Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Nikāya Giảng Giải - Thế Tôn Cung Kính Chánh Pháp

2026-03-03 00:53:55
Kinh Nikāya Giảng Giải

THẾ TÔN CUNG KÍNH CHÁNH PHÁP

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thế Tôn cung kính Chánh Pháp PAGEREF _Toc114423556 \h 1

II.Lấy Pháp làm sinh mạng PAGEREF _Toc114423557 \h 6

III. Pháp chỉ được thuyết cho người có tâm cung kính PAGEREF _Toc114423558 \h 10

IV. Trình pháp PAGEREF _Toc114423559 \h 15

Thế Tôn cung kính Chánh Pháp

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetanava, ở khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo.

- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Thế Tôn nói như sau:

- Một thời, này các Tỷ-kheo, Ta trú ở Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới cây bàng Ajapàla, khi mới thành Chánh giác. Trong khi Ta Thiền tịnh độc cư, này các Tỷ-kheo, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Thật là khó khăn, sống không cung kính, không vâng lời, vậy Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ vào một vị Sa-môn hay Bà-la-môn". Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ:

"Với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ vào một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác với giới đầy đủ hơn Ta, mà ta có thể sống cung kính, đảnh lễ, sống y chỉ.

Với mục đích làm cho đầy đủ định uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ vào một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác …

Với mục đích làm cho đầy đủ tuệ uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ vào một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác …

Với mục đích làm cho đầy đủ giải thoát uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ vào một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác. Nhưng Ta không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác với giới đầy đủ hơn Ta, mà ta có thể sống cung kính, đảnh lễ, sống y chỉ.

Rồi này các Tỷ-kheo, ta suy nghĩ như sau: "Với pháp này mà Ta đã chơn chánh giác ngộ, Ta hãy cung kính đảnh lễ và sống y chỉ pháp ấy".

Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm tư của mình biết tâm tư của ta, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại bàn tay đang duỗi ra. Cũng như vậy, Phạm thiên Sahampati biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt ta.

Rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y vào môt bên vai, với đầu gối chân mặt quỳ trên đất, chắp tay hướng đến ta và thưa với ta: "Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, trong thời quá khứ, các vị A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, chư Tôn giả ấy đã cung kính đảnh lễ, sống y chỉ vào Chánh pháp. Bạch Thế Tôn, trong thời vị lai, các vị sẽ thành A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, các Tôn giả ấy sẽ cung kính đảnh lễ, sống y chỉ vào Chánh pháp. Bạch Thế Tôn, mong rằng thời hiện tại, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, hãy cung kính đảnh lễ, sống y chỉ vào Chánh pháp". Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói như vậy, lại nói thêm như sau:

Chư Phật thời quá khứ

Chư Phật thời vị lai

Và đức Phật hiện tại

Đoạn sầu muộn nhiều người.

Tất cả các vị ấy

Đã đang và sẽ sống

Cung kính và đảnh lễ

Pháp chơn chánh vi diệu

Pháp nhĩ là như vậy

Đối với chư Phật-đà

Vậy muốn lợi cho mình

Ước vọng làm đại nhân

Hãy cung kính đảnh lễ

Pháp chơn chánh vi diệu

Hãy ghi nhớ giáo pháp

Chư Phật Chánh Đẳng Giác.

Này các Tỷ-kheo, Phạm Thiên Sahampati nói như vậy; nói vậy xong, đảnh lễ ta, thân hữu hướng về bên ta rồi biến mất tại chỗ. Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi biết được thỉnh nguyện của Phạm thiên, và thích ứng với Ta, Ta sống cung kính, tôn trọng và y chỉ pháp ấy và ta đã tự Chánh Đẳng Giác. Và này các Tỷ-kheo, vì rằng chúng Tăng thành tựu sự cao cả nên Ta tôn trọng đặc biệt chúng Tăng.

(Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 1, 4. Chương Bốn Pháp, III. Phẩm Uruvelà, bài kinh Uruvelà 1)

Hôm nay chúng ta nghe bài kinh về sự cung kính trong Tăng Chi Bộ Kinh, Tập 1. Đây là bài kinh cực kì quan trọng.

Khi đó Đức Thế Tôn bên dòng sông Ni Liên Thiền, ngồi dưới gốc cây đạo thọ. Lúc đó Ngài vừa thành đạo, mới thành Chánh Giác. Đây là khoảnh khắc hết sức thiêng liêng, vĩ đại, là khoảnh khắc chuẩn bị mở ra một kỉ nguyên mới cho 10.000 thế giới, là khoảnh khắc Bồ Tát vừa thành Chánh Đẳng Chánh Giác. Trong khi ở một mình thiền định, Ngài khởi lên suy nghĩ: “Thật là khó khăn, sống không cung kính, không vâng lời, vậy Ta hãy cung kính, đảnh lễ và sống y chỉ vào một vị Sa-môn hay Bà-la-môn”. Tức là hãy cung kính, tôn trọng và sống nương tựa vào một vị thầy, một bậc tu hành, cần phải nương tựa vào một bậc đạo sự, một người thầy. Rồi Thế Tôn suy nghĩ rằng nương tựa, cung kính, tôn trọng, y chỉ vào một bậc thầy để làm gì? Mục đích là làm cho đầy đủ, viên mãn, giới đức, giới hạnh, đạo hạnh. Thế nhưng Ngài không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa các Sa-môn, giữa quần chúng loài Trời hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác có giới hạnh, giới đức, đạo hạnh đầy đủ và tốt đẹp hơn Ngài để Ngài có thể cung kính, tôn trọng và sống nương tựa vào vị đó.

