Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm-Giá Trị Thật Sự Của Ngôi Chùa Tâm-Ma-Nghiệp-Sát Sinh-Tái Sanh-Niết Bàn

2026-03-03 00:52:18
PHÁP ĐÀM GIÁ TRỊ THẬT SỰ CỦA NGÔI CHÙA

TÂM – MA – NGHIỆP – SÁT SINH – TÁI SANH – NIẾT BÀN

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tâm là gì PAGEREF _Toc112930519 \h 1

II.Trí tuệ về cảm thọ PAGEREF _Toc112930520 \h 7

III.Phật pháp thiết thực, hiện tại PAGEREF _Toc112930521 \h 11

IV.Trình pháp và thắc mắc tu học PAGEREF _Toc112930522 \h 15

V.Soi sáng PAGEREF _Toc112930523 \h 18

1.Sát sanh PAGEREF _Toc112930524 \h 18

2.Tái sanh PAGEREF _Toc112930525 \h 19

3.Nghiệp PAGEREF _Toc112930526 \h 21

Tâm là gì

Hôm nay chúng ta có một buổi trà đạo ấm áp thân thiện, từ nhân duyên của một gia đình Phật tử rất chân thành đã từng đến đây ba năm trước, những hình ảnh của chánh điện phên tre vách trúc mộc mạc đơn sơ, bình dị đã làm cho Phật tử này có cảm xúc sâu sắc. Phật tử đã thay đổi cái nhìn và thay đổi cả cuộc sống theo chiều hướng thiện của Phật pháp, Minh Thành rất xúc động trước những lời chia sẻ trong gia đình, giờ phút này là giờ phút rất màu nhiệm, chúng ta cảm nhận những phép lạ của chánh pháp. Con xin mời gia đình Phật tử chia sẻ những cảm nhận một cách thân thiện cùng với chư Tăng Ni qua sự cảm nhận tu học khi về đây, xin mời cô chú trong gia đình.

Phật tử 1:

Xin kính chào quý thầy, quý cô và quý cô bác. Với lời chia sẻ của thầy trụ trì chùa Linh Quy Pháp Ấn, tôi cảm thấy rất hãnh diện và xúc động trước những tình cảm chân thành mà nhà chùa đã dành cho gia đình chúng tôi trong chuyến viếng thăm từ hôm qua đến hôm nay. Cảm xúc của tôi đến ngôi chùa này vô cùng đặc biệt so với tất cả những ngôi chùa tôi đã đến và không phải chỉ những ngôi chùa tôi đã đến ở Việt Nam mà còn rất nhiều ngôi chùa khác trên khắp thế giới. Tôi làm bên ngành truyền hình nên đi rất nhiều nước, đến nước nào tôi cũng đến thăm chùa, nhà thờ, những di tích, di sản văn hóa và tôi còn đến những nơi có tính chất tính ngưỡng để tham quan, tìm hiểu.

Đến với Linh Quy Pháp Ấn, cảm xúc của tôi thay đổi lạ lùng, không bao giờ tôi nghĩ xấu về Đức Phật cũng không bao giờ nghĩ xấu về Phật pháp và những người đi theo đạo Phật nhưng dường như tôi và gia đình có khuynh hướng về đạo Phật nhiều hơn nhưng chưa để ý nhiều về giáo pháp của Đức Phật. Tôi có đọc nhưng cảm nhận chưa nhiều, bỗng một ngày tôi đi Đà Lạt với gia đình, con gái tôi nói "Bố ơi, trên đường về bố hãy lên Linh Quy Pháp Ấn một lần cho biết, đẹp lắm và có nhiều điều thiêng liêng". Đi ngang qua đây thì tôi vào đây và lên Linh Quy Pháp Ấn, tôi cảm nhận một tấm lòng rất chân thiện, qua sự chia sẻ của thầy thì tôi mới hiểu được tại sao nơi gọi là chánh điện lại đơn sơ đến như vậy mà không làm cho nó đẹp đẽ, trang hoàng lộng lẫy nguy nga hơn khiến tôi vô cùng xúc động. Đó là Đức Phật đã từ bỏ tất cả sự hào nhoáng của gia đình, ông xuất thân là một thái tử của hoàng tộc nhưng đã từ bỏ tất cả ngai vàng, địa vị để đến với sự khổ luyện, tu luyện. Ông đã tu luyện rất nhiều, có lúc đúng có lúc sai nhưng cuối cùng cũng ngộ ra được điều tốt lành, ông đã từ bỏ tất cả để đến thiên nhiên, tự nhiên, từ bỏ bản ngã chính mình. Tôi đã hiểu ra ý nghĩa chánh điện của Linh Quy Pháp Ấn là như vậy nên tôi rất cảm động.

Thầy Minh Thành cũng chia sẻ rằng ở chùa không cúng hoa vì hoa sớm nở chiều tàn, thay vào đó cúng bằng những cành trúc sẽ sống mãi với thời gian và gắn với thiên nhiên, có lẽ đó chính là những điều mà tôi cảm nhận rất đầy đủ và sâu sắc từ tinh thần gốc của Đức Phật. Tôi cũng chia sẻ với thầy Minh Thành tại sao Linh Quy Pháp Ấn khiến tôi xúc động đến như vậy, vì tôi đi rất nhiều các ngôi chùa từ khắp nơi trên thế giới, những nơi đó đều có giá trị riêng của nó nhưng hình như kinh tế thị trường đã làm thay đổi một số suy nghĩ của một số quý thầy và điều đó làm cho hình ảnh của Đức Phật không còn nguyên vẹn. Đó là điều tôi muốn chia sẻ, chính bản thân tôi cảm nhận được điều đó. Nhân đây tôi cũng xin cám ơn quý thầy, quý cô và nhà chùa đã đón tiếp gia đình hết sức trọng thị và ấm áp.

Tôi cũng xin có một vài câu hỏi xin quý thầy, quý cô, các cô các bác nếu biết thì giải thích giùm. Tôi học hành cũng không bao nhiêu, không hiểu nhiều về Phật pháp nhưng tôi cũng có thắc mắc một vài điểm mà chưa có câu trả lời. Một câu hỏi rất ngớ ngẩn tôi xin được hỏi:

- Dân gian người ta hay nói sợ ma, vậy có ma hay không? Đức Phật có nói đến lục đạo luân hồi thì ma là biến hình, là hình bóng nào trong lục đạo luân hồi đó nếu có ma, vậy thì có ma hay không? Ngạ quỷ là ai, là gì, ở cõi nào, thế giới nào, ở trạng thái nào? Niết-bàn có phải là một nơi chốn không hay đó chỉ là một trạng thái của tâm và trạng thái ấy được diễn giải như thế nào trong tâm thức con người?

- Có những quan niệm trong đó Bà-la-môn cho rằng Đức Phật đã giảng dạy những bài pháp cho chúng sanh để tự giải thoát mình, họ nói đó là quan niệm ích kỉ, chỉ biết đến bản thân mình. Liên hệ đến thời buổi hiện nay, nếu trường hợp ta học cái này, ta tự giải thoát ta thì sự vươn lên, sự đấu tranh vươn lên trong xã hội bây giờ để giữ đất nước, giữ Tổ quốc, giữ gia đình, giữ làng quê chúng ta như thế nào để gắn với những giáo pháp của đạo Phật?

Sư phụ:

Đức Phật được gọi là bậc tri giả, bậc kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, tức là bậc thấy biết cùng tột, không còn điều gì trong nhân sinh vũ trụ này mà Đức Phật không thấu hiểu. Chữ Chánh Đẳng Chánh Giác tức là một sự thấy biết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của thân tâm, vũ trụ, đời sống và thế giới. Chữ Chánh Đẳng Chánh Giác là thấy biết chân chánh, chính xác, đúng đắn tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của nội tâm, của thân thể, đời sống và của thế giới. Thành ra sự giáo hóa của Đức Phật là một sự giáo hóa đại viên mãn, không phải là khoa học thế gian. Khoa học thế gian là học khoa nào biết khoa đó, khoa khác không biết, còn sự giác ngộ của Đức Phật là sự giác ngộ đồng điều, đầy đủ, viên mãn, trọn vẹn tất cả mọi khía cạnh của thân tâm và thế giới. Trong gia đình hay các Phật tử mới đến tham dự thì tâm mình là gì, mình có biết về tâm mình không? Mình hay nói "tâm tôi…", như vậy tâm đó là cái gì? Đây là điều hết sức gần gũi, thiết thực và quan trọng, mình đã hiểu được tâm mình chưa? Con mời chú chia sẻ, đây là sự đàm đạo, hiểu sao thì cứ chia sẻ như vậy, không sao hết.

