức nào thực hành theo đúng là có hiệu quả. Khi vui là thấy nhẹ nhàng, tu tâm hỷ thì bệnh nặng thành bệnh nhẹ, bệnh nhẹ thành hết bệnh, đang buồn thì thành vui, vui thì lại càng vui. Nếu càng vui trong đạo thì lại càng đi đến chỗ tịch tịnh, ở ngoài đời càng vui thì càng động còn cái vui trong đạo càng vui thì càng tịnh vì vậy mới gọi là tịnh lạc, nghĩa là tịch tĩnh và an lạc, càng yên thì càng vui, càng vui lại càng yên, vui thì khỏe, buông thì nhẹ nên tu tâm xả. Có ai lỡ nói câu gì là mình xả liền, buông liền, nhẹ khỏe liền, hạnh phúc liền.

Tâm vui này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm vui này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.