Bằng Phật nhãn, thiên nhãn, bằng ánh nhìn thấu thị của một bậc Chánh Đẳng Giác lục thông, Ngài nhìn khắp tất cả 10.000 thế giới, không một người nào đầy đủ giới đức, giới hạnh, đức độ, đạo hạnh để Ngài có thể cung kính, tôn trọng và làm thầy của Ngài. Ngài muốn dựa vào, nương tựa vào một vị đạo sư để làm cho thiền định được đầy đủ, viên mãn, cho trí tuệ được tròn đầy, cho sự giải thoát tới cứu cánh và giải thoát tri kiến. Mong rằng với mục đích làm cho đầy đủ giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, tri kiến uẩn. Ta hãy sống cung kính, tôn trọng và dựa vào một bậc thầy nhưng Ta không thấy. Không có một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên, giữa các Sa-môn, giữa quần chúng loài Trời hay loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào có đầy đủ giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến tốt đẹp, viên mãn hơn Ngài để Ngài có thể sống cung kính, tôn trọng và nương tựa vào vị đó.

Ngài lại suy nghĩ: “Với pháp này, Ta đã Chánh Đẳng Giác, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ pháp này”. Tức là với pháp mà Ngài đã thành Chánh Đẳng Giác, hãy cung kính, tôn trọng, sống y chỉ, nương tựa, nương dựa vào pháp ấy. Pháp đó là Thánh Trí Ngũ Uẩn, Tứ Diệu Đế, Tứ Chánh Cần, Tứ Niệm Xứ, Tứ Như Ý Túc, Ngũ căn, Ngũ Lực, Thất Bồ đề Phần, Bát Thánh Đạo. Nói một cách khác đó là trí tuệ thấu triệt tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ của thân tâm của cuộc đời, của thế giới. Ngài thấu triệt một cách đầy đủ, viên mãn hết tất cả sự thật về khổ và nguyên nhân dẫn đến khổ, con đường chấm dứt khổ đó là pháp mà Ngài đã Chánh Đẳng Chánh Giác:“Ta hãy cung kính, tôn trọng, nương tựa, y chỉ vào pháp này.” Pháp đó chính là thầy của Ngài.

Lúc bấy giờ, Ta Bà Chủ - tức là vị trời tối cao trong tất cả các vị nhà trời, vị mà người ta gọi là “đấng tạo hóa”, đó là Phạm Thiên Sahampati - vị chúa tể, tối tôn cai quản hết tất cả chư Thiên, dùng tâm tư của Ngài để đọc được tâm tư của Thế Tôn. Các vị đó đều có thần thông, tha tâm thông. Thế Tôn suy nghĩ thì suy nghĩ đó thuộc về hành uẩn, nó có một tư tưởng, hình bóng vi tế nên chư Thiên đọc được. Ngài như một nhà lực sĩ co duỗi cánh tay, biến mất ở Phạm Thiên và hiện ra trước mặt Thế Tôn, quỳ xuống, vén y, lạy dưới chân của Ngài: “Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ!”

“Bạch Thế Tôn” – bạch đấng được thế gian tôn kính, xin thưa bậc đáng tôn kính của thế giới, bậc tối cao của chư Thiên và nhân loại, bậc thầy của Trời và Người. Đó là đấng tối cao, Ta Bà Chủ, thế gian hay gọi “ông trời” chính là gọi ngài Phạm thiên, Ngài cũng lạy dưới chân của Phật mà bạch như vậy. “Thế Tôn” tức là thế gian tôn kính, ở đây, tức là kính bạch, kính lễ bậc được thế giới tôn thờ, nhân thiên tôn trọng, bậc đại đạo sư, bậc tối thượng, tối tôn giữa chư Thiên và loài Người, gọi là Thiên Nhân Sư. “Bạch Thiện Thệ” – kính bạch bậc khéo léo vượt qua bốn bộc lưu: dục, hữu, kiến, vô minh bộc lưu. Kính bạch Ngài - bậc khéo léo vượt vượt qua bốn dòng thác lũ.

“Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, trong thời quá khứ, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh giác, chư Thế Tôn ấy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào Chánh pháp. Bạch Thế Tôn, trong thời vị lai, các vị ấy sẽ thành A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh giác, chư Thế Tôn ấy sẽ cung kính, tôn trọng và sẽ sống y chỉ vào Chánh pháp. Bạch Thế Tôn, mong rằng trong thời hiện tại, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh giác cũng cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào Chánh pháp”.

Ta Bà Chủ lạy xuống dưới chân Ngài. Đây là giây phút thành đạo của Bồ Tát gần 3000 năm trước. Sự việc diễn ra như vậy nhưng mấy người được nghe? Đó là khoảnh khắc Bồ Tát vừa thành Chánh Ðẳng Chánh Giác, vừa thành Viên Mãn Giác, sắp sửa mở ra một kỉ nguyên lịch sử vĩ đại. Ánh sáng Thánh trí tuệ được lan tỏa khắp năm châu. Đó là thời khắc thiêng liêng, lịch sử: đạo Phật được Thế Tôn sáng lập.

Ngoài ra, có một bài kinh nói về vua Ba Tư Nặc lạy dưới chân Đức Phật xưng tán hết lời, năm đó Ngài và Đức Phật ngang tuổi với nhau, khoảng 70 mấy tuổi, đây là thiên chủ và pháp chủ cung kính lẫn nhau. Còn bài kinh trên nói về Đức Phật và Phạm thiên Sahampati, tức là pháp vương và đế vương. Qua đó, chúng ta thấy rằng, Thánh Pháp được cả thiên chủ và đế vương cung kính đến như vậy, chúng ta không học thì còn tìm kiếm gì hơn nữa.