Phật tử 1: Tôi chưa hiểu tâm mình là cái gì. Cho nên hôm qua được mời dự buổi hành thiền, tôi nghe thầy Pháp Nghĩa có nói rằng "chú ơi, chú có biết thiền là gì không?", đây là lần đầu tiên tôi được tham dự nên tôi cũng không biết thiền là gì, thực sự tôi không biết khái niệm thiền là gì. Lát sau tôi có chia sẻ với thầy Pháp Nghĩa, trước đây tôi được đọc một bài thơ của giáo sư, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, khi còn trẻ ông bị ung thư phổi nên phải cắt ¾ lá phổi của mình, sau thời gian nghiên cứu ông đã làm bài thơ về vấn đề tập thở.

Thở vào thì phình bụng,

Thở ra thì thóp bụng,

Hai vai bất động,

Tay chân thả lỏng,

Tim chậm sâu đều,

Tập trung theo dõi

Luồn ra luồn vào

Bình thường qua mũi

Khi gấp qua mồm

Ở đâu cũng được

Lúc nào cũng được.

Tôi thấy bài thơ này cũng gần giống với buổi tập thiền hôm nay mà thầy Pháp Nghĩa đã hướng dẫn tôi. Tôi nghĩ Đức Phật dạy thiền rồi bài thơ của bác sĩ Viện chắc cũng học ở đâu đó của Đức Phật, rồi học đâu đó một chút của Yoga, học ở đâu đó một chút của khí công. Tôi mới hỏi thầy Pháp Nghĩa thiền là như thế chứ tôi cũng chưa biết là gì, hôm nay tôi đã được rõ hơn. Bây giờ thầy hỏi tâm là gì, tôi cũng rất bất ngờ và cũng chưa hiểu tâm là gì, xin thầy chỉ giáo thêm.

Nam mô A-di-đà Phật. Con có duyên đến Phật pháp cũng đã lâu nhưng thật sự để hiểu sâu về giáo pháp của Ngài thì chưa nhiều. Con chỉ nghĩ đơn giản tâm là một tâm thức, là những dòng suy nghĩ, cảm nhận về xung quanh, về hiện vật và con người. Nói chung là cảm nhận, gồm có mắt; mũi; lưỡi; tai… đại khái là những bộ phận trên cơ thể mình cảm nhận và đi kèm với nó là não bộ của con người, cái suy nghĩ, nhận biết của mỗi con người là tâm. Con nghĩ đơn giản là vậy.

Sư Phụ:

Đây là điều quan trọng nhất chúng ta cần tìm hiểu. Nếu không biết tâm là gì thì không thể tu tâm được. Không tu tâm được tức là không chăm sóc được tâm mình, vì vậy tâm bệnh rất nhiều. Suy nhược cũng có thể do bệnh tâm, những phiền não cũng là bệnh của tâm, những sự đau khổ cũng là bệnh của tâm, những tham muốn thúc giục bên trong cũng là bệnh của tâm, những sự nóng giận, bực tức, sân hận, hận thù cũng là bệnh của tâm. Nếu không biết tâm là gì thì không thể chăm sóc cho tâm được, không chăm sóc được thì tâm sẽ bị tàn phá, bị đau khổ, bị phiền não, bị bệnh tật. Cho nên đây là điều hết sức cần thiết quan trọng cần tìm hiểu.

Thật ra Đức Phật giảng pháp không có gì xa vời, sự chứng ngộ của Phật cũng không có gì viễn vong, chính là sự thấy biết một cách chính xác, đầy đủ, trọn vẹn tất cả mọi khía cạnh, góc độ của thân tâm, vì vậy sự học Phật chân chánh là sự học để hiểu chính mình, vừa rồi cô có chia sẻ sự suy nghĩ và cảm nhận là tâm. Có những nhà khoa học, bác học nói rằng tôi nghĩ thì đó là tôi, tôi nhận thức thì đó là tôi nhưng tất cả những phát biểu đó, những suy nghĩ, hiểu biết, nhận định đó là của mình chứ không phải của một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Sự giác ngộ của Đức Phật thì tâm gồm bốn thành phần:

Cảm giác: Thọ.

Hình bóng nội tâm: Tưởng.

Suy nghĩ: Hành.

Nhận thức, rõ biết: Thức.

Cô chú ngồi tĩnh lặng nghe nhạc thiền, bưng chén trà uống, tiếng chim bên ngoài hót, không khí trong lành nên cảm giác lúc đó dễ chịu, đó chính là cảm thọ, là cảm giác. Lúc đó trong tâm có những hình bóng, suy nghĩ và mình rõ biết được những điều đó, như vậy ngũ uẩn này luôn diễn ra từng giây từng phút, từng ngày từng giờ trong tâm, chẳng qua trước đây do mình không nhận biết được.

Chú nói chú đã từng đi qua Ấn Độ, đến Bồ đề đạo tràng, khi nói về Bồ đề đạo tràng thì trong tâm sẽ có hình bóng mờ mờ của Bồ đề đạo tràng hiện ra, đó gọi là tưởng; có những suy nghĩ về Bồ đề đạo tràng là hành; khi hình bóng, suy nghĩ sanh khởi, mình nhận biết được đang có cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó là thức, tức là sự rõ biết những cảm giác, nghĩ tưởng.

Mời cô chú nhắm mắt lại nhớ về người mình thương nhất, có hình bóng người đó hiện ra là tưởng, có những suy nghĩ về người đó là hành, có cảm giác dễ chịu thương mến là thọ và có sự rõ biết đang có hình bóng, những suy nghĩ, cảm giác đó là thức. Cô chú có giận ai không? Có người nào làm cho mình khổ, bực tức không? Con mời cô chú nhắm mắt lại nhớ về người làm cho mình bực bội nhất. Khi nhớ thì có hình bóng người đó hiện ra, hình bóng đó là tưởng, có những suy nghĩ về người đó là hành, có những cảm giác khó chịu là thọ, mình có sự rõ biết đang có hình bóng, suy nghĩ, cảm giác khó chịu thì đó là thức. Đây là cánh cửa để bước vào tạng kinh Nikāya, cũng là cánh cửa để bước vào nội tâm của mình.

Hình bóng, những suy nghĩ lầm thầm, những cảm giác và sự rõ biết nhận thức là tâm mình. Sáng hôm nay cô chú ăn bông lan ngọt, khi nói về bánh bông lan sẽ có hình ảnh cái bánh hiện ra trong đầu đó là tưởng, mình có cảm giác ngọt thơm là thọ, có những suy nghĩ về cái bánh đó là hành, mình nhận thức rằng mình đang có hình bóng, có suy nghĩ, cảm thọ về bánh bông lan là thức. Hình bóng, cảm giác, những lời nói lầm thầm, suy nghĩ và mình biết được những điều đó là điều mà Đức Phật chứng ngộ về bốn phương diện, bốn góc độ, bốn sự vận hành hoạt động bên trong của mình gọi là tâm. Khi nhớ về bánh bông lan hay nhớ về người thương sẽ có cảm giác dễ chịu, ngọt ngào, mến thích. Khi nhớ về người làm cho mình khổ đau, tức giận có những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó làm cho mình khó chịu, đó cũng là tham và sân. Những hình bóng, suy nghĩ, những cảm giác dễ chịu êm ái, thích thú, quyến luyến sẽ có tham ái trong đó. Những hình bóng, suy nghĩ, những cảm giác khó chịu sẽ có sân, bực bội, không muốn. Đức Phật chỉ cho mình biết rằng tham và sân nằm trong cảm giác, trong những hình bóng, suy nghĩ nhưng cảm thọ, cảm giác là nơi mình nhìn thấy tham sân rõ nhất. Sự tu mà Đức Phật dạy là sự nội quán, nội soi, ngồi thiền là để cảm nhận được điều đó, để nhìn thấy bên trong tâm mình đang có những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác gì. Nếu những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ đó là xấu ác thì đánh đuổi nó ra, không chấp nhận, nếu trong đó có những hình bóng, cảm giác như Bồ đề đạo tràng là nơi thiêng liêng vĩ đại của thế giới, của hành tinh này, nơi mở ra khơi nguồn cho dòng chánh pháp suốt 3000 năm nay thì đó là hình bóng thiện, những suy nghĩ, cảm giác đó là thiện thì mình phát huy, duy trì, tu là như vậy đó. Tức là những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác bất thiện thì đánh đuổi, còn những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác thiện thì làm cho phát triển, tăng trưởng quảng đại thì đó gọi là tu tâm.

Phải biết tâm là gì thì mới tu sửa, điều chỉnh; còn chưa biết nó là gì thì làm sao tu tâm được. Phải thấy được chiếc xe rồi mới cầm xe trên tay, dắt xe rồi mới sửa xe, còn giờ nói sửa xe mà xe ở đâu không thấy không biết, mình không chạm vào xe được thì làm sao sửa xe? Tu tâm tức là sửa cái tâm nhưng phải biết tâm là gì trước, cho nên sự tu tập đầu tiên tại Linh Quy Pháp Ấn là phải biết tâm là gì, đó là sự nhận diện ngũ uẩn, nhận diện thân tâm. Con vẫn chưa trả lời những câu hỏi của chú là vì cái này giải quyết xong thì những câu hỏi kia mới có thể giải quyết được, Đức Phật đã nói Ta chưa tuyên bố chứng vô thượng Chánh Đẳng Chánh giác khi ta chưa hoàn toàn thấu triệt một cách trọn vẹn viên mãn, đầy đủ tất cả mọi khía cạnh thân tâm về ngũ uẩn của Ta, khi nào Ta hoàn toàn thấu hiểu, thấy biết trọn vẹn tường tận viên mãn đầy đủ tất cả sự thật của thân tâm này thì lúc đó Ta mới tuyên bố Ta đã đạt được giác ngộ cứu cánh cùng cực, tối thượng giữa nhân thiên.

Này các Tỳ-kheo, cho đến khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta chưa như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta không tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

 Nhưng này các Tỳ-kheo, khi nào đối với năm thủ uẩn này, Ta như thật thắng tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly, thời này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng Ta đã giác ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác đối với thế giới gồm có Thiên, Ma, Phạm thiên, đối với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người.

Và tri kiến như sau khởi lên nơi Ta: "Tâm Ta giải thoát, bất động. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa". (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)

Trí tuệ về cảm thọ

Sự giác ngộ của Đức Phật chính là sự thấy biết về ngũ uẩn, hôm nay chúng ta đang chia sẻ về bốn uẩn, bốn nhóm, bốn thành phần, bốn phạm trù của nội tâm. Cái mà mình gọi là tâm có khi từ khi sanh ra cho đến ngày chết cũng không biết thật sự tâm là gì, cho nên Đức Phật nói tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, ở nơi cảm xúc, cảm giác, mình muốn biết tâm có gì chỉ cần nhìn lại cảm giác sẽ biết ngay.

Này chư Hiền, tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).

Ví dụ một người đó đang giận thì cảm giác lúc đó nóng lên, lồng ngực phừng lên, mặt đỏ, lỗ tai lùng bùng, mắt mờ, gương mặt đổi sắc thì chính là cảm thọ dâng lên, phừng lên rồi cháy. Nếu có tu tập theo lời Đức Phật dạy khi sống phải luôn nhìn lại cảm giác của mình để nhiếp phục những cảm giác sân hận, tức giận, bừng cháy thì sẽ hết khổ, bớt khổ và diệt khổ, đó gọi là quán thọ trên các thọ. Thọ là cảm xúc, cảm giác, đó là sự tu tập hết sức thực tế, cụ thể, rõ ràng, không có một cái gì xa xôi, huyễn hoặc, không phải cầu xin một ai mà chính là thấy cảm giác của mình, cảm giác này là cảm giác tiêu cực, đốt mình đốt người, đây là cảm giác thiêu rụi làm đau khổ cho mình, đau khổ cho vợ con, người thân của mình, mình không chấp nhận cảm giác này và Đức Phật chỉ cho mình cách để dập tắt nó, mỗi một cảm giác tiêu cực được Phật chỉ cho cách trị tương ứng giống như bệnh cảm thì uống thuốc cảm, bệnh tim thì uống thuốc tim. Không phải khi vào tu là cứ vào ngồi thở, rồi niệm là xong, Phật không dạy như vậy, bệnh nào Phật cho thuốc đó. Bệnh sân hận, tức giận thì Đức Phật dạy dùng cảm giác thương, hiểu, tha thứ, không phải thương cho người ta mà còn thương cho mình trước, Phật dạy thật sự rất tuyệt vời.

Thật là đáng thương cho cảm giác thiêu đốt này, cảm giác phựt cháy này. Mi đã thiêu đốt ta, làm khổ ta 50-60 năm nay rồi, bây giờ còn chưa vừa lòng, chưa đủ hay sao? Ngươi đã từng đốt cháy ta, đốt cháy những người thân thương nhất của ta. Ta nhàm chán cảm giác này quá rồi, ta ngao ngán cảm giác này quá rồi. Ngươi hãy lắng dịu đi, mát mẻ đi, ngươi hãy tan biến khỏi thân tâm ta đi, ngươi hãy mát lạnh đi chứ đừng hủy hoại, đốt cháy nữa. Chính cảm giác này hại mình, hại người, khổ mình, khổ người, giết mình, giết người. Ta không chấp nhận cảm giác này, ta muốn từ bỏ cảm giác này, ngươi hãy ra khỏi thân tâm của ta, ngươi hãy tan biến hoàn toàn thành mây, thành khói, thành hư không đi.

Tác ý như vậy sẽ thấy trong lòng ngực lắng dịu, giống như bỏ viên thuốc sủi vào ly nước, sôi bọt lên tan ra, cuối cùng hòa tan thành một ly nước trong. Bằng sự nhiếp phục cảm thọ, bằng sự tác ý, tức là sự tác động tâm ý, không chấp chứa, không nuôi dưỡng, không để cho cảm giác sân tăng trưởng, phát triển mà phải đánh đuổi, đào thải, loại trừ cảm giác đó, lúc đó mình sẽ thấy có cảm giác tan ra nhẹ nhàng ngay lồng ngực. Nếu tác ý vậy mà vẫn chưa được thì phải tác động tâm ý thêm nữa.

Người đang giận đó họ cũng đau khổ, họ cũng đang bị thiêu đốt, họ cũng là nạn nhân của cơn giận, mình cũng là nạn nhân của cơn giận. Tất cả chúng ta là những nạn nhân đáng thương của những ngọn lửa bừng bốc, thiêu đốt này. Thật là đáng thương cho chúng ta! Tất cả chúng ta chạy theo những cảm giác thiêu đốt này để làm khổ cho nhau, hành hạ nhau, hành tội, hành xác nhau. Thật là tội nghiệp! Tại sao chúng ta phải đi theo những cảm giác này? Tại sao chúng ta phải phục vụ cho những cảm giác đốt cháy này? Tại soa mình lại ngu muội, si mê như vậy? Tại sao mình lại làm khổ mình như vậy? Tất cả chúng ta là nạn nhân của cảm giác sân hận này.

Trải tình thương cho mình rồi thương người làm mình giận, mình là kẻ đáng thương, người đó là kẻ đáng thương, chúng ta cùng là kẻ đáng thương, là nạn nhân của cảm giác sân hận này nên hãy tha thứ. Trải tâm từ lan tỏa ra bao trùm hết người đó, bao trùm mình, chúng ta cảm nhận cảm giác tình thương lan rộng ra hết nơi này, lan rộng ra hết thành thị, phố phường. Sự thực tập như vậy được Đức Phật gọi là thực tập tâm từ an trú vững chắc, thành căn cứ địa, thành cỗ xe, tu tập tâm từ và tình thương nhuần nhuyễn, vững chắc chính là phương pháp hóa giải tâm sân hận. Chúng ta không chấp nhận cảm giác đó, nếu mình không biết cảm giác thì làm sao đánh đuổi cảm giác xấu ác được, phải biết cảm giác là gì trước.