Lấy Pháp làm sinh mạng

Chúng ta ngồi tại núi rừng này giống như được trở lại khoảnh khắc thiêng liêng đó, giống như đang phủ phục, đang rạp mình, cúi đầu lắng nghe một vị là thiên chủ, một vị là pháp chủ. Hai bậc tối tôn, tối thượng của Thánh nhân và của chư Thiên đang chuẩn bị mở ra mật mã của vũ trụ, mở màn, phơi bày những gì bị che kín, soi ánh sáng vào bóng tối cho những người có mắt có thể thấy sắc; chuẩn bị khởi động đem đèn vào trong bóng tối cho chúng sanh đang trong trường dạ vô minh; chuẩn bị dựng đứng lên những gì bị quăng xuống, bị ngã đổ hằng vô lượng, vô biên, vô số thế kỉ trước khi Bồ Tát chưa chứng ngộ. Chúng ta như đang trở về, quỳ dưới chân, ngẩng mặt lên để kính xem pháp chủ và thiên chủ. Đây là khoảnh khắc vĩ đại, thần thánh, vi diệu và tối thượng. Một trăm ngàn năm chưa chắc chúng ta nghe bài kinh này được một lần. Tất cả các bậc Như Lai, các bậc A-la-hán ,Chánh Đẳng Giác đều cung kính tôn trọng, sống nương tựa, y chỉ vào Chánh Pháp.

Còn chúng ta là hạng gì mà dám xem thường Thánh Pháp? Chúng ta bây giờ học pháp với một thái độ hết sức hời hợt, qua loa, thì làm sao thể nhập được thậm thâm pháp nghĩa? Làm sao chúng ta khai được pháp nhãn, tuệ nhãn, đạo nhãn? Đức Thế Tôn mới vừa thành đạo là đã thờ pháp, y chỉ vào pháp, lấy pháp làm thầy. Cho nên, hãy lấy pháp làm thức ăn, nước uống, lấy pháp làm hơi thở, lấy pháp làm sinh mạng, lấy pháp làm bàn thờ. Từ đây có căn cứ rõ ràng. Một người thực sự hiểu được giá trị của pháp thì mới thực sự biết quý trọng và tôn kính pháp. Chúng ta ngồi đây nghe pháp nhưng bất thình lình ngã ra chết thì sẽ sanh trong dòng thượng lưu của nhân thế hoặc sanh lên chư Thiên cõi trời. Đó là phước nghe pháp, đừng nói chi thể nhập Thánh Pháp. Người thống lãnh quả đất này không bằng 1/16 của bậc thấy pháp. Dầu thống lãnh quả đất, dù làm chủ cõi trời cũng không bằng 1/16 người chứng quả Dự Lưu. Tuyệt diệu lắm!

Hơn thống lãnh cõi đất,

Hơn được sanh cõi trời,

Hơn chủ trì vũ trụ,

Quả Dự Lưu tối thắng.

(Kinh Pháp Cú – Phẩm Thế Gian)

Phạm thiên Sahampati nói như vậy, Ngài ứng khẩu một bài kệ:

Chư Phật thời quá khứ,

Chư Phật thời vị lai,

Và đức Phật hiện tại,

Ðoạn sầu muộn nhiều người.

Tất cả các vị ấy,

Ðã, đang và sẽ sống,

Cung kính và tôn trọng,

Pháp chơn chánh vi diệu,

Pháp nhĩ là như vậy

Ðối với chư Phật-đà.

“Pháp nhĩ là như vậy” tức là “đó là lẽ đương nhiên”. Không có bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác nào không cung kính, không tôn trọng, không xem pháp làm thầy. Cho nên đó là lẽ đương nhiên.

Do vậy, muốn lợi ích,

Ước vọng làm Ðại nhân,

Hãy cung kính, tôn trọng

Pháp chơn chánh vi diệu.

Đại nhân là bậc có trí tuệ rộng lớn, là bậc thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.

Hãy ghi nhớ giáo pháp,

Chư Phật Chánh Ðẳng Giác.

Hãy ghi nhớ giáo pháp mà từ giáo pháp ấy các Đức Phật được thấy, biết tận cùng, viên mãn, đầy đủ tất cả mọi phương diện, khía cạnh, thân tâm đau khổ, nguyên nhân của khổ và con đường diệt khổ. Hãy ghi nhớ giáo pháp đó, hãy nhớ đừng quên. Khi chuẩn bị nhắm mắt chết, nếu mình có đủ chánh niệm tỉnh giác thì hãy niệm: “Sắc này là vô thường, là khổ, vô ngã. Những dòng cảm giác này là vô thường, khổ, vô ngã. Những tưởng này, những hình bóng thô tế trong tâm là vô thường, khổ, trống rỗng, vô ngã. Những suy nghĩ này là vô thường, khổ, vô ngã. Nhận thức rõ biết này là vô thường, khổ, vô ngã.” Niệm năm câu đó thôi là sẽ sanh cõi trời, cõi người. Thế nhưng khi bị đau mình có nhớ niệm câu này, có nhớ ngũ uẩn, có niệm pháp không? Lúc đó cố gắng niệm: “Đây là khổ, sắc thân này là khổ; những cảm giác đang hành hạ mình là khổ; những suy tưởng, lo lắng, sợ hãi là khổ; những nhận thức rõ biết này là khổ. Phải nhàm chán, xả ly, ly tham, không ham muốn, ưa thích nữa.” Tuyệt diệu lắm, gặp phiền não cứ niệm, đó là ghi nhớ pháp, tôn thờ pháp, tôn trọng pháp, cung kính pháp, đảnh lễ pháp.