Cho nên đầu tiên của sự tu tập trong kinh Nikāya là nhận diện các cảm giác, nhận diện ngũ uẩn, phải biết tên tuổi, mặt mũi, tánh tình thì mới có thể điều khiển, đối trị được nó. Những cảm giác tham sân si, bản ngã chính là Khổ Tập Thánh Đế, là nguyên nhân của sự đau khổ trên cuộc đời này, chứ không phải mở kinh ra đọc là xong. Từ lời kinh mình soi ngược lại bên trong cảm giác để thấy nguyên nhân khổ nằm trong đó, từ đó chặn đứng lại nguyên nhân của khổ thì bớt khổ, giảm khổ để đi đến chỗ hết khổ, Đức Phật gọi là đoạn giảm, giảm từ từ rồi đoạn luôn, hết tham sân si thì đó là Niết-bàn, tức là một cái tâm hoàn toàn mát lạnh, thanh lương, tịch tịnh, bình an. Còn tham hoài, những cảm giác cứ thúc giục, đòi hỏi, khao khát làm cho mình tìm hoài, kiếm hoài thì khổ, cứ thiêu đốt hoài là khổ, cứ u mê hoài, lờ mờ, không biết gì về tự thân tâm chính mình là khổ. Lúc nào cũng muốn ta là tài giỏi, là hơn thì ở trong tham sân si, vô minh, bản ngã, trong cái mê hồn trận, trong ngục tù. Còn Niết-bàn là sự thoát ra khỏi tất cả những cái đó, một cái tâm hoàn toàn tự do, không còn bị chi phối bởi những tham dục, sân hận, si mê, bản ngã, đó là một cái tâm thênh thanh bao la, trí tuệ sáng suốt bất động bình an. Đi ra khỏi những cảm giác tham, sân, si, vô minh, bản ngã… là Niết-bàn. Còn ở trong những cảm giác đó thì những hình thái của những con thú vật tiếp tục được sanh khởi, hình thái của những người phải lê lết vì tật nguyền, bệnh đau, mất trí, xiềng xích vì bị tâm thần, những cảnh cùi hủi còn tái diễn. Những ác nghiệp của những cảm giác đó thúc đẩy để đưa đến những hình dáng đó.

Chính những cảm giác thúc đẩy để rơi vào thân cô hồn vất vơ vất vưởng, cô hồn hay ngạ quỷ không có thân xác thịt như mình. Khi nằm chiêm bao thấy mình đi Hà Nội hay Thái Lan, đi chơi, đi ăn uống cũng có cảm giác y như thật hoặc mình thấy mình đang cãi lộn và mình có cảm giác tức giận y như vậy, đời sống của ma và ngạ quỷ cũng y như vậy. Giống như khi nằm chiêm bao, đó là thế giới sắc giới không có thân thịt như mình nhưng có những bóng mờ, có thọ; tưởng; hành; thức, có những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và sự nhận thức rõ biết nhưng không có thân thịt, đó là sắc giới là đời sống của ma, của ngạ quỷ, cô hồn vất vơ vất vưởng, vẫn có sự đau khổ hoặc vui sướng. Tất cả những đời sống như con người, thú vật, cô hồn vất vơ vất vưởng hoặc chư thiên, chư thần đều xuất phát từ thọ; tưởng; hành; thức, từ nơi cảm giác, nghĩ tưởng là thiện hay bất thiện, tội hay phước, nghiệp đen hay nghiệp trắng. Sự huân tập những suy nghĩ, cảm giác đó đi theo chiều xuống thì đi vào bóng tối địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thú vật và những cô hồn, trong địa ngục thân thể cũng giống y như khi mình nằm chiêm bao, cũng có cảm giác đau khổ khốc liệt kinh hoàng. Nếu mình huân tập những suy nghĩ, cảm giác hiền thiện, nghiệp trắng tốt lành, từ, bi, hỷ, xả, vì mọi người mà hi sinh, nghĩ tới sự an lạc, hạnh phúc cho mọi người thì khi mình ra đi tương ứng với nghiệp đó sẽ đưa mình lên những cảnh giới tương thích với tâm thức đó, sanh ra làm người đứng ở trên thiên hạ, người quyền uy, phước đức, trí tuệ hoặc sanh ra làm người thống lãnh chư thiên và 33 tầng trời.

Tất cả những sự lên xuống, khổ hay lạc đều từ nơi nghiệp, mà nghiệp là từ những cảm giác, suy nghĩ và tưởng đó. Vì vậy, Đức Phật nói tu tập là luôn nhìn lại những cảm giác, nhìn lại thân thể này để kiểm soát, nhìn lại nội tâm, những suy nghĩ, hình bóng, sự nhận thức để kiểm soát nó và xem bên trong có những gì là ác bất thiện pháp thì đánh đuổi, tẩy sạch, trừ diệt, đoạn tận, còn thiện thì phát huy, tăng trưởng, làm cho nó lớn mạnh, đó cũng là Tứ Chánh Cần.

Phật pháp thiết thực, hiện tại

Thành ra sự tu học của chúng ta tạm gọi có hai pháp. Một pháp là nhân thiên pháp, Đức Phật dạy những thiện pháp như vậy dành cho những chúng sanh còn muốn luân hồi, chưa muốn chứng nhập Niết-bàn. Dạng thứ hai là dành cho những vị tu muốn thành tựu thánh quả để chấm dứt luân hồi sanh tử thì Đức Phật dạy phương pháp cứu cánh cùng cực. Chứ không phải tu theo Phật là ích kỉ chỉ biết suy nghĩ cho mình.

Có một vị Bà-la-môn đến hỏi Đức Phật, bạch Tôn giả Gotama, thế nào là Phật pháp thiết thực hiện tại? Như thế nào mà Ngài nói là giáo pháp thiết thực hiện tại, thực tế, có hiệu quả tức thời? Đức Phật nói trong nội tâm ông khởi lên tham muốn thì ông có biết nội tâm ông có tham không? Vị Bà-la-môn nói biết. Phật hỏi tiếp vậy cái tham dục đó có làm khổ cho mình, làm khổ cho người không? Vị Bà-la-môn trả lời có, Đức Phật nói đó là thiết thực hiện tại. Đức Phật hỏi tiếp vậy trong nội tâm ông có sân, có những cảm giác thiêu đốt, nóng bức thì ông có biết không? Dạ biết. Bây giờ những cảm giác sân này có làm khổ mình, làm khổ người, làm đau mình, làm đau người, hành hạ mình, hành hạ người không? Đức Phật nói đó là thiết thực hiện tại. Trong thân tâm ông có sự si mê, không tỉnh táo sáng suốt để nhận định vấn đề một cách đúng đắn thì ông có biết ông đang có si không? Dạ có. Những cái si này làm khổ mình, khổ người phải không? Dạ đúng, một suy nghĩ sai, một hành động sai, một lời nói trong vô minh có thể gây hậu quả khôn lường, có khi hối hận suốt đời, Đức Phật nói đó là thiết thực hiện tại. Đức Phật nói một khi nội tâm ông nhiếp phục được cái tham đó, chặn đứng được cái sân, đánh đuổi được si mê để cái tâm sáng suốt tỉnh táo thì ông sẽ không làm khổ mình, khổ cho người đúng không? Dạ đúng rồi, Phật nói đó là thiết thực hiện tại.

Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vị Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:

- Pháp là thiết thực hiện tại, pháp là thiết thực hiện tại, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu?

- Vậy này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông có thể kham nhẫn thời hãy trả lời; Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm có tham ái, Ông có biết: "Nội tâm ta có tham ái"? Hay nội tâm không có tham ái. Ông có biết: "Nội tâm ta không có tham ái"?

- Thưa có, thưa Tôn giả.

- Này Bà-la-môn, nội tâm có tham ái, Ông có biết: "Nội tâm ta có tham ái". Hay nội tâm không có tham ái, Ông có biết: "Nội tâm ta không có tham ái. "Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại... Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm ta có si"? Hay nội tâm không có si, Ông có biết: "Nội tâm ta không có si"?

-Thưa có, thưa Tôn giả.

- Này Bà-la-môn, nội tâm có si, Ông có biết: "Nội tâm ta có si." Hay nội tâm không có si, Ông có biết: "Nội tâm ta không có si." Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại...Ông nghĩ thế nào, này Bà-la-môn? Nội tâm có thân uế..., hay nội tâm có khẩu uế...hay nội tâm có ý uế, Ông có biết: "Nội tâm ta có ý uế"? Hay nội tâm không có ý uế, Ông có biết: "Nội tâm ta không có ý uế..."?

- Thưa có, thưa Tôn giả.

- Này Bà-la-môn, nội tâm có ý uế, Ông có biết: "Nội tâm ta có ý uế". Hay nội tâm không có ý uế, Ông có biết: "Nội tâm ta không có ý uế". Như vậy này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.

- Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng. (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (VI) (48) Cho Ðời Này (2))

Như vậy tu đâu phải là ích kỉ, vì mình nhiếp phục được tham dục bất chánh của mình thì gia đình mình rất đỡ khổ. Mình có gia đình rồi mà nhìn cô gái đẹp lại thích thì vợ con mình có khổ không? Có sống trong bất an không? Nhưng nếu tự thân người đó biết nhiếp phục những dục vọng đó thì sẽ đem lại lợi ích cho mình, lợi ích cho gia đình, lợi ích cho mọi người, tất cả đều được bình an. Đó là lợi tha, chứ không phải lợi tha là phải đi làm cái gì to lớn.

Đức Phật nói lợi tha là sự nhiếp phục được những tham dục, sân hận, si mê, bản ngã của chính mình, ngay chỗ đó là lợi mình, lợi người, lợi ích cho cả hai, đem lại hạnh phúc, an lạc, đem lại lợi ích lâu dài cho tự mình và những người xung quanh, chứ không phải tu theo Phật là ích kỉ. Chính sự nhiếp phục tham sân si là hồng tâm, là cốt lõi của giáo pháp, bằng chứng là có những người lợi dụng việc làm từ thiện để trục lợi, như vậy trên mặt là thiện nhưng bên trong là ác, vì trong tâm còn mầm móng của tham, thành ra thấy là thiện nhưng lại là bất thiện, có khi mình thấy người đó không tốt mà bên trong lại tốt mà mình không biết vì mình không đủ trí huệ. Mình thấy người này sao lạnh lùng, nhạt nhẽo như nước lạnh nhưng lại là người tốt, không hại người. Trang Tử có câu:

Quân tử chi giao đạm nhược thủy,

Tiểu nhân chi giao cam nhược lễ.

Tuân tử đạm dĩ thân,

Tiểu nhân cam dĩ tuyệt.

Câu trên ý nói, tình cảm giao hảo của người quân tử nhạt như nước lã, trong khi của kẻ tiểu nhân lại ngọt như rượu đào. Đối xử từ người quân tử tuy đạm bạc nhưng lâu bền, kẻ tiểu nhân tuy vồ vập nhưng dễ đến tuyệt giao. Vô sự hiến ân cần, phi gian tức đạo dùng để chỉ những kẻ tự nhiên ân cần thì không phải kẻ gian cũng là kẻ trộm, coi chừng sự ân cần này có mưu lợi, thủ đoạn, mưu tính trong này. Cho nên chính sự trí tuệ giác ngộ của Đức Phật mới chỉ ra cho mình biết cái nào thật sự là lợi, cái nào thật sự là hại, cái nào chân chánh là thiện, cái nào chân chánh là ác. Còn cái nhìn của mình là cái nhìn của phàm phu, mình chỉ toàn nhìn ở bề ngoài rồi mình tưởng là vậy nhưng thật sự không phải. Đức Phật nói sự tu học thật sự của những người con Đức Phật là quay lại thân tâm để nhìn thấy những cảm giác tham sân si, những sự thúc giục bên trong, những bản ngã ta đây rồi nhiếp phục, tẩy sạch, đoạn tận nó thì đó là cốt lõi, là hồng tâm của giáo pháp. Từ sự nhiếp phục, tẩy sạch đó mới tăng trưởng tình thương được rộng mở, mới tu được từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm, còn tham sân si mà cái miệng nói từ bi nhưng chưa chắc là từ, cái miệng nói hỷ xả nhưng trong tâm chưa chắc. Cho nên muốn tu tập thiện pháp một cách rộng rãi, đầy đủ, viên mãn thì trước tiên phải làm sạch nội tâm rồi sau đó mới làm những thiện pháp, phải xúc rửa bình sữa cho sạch mới đựng được sữa ngon, mát lành. Trong nội tâm còn đầy rẫy tham sân si, bản ngã mà nói từ bi là điều không tưởng, một lát sau cũng len lỏi, luồn lách, gian xảo, lẫn lộn, cuối cùng khi đủ nhân đủ duyên cũng sẽ bung ra những tham sân si, bản ngã ích kỉ đó, vì vậy điều chính yếu trong đạo Phật vẫn là nhiếp phục và đoạn diệt tham sân si, cái này mới đưa chúng sanh đến chỗ bớt khổ, giảm khổ và hết khổ, không có con đường thứ hai. Muốn đoạn tận được tham sân si thì phải biết tham sân si nằm ở đâu, nó nằm ngay trong cảm giác, cảm xúc, cảm thọ chính mình. Để thấy được tham sân si nằm trong cảm thọ thì phải thường xuyên để ý trở lại cảm xúc của mình, việc ngồi thiền là để nhìn lại cảm xúc, chăm sóc cho cảm giác vì trước nay chúng ta sống rất vô tư, không thương mình, không biết chăm sóc cho những cảm xúc của mình, cứ làm cho cảm xúc mình đau khổ, bực bội, nóng nực, nặng nề, sầu, bi, ưu, não. Mình ở trong đó rồi lòng vòng trong đó không biết lối ra vì mình không biết đây chỉ là cảm xúc, chỉ là thọ uẩn. Mình cho rằng đó là mình, có những người thù hận 15-20 năm, có khi suốt đời không nhìn mặt nhau, họ chất chứa những cảm thọ đó, những cảm xúc đau khổ thiêu đốt như vậy.

Thật là đáng thương cho những người không biết tu!

Chất chứa những hình bóng, suy nghĩ trong tâm là chúng ta đang tự tàn phá thân tâm của mình. Sự tu tập là chăm sóc cảm xúc, cảm thọ của mình, luôn thực tập những cảm thọ an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, ngọt ngào, thương yêu và tha thứ. Mình tẩy sạch, đánh đuổi những cảm thọ bất thiện, những cảm xúc ác, quét nó ra khỏi căn nhà nội tâm của mình để căn nhà nội tâm được sạch sẽ. Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm, mình sẽ có bữa cơm của tâm hồn hết sức thơm ngon, mình sẽ có một nội tâm hết sức sạch sẽ mát mẻ, gọn gàng, mình sẽ có đời sống bình an, hạnh phúc đúng theo tinh thần giáo pháp của Đức Phật.