Hôm trước thầy Nguyên Thường học bên Thái về hỏi con: “Thầy thường ngồi giảng chỗ nào?” Minh Thành không biết chỗ nào để chỉ vì tất cả chỗ trên núi thì chỗ nào cũng là pháp tọa, chỗ nào cũng là giảng đường. Từng viên đá, từng khóm tre, từng cành trúc, không chỗ nào không phải là giảng đường, không chỗ nào không phải là pháp đường, không chỗ nào không phải là bàn thờ của Chánh Pháp.

Thế nên, làm sao Minh Thành chỉ được giảng đường ở đâu được, vì tất cả những nơi ở Linh Quy Pháp Ấn này đều được biểu hiện và thành lập Thánh Pháp. Từng viên sỏi, từng hạt bụi, từng chiếc lá của Linh Quy Pháp Ấn là thể hiện của Thánh Pháp. Ghế tre đó là pháp tọa sư tử, tảng đá đó là nơi tuyên dương sự thật vĩ đại của Thế Tôn. Không có chỗ nào không phải là chỗ của pháp. Dưới bếp vẫn có thể đại chuyển pháp luân ngay trong lò rực lửa nếu mình biết tu, biết nhận diện ngũ uẩn trong khi nấu nướng. Khi đó, nhà bếp trở thành đại giảng đường, bánh xe Chánh Pháp quay trong đó, quay trong tịnh thất am tranh của mình thì còn nơi nào tuyệt vời hơn nữa. Tiếng ve kêu cũng chính là pháp, biểu hiện cho cái khổ, thân súc sanh này là khổ đau. Chúng kêu lên rồi giao hợp và cuối cùng sẽ chết, những con ve đó chỉ sống được mấy tháng.

Tiếng kêu của ve là Khổ Thánh Đế, Tập Thánh Đế, vì tham, sân, si, bản ngã nên rơi vào thân súc sanh.

Đó cũng là Đạo Thánh Đế: “Các thầy, các cô, các chú coi chừng nghe không, dẹp tham, sân, si, bản ngã nghe không, nếu không sẽ giống như con.”

Cuối cùng, dập tắt tham, sân, si, bản ngã thì sẽ không còn đi vào ba đường ác, không còn đi vào trong sanh, tử, luân hồi nữa, đó là Diệt Đế.

Chỉ một tiếng ve kêu biểu hiện được Tứ Thánh Đế, không nơi nào không phải là chỗ của pháp, không hơi thở nào là không có pháp. Mỗi một hơi thở là phong đại đang vận hành; ngồi thiền thấy hơi ấm đó là hỏa đại; những chất, nước miếng trong cơ thể là thủy đại; một cục thịt – thân này là địa đại. Phải biết đem 37 Phẩm Trợ Đạo, Tứ Niệm Xứ, Tứ Chánh Cần, Tứ Thần Túc, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo Phần để vận dụng và tôn thờ pháp. Khoảnh khắc này thật đẹp!

Pháp chỉ được thuyết cho người có tâm cung kính

Thế Tôn khi mới thành đạo cung kính Pháp tuyệt đối như thế, vậy, hàng đệ tử của Ngài sẽ như thế nào. Chúng ta sẽ thấy tâm cung kính của các Ngài qua bài kinh “Verahaccàni”, Tương Ưng Bộ Kinh, Tập 4. Khi đó Tôn giả Udàyi (U Đà Di) ở trong vườn xoài, có một đệ tử thanh niên của một vị nữ Bà-la-môn đi đến chào hỏi. Ngài Udàyi giảng pháp, trình bày, khích lệ làm cho vị thanh niên này cảm thấy vui vẻ, hoan hỉ. Sau khi thanh niên này nghe được bài pháp thoại mới đi đến nữ Bà-la-môn, nói rằng:

-- Mong nữ Tôn giả biết cho, Sa-môn Udàyi thuyết pháp, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, với nghĩa, với văn, và trình bày Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh.

Đoạn đầu hay, đoạn giữa hay, đoạn cuối hay. Gọi là sơ thiện, trung thiện, hậu thiện. Văn hay mà nghĩa lý cũng sâu sắc, trình bày phạm hạnh hoàn toàn tròn đầy, trong sáng. Tức là trình bày một đạo lộ tu hành thanh tịnh, đầy đủ, trọn vẹn, rõ ràng. Vị nữ Bà-la-môn này nói rằng:

-- Vậy này Thanh niên, hãy nhân danh ta, mời Samôn Udàyi ngày mai đến dùng cơm.

Ngày xưa, được mời dùng cơm xong các Ngài sẽ thuyết pháp tùy hỉ. Ngày xưa pháp là như vậy, không giống mình cúng trai tăng như bây giờ, nghe pháp là thỉnh các Ngài dùng cơm, Đức Phật, các bậc A-la-hán hay các vị Tỷ-kheo đều như vậy. Đó là phép tắc ngày xưa. Các Ngài dùng cơm xong thì mấy vị cúng dường sẽ trải chiếu dưới thấp, chờ nghe các Ngài thuyết pháp. Nữ Bà-la-môn này cũng vậy, nhờ cậu thanh niên đi mời. Cậu thanh niên vâng lời đến thưa với Tôn giả Udàyi rằng:

-- Tôn giả Udàyi, hãy nhận đạo sư phí của chúng tôi là buổi cơm ngày mai từ nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni.

Tức là “chúng tôi trả công giảng pháp bằng bữa cơm”. Tôn giả Udàyi im lặng nhận lời.