Trình pháp và thắc mắc tu học

Phật tử 1:

Tôi cảm ơn thầy đã có những chia sẻ về những tư tưởng của Đức Phật. Thầy nói về Tứ Diệu Đế, về Ngũ Uẩn. Tôi nghe định nghĩa, khái niệm thầy nói dễ cảm nhận hơn là tôi đọc trong những cuốn sách, đọc đến Tứ Diệu Đế thì tôi còn hiểu được chứ đọc đến Ngũ Uẩn thì bắt đầu khó hiểu, đọc tới đọc lui cũng chưa hiểu gì nhiều, hôm nay tôi cũng chưa hiểu nhiều nhưng hiểu hơn một chút vì khái niệm của thầy đơn giản hơn, gắn bó và gần gũi hơn với thực tiễn cuộc sống. Cám ơn thầy rất nhiều đã cho tôi biết được khái niệm rất gần gũi của Ngũ Uẩn, nhưng với kinh nghiệm tu tập nhiều năm của thầy xin thầy chia sẻ thêm chút ít về kinh nghiệm xóa bỏ sân hận trong lòng. Ông bà ta có câu Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng thì mình phải làm sao đây, thưa thầy? Mình muốn bỏ qua, muốn an trú, mình muốn yên lặng, an lành mà họ cứ làm tới hoài, họ không được học Phật pháp như mình nhưng cho dù có học thì họ cũng làm lơ, bỏ qua vì họ muốn đạt được điều họ mong muốn, họ cứ lấn tới thì lúc đó mình phải làm sao? Mình từ bỏ? Bỏ qua? Lờ nó đi hay sao? Ý này của tôi cũng muốn nói trong cuộc sống hiện tại bây giờ, nhất là trong thời buổi 4.0, các cháu, các em phải học hành tích cực hơn nhưng tích cực thì phải có tranh đấu chứ không thể xề xòa, làm qua loa, như vậy thì làm sao phát triển được? Xin quay lại một chút về thời điểm cách đây mấy ngàn năm thời Đức Phật, Đức Phật hình như biết được những đạo phái khác muốn tiêu diệt hoàng cung, triều đình, đế chế vua cha nhưng Đức Phật không có một động thái gì, không biết điều này có đúng không và có phải điều đó là cái nghiệp của con người, cái nghiệp của gia đình đó, cái nghiệp của hoàng gia đó phải chấp nhận sự tàn phá và diệt vong đó không? Nếu là nghiệp thì phải có số phận, mà đã có số phận thì làm sao để thay đổi được số phận? Cho nên tất cả những vấn đề tu tập đó có thay đổi được số phận hay không? Đó là những câu hỏi mà tôi cứ lẩn quẩn thắc mắc hoài, tôi đọc và tìm kiếm hoài vẫn không lý giải được, như vậy thì có thay đổi được số phận hay không vì nó có liên quan mật thiết với nhau mà, nếu là nghiệp thì phải trả.

Sư phụ: Con thưa chú, từ khi chú lên Linh Quy Pháp Ấn đến nay đã ba năm thì chú có thay đổi không?

Dạ có thay đổi nhiều.

Sư phụ: Đó là tu có khả năng thay đổi.

Thay đổi được cái nghiệp, thay đổi được số phận mà người ta hay nói là cãi số phải không thầy?

Sư phụ: Nghiệp chẳng qua là cái mà mình tập cho nó quen thôi, bây giờ mình không muốn tập nữa thì thay đổi nhưng sự thay đổi của mình phải có sự quyết tâm, quyết liệt, phải có phương pháp đúng đắn, phải nhiệt thành, nỗ lực.

Thầy có nhiều kinh nghiệm tu tập thì phải làm sao để làm được điều đó, chứ tôi cứ nghe Tứ Diệu Đế, Ngũ Uẩn mông lung và khó hiểu quá, bây giờ làm sao áp dụng vào cuộc sống bình thường để an lành hơn, yên ổn hơn?

Phật tử 2:

Thưa thầy, sau buổi lắng nghe thầy thuyết giảng về một số vấn đề mà Phật tử đặt ra thì con cảm nhận thầy thuyết giảng rất dễ hiểu, qua buổi giảng này con đã hiểu thêm được rất nhiều điều. Con xin chân thành cảm ơn thầy, cảm ơn các quý thầy và các quý cô chùa Linh Quy Pháp Ấn. Con kính chúc thầy, các quý thầy, quý cô cùng toàn thể đại chúng được an lạc và tinh tấn tu tập.

Phật tử 3:

Con muốn được chia sẻ suy nghĩ của con về sự băn khoăn vừa nãy của chú. Khi chú nói về việc chúng ta cần phải đấu tranh với người khác để tiến bộ hơn trong cuộc sống, quan trọng vẫn là động cơ để đấu tranh với người khác, đó không phải là động cơ của Bồ đề tâm hay là của Đức Phật. Thực ra mình phải đấu tranh với chính mình để có cuộc sống tốt hơn, với người có phúc đường sẽ tự mở rộng, người khác có muốn đấu tranh với mình cũng không thể đấu tranh được. Còn việc tu sẽ chuyển nghiệp, tất cả mọi người đều biết trong đạo Phật nói về luật nhân quả, thời Đức Phật tại thế ở Ấn có rất nhiều vương quốc đánh nhau, bộ tộc Sakya của Đức Thích-ca Mâu-ni có nguy cơ bị xâm chiếm bởi vương quốc khác thì đó cũng là một cái nghiệp nhưng số phận ở trong tay con người thì vẫn có thể thay đổi được ngay trong hiện tại, đó là gieo trực tiếp nhân tốt lành ngay thời điểm hiện tại thì trong tương lai sẽ có quả tốt lành, vì trong quá khứ nhân xấu đã được gieo thì trong hiện tại quả đã trổ rồi sẽ không thể ngăn được nữa. Nhưng chúng ta có một điều tuyệt vời là chúng ta gieo được quả tốt lành trong hiện tại để tương lai có quả tốt. Đấy là suy nghĩ của con, con cũng xin tri ân tới thầy, các quý thầy, quý cô trong Linh Quy Pháp Ấn, đây là lần đầu tiên con được tới đây nhưng con rất ấn tượng về khung cảnh, có một sự mộc mạc, đơn giản nhưng vẫn đầy sự trân quý, kì diệu. Khi con thấy tượng của Ngài Thích-ca Mâu-ni ở đây dưới ánh đèn vàng, hai bên là hai hàng trúc thì có điều gì đó vô cùng kì diệu trong phút giây con được ngồi thiền ở đây. Con xin gửi lời biết ơn đến thầy trụ trì hôm nay đã trao truyền cho chúng con một bài giảng pháp rất tuyệt vời, giúp con được mở mang suy nghĩ thêm rất nhiều. Xin gửi lời tri ân và biết ơn rất nhiều đến tất cả mọi người ở đây.

Phật tử 4:

Con cũng xin có một vài chia sẻ về một số thắc mắc của chính mình. Con có duyên tiếp xúc với đạo Phật từ bé khi gia đình theo đạo Phật và thường đi chùa, con cũng đọc và tìm hiểu về đạo Phật thì con cũng có một số thắc mắc xin thầy trụ trì giải đáp giúp con ngày hôm nay. Đó là vấn đề liên quan đến câu hỏi của chú vừa nãy và câu trả lời của bạn vừa rồi thì con có một số thắc mắc.

Thứ nhất là về sát sanh, ví dụ khi sinh ra là người lính và nhiệm vụ là phải bảo vệ đất nước, bảo vệ Tổ Quốc, khi có giặc ngoại xăm thì phải đánh đuổi nên người đó phải phạm vào tội lỗi rất lớn trong đạo Phật là sát sanh nhưng nhiệm vụ bảo vệ Tổ Quốc rất thiêng liêng. Vậy việc sát sanh đó có tội lỗi hay không khi mình đang bảo vệ cho Tổ Quốc, bảo vệ cho người dân của mình. Khi chết đi, hy sinh cho Tổ Quốc thì tái sanh vào cõi nào?

Thứ hai là tái sanh của con người, theo Phật pháp mình gieo nhân nào thì gặt quả nấy, làm việc tốt sẽ nhận lại nghiệp tốt, làm việc ác thì phải lãnh nghiệp ác, đôi khi có những em bé sinh ra không biết gì, không hề làm điều gì tội lỗi trong kiếp này, không hề biết kiếp trước mình đã làm những tội lỗi gì nhưng bẩm sinh lại phải chịu những nghiệp ác từ kiếp trước làm cho mồ côi, tàn tật, sống khổ hạnh, vậy có tồn tại công bằng trong quy luật của vũ trụ này hay không? Tại sao trong kiếp sống này mình không được hưởng nghiệp tốt trong một kiếp sống mà lại có sự luân hồi tái sanh, phải lãnh những nghiệp ác của kiếp trước trong khi mình không hề biết mình đã làm những gì trong kiếp đó?

Thứ ba là về số phận của con người, con đọc trong tài liệu về Phật pháp có khái niệm về nghiệp dẫn, nhiều khi người ta biết sai nhưng người ta vẫn cứ lao đầu vào làm những việc sai đó, có những người không có duyên lành với đạo Phật và họ không biết đúng sai như thế nào nên cứ bị nghiệp dẫn, làm những việc sai làm suốt cuộc đời, đó là số phận của họ. Vậy làm thế nào để thay đổi để nghiệp dẫn đó trong khi cái nghiệp cứ lôi kéo họ làm những việc sai trái mãi như vậy, làm thế nào để thay đổi được số phận? Đây là ba câu hỏi con xin phép thầy trụ trì giải đáp giúp con. Con xin cảm ơn rất nhiều.

Soi sáng

Sát sanh

Tu không phải là không biết làm gì hết, không phải là người vô trách nhiệm, không có bổn phận. Người tu là người sống có trách nhiệm, có bổn phận, làm đẹp, sống đẹp trên cuộc đời này, đối với một người lính phải làm tròn bổn phận của người lính.

Còn nói về giữ giới sát sanh nghiêm khắc chỉ dành cho những vị xuất gia đã đem hết cuộc đời đi theo con đường Phạm hạnh, còn trong giới cư sĩ Đức Phật dạy phải có bổn phận với cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, đất nước. Việc cố gắng tác động tâm ý là để từ bỏ sát sanh chứ không phải Phật nói là cấm sát sanh. Trong kinh Nikāya nói rất rõ, người Phật tử cố gắng tác động tâm ý của mình để bỏ sát sanh chứ thật sự từ hôm qua đến giờ mình cũng làm chết nhiều chúng sanh lắm rồi chứ không phải ngồi đây là không sát sanh, cứ nói "con ăn chay là con không có sát sanh" là không đúng, trong món canh nhiều khi có con sâu trôi lềnh bềnh trong đó. Vì vậy Đức Phật giảng dạy là để cho tâm mình không hướng theo chiều sát hại, giết hại, hủy hoại, còn mỗi người có một việc, nếu người đó đã lựa chọn con đường đó thì họ phải có trách nhiệm, bổn phận với con đường mình đã chọn. Nếu nói như mình đặt trường hợp không sát sanh vào người lính thì không ai giữ gìn đất nước thì tu là mất nước hay sao? Không phải vậy, thời vàng son lịch sử của nước ta là thời Lý – Trần, là thời Phật giáo hưng thịnh nhất, gần như là quốc giáo, là thời hoàng kim thời đại của Phật giáo, các vị quốc sư là những bậc thiền sư cao Tăng, nhà vua phải lễ dưới chân các ngài để tôn các ngài làm thầy, vấn đề quan trọng là mình có cố gắng tác ý để bớt sát sanh hay không.

Tái sanh

Thứ hai cô nói đến tái sanh, chúng ta nhìn bằng con mắt thịt chỉ hiểu biết rất ngắn hạn, rất cạn, cái thấy biết của mình rất thiển cận, chỉ cần đưa tờ giấy lên che mắt là mình sẽ không thấy gì phía trước nữa, mình đứa cách người kia ngoài tầm nghe của mình là mình không nghe gì dù cho người ta đang chửi mình thì mình đâu có nổi sân, nhưng nếu tiếng đó ở trong tầm nghe của mình thì mình sẽ sân hận, chẳng hạn như người thân thương của mình đang đau khổ trong các đường ác nhưng mình cũng không biết vì tầm nhận thức của mình rất hạn hẹp cho nên tu học là nương vào trí tuệ giác ngộ của Đức Phật vì Đức Phật thành tựu được tam minh thấy được nhân quả ba đời.

Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, trong sáng, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, không dao động, như vậy, Ta dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh. Ta nhớ đến đời sống quá khứ, một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Ta nhớ rằng: "Tại chỗ kia, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, Ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, Ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, Ta được sanh ra ở đây". Như vậy, Ta nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các nét chi tiết.

Này Bà-la-môn, đây là trong canh một, Ta chứng được minh thứ nhất, vô minh diệt, minh sanh, bóng tối diệt, ánh sáng sanh. Do Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Này Bà-la-môn, đây là sự xuất sanh thứ nhất của Ta, như con gà con ra khỏi vỏ trứng. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (I) Veranjà)

Ví dụ có người ăn chơi mà dùng hoài không hết tiền, mình cứ thắc mắc nhưng không ngờ rằng người này làm việc 40 năm rồi để dành nên giờ xài tiền đến chết cũng không hết, mình chỉ thấy người này ăn chơi phung phí mà không thấy họ đã làm việc cực khổ trước kia rồi tích lũy, gom góp rồi mình than thân trách phận, đời bất công, vì cái thấy của mình chỉ ngang bấy nhiêu đó thôi, 40 năm trước cực khổ gom góp mà mình không thấy, mình chỉ thấy ở hiện tại thôi. Có nhiều người lại quan niệm rằng người hiền lành hay gặp tai nạn còn người xấu ác lại được tốt lành, những cái này là tà kiến, đó là không tin nhân quả. Làm sao người hiền lành lại hay gặp tai nạn? Quan điểm đó là thấy sai, là tà kiến, vì họ không thấy được quá khứ của những người đó mà chỉ thấy ở hiện tại vì vậy nhân quả tới ba đời lận. Vì con mắt của mình không nhìn thấy được sự vận hành của nghiệp, không nhìn thấy vô lượng đời sống trước kia của chúng ta, đâu có ai muốn mình sanh ra bị bệnh đau, bị chất độc màu da cam, đâu có ai muốn mình sanh ra lại rơi vào cảnh ăn xin bò lếch, đâu có ai muốn sanh ra lại trở thành thiểu năng, thiểu trí, đâu có ai muốn vừa sanh ra lại bị bỏ trong hố ga, bỏ trước cổng chùa, trong nghĩa địa. Không ai muốn vậy hết nhưng vì ác nghiệp của quá khứ, những gì mình đã làm thì chính ta là chủ nhân của nghiệp, là bà con của nghiệp, nghiệp là chỗ nương tựa, là bào thai nên giờ ta phải thừa hưởng nghiệp đó.

Có năm sự kiện này, này các Tỳ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?

Ta phải bị già, không thoát khỏi già

Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh

Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết

Tất cả pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt

Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V. Năm Pháp, VI. Phẩm Triền Cái, (VII) (57) Sự Kiện Cần Phải Quan Sát)

Cho nên điều đó là công bằng chứ không phải là bất công, vì trí huệ không đủ nên nhìn thấy bất công chứ đó mới thật sự là công bằng, còn cái mình yêu cầu mới là bất công vì mình không thành tựu thánh trí huệ, không thành tựu sanh tử trí, tam minh để nhìn thấy hết quá khứ họ đã làm, những gì mà bây giờ họ sanh ra thừa hưởng những cái họ đã làm. Vì vậy phải tin vào trí tuệ của Đức Phật, tin vào giáo pháp của Phật chứ đừng suy nghĩ theo cái nghĩ của mình, như vậy chỉ mang lại khổ đau. Không được ý mình muốn gì thì mình theo, vì mình là phàm phu thì làm sao mình thấy hết được bí màn bí mật của vũ trụ thế giới này, trong khi Đức Phật là bậc chứng ngộ mở ra mật mã của vũ trụ, mở tất cả sự vận hành của nghiệp.

Đức Phật nói giống như Ta đứng trên lầu cao giữa ngã tư đường nhìn xuống thấy người đi qua, kẻ đi lại, những người sanh ra chết rồi đầu thai vào đường này đường kia, Đức Phật ví dụ giống như nhà có hai cánh cửa, một người đứng ở giữa nhìn thấy người này đi qua cánh cửa này, người này đi qua cánh cửa kia, mặc áo xanh đỏ vàng, đi lên đi xuống đều được Phật thấy rành rõ như nhìn một người đang đứng ở trước mặt, đó là sự chứng ngộ của Đức Phật cho nên mình phải có lòng tin ở Đức Phật. Tất cả những gì họ đang thừa hưởng chính là thành quả, kết quả của ác nghiệp mà họ đã làm trong quá khứ.