Rồi Tôn giả Udàyi, sau khi đêm ấy đã mãn, vào buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến nhà của nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni; sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn.

Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, tự tay dâng cúng, hầu hạ Tôn giả Udàyi với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.

Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni sau khi thấy Tôn giả Udàyi đã dùng cơm xong, tay đã rút lui khỏi bát, nữ Bà-la-môn liền mang dép, ngồi trên chỗ ngồi cao, trùm đầu, và thưa với Tôn giả Udàyi:

-- Này Sa-môn, hãy thuyết pháp.

Cô này ngồi cao, mang dép, vải trùm trên đầu tức là tỏ ra sự không cung kính. Khi đi qua Srilanka, Myanmar – những nơi có nền Phật giáo nguyên thủy thì họ sẽ không cho mình mang dép. Dầu cho rộng bao nhiêu cây số, cát đất nóng nhưng đều phải đi chân không, không được mang vớ. Khi đi đến Kushinagar – chỗ Đức Thế Tôn nhập Niết-bàn cũng phải đi chân không, vớ cũng không được mang để tỏ sự cung kính. Nữ Bà-la-môn này mang dép, ngồi chỗ cao hơn chỗ của Tôn giả Udàyi, khăn vải trùm trên đầu chứ không mở xuống, cô này giàu có, quyền thế, địa vị, Bà-la-môn ngày xưa là vậy. Ngài Udàyi mới nói:

-- Này Chị, thời gian ấy sẽ đến.

Nói xong, Tôn giả Udàyi từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi, không thuyết pháp.

Đáng ra lúc đó Ngài sẽ nói pháp nhưng Ngài không làm vậy. Lần thứ hai, cậu thanh niên này đến chỗ Ngài chào hỏi và Ngài cũng thuyết pháp. Ngài khích lệ, trình bày, làm cho phấn khởi, hoan hỉ. Cậu trở về kể nữ Bà-la-môn nghe rằng đi đến được nghe Tôn giả Udàyi thuyết pháp rất hay. Đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối văn nghĩa lý, trong sáng, rõ ràng, viên mãn. Nghe cậu thanh niên tán thán, nữ Bà-la-môn nói rằng Tôn giả Udàyi khi được bảo giảng pháp lại không giảng.

Những bài kinh này ít khi nào mình được nghe, được học. Khi nghe bài kinh này cũng giống mình đang trở về 2600 năm trước để mình thấy hiện trạng lúc đó như thế nào. Đức Phật và các Thánh chúng rất gần gũi, không có gì xa xôi, mơ hồ, huyễn hoặc, mà đời sống rất gần gũi, thiết thực giống như mình trở về gần với Đức Phật và các bậc Thánh chúng. Đó là những sinh hoạt rất bình thường. Nữ Bà-la-môn này nói rằng đã bảo Tôn giả giảng rồi nhưng Tôn giả lại không chịu giảng. Cậu thanh niên nói rằng:

--“Thưa cô, vì rằng cô đã đi dép, ngồi chỗ cao và trùm khăn lên đầu rồi nói “Này Sa môn hãy thuyết pháp”, các bậc Tôn giả ấy cung kính pháp, tôn trọng pháp.” Cô này đi dép, ngồi chỗ cao và trùm khăn lên đầu, cách nói giống như ra lệnh như thế nên Tôn giả không giảng. Nguyên tạng kinh này không có chỗ nào là không có mồ hôi, nước mắt của cư sĩ Chơn Tín Toàn, cho nên khi đọc mình phải nhớ ơn. Cả một chục năm trời biên tập lại tạng kinh Nikāya, phân loại 500 chủ đề là cung kính pháp, tôn trọng pháp. Đệ tử chân chánh của Phật là vậy. Hãy xét lại xem mình cung kính, tôn trọng pháp được bao nhiêu, có giống người này không. Vị nữ Bà-la-môn nói tiếp:

-- Vậy, này Thanh niên Bà-la-môn, hãy nhân danh ta, ngày mai mời Sa-môn Udàyi đến dùng cơm.

Cậu thanh niên dạ thưa rồi đến mời Tôn giả. Ngài im lặng nhận lời. Hôm sau Ngài đến khi đêm đã mãn, buổi sáng Ngài đắp thượng y, ôm bình bát, từng bước khoan thai chánh niệm, ung dung, tự tại đi qua những xóm làng. Ngài đi như một áng mây, đi như một làn gió, đi để phá diệt bản ngã của một cái tôi; đi để nhìn thấy nỗi khổ cơm, áo, gạo, tiền, nước mắt, mồ hôi của những người dân mưu sinh khó khổ; đi để trải nghiệm, chứng nghiệm Khổ Thánh Đế của cuộc đời; đi trong sự bình an, ung dung; đi trong sự tôn trọng, cung kính thánh pháp.

Nói đến đây tự dưng Minh Thành hiện ra hình ảnh trên Linh Quy người nào cũng ôm bình bát từ trên rừng thiền đi xuống mỗi ngày một lần. Ở dưới rừng thiền là Phật tử, dầu khách đến hay Phật tử ở tại chùa cũng quỳ ở dưới chờ sẵn rồi bỏ vào bát, dâng lên bát. Sau đó, các thầy, các sư cô quay về, trở về rừng thiền. Hình ảnh này hiện ra trong tâm Minh Thành ngay giờ phút này rất đẹp. Lúc đó, trúc mọc lên, tre mọc lên xanh mát hết cả núi rừng. Bóng huỳnh y thấp thoáng, vô thượng phước điền ở trong những am tranh, trong những căn nhà trống, ở giữa trời, bên bụi trúc, khe suối, mỏm đá và bìa rừng, ngày đem thiền quán, thiền định, tư duy để nhổ khổ căn, diệt tận mầm mống sanh tử.