Có những người sanh ra đã là con của tổng thống, thủ tướng, mới ba tuổi đã có gia tài mấy tỷ đô thì mình nói bất công, tại sao thằng nhỏ kia sanh ra đi ăn xin còn đứa nhỏ này sanh ra đã có 3 tỷ, điều này là do thành quả công đức, phước báu tích tụ của quá khứ thì bây giờ chính họ thừa hưởng những hành động, ngôn ngữ, suy nghĩ của họ đã làm. Khi mình hiểu được cái này thì trong lòng mình không còn hận đời trách người, trách đời trách đất, chính tự thân mình cũng không trách. Chú đã nói có những trường hợp mình làm tốt mà họ cũng không tha cho mình, họ cứ kiếm chuyện, gây sự với mình thì mình phải biết rằng đó là oan gia trái chủ của đời trước.

Có những đứa con sanh ra hiếu thảo vô cùng, có những đứa con là phá gia chi tử, hành hạ cha mẹ, làm khổ sầu cho gia đình thì mình phải biết rằng một đứa lên trả nợ, một đứa lên đòi nợ. Khi không hiểu về nghiệp mình sẽ sống trong oán hận, trong hờn trách, trong sự bất mãn, cái này hết sức quan trọng, nghiệp không giống như mình hiểu đen ra đen, trắng ra trắng hay trồng cam ra cam, ớ ra ớt, Đức Phật không nói như vậy.

Nghiệp

Câu hỏi thứ ba cô hỏi là nghiệp dẫn, nghiệp dẫn trong đạo Phật là nghiệp dẫn đi luân hồi, nghĩa là do những suy nghĩ, cảm giác, những cái tưởng, nhận thức của mình đã quen như vậy rồi nên khi mình chết thì động lực của những cảm giác, nghĩ tưởng đó làm sự thúc đẩy cực mạnh đẩy mình đi vào chỗ tương thích với những cảm giác, nghĩ tưởng đó thì gọi là nghiệp dẫn đi luân hồi, chứ không phải ai bắt mình vào thân con chó, con giòi, không có ai kéo mình lên chư thiên. Do suy nghĩ, cảm giác, cái tưởng, nhận thức trong tâm mình làm động lực, sức mạnh mà sức mạnh của thói quen trong ngôn ngữ, hành động, suy nghĩ, cảm giác, sức mạnh này đẩy mình đi cộng với cái dục, cái nghiệp, cái vô minh, cái tham muốn bên trong đẩy mình đi đến chỗ tương thích. Khi đó, nhào trúng vào cái thai kêu gâu gâu hoặc chít chít, không thì sanh ra chỉ để cân kí bán thịt, hoặc sanh ra làm chư thiên. Tất cả những cái này là tương thích với những cảm giác, nghĩ tưởng thiện hay bất thiện, đen hay trắng, nặng hay nhẹ.

Cô hỏi chừng nào người đó thay đổi được, họ quen hít xì ke, quen nhậu nhẹt, quen ăn chơi… thì chừng nào mới hết được? Bị như vậy là bị luôn hay sao? Chừng nào họ muốn thay đổi và gặp được người chỉ cho họ cách làm đúng đắn, ngoài ra họ phải nỗ lực thì họ sẽ thành công. Còn nếu họ không muốn thay đổi thì Phật có đứng trước mặt thì cũng không là không, bằng chứng là khi Đức Thế Tôn còn tại thế vẫn có những vị phải đọa địa ngục, ngạ quỷ như thường vì họ không muốn thay đổi, họ chỉ muốn cướp giật, muốn sống theo thói quen, theo nghiệp của họ, họ không muốn tu. Đức Phật dạy bốn nguyên tắc để thành công là:

Dục Như Ý Túc: Ý muốn.

Tinh Tấn Như Ý Túc: Nỗ lực.

Tâm Như Ý Túc: Để tâm.

Tư Duy Như Ý Túc: Tìm mọi cách để hoàn thành.

Bốn cái này là chìa khóa vàng của thành công trong tất cả mọi lãnh vực thế gian và xuất thế gian, phàm hay thánh ứng dụng bốn cái này đều thành công. Thứ nhất là phải muốn, cái muốn khi đã xác quyết thì tự động nỗ lực để làm, nỗ lực chưa đủ mà còn phải để tâm vào việc mình đang làm, sau đó suy nghĩ tìm mọi cách để hoàn thành cho đến đỉnh cao nhất, gọi là Tứ Như Ý Túc (Tứ Thần Túc): Dục Như Ý Túc, Tâm Như Ý Túc, Tinh Tấn Như Ý Túc và Tâm Như Ý Túc. Thành ra tất cả mọi pháp đều có đầy đủ trong 37 phẩm trợ đạo, chẳng qua mình chưa hiểu đầy đủ và chưa biết cách vận dụng, đó gọi là chuyển nghiệp và thay đổi nghiệp.

Trong Tứ Chánh Cần Đức Phật nói tu là diệt ác, làm phát sanh cái thiện chứ không phải nói tu là không chiến đấu, ngược lại còn chiến đấu mãnh liệt, mang tinh thần của dũng sĩ, chiến sĩ, còn hơn cả liệt sĩ để đi đến vô thượng sĩ chứ không phải tu là thụ động, là lười nhác, là lúc nào cũng trơ trơ, không biết gì hết, đó gọi là si. Người tu mới là người tích cực và siêu tích cực vì phải chiến đấu với tự thân, chiến đấu với những cảm giác, nghĩ tưởng nghĩ xấu ác bên trong, chiến đấu với những dục vọng, sân hận, chiến đấu với sự vô minh không hiểu biết về chính mình, chiến đấu với cái bản ngã, cái tôi, cái ta, đánh gục và nhiếp phục nó, vượt lên nó nên trong kinh Pháp Cú đã nói:

Dầu tại bãi chiến trường

Thắng hàng ngàn quân địch,

Tự thắng mình tốt hơn,

Thật chiến thắng tối thượng.  

(Kinh Pháp Cú 08 – Phẩm Ngàn, kệ 103)

Thành ra đừng hiểu lầm người tu hiền, khờ, không biết gì hết, cái gì cũng bỏ qua, không phải vậy. Sự giác ngộ là một sự chiến đấu oai hùng, uy hùng, mãnh liệt, vang dội khắp mười ngàn thế giới, đây là dáng ngồi của đấng chiến thắng chưa từng có trong mười ngàn thế giới. Chiến công này trải qua 3000 năm nay vẫn còn vang rền khắp vũ trụ nhân sinh. Người tu là người đại hùng đại lực chứ không phải tu là nhu nhược, là yếu hèn, là lười nhác, là trốn tránh, là ẩn dương nương Phật, là những tinh thần bại nhược, sai hết. Đó là những người ẩn dương nương Phật chứ không phải người tu, là sự trá hình, mượn hình dáng của tu sĩ. Người tu là một người làm việc tích cực hơn tất cả mọi công việc trên thế gian này, từ phàm mà tiến lên bậc thánh thì làm sao có thể tu một cách lơ tơ mơ, qua loa, hình thức? Đó là cả một sự nóng bỏng, nhiệt huyết, nên trong kinh Tứ Niệm Xứ, Đức Thế Tôn đã nói nhiệt tâm, tinh cần, chánh niệm tỉnh giác, tức là một tâm hồn rực cháy, nhiệt thành, nhiệt huyết trong sự tu. Mọi người thấy Đức Phật ngồi như vậy thì cứ tưởng ngồi im không làm gì nhưng trong đó là một sự chiến đấu vĩ đại chưa từng có, nhà mình chỉ có mấy tấm tôn che lại làm vách tường thôi mà đi còn nhớ cái nhà, còn tiếc của, vậy mà một bậc thái tử quyền uy lại dám cởi bỏ hoàng bào, từ bỏ ngai vàng thì sự chiến đấu bên trong nội tâm của Ngài lớn đến mức độ nào? Người vợ Da-du-đà-la đẹp đến ngần nào, bao nhiêu cung tần mỹ nữ đẹp đến mức độ nào, La-hầu-la là con cưng như thế nào, dưới tay Ngài có biết bao thần dân mà Ngài dễ dàng từ bỏ vậy sao? Không hề chiến đấu với chính bản thân Ngài hay sao? Chúng ta phải thấy rằng trong đó là sự chiến đấu uy hùng, mạnh mẽ chưa từng có, một tâm linh vĩ đại gọi là đấng chiến thắng, bậc Như Lai, A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Chánh Biến Tri, Vô Thượng Sĩ.

./.