Hãy quấn chiếc y của Đức Phật, ôm chiếc bình bát của Thế Tôn. Chúng ta không một ai phải đi vào nấu bếp nữa, ôm bình bát đó về tu suốt ngày. Mỗi ngày đi làm người ăn xin. Chúng ta chào biệt luân hồi, vĩnh việt khổ đau. Ai có duyên đến hỏi pháp thì ta tùy hỉ chia sẻ rồi trở về tịnh thất, khép cổng tre lại, ngồi trên bồ đoàn, ngắm mây bay, nhìn thế giới mà lòng an nhiên, tự tại. Sau khi đã đoạn sạch các lậu hoặc, mỗi người sẽ xuống núi, phá thập bát hình đồng la hán trận; phá sáu căn, sáu trần, sáu thức, mười tám giới; phá tung, phá sập, phá tan, phá vỡ. Mỗi người tự đắp y, ôm bình bát đi về một hướng, không cần trở về Linh Quy nữa, đem Thánh trí đó soi chiếu vào thế giới u ám, vô minh, đầy khát ái này.

Phải cố gắng, không bao lâu, năm, ba năm, mười năm nữa, chậm nhất đến lúc tắt thở thì tối thiểu đạt Dự Lưu, tối cao Lậu Tận. Một khi đã đi trên con đường Bát Thánh Đạo này thì chắc chắn 100% không có chút nghi ngờ nào nữa, hạng bét nhất, dở nhất cũng là Hướng Dự Lưu, tham dự vào bốn đôi tám chúng, làm đệ tử chánh thức của Đức Phật, có khả năng hướng dẫn người khác đúng Chánh Pháp. Đó là hạng thấp nhất trong dòng pháp này. Nếu mình trụ vững, không bị đào thải, rơi rớt, tối thiểu cũng là Hướng Dự Lưu, bám trụ ở lại đây, bám trụ Thánh Pháp này, trời gầm không nhả, chết cũng không buông thì chắc chắn bốn đôi tám chúng sẽ có phần. Hãy hoan hỉ lên, sung sướng lên, hạnh phúc lên, phấn khởi lên, dào dạt về một tương lai tuyệt vời!

Chúng ta sẽ nhìn thấy thế giới càng ngày càng bi thương, chúng sanh càng ngày càng đau khổ, cuộc đời càng ngày càng thê thảm với những dục tham mãnh liệt, những sân hận tàn khốc, những si mê vô minh trùm phủ hết hành tinh này và những bản ngã sẽ hủy diệt nhân loại. Chúng ta sẽ chào biệt luân hồi, vĩnh biệt thế giới và tình thương của mình lan tỏa khắp đất trời. Đối với những người có nhân duyên, mình chia sẻ Chánh Pháp. Đẹp tuyệt vời chiếc y vô thượng phước điền này, màu vàng rực sáng này chúng ta đã đắp trên vai, đừng cô phụ màu vàng này, đừng xem thường màu vàng này. Hãy tôn trọng chiếc y tối thượng, tối tôn, đẹp nhất trên thế giới này. Vô thượng phước điền y của chúng ta.

Còn bây giờ, chúng ta trở về với Tôn giả Udàyi khi Ngài đến nhà của nữ Bà-la-môn.

Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, tự tay dâng cúng, hầu hạ Tôn giả Udàyi với các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm.

Rồi nữ Bà-la-môn thuộc dòng họ Verahaccàni, sau khi thấy Tôn giả ăn xong, tay đã rút lui khỏi bát, liền cởi dép, ngồi trên chỗ ngồi thấp, cởi khăn trùm đầu, rồi thưa Tôn giả Udàyi:

-- Thưa Tôn giả, do cái gì hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày về lạc khổ? Do cái gì không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ?

Điều này thâm sâu lắm. Do cái gì có mặt mà các bậc A-la-hán trình bày về khổ và vui? Do cái gì không có mặt mà các bậc A-la-hán không trình bày về khổ và vui?

-- Này Chị, do mắt hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày lạc khổ. Do mắt không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ... Do ý hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày lạc khổ. Do ý không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ.

Tức là do mắt, lỗ tai, do lỗ mũi, lưỡi, thân, ý hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày về khổ và vui. Do sáu căn không hiện hữu, các Ngài không trình bày về khổ và vui. Khi được nghe vậy, nữ Bà-la-môn nói với Tôn giả Udàyi:

--Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả! Thưa Tôn giả, như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Udàyi dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Và nay, thưa Tôn giả Udàyi, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp, quy y chúng Tỷ-kheo Tăng. Tôn giả Udàyi nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin trọn đời quy ngưỡng.

(Tương Ưng Bộ Kinh – Tập IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c), Phần III. Năm Mươi Kinh Thứ Ba, III. Phẩm Gia Chủ, bài kinh Verahaccàni)

Nữ Bà La Môn này sau khi nghe xong thì quy y làm đệ tử cư sĩ.

Trình pháp

Xin mời đại chúng trình bày sự hiểu của mình về câu nói của Tô giả Udàyi. “Do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày về khổ và vui. Do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày về khổ và vui”.

Sư cô Ngọc Bình:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên quý thầy, kính bạch trên quý sư cô và toàn thể quý đại chúng. Con xin trình bày về sự nhận biết của con về câu nói của Tôn giả Udàyi. Do có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày về khổ và vui.

Ví dụ khi con xem trên màn hình, con thấy những cảnh khổ về bệnh tật, con biết nhiều người đang khổ đau và đang bị bệnh hành hạ. Do có mắt nên con thấy các sắc, từ đó sanh ra nỗi ưu phiền, đau khổ. Trong đó, sự khổ hiện lên trong tâm mình. Khi mắt thấy sắc, mình sẽ thấy cảm thọ khổ bên trong.

Thọ hỉ, thọ vui là khi tai con nghe sự phụ giảng về pháp, trong tâm con nhận thức rõ biết được sự giảng dạy của sư phụ, do sự tiếp xúc của ba pháp này cùng với nhau nên sanh ra cho con một cảm thọ. Trong đó có thọ hỉ về tâm. Khi có thọ trong đầu con có hình ảnh của Ngài Udàyi đang thuyết pháp với một cô cư sĩ. Con tưởng ra những cảnh đó, an trú vào cảnh đó và ý hành nói rằng: “Thật là hay, mình như đang sống lại trong thời của Đức Phật ngày xưa, của những bậc thánh Tăng.” Con thấy hình ảnh đó hiện trước mặt con và trong ý hành của con rất hoan hỉ khi được nghe những lời sư phụ giảng. Điều đó được dẫn đến là do có tai và có tiếng nên có thọ hỉ, thọ vui trong tâm.

Hiện giờ mũi con đang ngửi được mùi của chai dầu thoa mũi. Khi có mùi hương này con có cảm thọ dễ chịu. Mũi ngửi hương này thì con có cảm thọ hoan hỉ.

Về thiệt thức, ví dụ như khi con ăn một món ăn cay như ớt chẳng hạn thì do có lưỡi và có vị sanh ra thiệt thức rõ biết vị cay của ớt. Khi có vị cay là do ba pháp này hội tụ lại, sanh ra thiệt xúc, từ đó sanh ra cảm thọ khổ. Và khi có thọ khổ, trong tâm con chấp giữ tưởng về hình bóng trái ớt và người làm ra món ăn này. Ý hành suy nghĩ rằng không biết ai làm mà để ớt như vậy cay quá. Do có lưỡi nên có cảm thọ khổ, chấp vào sự cay.

Trời khuya lạnh mà không có áo ấm hay không có đồ đắp giữ ấm, lạnh cả người. Khi có cảm giác lạnh, mình có cảm thọ khổ về thân. Hoặc là những người bệnh tật, đau khổ trên thân vì bệnh ung thư hay đau nhức, do có thân nên có thọ khổ, họ chấp giữ vào thân này nên họ càng khổ và phiền não thêm.

Những vị đã biết được pháp, có thân, có cảm thọ khổ trên thân mà những vị ấy biết được rằng thân đau nhưng tâm không đau, tách tâm ra khỏi thân, có Như Lý Tác Ý, họ sẽ an trú trong pháp, biết rằng cái đau này là vô thường, không có gì là ta, không có gì là của ta. Lúc đó, họ không trú vào cảm thọ đau của thân mà họ an trú trong pháp, dùng Như Lý Tác Ý sống trong pháp, không chú trọng sự đau đớn trên thân. Họ vận dụng những pháp về sự vô thường, khổ, vô ngã của thân, cuộc sống và không chấp vào thân này nữa. Khi đó, thọ thân đau nhưng họ có sự hoan hỉ trong pháp. Tuy có thân nhưng họ chấm dứt sự khổ của thân. Con xin trình bày đến đây, con biết rằng còn rất nhiều thiếu sót, con cúi xin trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô và quý đại chúng chỉ dạy thêm cho chúng con.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sư cô Huệ Tâm:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin được trình bày sự hiểu biết của con về đoạn pháp khi nãy sư phụ giảng. Ngài Udàyi giảng cho cô cư sĩ rằng có sự hiện hữu mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là có khổ và có vui. Con xin phép được nói lên hiểu biết của con về đoạn pháp sư phụ đã giảng. Do sự hiện hữu của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này là vô thường, mà vô thường thì tạm bợ, tạm bợ thì không có gì là trường tồn, vĩnh cửu. Đó chỉ là sự rỗng không, giống như đống bột. Đủ duyên thì sanh, hết duyên thì diệt. Nếu như bản thân con không nhận ra điều này thì con chấp vào thân sắc uẩn, chấp tâm này là của con thì con sẽ trầm luân trong sanh tử liên tục, không chỉ một đời, một kiếp này mà là vô lượng kiếp như những đời sống con đã đi qua.

Con có nhớ một bài pháp cô Toàn quán thân này như đống bột, cô giảng trên núi này: “Chư Thiên, Thần Rừng, Thần Núi ở đây hãy nói đi, chúng sanh được gì trong vòng trầm luân, luân hồi sanh tử này? Được gì ngoài tâm đầy tham dục, tham ái, đầy hơn thua, bản ngã, ngoài tâm đầy phiền não, khổ đau đầy nước mắt.” Thật sự đây là một bài quán mà mỗi lần nhớ lại những lời này con đều khóc vì bản thân con cũng chấp thủ vào sắc uẩn này nên con mới có ngày hôm nay, con mới ngồi đây và chưa buông xả được những sự bám víu, chấp chặt vào thân này. Khi chấp vào mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là của mình thì mình khổ.

Còn mình chỉ vui thật sự, nếu nhận ra được sắc uẩn này và thân tâm này không phải là của mình, mình buông xả được, mình chấp nhận nó là vô thường, vô ngã, khổ đau thì mình mới an trú được trong pháp, mình mới thoát được sắc uẩn này, mình mới có được tâm an lạc, thanh thản và nhẹ nhàng.

Con kính bạch trên sự phụ, sự hiểu biết của con được đến đây, con kính xin trên quý sư phụ, quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng chỉ dạy thêm cho con.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sư cô Nguyên Luận:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính trên thầy, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể thiền đường đại chúng. Con xin được giải bày câu nói của Tôn giả dành cho nữ cư sĩ. Đối với câu nói đó, con dùng duyên sanh pháp để giải bày. Ngày xưa, khi Tôn giả Xá Lợi Phất gặp Tôn giả Mã Thắng để được nói cho bài kệ: duyên đủ thì các pháp sẽ hiện, duyên hết thì các pháp tan rã, rất cả đều từ duyên sanh mà ra và con cũng quán chiếu đến bài “Duyên Sanh Pháp” trong nghi thức tụng Nikāya. “Do duyên có mắt và các sắc sanh khởi nhãn thức, sự hội tụ của ba pháp này là nhãn xúc, và do duyên có nhãn xúc nên sanh khởi thọ do nhãn xúc sanh, sắc tưởng, sắc tư.” Sự hiện hữu sắc là nơi xúc và nguyên nhân có khổ và vui là do có ái, thọ, thủ, hữu.Vì mình không thấy được, không rõ biết được nhân duyên của các pháp là sự tập hợp của nhiều nhân duyên kết nối lại, là giả tạm. Từ nhiều nhân duyên như vậy nhưng nó lại trống rỗng, không trường tồn, không vĩnh cửu nhưng mình bị điên đảo, bị khổ vui làm dao động mà theo nó.

Còn đối với những vị đã thấy rõ, quán rõ được điều đó rồi, giống như nhạn bay vào hư không mà không để lại dấu chân, họ rõ biết nó là giả tạm, họ nhìn thấy nó nhưng không có ái, thọ, thủ, hữu. Họ sẽ rời ra, ly tham và chỉ rõ biết nó mà thôi. Ví như tiếng ve, có những vị thích và không thích, cũng giống như khổ và vui vậy.

Vì sao có thích và không thích? Trước tiên là có xúc. Thọ thích và không thích là do ái, thủ, hữu hiện hữu nơi mỗi người và dao động nơi đó. Nếu mình quán sát rõ nhân duyên của nó, nhân duyên vì sao lại có con ve đó, âm thanh đó, vì sao có sự rõ biết âm thanh đó thì mình sẽ thấy rất bình thường và chỉ đón nhận nó thôi. Mình nhìn thấy các pháp, nhìn thấy ác nghiệp của ve, thấy rõ được đây là khổ thì mình thấy rất hay, đó cũng là một bài pháp. Lúc này, sắc không hiện hữu trong mình và mình được an vui, trọn vẹn, không bị dao động bởi những cảnh bên ngoài.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật, con xin hết.

Chú Trí Hòa:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính bạch trên sư phụ, kính bạch trên quý thầy, kính bạch trên quý sư cô và toàn thể quý đại chúng. Con xin phép được trả lời câu hỏi mà Tôn giả Udàyi đã trả lời cho nữ Bà-la-môn.

Kính bạch trên sư phụ, theo cách hiểu của con, do thấy sự nguy hại trong mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nên Tôn giả Udàyi đã nói mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là khổ. Sự nguy hại này là vô thường, khổ, vô ngã, biến hoại, biến diệt cho nên mắt, tai, mũi, lưỡi này là khổ. Vì thấy được vị ngọt do mắt, tai, mũi, lưỡi này mà thân, ý này khởi lên lạc hỷ và những lạc hỷ này cũng là vô thường, biến hoại, biến đổi. Và dầu có khổ hoặc vui từ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này thì Đức Thế Tôn đã nói rằng: “Phàm tất cả cảm thọ đều là khổ” thì chúng đều là các pháp vô thường. Cho nên, Ngài Udàyi đã trình bày cho nữ Bà-la-môn như vậy.

Kính bạch sư phụ, con trả lời như vậy có gì sai sót mong sư phụ chỉ dạy cho con.

Sư phụ: Xin thưa đại chúng, chúng ta về nhà viết bài, mỗi người hiểu như thế nào về câu kinh này thì viết ra. Chúng ta sẽ có một buổi pháp đàm sinh động để mỗi người đọc lên suy nghĩ của mình. Điều này rất thâm sâu, không phải dễ hiểu. Tiến sĩ Phật học ở các nước Phật giáo Nguyên Thủy chưa chắc gì giải được một cách chính xác, đây không phải chuyện đơn giản. Đây là vấn đề trọng đại của Thánh giáo. Thầy Nguyên Thường cũng phải viết, tất cả các Phật tử trong đạo tràng Nikāya đều phải viết, không ai được trốn hết.

-- Thưa Tôn giả, do cái gì hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày về lạc khổ? Do cái gì không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ?

-- Này Chị, do mắt hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày lạc khổ. Do mắt không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ... Do ý hiện hữu, các bậc A-la-hán trình bày lạc khổ. Do ý không hiện hữu, các bậc A-la-hán không trình bày lạc khổ.

Đây là chủ đề cực kì thâm sâu của Phật giáo, cũng là cốt tủy của Nikāya, phải đọc Tương Ưng Sáu Xứ mới biết điều này, phải nghe những bài giảng trong Tương Ưng Sáu Xứ. Đại chúng có thấy sinh khí để về viết bài không? Về phải đọc, nghe giảng, thiền quán, chiêm nghiệm, viết một bài đầy đủ với tất cả trí huệ mình đã tu học trong thời gian vừa qua. Đó là bài trình pháp, cũng là bài thấy hiểu của mình về những lời dạy của Đức Phật. Nhớ là viết bằng tất cả tấm lòng của mình./.